NHỮNG
ĐOÁ HOA THIỀN
禪
之 花
QUYỂN CHUNG
1631.-
Quét lá vàng.
Mùa
thu tới rồi, lá vàng rụng nhiều. Một chú tiểu phụ trách
quét sân chùa, mỗi sáng đều phải dậy sớm quét lá. Mỗi
sáng chú đều phải quét sân rất lâu mới xong. Chú cho đây
là một việc làm khổ sai, nên thường than thở. Một hôm,
một vị thượng tọa bảo chú :
-Sao
chú không rung cây cho lá rụng, hôm sau khỏi phải quét.
Chú
tiểu vui mừng làm y lời, nghĩ bụng sáng mai được nghỉ
một bữa khỏi phải dậy sớm để quét lá sân chùa.
Ngày
hôm sau trở dậy, chú tiểu lại thấy sân chùa đầy lá vàng.
Lúc đó, lão hòa thượng chạy lại bảo :
-Dù
hôm nay chú dùng sức lay cây, ngày mai lá vẫn cứ rơi.
Chú
tiểu nghe rồi, có chút tỉnh ngộ.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Ở
đời có nhiều chuyện không thể tính trước được. Chúng
ta hãy sống trong hiện tại.
1632.-
Kho báu nhà mình.
Đời
Đường, Đại Châu Huệ Hải là một đệ tử nổi danh của
Mã Tổ Đạo Nhất. Một hôm có người hỏi ông :
-Phật
là thế nào ?
-Hãy
nhìn trước mặt, chẳng phải Phật thì là ai ?
Người
đó nhìn ra phía trước, chỉ thấy núi xanh chập chùng nào
thấy Phật ở đâu ? Đại Châu thấy người ấy không hiểu,
bèn kể lại chuyện khi mình đến gập Mã Tổ. Mã Tổ hỏi
:
-Ông
từ đâu đến ?
-Con
từ Việt Châu Đại Vân Tự tới.
-Ông
đến đây làm gì ?
-Con
đến cầu Phật pháp.
-Nơi
đây tôi chả có gì cả, cầu Phật pháp cái gì ? Mình tự
có kho báu không biết trân quý còn ra ngoài tìm kiếm gì nữa
?
-Không
biết cái gì là kho báu nhà con ?
-Chính
là người đứng trước mặt tôi đang hỏi pháp đó. Đó là
kho báu nhà mình, có đủ tất cả không thiếu thứ gì, tự
do xử dụng.
Đại
Châu ngay đó đại ngộ.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Lãnh
ngộ tự tánh rồi thì biết tự thân mình ẩn tàng vô hạn
châu báu. (Xem thêm
công án 235)
1633.-
Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn.
Ngũ
tổ Hoằng Nhẫn trú ở Hoàng Mai Song Phong Sơn tụ chúng giảng
thiền. Đệ tử có hơn 700 người. Nam thiền, bắc thiền đều
là môn hạ. Có ông tăng hỏi :
-Người
tu học sao không ở thành thị mà lánh cư ở sơn cốc ?
-Các
cột trụ chống nhà đại sảnh đều là dùng các cây mọc
ở nơi núi sâu rừng thẳm, chứ không mọc ở nơi thị thành.
Xa loài người tránh được đao kiếm làm tổn thương, do đó
lâu dần mới trở thành đại thụ. Do đấy có thể biết
ở nơi núi sâu rừng thẳm, xa lìa trần thế ưu phiền có
thể tu thân dưỡng tánh, bồi dưỡng đạo tâm khiến đại
thụ khai hoa, thiền lâm kết quả.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Hoằng
Nhẫn chỉ ngồi thiền, không viết sách lập thuyết chỉ tùy
tiện giảng thiền lý. Chúng ta khi học tập, nên giữ tâm
bình thường, từng bước từng bước đạp thật trên đất.
1634.-
Sanh và tử.
Có
người hỏi một thiền sư về chuyện sanh tử, thiền sư hỏi
ngược lại :
-Ông
đã chết chưa ?
Người
này ngạc nhiên không trả lời được, thiền sư tiếp :
-Muốn
biết chuyện sanh tử, chỉ có mình tự thể ngộ.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Kỳ
thực chuyện sanh tử cứ để thuận theo tự nhiên, khi nào
nó đến thì đến. Chúng ta nên trân quý hiện tại.
1635.-
Hương hoa cúc.
Một
hôm, một thiền sư đi chơi núi mang về một cây hoa cúc. Ông
đem trồng ở sân thiền viện. Ba năm sau, cúc sinh sôi nẩy
nở thành vườn. Tới mùa thu, cả thiền viện đều thơm mùi
hoa cúc. Dân chúng dưới núi đều ngửi thấy mùi thơm này,
do đó lên chùa thưởng ngoạn. Họ không ngừng khen ngợi
:
-Thật
thơm quá !
Họ
năn nỉ thiền sư cho vài cây đem về trồng. Thiền sư vui
vẻ đồng ý. Dòng người xin cây liên tục không dứt. Không
lâu vườn cúc trống không. Các đệ tử nhìn vườn cúc thê
lương than thở :
-Thật
đáng tiếc ! Đang hương vị ngạt ngào thiền viện.
Thiền
sư nghe được bảo :
-Như
vậy càng tốt, 3 năm nữa thì toàn thôn đều ngát mùi hoa
cúc.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Việc
tốt phải cùng hưởng với người. Nhìn thấy người hạnh
phúc là hạnh phúc nhất của mình.
1636.-
Tâm không.
Có
một vị thiền tăng Ấn Độ tu đắc tha tâm thông. Ông đến
thăm thiền sư Tổ Tâm, cầu sư kiểm chứng. Tổ Tâm tưởng
đến một cảnh rồi hỏi :
-Tâm
lão tăng hiện ở đâu ?
-Núi
cao sừng sững. sông nhỏ nước chẩy siết.
Thiền
sư gật đầu, lại chuyển tâm niệm vào thiền cảnh vô ngã
tướng, vô nhân tướng, vô thế gian tướng, vô động tĩnh
tướng rồi hỏi :
-Tâm
lão tăng hiện ở đâu ?
Thần
tăng cố hết sức nhưng không nhìn ra.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Tổ
Tâm vào cảnh giới thiền định rồi, tâm không một vật,
do đó không có vết tích gì khiến thần tăng có thể nhìn
thấy được. (Xem thêm công án 388).
1637.-
Chén nước trà phản chiếu cả
càn khôn.
Chương
thiền sư, lúc còn là một vân thủy tăng từng đến tham học
Đầu Tử, giữ chức Sài Đầu (coi việc củi nước). Một
hôm gập Đầu Tử. Đầu Tử đưa cho ông một chén trà để
ủy lạo và hỏi :
-Ông
thấy chén trà này thế nào ?
-Bao
la vạn tượng đều nằm trong đây.
-Nếu
hớp một ngụm cạn hết thì sao ?
Chương
thiền sư hắt chén trà đi, hỏi :
-Bao
la vạn tượng giờ ở đâu ?
-Tiếc
thay một chén trà !
-Chỉ
là một chén trà sao ?
-Tuy
chỉ là một chén trà, nhưng bao la vạn tượng đều nằm trong
đó.
Chương
thiền sư không đáp được.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Một
chén trà tuy nhỏ nhưng có thể phản chiếu cả càn khôn, tâm
tuy vô tướng nhưng bao gồm vạn tượng. (Xem thêm công án
324)
1638.-
Dõng khí của người ăn mày.
Có
một lần, một người ăn mày xin tiền một phú ông, lại
còn nói trước là người quen. Phú ông nhìn kỹ thì nhận
ra người ấy là Trương Tam Thiếu lúc trước là con nhà giầu
có. Ông liền hỏi duyên cớ làm sao lại lâm vào cảnh này
? Người ăn mày cho biết vì một trận hỏa hoạn tất cả
nhà cửa, tiền tài đều bị thiêu rụi thành tro. Để có
tiền uống rượu ông đành đi ăn xin, hơn nữa uống rượu
khiến ông ta có dõng khí mà ăn xin. Phú ông nghe rồi thấy
được sự ngu muội của con người. Chúng sanh vì tửu sắc,
tài khí mà bận rộn một đời. Ông bèn đi hỏi Huệ Khả.
Huệ Khả cười cười bảo ông :
-Mặt
trời mọc từ phương Tây chiếu vào cây sẽ không cho bóng.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Đừng
lo lắng về tương lai, hãy quý mến hiện tại. Ít đi một
chút lo lắng phiền não, nhiều thêm một chút thiện lương
và bao dung nhất định cuộc sống sẽ vui vẻ, hạnh phúc.
1639.-
Mặc áo, ăn cơm.
Thiền
sư Mục Châu lãnh ngộ thiền học rất sâu, nên có nhiều
người đến tham học. Một hôm, có một người đến hỏi
:
-Mỗi
ngày đều phải mặc áo, ăn cơm, cảm thấy phiền quá, không
biết thầy có cách gì chỉ cho con thoát khỏi phiền não này
không ?
-Mặc
áo, ăn cơm.
Người
này không hiểu, trầm ngâm suy nghĩ. Mục Châu lại bảo :
-Nếu
như ông hãy còn chưa hiểu thì hãy mặc áo, ăn cơm.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Có
nhiều người lo chuyện đời, cả ngày bận rộn không có
lúc nào rảnh để hưởng thụ những nét đẹp của sinh hoạt
trong đời sống. Họ nên quay về bản tâm, đối diện với
sinh hoạt thì mặc áo, ăn cơm không còn là phiền não mà là
trưởng dưỡng Phật tánh vậy. (Xem thêm công án 1131)
1640.-
Phật chính là mình.
Một
ông tăng hỏi Huệ Trung :
-Trâu,
chó có Phật tánh không ?
-Có.
-Tại
sao ?
-Vì
là chúng sanh, chúng sanh đều có Phật tánh.
-Phật
tánh là cái gì ? Có thể thấy, tưởng đến hoặc cảm giác
được không?
-Chỉ
có thể ngộ được.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Phật
là một loại trí tuệ Thanh Tịnh soi sáng tất cả mọi hành
vi, chỉ có ngộ rồi mới biết được bản nguyên, nơi nơi
đều không tịch.
1641.-
Cháo đã nguội rồi.
Long
Nha là một thiền sư đọc nhiều sách vở, giỏi lý luận.
Một hôm, một học tăng mới vào thiền viện được 2 ngày,
trong bữa ăn sáng đã vội hỏi thiền sư :
-Con
có vài câu hỏi xin thầy chỉ giáo : thứ nhất linh hồn của
chúng ta có bị hủy diệt không? Thứ hai chúng ta có nhất
định bị luân hồi không ? Thứ 3 nếu bị chuyển thế những
ký ức của kiếp này có giữ được không? Thứ 4 . . .
Ông
tăng còn đang định hỏi nữa thì thiền sư bỗng cắt ngang
:
-Cháo
của ông đã nguội rồi kìa !
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Ngồi
mà luận đạo chẳng thà ngồi thiền. Hãy sống trong hiện
tại là việc quan trọng nhất. Có một số người không thực
tế, cứ sống như người đi trên mây, tất nhiên không thể
có thành tựu gì.
1642.-
Tạp dịch.
Bạch
Ẩn là một vị thiền sư nổi tiếng một thời. Ông thâu
nhận nhiều đồ đệ và tự mình chỉ dạy họ tham ngộ thiền
đạo. Về già, một hôm đang thu dọn chăn, mùng, một đệ
tử mới nhập môn kinh ngạc hỏi :
-Sao
thầy lại làm những tạp dịch này, để chúng con làm cho.
Ý
ông tăng là thầy hãy để thời gian mà tu hành, những chuyện
vụn vặt này để các đệ tử làm là được rồi. Bạch
Ẩn không vui bảo :
-Nếu
làm tạp dịch không phải là tu hành, vậy Phật tổ sắc thuốc
cho đệ tử gọi là gì ?
Ông
tăng ngay đó tỉnh ngộ.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Chỉ
cần có lòng, trong sinh hoạt hàng ngày chỗ nào cũng có thể
tu.
1643.-
Mơ xanh.
Cát
Châu Đam Nguyên Sơn Ứng Sơn là thị giả của Nam Dương Huệ
Trung, một hôm đem một giỏ vào phòng phương trượng. Huệ
Trung hỏi :
-Trong
giỏ có gì vậy ?
-Mơ
xanh.
-Ông
mang mơ xanh đến làm gì ?
-Cúng
dường chư Phật, Bồ Tát.
-Mơ
xanh còn chua lắm, làm sao cúng dường?
-Nói
cúng dường chỉ là để tỏ lòng thành.
-Chư
Phật, Bồ Tát không tiếp thu mơ chua đâu, tôi thấy ông chỉ
tự cúng dường mình thôi.
-Hiện
tại con đã cúng dường : tâm, Phật, chúng sanh không sai biệt
hà tất phải so sánh ? Còn quốc sư thì sao ?
-Tôi
không cúng dường.
-Vì
sao ?
-Tôi
không có mơ.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Mơ
xanh chỉ tâm chưa thông đạt. Đam Nguyên tâm còn chấp có
Phật để cầu, để cúng dường. Tâm không nhiễm trần, cứ
tùy theo tự nhiên, không tạo tác đó mới thực sự là cúng
dường. (Xem thêm công án 394.)
1644.-
Ăn gà trị bệnh.
Lúc
trước có một ông lang chẩn bệnh cho một người mang bệnh
nặng và cho một phương thuốc trị bệnh rất đơn giản là
ăn thịt gà rừng. Bệnh nhân ăn xong một con gà rừng cảm
thấy mình khỏe ra, ông ta không ăn nữa, nghĩ mình đã khỏi
bệnh rồi. Kết quả là bệnh không khỏi.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Trị
bệnh cần phải có thời gian, tu hành cũng cần phải trải
qua một quá trình tu học, không phải đùng một cái là xong.
1645.-
Vẹt học nói.
Hàn
Dũ đến thăm Bảo Thông, hỏi :
-Thầy
bao nhiêu tuổi ?
Bảo
Thông giơ chuỗi hạt lên hỏi :
-Hiểu
không ?
-Dạ
! Không.
-Ngày
đêm 108.
Hàn
Dũ không hiểu, hôm sau lại đến gập thủ tọa bèn đem chuyện
hôm trước ra hỏi. Thủ tọa nghiến răng 3 lần. Khi gập Bảo
Thông, Hàn Dũ nhắc lại câu hỏi. Bảo Thông cũng nghiến răng
3 lần. Hàn Dũ bèn nói :
-Nguyên
lai Phật pháp không hai.
Bảo
Thông hỏi là ý gì ? Hàn Dũ thuật lại chuyện đã hỏi thủ
tọa. Bảo Thông vội gọi thủ tọa lại hỏi :
-Có
phải ông trả lời như vậy không ?
Thủ
tọa cười gật đầu. Bảo Thông liền đuổi thủ tọa ra
khỏi viện.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Khi
có người hỏi Bảo Thông thường nghiến răng để trả lời.
Thủ tọa cũng bắt chước, lại ra vẻ đắc ý. Thiền là
sáng tạo, chỉ bắt chước như vẹt là làm mất đi sanh mạng
của Thiền.
(Xem
thêm công án 1139)
1646.-
Ý chí kiên cường.
Một
ông tăng hỏi thiền sư Trí Thông :
-Làm
sao để thành Phật ?
-Ông
vân du khắp nơi đã tìm ra chỗ an thân chưa ? Nếu chưa thì
có đi mòn dép cỏ cũng vô ích.
-Làm
sao mới thành Phật?
Trí
Thông cười ha hả :
-Người
có ý chí kiên định, dép cỏ rách thì đi chân không. Tâm
còn bị phiền não trói buộc, sao có thể nói chuyện an thân,
lập mạng ?
Ông
tăng nhìn dép cỏ, hoảng nhiên đại ngộ.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Trong
quá trình tu tập, phải có ý chí kiên cường mới có thể
đối diện với nghịch cảnh và tìm ra phương thức giải
quyết.
1647.-
Hoàn tục.
Một
ông tăng không chịu được sự cô tịch bèn hoàn tục; nhưng
một tháng sau ông lại trở lại vì không chịu được người
đời nói nhiều quá. Ít lâu sau ông lại xuống núi, rồi lại
trở lại. Cứ thế 3 lần rồi. Một vị lão tăng bảo ông
:
-Chẳng
phải khoác áo cà sa mới là tin Phật. Ông hãy xuống chân
núi mở một quán trà coi sao !
Ông
tăng nghe lời xuống núi mở quán trà, sau đó cưới vợ, từ
đó cuộc sống được ổn định.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Một
người đi nửa đường chỉ làm được chuyện nửa đường.
Chúng ta phải xét xem mình đang ở đâu rồi đặt ra mục tiêu
để hoàn thành thì đời sống mới có ý nghĩa.
1648.-
Phương trượng và ăn mày.
Một
hôm có một gã ăn mày cụt một tay đến chùa xin tiền Phương
trượng. Phương trượng bảo gã bê khối đá ở trước cửa
chùa ra sau vườn thì sẽ cho gã tiền. Gã ăn mày nổi giận
:
-Tôi
chỉ có một tay làm sao bê đá ?
Phương
trượng không nói một lời, chỉ dùng một tay bê tảng đá
ra sau vườn. Gã ăn mày thấy vậy chỉ đành dùng một tay
bê đá, mất cả tiếng đồng hồ mới làm xong. Phương trượng
cấp cho gã một món tiền. Gã nhận tiền khom lưng cảm tạ.
-Đừng
cám ơn tôi đó là tiền ông kiếm được.
-Con
sẽ ghi nhớ lời này.
Một
thời gian sau, lại có một gã ăn mày khác đến xin tiền.
Phương trượng lại bảo gã bê tảng đá từ vườn sau ra
trước cổng chùa thì sẽ cho gã tiền. Gã ăn mày này mặc
dù có đủ 2 tay khỏe mạnh, nhưng gã chẳng làm, bỏ đi không
thèm ngoảnh cổ lại. Đại chúng không hiểu ý thiền sư di
chuyển đá để làm gì bèn hỏi. Phương trượng bảo :
-Bê
đá tới hay lui thì giống nhau, nhưng chịu bê hay không thì
khác.
Nhiều
năm trôi qua, có một người giầu có đến chùa cúng tiền
nhang đèn rất nhiều, khí độ bất phàm nhưng chỉ có một
tay. Ông chính là gã ăn mày năm xưa vậy.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Phẩm
cách của một con người gồm 2 điểm cơ bản : thứ nhất
phải tự mình lao động, thứ nhì phải tự mình suy tưởng.
Trong đời sống cạnh tranh ngày nay, con người phải dựa vào
não lực và thể lực mới có thể đạt được hạnh phúc.
1649.-
Ý nghĩa của mạng sống.
Một
vị thượng thơ đến bái kiến Tào Sơn để hỏi về bản
tánh. Đối với câu hỏi khó trả lời này, thiền sư im lặng
cúi đầu ngẫm nghĩ. Ông chợt nhớ một chuyện ông có gập
ở trên đường : một thiếu phụ đang mang thai, quần áo có
nhiều mảnh vá, lưng đeo một cái gùi, tay dắt một bé gái.
Bà ta tay lấm, chân bùn, đời sống rõ là lam lũ, nhưng mặt
bà thì tươi rói. Thì ra bà ta đã hiểu mình muốn gì. Thiền
sư hoảng nhiên đại ngộ, bèn cất tiếng gọi :
-Thượng
thơ !
-Dạ
!
-Điều
cốt yếu là chính mình phải giác ngộ.
Thượng
thơ nghe rồi có chỗ lãnh ngộ.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Đối
với ý nghĩa của đời người không rõ, dùng phương pháp
sai lầm mà sinh hoạt thì trong sinh hoạt chỉ làm mọi cho sinh
mạng, thật đáng thương !
1650.-
Cây nến tắt.
Một
đệ tử hỏi Đức Phật :
-Phật
chết rồi về đâu ?
Đức
Phật giơ một cây nến đang cháy lên, một đệ tử khác sợ
nến bị gió thổi tắt bèn lấy tay che.
-Lúc
tắt thì tự nhiên sẽ tắt, lấy tay che có ích gì ? Tử vong
cũng vậy. Đó là luật tự nhiên.
Một
cơn gió thổi qua, cây nến bị thổi tắt ngóm.
-Nến
tắt rồi, ánh sáng đi về đâu ? Cả 2 đều là một loại
tiêu diệt. Ánh sáng tắt, cây nến còn vì nó là chính thể,
Phật cũng vậy.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Sanh
rồi tử, tử rồi lại sanh. Đây là một quy luật tự nhiên.
Chỉ cần lúc còn sanh có được thành tựu đó là điều trọng
yếu.
1651.-
Không thấy Long Đàm.
Đức
Sơn đến tham Long Đàm, vừa vào cửa đã nói :
-Nghe
tiếng Long Đàm đã lâu, nào ngờ khi tới nơi chẳng thấy
Long cũng chẳng thấy Đàm ở đâu !
Long
Đàm từ sau bình phong bước ra :
-Ông
đã tự mình tới Long Đàm.
(Phật
Pháp Tu Chứng Tâm Yếu)
Đây
chính là lời tiếp dẫn của Long Đàm. Vì sao ? Vì kinh Kim
Cương có nói : Nếu thấy các tướng là phi tướng thì thấy
Như Lai. Giả như thấy Long, thấy Đàm là chấp tướng. Nếu
không thấy Long, không thấy Đàm là lìa tướng mà thấy bản
tánh vậy.
1652.-
Gia đình Bàng Uẩn luận Đạo.
Một
hôm Bàng Uẩn bỗng nói :
-Khó,
khó, khó, mười tạ dầu mè trên cây vuốt.
Ý
là học Phật, tu đạo rất khó, tương tự như đem dầu mè
mà vuốt lên cây cột có được không? Cứ vuốt dầu lại
chẩy xuống. Tại sao khó ? Vì người tu trải qua nhiều kiếp
có tập quán chấp tướng, gập thuận cảnh thì cười ha hả,
gập nghịch cảnh thì ưu sầu, khổ não. Kỳ thật các cảnh
đó đều là giả, là không cả. Người đời không biết
cho đó là thật, giữ chặt không buông, do đó nói học đạo
thật là khó. Thực ra có khó không ? Không khó. Tại sao ? Vì
chúng ta vốn là Phật, không phải là biến phàm phu thành Phật.
Chỉ cần chúng ta đừng bị mê bởi cái giả của ngoại cảnh,
tâm thường giác thì là Phật vậy. Do đó Lục tổ nói :
-Niệm
trước mê là phàm phu, niệm sau giác là Phật.
Bàng
phu nhân nói :
-Dễ,
dễ, dễ, trên đầu trăm cỏ ý tổ sư.
Ý
là học Phật tu đạo dễ, trong cả mọi sự việc, lìa mọi
sự việc, lúc đó còn có cái gì ? Tâm không là ý tổ sư
vậy. Đó cũng là ý của kinh Kim Cương : Nếu thấy mọi tướng
là không tướng thì thấy Như Lai. Nếu lìa tất cả mọi tướng
thì sự sự, vật vật đều là đại đạo, còn có gì là
khó chứ ? Cho nên muốn học Phật, thành Đạo không khó, đừng
sợ vì chúng ta vốn là Phật. Chỉ cần buông bỏ tất cả
xuống, cái tâm niệm thanh tịnh ấy không phải là Phật thì
là cái gì ?
Nhưng
Bàng cư sĩ và phu nhân một người nói khó, một người nói
dễ là còn chấp, chưa phải là cứu cánh; vì chân trí thì
một pháp chẳng lập. Nói khó không đúng, nói dễ cũng không
đúng. Do đó con gái của 2 người là Linh Chiếu nói :
-Cũng
chẳng dễ, cũng chẳng khó; đói thì ăn, mệt thì ngủ.
Là
quét đi vết tích của khó và dễ, quét đi mọi chấp trước
đói ăn, mệt ngủ tự do, tự tại; an nhiên thọ dụng. Do
đó mới chính là Thiên chân Phật. (Xin xem thêm công án 279)
(Phật
Pháp Tu Chứng Tâm Yếu)
1653.-
Biết sai thì sửa.
Đời
Tấn, hòa thượng Pháp Ngộ là đệ tử của Đạo An, là trụ
trì Trường Sa Tự. Trong chùa có một ông tăng vì say rượu,
quên thắp hương trên bàn thờ Phật nhưng Pháp Ngộ cũng chỉ
phạt nhẹ. Đạo An tuy ở xa nhưng nghe biết chuyện này, lấy
một roi gai cho vào ống tre bọc lại, sai người đến đem
trao cho Pháp Ngộ. Pháp Ngộ nhận được, mở ra thấy roi gai
bèn nói :
-Đây
là chuyện ông tăng uống rượu đây ! Do tôi dạy đệ tử
không nghiêm mà nên. Thầy tôi gửi roi để cảnh cáo đấy
!
Nói
rồi sai thị giả đánh mõ chiêu tập đại chúng. Đặt roi
gai trên bàn thờ, Pháp Ngộ thắp hương lạy rồi tới trước
đại chúng nằm xuống, sai Duy Na đánh mình 3 roi. Sau đó rơi
lệ tự trách, rồi đuổi ông tăng say rượu ra khỏi thiền
viện.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Chuyện
này được loan truyền và được mọi người khen ngợi. Pháp
Ngộ là một vị thiền sư biết sai liền sửa.
1654.-
Phóng sanh.
Có
một bà lão định mang một giỏ ốc đổ xuống ao phóng sanh,
một gã hung ác cướp lấy giỏ ốc, hét lên :
-Bà
già nghèo khổ kia, bà biết đây là đâu không mà đòi phóng
sanh ?
-Ngừng
tay !
Mọi
người trố mắt nhìn thì thấy một hòa thượng áo rách,
tay phe phẩy một cái quạt xông tới. Đó chẳng phải là ai
khác, chính là Tế Điên hòa thượng.
-Chúng
sanh bình đẳng, phóng sanh là một chuyện lành ngươi sao dám
ngăn trở bà lão ?
-Tế
Điên ! Đây không phải là chuyện của ngươi, đừng có xía
vô nếu không đừng có trách ta.
Gã
hung ác vừa hét vừa giơ nắm đấm lên. Tế Điên cười ha
hả :
-Trên
đường gập chuyện bất bình, ta dĩ nhiên là phải nhúng tay.
Nói
rồi Tế Điên đoạt lại giỏ ốc, chạy xuống đổ vào ao
phóng sanh.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Phóng
sanh là một hành động thực tế và trọng yếu của Phật
giáo, lấy lòng từ bi mà giúp đỡ khổ nạn của chúng sanh.
1655.-
Người câm nằm mộng chỉ mình
biết thôi.
Một
người câm nằm mộng, không có cách chi bảo cho người khác
biết những gì mình thấy trong mộng. Câu này dùng để ví
dụ cho sự thể nghiệm thực cảnh mà không thể dùng lời
nói mà diễn tả ra được. Thiền giới cũng dùng các câu
: Người câm ăn mướp đắng, nóng lạnh tự mình biết. Trong
thơ của Hàn Sơn Tử cũng có câu :
Vui
sướng chỉ một mình hay
Chẳng
thể chia sẻ chuyện này với ai.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền Ngữ)
1656.-
Đừng giương cung người.
Ngũ
Tổ Pháp Diễn nói :
Thích
Ca, Di Lặc đều là nô tài của người ấy.
Người
ấy là ai ?
(Nhất
Nhật Nhất Thiền Ngữ)
Người
ấy chỉ tự tánh. Một người chân chánh làm chủ được
mình thì không cần ăn trộm trí tuệ và học vấn của người
về làm của mình; cũng bất tất phải đi sau người mà phụ
họa. Từ tâm cảnh ta người chẳng hai mà xét thì lỗi người
tức lỗi mình, cho nên không thể nói xấu người. Nói tóm
lại “chuyện người mặc kệ”, ta có đếm tài sản của
người cũng là vô dụng chẳng bằng tự giác vô vị chân
nhân, thì ở mọi nơi đều làm chủ, rộng bước ngang dọc
trong thiên hạ. Đó mới là thiền giả chân chánh.
(Xem
thêm công án 207)
1657.-
Ném cầu trên nước chẩy nhanh.
Một
ông tăng hỏi Triệu Châu :
-Con
nít vừa sanh có đủ lục thức không ?
-Giống
như ném cầu trên nước chẩy nhanh.
Về
sau ông tăng đó lại đến hỏi Đầu Tử :
-Triệu
Châu nói ném cầu trên nước chẩy nhanh là có ý gì ?
-Từng
niệm, từng niệm trôi chẩy không ngừng.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền Ngữ)
Mặt
nước yên lặng nhưng bên dưới là dòng nước ngầm chẩy
nhanh. Ném quả bóng xuống sẽ bị nước cuốn trôi đi. Đó
gọi là động trong tĩnh. Con người ta cũng vậy, người đạt
đạo bề ngoài coi như ngu si, là mặt nước yên lặng, nhưng
kỳ thực là dòng nước chẩy nhanh. Đó gọi là người giác
ngộ giống như chưa ngộ. Câu nói của Đầu Tử có nghĩa
là niệm trước là niệm trước, niệm sau là niệm sau. Mọi
lúc đều là chánh niệm, là liên tục của phi liên tục. (Xem
thêm công án 161)
1658.-
Đây chẳng phải là lửa sao?
Hòa
thượng Quy Sơn (771-853) lúc còn trẻ, một tối đứng hầu
trong liêu, sư phụ Bách Trượng hỏi :
-Ai?
-Là
con, Linh Hựu.
-Ông
nhìn xem trong lò còn lửa không ?
-Không
còn lửa.
Bách
Trượng tự lấy que cời lửa, chọc sâu vào đám tro, tìm
thấy một tinh hỏa bèn chỉ cho Quy Sơn coi và bảo :
-Đây
chẳng phải là lửa sao ?
Quy
Sơn ngay đó tỉnh ngộ, lạy tạ rồi trình kiến giải. Bách
Trượng bảo ông :
-Kinh
Phật cũng có nói : Muốn biết nghĩa Phật tánh phải quán
thời tiết, nhân duyên.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền Ngữ)
Thời
tiết đến, đang mê biến thành ngộ; như đã quên mà chợt
nhớ ra tự tánh mình vốn có sẵn, không phải nhận từ ai
khác. Chư tổ chả đã nói rồi sao : “Ngộ rồi như chưa
ngộ” Nếu đã vô tâm thì sẽ vô pháp, không còn tâm
hư vọng phân biệt phàm thánh thì đó là tâm pháp, mọi người
đều có đầy đủ nên gìn giữ cho tốt. (Xin xem thêm công
án 1062)
1659.-
Một mũi tên.
Hòa
thượng Hưng Hóa (830-888) lúc sắp mất bảo đại chúng :
-Tôi
có một mũi tên, không biết nên trao cho ai ?
Một
ông tăng bước ra thưa :
-Xin
trao cho con.
-Thế
ông gọi cái gì là mũi tên ?
Ông
tăng này học phương pháp của Lâm Tế hét lên một tiếng
lớn, Hưng Hóa nện cho ông 5, 6 gậy rồi trở về phòng phương
trượng. Sau đó kêu ông tăng đó vào hỏi :
-Chuyện
vừa rồi ông có hiểu không ?
-Dạ,
không hiểu.
Thiền
sư lại nện ông 5, 6 gậy nữa, rồi ném gậy đi.
-Từ
giờ trở đi, nếu gập người sáng mắt ông hãy trỏ cho họ
mũi tên của tôi.
Bất
Cố Am Hòa Sơn (1837-1917) có một công án như sau :
Ai
cũng có một mũi tên, lúc thì là tên giết người (phủ định)
lúc thì là tên cứu người (khẳng định). Hãy nói coi lão
nạp thường dùng mũi tên nào ?
(Nhất
Nhật Nhất Thiền Ngữ)
Chỉ
cần thâm hiểu “dùng mũi tên nào” là có thể ngộ được
hàm ý trong câu nói sau cùng của Hưng Hóa. (Xem thêm công án
471).
1660.-
Tham ngộ sanh tử.
Bàn
Khuê, một thiền sư Nhật Bản, thuộc dòng thiền Lâm Tế,
là người sáng tạo ra Tâm Bất sinh Thiền. Năm 16 tuổi ông
xuất gia, đến năm 26 ông vẫn chưa khai ngộ. Cũng trong năm
26 tuổi vì tọa thiền ông bị bệnh, 7 ngày rồi mà cũng không
ăn gì, cảm thấy cái chết đã gần kề. Bất giác ông suy
nghĩ : Sống cũng tốt, chết cũng chẳng sao, mình cũng chẳng
có gì để lưu luyến, chỉ là chưa có thành tựu gì đã lìa
đời.Nghĩ tới nghĩ lui không dứt. Một hôm bỗng chuyển niệm
đầu vạn vật trong thế giới này há chẳng thể dùng “bất
sinh” để điều tiết sao ? Ta đã bao năm hao phí tâm
lực khổ sở tìm tòi chẳng là ở đạo lý này sao ? Ông bỗng
nhiên khai ngộ, như người chợt tỉnh ngủ, trong lòng không
còn thấy khổ nữa. Ông sống đến 71 tuổi. Đối với thiền
học Nhật bản, cống hiến của ông rất lớn.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Tử
vong là khảo nghiệm lớn nhất của con người. Bàn Khuê khi
đối diện với tử vong mới đạt ngộ. Thiền rất trọng
vấn đề sanh tử giải thoát, hy vọng thiền sinh từ sanh tử
nhận rõ thật tướng của sinh mạng, trừ bỏ tâm lý sợ
hãi khi đối diện với cái chết.
1661.-
Là trâu hay là tăng.
Một
hôm, Quy Sơn bảo đại chúng :
-Một
trăm năm sau, lão tăng xuống núi làm một con trâu đực, tại
sườn bên trái có viết 5 chữ “Quy Sơn tăng mỗ giáp”.
Lúc đó nếu kêu ta là Quy Sơn Tăng thì ta không phải là con
trâu đực, nếu kêu ta là con trâu đực thì ta không phải
là Quy Sơn Tăng. Vậy ta hỏi các ngươi phải kêu ta làm sao
?
(Phật
Pháp Tu Chứng Tâm yếu)
Nếu
tâm ông không được tĩnh, chấp vào trâu hay tăng mà kiến
giải thì không có lối ra. Trâu hay tăng nhất thời chỉ là
giả danh, giả tướng. Từ chân tánh mà nói thì làm gì có
tăng hay trâu. Lúc đó trong pháp hội không có ai đáp được.
Về sau có một vị lão túc đáp được rất hay :
-Thầy
không có tên khác !
Câu
nói không đề cập đến tên mà cũng không lìa tên, đã nói
bản lai không tên, lại tùy ý mà gọi tên. Vì không chấp
vào tăng hay trâu, cũng không lìa tăng hay trâu, do đó vượt
ra ngoài danh tướng. (Xem thêm công án 1005)
1662.-
Bảo kiếm.
Có
người hỏi thiền sư Huệ Minh :
-Bảo
kiếm chưa mài thì sao ?
-Vô
dụng.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Bảo
kiếm chưa mài dĩ nhiên là không thể xử dụng. Người tu
nếu tập khí còn chưa loại trừ thì không thể khởi dụng.
1663.-Rồng
kêu trong cây khô.
Sư
phụ của Lợi Hưu là Thiệu Âu (1504-1555) để diễn tả tâm
cảnh của sá trà (một phương thức của trà đạo) đặc
biệt dẫn Định Gia Thi trong Tân Cổ Kim Tập : “Nhìn về
quá khứ, hoa không còn, hồng diệp cũng mất tiêu, chỉ còn
lại căn nhà nhỏ bên bờ sông,trong buổi chiều thu.”
Đây
nói về những đóa hoa đẹp đẽ của mùa xuân và những lá
vàng rực rỡ của mùa thu đã không thấy nữa. Những làn
gió vi vu nơi hoang vắng có thể hình dung được sự cảm ngộ
của trà đạo và tịch tĩnh chăng ?
Nam
Phương Lục đưa ra lời bình như sau :
“Nếu
không hiểu ý hoa và hồng diệp thì càng sống lâu trong căn
nhà nhỏ càng cảm thấy quá vắng lặng.”
Đây
là một cái nhìn đặc biệt, nhưng Lợi Hưu lại dẫn Gia Long
Thi trong Nhậm Nhân tập :
“Hy
vọng chẳng những chỉ chờ xem hoa thôi mà còn có thể xem
thấy ở nơi làng nhỏ phủ đầy tuyết những nụ non đã
bắt đầu ló dạng.”
Trong
cảnh cùng cực đã thấy phát sinh sức sống cũng giống như
trong lòng cây khô rỗng gió lùa qua tạo nên tiếng rồng gầm.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền Ngữ)
Trong
thiền định (tĩnh) chuyển thành trí tuệ (động). Đó là
thiền, sanh mạng của trà. (Xem thêm công án 823)
1664.-
Trà, Thiền một vị.
Một
hôm, Giáp Sơn hòa thượng (805-881) thưởng trà xong bèn rót
một chén đưa cho thị giả. Khi thị giả giơ tay ra nhận,
hòa thượng rụt tay lại, hỏi :
-Cái
này là cái gì ?
Thị
giả không trả lời được, lúc đó nếu là ông, ông sẽ
trả lời sao ? Từ xưa đến nay, người ta thường nói trà,
thiền một vị. Lợi Hưu nói :
-Thưởng
trà ở phòng nhỏ, lấy xách nước, kiếm củi, đun nước,
pha trà cúng Phật làm Phật pháp đệ nhất để tu hành đắc
đạo. Tôi cũng uống trà, bầy hoa, dâng hương, đều học
theo hành tích của Phật tổ vậy.
Có
một vị hòa thượng nhờ một chú tiểu trao một cành Bạch
Sơn Trà cho cháu của Lợi Hưu là Tông Đản (1578-1658). Chẳng
ngờ chú tiểu không cẩn thận để hoa trên cành đều rụng
cả xuống đất, nhưng chú cũng thật tình kể rõ và xin lỗi
Tông Đản. Tông Đản nhờ chú chuyển lời mời hòa thượng
đến thưởng trà. Khi hòa thượng tới nơi thì thấy trong
bình có cắm một cành khô, còn dưới đất là một đóa hoa
trắng do các cánh hoa rụng xếp lại. Hòa thượng thấy cảnh
tượng rất tự nhiên, tưởng như hoa còn sinh động trên cành.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền Ngữ)
Tông
Đản đã học tập hành tích của Phật tổ, đã có thiền
tâm vậy.
1665.-
Vốn là Phật.
Có
một ông tăng hỏi Hi Vận :
-Phật
là ai ?
-Tâm
ông là Phật. Phật là tâm; tâm, Phật không sai biệt; nếu
lìa tâm thì không có Phật.
-Nếu
nói tâm mình là Phật, vậy Đạt Ma từ Tây sang truyền gì
?
-Chỉ
cho biết tâm là Phật, nếu hiểu được ý này thì vượt
qua 3 thừa giáo pháp, mình vốn là Phật, không cần phải tu
thành.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Phật
và tâm là một thể. Phật là tâm, tâm là Phật, không có
sai biệt. Cái tâm này là tự tánh, là tự ngã của mỗi người.
Đó cũng là yêu cầu chúng ta coi trọng nội tâm.
1666.-
Cư sĩ và cao tăng.
Một
vị cư sĩ trẻ đến thăm một vị cao tăng. Hai người nói
chuyện tâm đầu ý hợp từ sáng đến trưa. Đến bữa trưa,
một chú tiểu bưng lên cơm chay gồm một bát lớn và một
bát nhỏ. Vị cao tăng đẩy bát lớn đến trước mặt cư
sĩ mời ông ăn. Cư sĩ không từ chối ăn liền. Cao tăng rất
bất mãn, tự hỏi sao lại có người không hiểu lễ nghi gì
cả, do đó không đụng tới đũa. Cư sĩ ăn xong, ngửng đầu
lên thấy cao tăng mặt đầy sắc giận, bèn hỏi :
-Sao
thầy không ăn ?
Cao
tăng yên lặng, cư sĩ cười nói :
-Thật
không phải, quên cả mời sư phụ. Mời sư phụ dùng bữa.
Đợi
cao tăng ăn xong rồi, cư sĩ bảo :
-Ăn
cơm là ăn cơm, ai ăn cũng là ăn, hà tất phải mời mọc,
ông mời, tôi nhường trừ phi là thầy không thật lòng mời
tôi ăn bát lớn.
Cao
tăng nghe rồi có chỗ lãnh ngộ.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Làm
người quý ở chỗ thành thật, đừng quá câu nệ ở lễ
nghi, khách khí.
1667.-
Châu ở đâu ?
Một
hôm Giác Năng hướng Nguyên Trưng thỉnh giáo Phật pháp :
-Trong
quá trình tu tập tâm giác tri và tâm vọng tưởng như 2 rồng
tranh châu, không biết con nào được ?
Nguyên
Trưng nghe rồi không vui, bảo Giác Năng phải tự mình trừ
bỏ vọng tưởng và tập khí tự nhiên sẽ biết con nào được
châu. Nhưng Giác Năng cảm thấy mình đã trừ được vọng
tâm và tập khí rồi nên càng thấy khó hiểu. Nguyên Trưng
biết vậy nên hỏi lại :
-Nếu
ông đã trừ được vọng tâm rồi sao lại không biết châu
ở đâu ?
Giác
Năng không trả lời được.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền Ngữ)
Là
thiền giả, trong quá trình tu tập phải trừ bỏ vọng tâm
và tập khí, gìn giữ cái tâm bình thường thì có thể tu
thành chánh quả.
(Xem
thêm công án 36)
1668.-
Pháp bình đẳng.
Huệ
Trung khi còn là đứa trẻ mười mấy tuổi, một hôm xin Lục
tổ cho xuất gia :
-Xin
thiền sư mở lòng từ bi thâu con làm đệ tử.
-Trong
thiền tông con cháu Ngân Luân Vương, Kim Luân Vương mới xứng
kế thừa pháp tử. ngươi chỉ là một thằng nhỏ chăn trâu
ở nơi thôn dã sao có thể vào tông môn ?
-Thiền
sư, vạn vật bình đẳng không có cao thấp, sao thầy có thể
dùng lý do này làm trở ngại tâm con hướng thiện? Xin thầy
từ bi thâu nhận con.
Huệ
Trung tuy chưa quy y lại ở trong hoàn cảnh nghèo khổ nhưng
dưỡng dục được đức tánh và có ngộ tánh cao được Lục
tổ thâu nhận. về sau ông được các vua Huyền Tông, Trang
Tông, Đại Tông tôn làm quốc sư.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Người
có Nam Bắc, nhưng Phật tánh phổ chiếu thiên nam, địa bắc.
Mọi người đều có Phật tánh, đều có khả năng tham ngộ
và có cơ hội thành Phật.
1669.-
Còn giận không ?
Có
một phụ nữ tính tình cổ quái, hơi một chút là nổi giận.
Bà ta cũng biết đây là tánh xấu, nhưng không tự kềm chế
được. Do lời khuyên của bạn bè, bà ta tìm đến một vị
cao tăng nhờ giúp đỡ. Gập mặt xong bà ta kể cho hòa thượng
nghe và mong hòa thượng chỉ thị. Hòa thượng không nói một
lời dẫn bà ta vào một thiền phòng rồi khóa lại, bỏ đi.
Bà ta bỗng nhiên bị nhốt trong phòng vừa tối, vừa lạnh,
hòa thượng cũng không nói cho bà ta một lời gì. Càng nghĩ
càng giận, bà ta kêu gọi, mắng chửi, rồi van xin nhưng hòa
thượng vẫn mặc kệ. Rất lâu sau đó, hòa thượng đứng
ngoài cửa hỏi :
-Còn
giận không ?
-Tôi
chỉ giận mình tự nhiên nghe lời người ta mà đến đây.
-Chính
mình còn không tha thứ cho mình, thì làm sao tha thứ cho người
được ?
Hòa
thượng bỏ đi, một lát sau trở lại hỏi :
-Còn
giận không ?
-Không
còn giận nữa.
-Tại
sao ?
-Dù
tôi có giận hay không cũng bị hòa thượng nhốt ở đây vừa
tối, vừa lạnh.
-Thế
lại còn tệ hơn vì bà cố nén giận, nên khi phát tác ra nó
lại còn mãnh liệt hơn nữa.
Hòa
thượng lại bỏ đi. Một lát sau trở lại hỏi :
-Còn
giận không ?
-Không
giận nữa.
-Tại
sao ?
-Vì
tôi không để hòa thượng làm tôi nổi giận vì hòa thượng.
-Bà
còn chưa thoát ra khỏi cái giận.
Hòa
thượng lại bỏ đi. Một lát sau bà ta tự động hỏi hòa
thượng :
-Giận
thật ra là cái gì ?
Hòa
thượng không nói, dường như vô ý để chén trà trong tay
rơi xuống đất. Bà ta bỗng nhiên tỉnh ngộ.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền )
Nếu
tâm thông suốt không một vật, giận từ đâu lại ?
Tâm có dục vọng giận liền sanh. Con người vì có nhiều
dục vọng nên suốt ngày bị phiền não lôi cuốn. Nếu chúng
ta có thể lãnh đạm với mọi sự việc thì tâm tự nhiên
thanh tịnh.
1670.-
Tham thiền là chuyện của bậc
đại trượng phu.
Tịch
Thất Nguyên Quang (1290-1367) có một bài thơ nói “Tham thiền
là chuyện của bậc đại trượng phu, thân và tâm sắt đánh
thành một phiến, các ông hãy nhìn mà coi chư Phật, Tổ lúc
trước có ai phí thì giờ cho vọng tưởng?”
Trong
Bích Nham Lục cũng có câu :
-Muốn
chấn hưng thiền thì phải là bậc hào kiệt.
Tây
Điền Thốn Tâm (Cơ Đa Lang) có nói :
-Nếu
các ông có dõng khí mổ bụng thì mới nên nghiên cứu thiền.
Một
vị thiền sư ứng dụng câu nói này bảo :
-Đối
với các nữ thiền sinh tôi hỏi : “Các cô có dám cởi truồng
trước mặt tôi không?”
Trong
thực tế, ông ta cũng chỉ dám nhìn đến đầu gối của các
cô mà thôi !
(Nhất
Nhật Nhất Thiền Ngữ)
1671.-
Sinh hoạt chân thật.
Biện
thủ tọa, người đời Tống, trú ở Thê Hiền Tự, Lư Sơn,
tánh tục không rõ, tinh thông Phật pháp, sử sự thích nghi
nên được suy cử là thủ tọa.
Biện
thủ tọa thường mặc áo vá, chân mang dép cỏ rách, chống
một gậy trúc. Một lần qua Cửu Giang Đông Lâm Tự gập Hỗn
Dung hòa thượng. Hỗn Dung trách :
-Ông
làm thủ tọa đáng nhẽ phải làm gương cho đại chúng mới
phải. Nay ông ăn mặc như vậy chả là tự khinh thị chính
mình sao ? Làm mất cả thể thống !
Biện
thủ tọa cười :
-Con
người ta chỉ cần hợp ý là vui. Tôi sai ở chỗ nào ?
Bèn
lấy bút viết một bài kệ :
勿
謂 棲 賢 窮
Vật
vị thê hiền cùng
身
窮 道 不 窮
Thân
cùng đạo bất cùng
草
鞋 行 似 虎
Thảo
oa hành tự hổ
拄
杖 活 如 龍
Trú
trượng hoạt như long
渴
飲 曹 溪 水
Khát
ẩm Tào Khê thủy
飢
吞 栗 棘 蓬
Cơ
thôn lật cức bồng
銅
頭 鐵 額 漢
Đồng
đầu thiết ngạch hán
盡
在 我 山 中
Tận
tại ngã sơn trung.
Chớ
bảo Thê Hiền cùng
Thân
cùng đạo chẳng cùng
Dép
cỏ đi như hổ
Chống
gậy tựa như rồng
Khát
uống nước Tào Khê
Đói
cỏ bồng hạt giẻ
Đầu
đồng, cổ sắt hề
Đều
trong núi này cả.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Hỗn
Dung đọc xong bài kệ mắc cỡ, cảm thấy trình độ mình
còn kém Biện thủ tọa rất xa.
1672.-
Dị Kiến Vương và Ba La Đề
tôn giả.
Dị
Kiến Vương hỏi Ba La Đề tôn giả :
-Phật
là thế nào ?
-Kiến
tánh là Phật.
-Thầy
có kiến tánh không ?
-Bần
tăng kiến Phật tánh.
-Tánh
ở đâu ?
-Tánh
tại tác dụng.
-Tác
dụng là thế nào ? Sao trẫm không thấy.
-Tác
dụng rành rành, vương tự không thấy.
-Trẫm
có thật sao ?
-Nếu
vương tác dụng, không gì không phải. Nếu vương không tác
dụng thì khó thấy Thể.
-Khi
tác dụng Thể hiện ra ở đâu ?
-Nếu
xuất hiện thì ở người đó.
-Xin
nói rõ hơn.
-Ở
thai gọi là thân, ở đời gọi là người. Ở mắt là thấy,
ở tai là nghe, ở mũi là ngửi, ở lưỡi là đàm luận, ở
tay là nắm giữ, ở chân là đi lại, ở khắp pháp giới,
thâu lại thành một hạt vi trần. Người biết gọi là Phật
tánh, người không biết gọi là linh hồn.
Vương
nghe rồi khai ngộ.
(Phật
Pháp Tu Chứng Tâm Yếu)
Tánh
không thể dùng mắt thấy, tai nghe, trí để biết, thức để
thức, nhưng có thể dùng Tuệ để quán chiếu, có thể lãnh
ngộ. Cổ đức nói rằng Thể không hình tướng, nếu không
có dụng thì không hiển lộ. Tánh không trạng mạo không tâm
thì không minh. Khởi dụng chính là hiển thể, minh tâm thì
mới kiến tánh. Đó là nói muốn kiến tánh thì phải bắt
tay vào minh tâm. Nếu lìa tâm thì không có tánh nào để kiến
vì thể của tánh là vô hình. Tâm là dụng, dụng không tướng
thì không hiển lộ. Từ dụng của cái tâm hữu tướng có
thể thấy Thể vô tướng của Tánh. Con người ta từ tư tưởng,
sáng tạo, phát minh, công tác cho đến văn minh của thế giới
ngày nay đều là tác dụng của tâm.
1673.-
Vén mành.
Tại
Thanh Lương Viện trước buổi thọ trai, Pháp Nhãn chỉ vào
bức mành. Lúc đó có hai ông tăng ở đấy, cùng đến vén
mành lên. Pháp Nhãn nói :
-Một
được, một mất.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền Ngữ)
Cùng
làm một việc, một người được chấp nhận (tốt), một
người lại bị phủ nhận (không tốt). Cùng làm một việc
nhưng trước khi ngộ và sau khi ngộ có sai biệt về cảnh
giới và đạo lực. Nếu chỉ xét công án này dưới phương
diện được mất, thắng bại thì không thể hiểu được
kiến giải của thiền giả. Phải chặt đứt mọi giây sắn
bìm (những phán đoán thị phi vô ý nghĩa) thì lập tức biến
thành người có pháp nhãn. Hãy nhìn tay của thiền sư sẽ
thấy quyền xác định hay phủ định đều trong tay ông.
(Xem
thêm công án 202)
1674.-
Ngồi lâu sanh mệt.
Có
ông tăng hỏi Hương Nghiêm :
-Ý
tổ sư từ Tây sang là sao ?
-Ngồi
lâu sanh mệt.
(Lưỡng
Nhẫn Tương Giao)
Đạt
Ma tổ sư từ Tây sang là một đại nhân duyên. Do đó các
thiền sư thích lấy “Ý tổ sư từ Tây sang” làm cơ phong.
Các câu trả lời đặc sắc đã trở thành những công án
trứ danh, trong đó câu trả lời của Hương Nghiêm là một.
Đạt Ma tổ sư tới núi Thiếu Thất quay mặt vào vách mà
ngồi thiền 9 năm, đã được người đương thời gọi là
Bích Quán Bà La Môn. Câu trả lời của Hương Nghiêm là phủ
định cái “ngồi” của Đạt Ma, ông hỏi Tổ, tôi đã vượt
lên Tổ. Nhiều người khi luận về công án này không nhìn
thấy khía cạnh này chỉ chú trọng đến chữ ngồi, ngồi
lâu sanh mệt là chỉ cho chúng ta ngộ đạo và ngồi thiền
là 2 chuyện khác nhau. Loại khế nhập này không thể bảo
là sai. Vấn đề là lãnh hội “ngồi lâu sanh mệt” ở 2
chữ ngồi lâu. Nói cách khác là nếu không ngồi thì vô pháp
nhập tọa cũng là sau khi ngồi lâu rồi sẽ bỏ được hình
thức. Câu này cũng giống như câu nói của Thanh Nguyên Duy
Chính “Khi chưa tham thiền thấy núi là núi, sông là sông.
Khi có chỗ vào rồi thì thấy núi vẫn chỉ là núi, sông vẫn
chỉ là sông.” Nếu không thể hội ngồi lâu sanh mệt thì
không thể chân chính bỏ xuống pháp ích. Mọi người đều
nói siêu phàm nhập thánh tông môn do đó đề ra siêu thánh
nhập phàm.
Vấn
đáp trên còn một đoạn nữa như sau :
-Khi
quay lại thì sao ?
-Rơi
xuống hố sâu.
Ngồi
lâu thì sanh mệt, không ngồi thì rơi xuống hố sâu. Thiền
sư đối với pháp là như thế, không rơi vào lưỡng biên,
cứ trực tâm mà làm. Công phu này cần có thời gian như câu
nói :
-Lão
tăng 40 năm rồi mới đánh thành một phiến.
(Xem
thêm công án 83)
1675.-
Thuận theo tự nhiên.
Cỏ
ở sân thiền viện héo vàng không còn chút sinh khí, chú tiểu
bạch sư phụ, xin gieo hạt cỏ mới.
-Đừng
gấp, lúc nào gieo chả được.
Không
lâu thiền sư mua hạt cỏ về, sai chú tiểu đi gieo. Khi chú
gieo hạt có một cơn gió mạnh thổi qua, một phần hạt cỏ
bị thổi bay đi nơi khác. Chú tiểu lấy làm tiếc, sư phụ
an ủi chú :
-Không
sao ! Hãy còn một nửa mà.
Thế
cũng chưa hết, một bầy chim sẻ từ đâu bay tới chăm chỉ
mổ những hạt cỏ. Chú tiểu lại vào trình sư phụ.
-Chú
đừng lo, chim sẻ ăn được bao nhiêu, thế nào năm tới cũng
còn cỏ mọc.
Một
đêm, có trận mưa lớn. Chú tiểu sợ nước cuốn trôi đi
các hạt cỏ, sáng ngày hôm sau vội chạy ra xem thì thấy không
còn hạt cỏ nào trên mặt đất nữa. Chú tiểu buồn muốn
khóc, sư phụ an ủi :
-Nước
cuốn hạt cỏ đến đâu nó sẽ mọc ở đấy, chú cứ để
tùy duyên.
Không
lâu, vườn thiền cỏ lại mọc xanh rì, những hạt còn lại
đã mọc mầm. Chú tiểu vui mừng lại đi báo cáo sư phụ.
Sư phụ chú gật đầu :
-Tất
cả đều tùy duyên.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền)
Trong
cả câu chuyện, thiền sư lúc nào cũng giữ tâm bình thường.
Đối với sự việc, ông thuận theo tự nhiên không cưỡng
cầu gì vì ông biết rằng những gì trao ra nhất định sẽ
được hồi báo.
1676.-
Ý Tổ sư từ Tây sang.
1.-Có
ông tăng hỏi Long Nha :
-Ý
Tổ sư từ Tây sang là sao ?
-Đợi
rùa đá nói, tôi sẽ bảo cho ông.
-Rùa
đá nói rồi !
-Nói
gì với ông vậy ?
Ông
tăng không trả lời được.
2.-Ngưỡng
Sơn hỏi Quy Sơn :
-Ý
Tổ sư từ Tây sang là sao ?
-Quy
Sơn chỉ lồng đèn :
-Lồng
đèn lớn tốt.
-Chỉ
là cái đó sao ?
-Cái
đó là cái gì ?
-Lồng
đèn lớn tốt.
-Quả
nhiên ông không thấy.
3.-Lại
có ông tăng khác hỏi Quy Sơn :
-Ý
Tồ sư từ Tây sang là sao ?
Quy
Sơn giơ phất tử lên.
4.-Long
Nha hỏi Thúy Vi :
-Ý
Tổ sư từ Tây sang là sao ?
-Mang
thiền bản lại đây.
Nha
mang thiền bản tới, Thúy Vi cầm lấy đánh, Nha nói :
-Đánh
thì cứ đánh nhưng còn : Ý Tổ từ Tây sang là sao ?
Nha
lại đem hỏi Lâm Tế, Lâm Tế bảo :
-Mang
bồ đoàn lại đây.
Nha
đưa bồ đoàn tới, Lâm Tế cầm lấy đánh, Nha nói :
-Đánh
thì cứ đánh, nhưng còn “Ý Tổ sư từ Tây sang là sao ?
Nha
lại đến hỏi Động Sơn, Động Sơn bảo :
-Đợi
Động Thủy chẩy ngược dòng tôi sẽ bảo cho ông biết.
(Thiền
Tông Đại Ý)
Đây
là một câu hỏi rất phổ biến trong khoảng 300 năm đời
Đường. Cùng một câu hỏi sao có nhiều câu đáp không giống
nhau ? Đó là vì căn bản của Thiền là siêu việt tất cả
vô sinh pháp, lìa bỏ mọi hình thức, khái niệm cho nên tự
tại vô ngại. Có thể nói toàn vũ trụ đều vì ý Tổ sư
mà hiện tiền, vì vũ trụ vạn hữu đều tồn tại trong ý
Tổ sư. Do đấy lấy một vật nào cũng là ý của Tổ sư,
không có một khái niệm cố định nào. Bởi vậy các vị
cao tăng, thiền đức tùy hoàn cảnh, cơ hội mà tự tại đưa
ra câu đáp.
(Xem
thêm công án 812)
1677.-
Mũ cao, áo rộng.
Một
đệ tử bái biệt sư phụ đi hành cước. Sư phụ quan tâm
dặn đệ tử phải thận trọng trong mọi sự giao tiếp.
Đệ
tử thưa :
-Dạ
! Con sẽ cẩn thận, con sẽ để họ đội mũ cao họ sẽ không
phản cảm, ghét bỏ con.
-Ông
thật khéo nghĩ.
-Dạ
đúng thế, ai cũng muốn đội mũ cao, chỉ có sư phụ là không
thích mà thôi !
-Tôi
thật không thích đội mũ cao.
(Phật
Pháp Tu Chứng Tâm Yếu)
Vậy
đó, sư phụ đã bị đệ tử cho đội mũ cao rồi. Đối với
chuyện tốt bất tri bất giác đã bị ô nhiễm. Vì vậy khi
công phu chúng ta phải miên mật quán chiếu, không gián đoạn,
không để sơ hở.
1678.-
Bài kệ của Chân Tĩnh thiền
sư.
人
人 有 個 天 真 佛
Nhân
nhân hữu cá thiên chân Phật
妙
用 縱 橫 總 不 知
Diệu
dụng tung hoành tổng bất tri
今
日 分 明 齊 恉 出
Kim
nhật phân minh tề chỉ xuất
斬
蛇 舉 拂 更 由 誰
Trảm
xà cử phất cánh do thùy.
Người
người đều có thiên chân Phật
Không
biết nhưng mà vẫn dùng hoài
Ngày
nay phải chỉ ra cho rõ
Dựng
gậy, chém rắn lại là ai ?
(Phật
Pháp Tu Chứng Tâm Yếu)
Thiền
sư là lão bà tâm thiết chỉ cho mọi người khỏi mất công
tìm kiếm. Muốn biết khuôn mặt xưa nay không phải là khó.
Bởi vì bản tánh chẳng ở nơi đâu khác mà ở ngay trước
mắt ta. Tiếc vì người đời không biết, chỉ vì bị khốn
quẫn bởi chữ Tánh, đều tưởng phải tìm kiếm ở nơi cao
thâm huyền diệu; không biết “cái” có thể nhìn, có thể
nghe, có thể nói, có thể làm, cái đó chính là bản lai nhân.
Nếu lìa cái này để đi tìm cái khác thì càng tìm càng xa,
càng không thể thấy.
1679.-
Bài kệ của Bàng Uẩn.
1.
Bàng cư sĩ có làm bài kệ như sau :
有
男 不 婚
Hữu
nam bất hôn
有
女 不 嫁
Hữu
nữ bất giá
合
家 團 圝 圓
Hợp
gia đoàn loan viên
共
說 無 生 話
Cộng
thuyết vô sanh thoại
Có
trai không cưới vợ
Có
gái chẳng gả chồng
Cả
nhà cùng xum họp
Cùng
nói lời vô sanh.
2.
Về sau có một vị hòa thượng đọc bài kệ trên bèn viết
một bài kệ như sau :
無
男 可 婚
Vô
nam khả hôn
無
女 可 嫁
Vô
nữ khả giá
大
眾 團 圝 圓
Đại
chúng đoàn loan viên
說
甚 無 生 話
Thuyết
thậm vô sanh thoại
Không
trai cưới vợ
Không
gái gả chồng
Đại
chúng cùng hội họp
Nói
gì lời vô sanh.
3.
Nguyên Âm lão nhân lại có bài kệ :
有
男 亦 婚
Hữu
nam diệc hôn
有
女 亦 嫁
Hữu
nữ diệc giá
子
子 復 孫 孫
Tử
tử phục tôn tôn
是
說 無 生 話
Thị
thuyết vô sanh thoại
Có
trai cưới vợ
Có
gái gả chồng
Con
con rồi cháu cháu
Là
nói lời vô sanh.
Bài
kệ 1 của Bàng cư sĩ nói nhà ông có 4 người : 2 vợ chồng,
1 con trai, 1 con gái. Con trai không cưới vợ, con gái không gả
chồng, mọi người đều chứng đạo, thật là hiếm thấy.
Bài
kệ 2, hòa thượng không có vợ nên không có con trai để cưới
vợ, không có con gái để gả chồng, nhưng có đại chúng.
Trong chùa không có một mình hòa thượng mà còn chư tăng đều
cùng tu, không có lời để nói, còn nói gì là nói lời vô
sanh.
Cả
2 bài kệ đều hay một bài nói lời vô sanh, một bài nói
lời vô sanh cái gì, mỗi người đều có diệu dụng.
Bài
kệ thứ 3 : có con trai có thể cưới vợ, có con gái có thể
lấy chồng. Các con có gia đình rồi sanh ra các cháu. Con con
cháu cháu sanh sanh bất tuyệt. Đó là vô sanh, là diệu dụng
của chân tâm, biểu thị phương pháp viên dung vô ngại.
(Xem
thêm công án 279)
1680.-
Ngũ Đế Tam Hoàng là vật gì
?
1.
Hoa Viên Thiên hoàng vời Đại Đăng quốc sư (1282-1337) tới
giảng Phật pháp. Sứ giả bảo thiền sư phải mặc đạo
phục và ngồi cách Thiên Hoàng mà thuyết pháp. Nhưng quốc
sư cứ yêu cầu mặc áo cà sa và ngồi đối diện. Thiên Hoàng
nhất nhất nghe lời. Khi gập mặt Thiên Hoàng nói :
-Phật
pháp không thể nghĩ bàn, cùng Vương pháp đối tọa.
Quốc
sư đáp ngay :
-Vương
pháp không thể nghĩ bàn cùng Phật pháp đối tọa.
Thiên
Hoàng rất hài lòng.
2.
Tuyết Đàm sau khi rời sư phụ Thường Lâm trú ở Mỹ Nùng
Y Thâm Chánh Nhãn Tự, do cách dạy quá nghiêm khắc nên có
ngoại hiệu là Lôi Tuyết Đàm. Một hôm nhân Vĩ Trương ở
Khuyển Sơn Thoại Thiền Tự mời đến giảng tổ lục, Khuyển
Sơn Thành Chủ cũng đến nghe. Do đó dựng một bục cao, lại
treo mành phía trước. Tuyết Đàm trông thấy rất tức giận
hét lên :
–Gã
vô lễ ngồi sau mành, những gì ta giảng không phải là cặn
bã mà phải dùng màn lọc.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền Ngữ)
Dù
là bậc vương giả, thiền sư cũng chẳng coi vào đâu.
1681.-
Núi cao, sông sâu.
Cao
Kiều Nê Chu (1825-1903), Thắng Hải Chu, Sơn Cương Thiết Chu
là 3 danh thủ xử dụng trường thương cuối thời Mạc Phủ,
thường được gọi là Tam Chu. Thời trẻ Nê Chu cùng vị trụ
trì Dã Xứ Tĩnh Viện nói chuyện. ông không dấu được lòng
kiêu ngạo về thương thuật của mình. Trụ trì chỉ im lặng
nghe, sau cùng cười bảo :
-Đối
với việc xử dụng trường thương tôi cũng có chút tâm đắc,
chúng ta hãy tỷ thí một chút. Thế nào ?
Nê
Chu nghe rồi bèn bước ra sân, nắm lấy một cây sào phơi
áo thủ thế. Hòa thượng chỉ dùng một chiếc đũa. Nê Chu
nổi giận, tưởng dùng gậy chọc thủng được ngực hòa
thượng. Nhưng hòa thượng thủ thế vững như núi Thái Sơn,
không chỗ sơ hở. Nê Chu toát mồ hôi mặt, thủy chung vẫn
không dám ra tay. Cuối cùng đành chịu thua. Sau đó hỏi hòa
thượng thuộc phái võ nào, hòa thượng trả lời :
-Kỳ
thật chẳng có môn phái nào, nếu miễn cưỡng thì có thể
nói là phái “núi cao, sông sâu”, “phái mắt ngang mũi dọc”
hoặc phái “liễu lục, hoa hồng”. Có gì thì là gì, không
gì không thể.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền Ngữ)
Từ
đó về sau Nê Chu bắt đầu tham cứu Phật pháp, nhưng hòa
thượng không chỉ bảo gì cả. Nê Chu vì muốn học cảnh
giới cao của thương pháp nên hết sức nghiên cứu thiền
lý. Ít năm sau một hôm nhân đọc Long Môn Dạ Thoại, đọc
đến công án Khoái Xuyên “diệt hết tâm đầu, lửa tự
mát”. Cuối cùng đã thể nhận được cảnh giới bất động
của ngộ cảnh.
1682.-
Bỏ xuống đi.
Trong
công án “Đệ Tử Đến Tay Không” (công án 1), Triệu Châu
bảo :
-Bỏ
xuống đi !
Nguyên
văn chữ Hán là “Phóng hạ trước” (放下著) !
Có
một vị nữ đệ tử khi nghe thiền sư kể lại công án này
lại ngắt câu thành : “Phóng ! Hạ trước ! ( 放! 下著!)
(Có thể hiểu là hãy cởi đồ mặc ở phía dưới xuống
!)
Cô
liền cởi quần đứng ngay trước mặt sư phụ. Sư phụ liển
trỏ vào ngực cô bảo :
-Bỏ
xuống đi !
(Nhất
Nhật Nhất Thiền Ngữ)
Câu
“bỏ xuống đi !” của thiền sư có 2 nghĩa :
-Cô
hãy còn mặc áo, hãy cởi nốt ra đi !
-Cô
hãy còn chấp vào nữ tánh. Hãy bỏ xuống mọi chấp trước.
Chữ trước ở đây là hư tự, là trợ từ chỉ mệnh lệnh.
(tương tự chữ đi trong”bỏ xuống đi” ở Việt ngữ)
1683.-
Bài kệ của Trích Thủy hòa
thượng.
Hòa
thượng Trích Thủy có để lại bài kệ :
曹
源 一 滴
Tào
nguyên nhất trích
七
十 余 年
Thất
thập dư niên
受
用 不 盡
Thọ
dụng bất tận
蓋
天 蓋 地
Cái
thiên cái địa
暍
Hạt
Tào
nguyên một giọt
Bẩy
mươi năm rồi
Thọ
dụng bất tận
Trùm
cả đất trời
Ha
!
(Nhất
Nhật Nhất Thiền Ngữ)
Đại
ý bài kệ nói : “Chỉ một giọt nước Tào Khê, dùng đã
70 năm rồi, giọt nước này sung mãn khắp vũ trụ, không đâu
không có. Tào Nguyên chỉ nơi cư ngụ của Huệ Năng, vị tổ
thứ sáu của Thiền tông Trung Hoa.
1684.-
Niệm khởi tức giác.
Đệ
tử tâm ái của Thế Tôn là tôn giả A Nan, là một người
đẹp trai, được một thiếu nữ Chiên Đà La (thuộc giai cấp
nô tài) yêu mến. Lúc đó, sự kỳ thị giai cấp rất khắc
nghiệt, khiến tôn giả rất phiền não không biết phải xử
trí ra sao. Thế Tôn biết chuyện này bèn lấy ra một khăn
tay, thắt nhiều nút rồi hỏi A Nan :
-Đây
là cái gì ?
-Là
nút buộc.
-A
Nan ! Nội tâm ông cũng như những nút này, ông vì nàng Chiên
Đà La mà phiền não. Chỉ cần ông mở từng nút, từng nút
thì sẽ hết phiền não.
Thế
Tôn cởi hết nút rồi hỏi :
-A
Nan có còn nút không ?
(Nhất
Nhật Nhất Thiền Ngữ)
Ngồi
thiền không thể ngủ gục, nếu không đó chỉ là ngủ gục,
không phải ngồi thiền. Ngồi thiền cũng không thể suy tư,
nếu không thì đó là suy tư chứ không phải là ngồi thiền.
Niệm khởi tức giác. Nếu khởi vọng niệm hoặc buồn ngủ,
hoặc ngây ra lập tức “Vô” một tiếng quay trở lại công
án. Đó là mở nút phiền não, vọng tưởng. Người xưa có
nói qua : chẳng sợ niệm khởi chỉ lo giác chậm.
1685.-
Đừng vọng tưởng.
Hòa
thượng Nhất Ty Văn Thủ (1608-1648) tài cán phi phàm, tham hiểu
rất nhiều công án. Năm 19 tuổi từng tự phụ là trong thiên
hạ không có ai đủ giỏi để làm thầy mình, nhưng khi nghe
Trạch Am hòa thượng ở Nam Tông Tự, thì cũng lại tham bái.
Ông kể cho hòa thượng tại các phương trượng ông học được
những công án gì, dương dương đắc ý, yêu cầu hòa thượng
phê bình .
Trạch
Am cười lớn :
-Nơi
đây lão nạp không có loại phương pháp này, không treo những
sợi sắn bìm mà bán Phật pháp. Phật pháp của lão nạp chỉ
là một viên thuốc trị bá bệnh.
(Nhất
Nhật Nhất Thiền Ngữ)
Có
ai hỏi gì Câu Chi cũng chỉ giơ một ngón tay lên, Bí Ma (đệ
tử đời thứ 3 của Mã Tổ) chỉ dùng một cái néo để néo
cổ người hỏi. Đả Địa hòa thượng thì lấy gậy đập
xuống đất, Vô Nghiệp chỉ nói “Đừng vọng tưởng”.
Câu
đáp của Trạch Am có giống câu “Đừng vọng tưởng “
không? Phải nghe cho kỹ. Về sau Nhất Ty tuy theo Trạch Am tham
cứu và được Thiên Hoàng chỉ bày cho nhiều lời nhưng cũng
không được Trạch Am ấn khả, chỉ để cho một di hạt (bài
kệ lúc sắp mất) là một chữ mộng.
1686.-
Hai dao giao tranh không nên
tránh.