THƯ VIỆN HOA SEN
SearchEnglishMirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
.
NHỮNG ĐOÁ HOA THIỀN
Dịch gỉa: Dương Đình Hỷ
Phước Quế Publications, Arlington, USA 2003
Mục Lục.
Quyển Thượng.
Quyển Trung.
Quyển Hạ.
Quyển Chung.
NHỮNG ĐOÁ HOA THIỀN
禪 之 花
QUYỂN HẠ 

1400. Thấy Bát Nhã rồi.
Một ông tăng hỏi Đức Thiều:
- Có người thấy Bát Nhã, bị Bát Nhã buộc (T), có người không thấy Bát Nhã cũng bị Bát Nhã trói (P). Nếu đã thấy Bát Nhã sao còn bị Bát Nhã trói?
- Ngươi thấy Bát Nhã gì?
- Không thấy Bát Nhã sao vẫn bị Bát Nhã trói?
- Ngươi không thấy Bát Nhã ở đâu?
(Thiền cơ)

Từ 1368 đến 1400: các công án trên đều có cùng một cơ chế, thiền sinh hỏi phàm (P), thiền sư đáp thánh (T); thiền sinh hỏi thánh (T), thiền sư đáp phàm (P). tất cả đều nhằm mục đích giúp thiền sinh siêu việt phàm thánh. Nếu thiền sinh đang ở thánh, thiền sư kêu ông trở về phàm để ma luyện. Vì nếu thiền sinh cứ trú ở thánh thì bị thánh trói buộc không tiến lên được.
Thiền môn có 3 cửa mà người học phải vượt qua, sơ lược như sau:

Tại phàm              Vào thánh                Về phàm           Đại tự tại 
Sơ quan               Trùng quan              Lao quan
Hiện tượng giới     Bản thể giới            Bản thể hiện      Bản thể hiện
                                                          tượng giới        tượng vô ngại giới
   1                        2                        3                         4

1- Hiện tượng giới
Hiện tượng giới nằm ở:
- thời gian: quá khứ + hiện tại + tương lai .
- không gian: trước sau, phải trái, trên dưới, Đông, Tây, Nam, Bắc.
- con người: 3 duyên
*ngoại duyên   :  6 trần
*nội duyên       :  6 căn 
*trung duyên    :  6 thức

Các yếu tố này thúc đẩy nhau, hỗ tương duyên khởi tạo thành hiện tượng giới. Hiện tượng giới có các tính chất:
- hữu hạn
- sai biệt
- đối lập
- dục vọng thúc đẩy ý chí.
Dục vọng không được thỏa mãn trở thành phiền não, do đó sinh ra trăm kế, ngàn mưu để truy cầu. Dù được rồi sẽ hóa chán ngay. Từ sinh đến tử con người ở hiện tượng giới tự tìm phiền não mà không tự biết. Có phiền não thì hãy còn là phàm phu.

2-  Bản thể giới.
Bản thể thể giới đứng ngoải: - thời gian
                                                - không gian
                                                - 3 duyên.
Nếu có thể một niệm siêu thoát liền vào Bản thể giới, kiến tự tánh. Tự tánh ai cũng có đầy đủ. Tự tánh từ xưa đến nay không sinh không diệt, không xanh không vàng, không hình không tướng, không thuộc Hữu Vô, không kể cũ mới, không dài không ngắn, không to không nhỏ, vượt qua mọi hạn lượng, danh ngôn, tung tích, đối đãi. Đương thể tức là, động niệm liền sai. Giống như hư không không có giới hạn, không thể đo lường. Vì “vốn không một vật” nên nó có thể sinh ra vạn vật. Không chỗ nào là không có, có thể lớn, có thể nhỏ, có thể vuông, có thể tròn. Tất cả đều hiện thành. Lại giống như trăng trong nước. Chỗ nào có nước đều được phổ chiếu. Lại giống như giọt thủy ngân khi phân tán ra nhiều giọt, giọt nào cũng tròn. Cho nên tự tánh ai cũng có không hề thiếu chỉ vì bị hiện tượng giới che dấu; cũng như một hạt minh châu trong nước bị gió tạo thành sóng khiến không thấy. Thiền sư phải làm sao cho học tăng thấy? Đối với cái không thể nói thường là các thiền sư dùng phương pháp không nói mà nói. Nếu bất đắc dĩ phải nói thì từ những sinh hoạt thường ngày, mượn những cảm giác cụ thể của sự vật mà hình dung đến tự tánh không thể cảm giác, không thể nghĩ bàn. Nếu học tăng ngay đó tự ngộ tự tánh liền thấy tánh, phá được sơ quan, vào Bản thể giới.

Tự tánh có nhiều tên do ứng duyên mà lập:
- kinh Bồ tát giới gọi là Tâm Địa vì vạn thiện từ đó mà ra.
- kinh Bát Nhã gọi là Bồ Đề vì lấy giác làm thể, còn gọi là Niết Bàn vì đó là chỗ về của chư Thánh.
- kinh Kim Cương gọi là Như Lai vì không từ đâu đến.
- kinh Kim Quang Minh gọi là Như Như vì chân thường bất biến.
- kinh Tịnh Danh gọi là Pháp Thân vì báo, hóa thân nương dựa vào.
- luận Khởi Tín gọi là Chân Như vì bất sanh, bất diệt.
- kinh Niết Bàn gọi là Phật Tánh vì là thể của 3 thân.
- kinh Viên Giác gọi là Tổng Trì vì lưu xuất công đức.
- kinh Thắng Ứng gọi là Như Lai Tạng vì ẩn phục, hàm nhiếp.
- kinh Liễu Nghĩa gọi là Viên Giác vì phá tôi, độc chiếu.
Trong Thiền Tông có lúc gọi là:
- Diệu tâm vì hư linh, độc chiếu
- Vô đề bát vì tùy xứ sinh nhai.
- Xuy Mao Kiếm vì chặt đứt căn trần.
- Mâu ni châu vì giúp đỡ bần cùng.
- Chủ nhân ông . . . 

3-  Bản thể hiện tượng giới.
Tức là ra thánh về phàm. Hiện tượng giới giống như vỏ trứng, thiền sinh phải tự mình mổ vỡ là phá được Sơ  Quan, vào bản thể giới. Nhưng thiền sinh phải trở lại phàm để ma luyện. Nếu cứ trụ ở thánh thì sẽ bị “nước chết sát hại”. Do đó, thiền sư dùng phương pháp đánh, hét khiến thiền sinh ‘Tuyệt hậu tái tô” phát đại cơ, đại dụng “mai già hoàn hồn”. Đó là thiền sinh đã phá được Trùng Quan.

4-  Bản thể hiện tượng vô ngại giới.
 Phá được Trùng Quan rồi hãy còn phàm thánh, ngộ mê, lý sự, thể dụng, không sắc, vô hữu, tối sáng, tâm cảnh, bồ đề phiền não, như lai chúng sinh . . . Do “đầu gậy trăm trượng bước bước nữa”, không ngừng tham chứng cho đến khi không thấy Phật, không thấy chúng sinh, trong ngoài thông suốt. Vào sắc giới  không bị mắt mê hoặc, vào thanh giới không bị tai mê hoặc . . . là thiền sinh đã phá được Lao Quan nhận được tâm ấn.

1401.  Giác ngộ.
Động Sơn hỏi thủ tọa một câu, thủ tọa trả lời nhiều lần nhưng đều không được chấp nhận. sau cùng đến lần thứ 96. Động Sơn bảo:
- Sao trước ngươi không nói thế “
Một ông tăng nọ, được nghe 95 câu trả lời của thủ tọa nhưng câu cuối cùng lại không nghe được. Mỗi lần gập trong nhà tắm ông đều năn nỉ thủ tọa nói cho ông nghe câu nói đó nhưng đều bi từ chối. Ba năm sau, thủ tọa bị ốm nặng. Ông tăng mang dao đến bảo thủ tọa:
- Ba năm qua, tôi năn nỉ ông nói, ông đều từ chối. nếu bây giờ ông vẫn không bảo cho tôi biết, tôi sẽ giết ông.
- Được rồi! Đợi một chút! Nhưng tôi bảo cho ông biết dù tôi có nói thì cũng chả có ích lợi gì cho ông.
Ông tăng lạy thủ tọa đi ra.
(Zen and Zen classic)
Khi ông tăng nhận được lời hứa sẽ được thỏa mãn điều ông muốn thì ông không còn muốn nữa: Ông đã giác ngộ. Giác ngộ là không còn muốn giác ngộ nữa.

1402.  Tháp vô phùng.
Một ông tăng hỏi Thủ Sơ:
- Thế nào là tháp vô phùng? (Xem công án    )
- Sư tử đá ở ngã tư đường.
(Zen and Zen classic)
Thủ Sơ muốn ông tăng vượt lên phàm, thánh.

1403.  Người đánh xe.
Một ông tăng hỏi Thủ Sơ:
- Khi xe ngừng mà bò không ngừng thì sao?
- Sao không dùng người đánh xe?
(Zen and Zen classic)
Người đánh xe chỉ tự tánh.

1404.  Chấp lời.
Một ông tăng hỏi Thiệu thiền sư:
- Môi, họng không động làm sao nói?
- Đợi ngươi bừa hết Càn Tử Sơn ta sẽ bảo cho ngươi biết.
(Thiền ngoại thuyết thiền)
Thiền sư phá cái chấp vào lời nói của ông tăng.

1405.  Diệt lục căn.
Một ông tăng hỏi Quảng Trừng:
- Làm sao diệt hết lục căn?
- Vụt kiếm vào không, không làm thương vật.
(Thiềng ngoại thuyết thiền)
Dùng kiếm trí tuệ chặt đứt mọi trói buộc.

1406. Tâm của cổ Phật.
Một ông tăng hỏi Triệu Châu:
- Thế nào là tâm của cổ Phật?
- Ba người đàn bà xếp hàng lạy.
(Thiền ngoại thuyết thiền)

1407.  Đại ý Phật pháp.
Một ông tăng hỏi Phụng thiền sư:
- Thế nào là đại ý Phật pháp?
- Thíc Ca là quỷ đầu trâu, tổ sư là qủy mặt ngựa.
- Thế nào là ý Tây sang?
- Tường Đông đánh tường Tây!
(Thiền ngoại thuyết thiền)

1408.  Ý tổ sư.
Một ông tăng hỏi Đạo Ân:
- Ý tổ sư từ Tây sang là sao?
- Năm Phổ Thông thứ 8 gập Lương Quái, cho đến nay vẫn chưa có tuyết.
(Thiền ngoại thuyết thiền)
Từ 1406 đến 1408: Các câu đáp đều ly kỳ không ngoài mục đích là cắt đứt sự suy nghĩ của người hỏi.

1409.  Thạch Sương.
Thạch Sương đến thăm Đạo Ngô hỏi:
- Một trăm năm sau, nếu có người hỏi về tự tánh, con phải trả lời sao?
- Đạo Ngô gọi thị giả:
- Sa di!.
- Dạ!
- Đổ thêm nước vào tịnh bình.
Đạo Ngô quay lại hỏi Thạch Sương:
- Vừa rồi ông hỏi gì?
Thạch Sương nhắc lại câu hỏi, Đạo Ngô trở về phương trượng. Thạch Sương giác ngộ ngay đó.
(Zen and Zen classic)
Thành, trụ, hoại, diệt của vạn vật được thấy trong sự đổ thêm nước vào tịnh bình, trong sự nhắc lại câu hỏi, trong sự trở về phòng. Những động tác này người thường làm với sự vô ý thức, còn Đạo Ngô làm với sự tỉnh thức, chẳng trách Thạch Sương giác ngộ.

1410.  Đừng tìm trong kinh.
Một ông tăng hỏi Thạch Sương:
- Ý tổ sư từ Tây sang có trong Phật giáo không?
- Có.
- Ý đó là sao?
- Đừng tìm trong kinh.
(Zen and Zen classic)
Câu trả lời thật hay và rõ ràng. Chân lý trong kinh, nhưng đừng đọc kinh để tìm chân lý trong đó.

1411.  Bện dép cỏ.
Động sơn hỏi một ông tăng:
- Ngươi từ đâu tới?
- Từ nơi bện dép cỏ.
- Người tự mình bện hay phải nhờ người?
- Nhờ người.
Hắn có dạy ngươi không?
- Nếu cứ theo lời hắn thì sẽ bện được dép tốt.
(Động Sơn Lục)
 Hắn chỉ tự tánh.

1412.  Huyền Chi Hựu Huyền.
Một ông tăng hỏi Động Sơn:
- Thế nào là huyền chi hựu huyền?
- Lưỡi người chết.

1413.  Cỏ bờ bên kia.
Một ông tăng hỏi Động Sơn:
- Ở bờ bên kia là cỏ gì?
- Cỏ không mọc.
(Động Sơn Lục )
 “Cỏ không mọc” cùng với ý “vạn dậm không tấc cỏ” (Xem công án  668).

1414.  Chết rồi về đâu?
Một ông tăng hỏi Động Sơn:
- Khi một ông tăng qua đời, ông về đâu?
- Sau khi thiêu, chỉ còn lại một cọng rau dút.
(Động Sơn Lục)
Động Sơn ám chỉ ‘Chủ nhân ông” trở về không.

1415.  Phi lão hủ.
Động Sơn đến Kinh Triệu tham bái hòa thượng Hưng Bình. Hưng Bình bảo:
- Đừng lạy lão hủ.
- Lạy phi lão hủ.
- Phi lão hủ không nhận lạy.
- Phi lão hủ cũng không ngăn chận lạy.
(Động Sơn Lục)
Phi lão hủ chỉ tự tánh bất sinh bất diệt, bất tăng bất giảm.

1416.  Tâm của cổ Phật.
Động Sơn hỏi Hưng Bình;
- Thế nào là tâm của cổ Phật?
- Là tâm ngươi, không là gì khác.
- Mặc dầu vậy con còn nghi vấn.
- Nếu là thế,ngươi hãy đi hỏi người gỗ.
- Con có một câu không mượn lời chư thánh.
- Sao ngươi không nói thử coi!
- Không phải là việc của con.
(Động Sơn Lục)
Khi Hưng Bình nói là tâm ngươi, Động Sơn mới đầu nói là con còn nghi vấn, sau lại nói ‘không phải là việc của con’ là phủ định ngã mà trở thành tâm của cổ Phật.

1417.  Bó củi nặng bao nhiêu?
Có một lần Tuyết Phong mang một bó củi ném xuống trước mặt Động Sơn. Động Sơn hỏi:
- Bó củi nặng bao nhiêu?
- Người cả thiên hạ cũng không giở lên được.
- Vậy sao nó lại ở đây?
Tuyết Phong im lặng không nói.
(Động Sơn Lục)

Bó củi ám chỉ tự tánh.

1418.  Cuốc chết giun.
Một hôm Vân Cư đang làm ruộng vô ý cuốc chết một con giun. Động Sơn bảo:
- Ngươi phải cẩn thận.
- Con giun còn chưa chết.
- Việc nhị tổ về Nghiệp Thành ngươi nghĩ thế nào?
Vân Cư không trả lời.
(Động Sơn Lục)
‘Con giun còn chưa chết” chỉ túc nghiệp của con giun. Theo truyền thuyết Huệ Khả trước khi về Nghiệp Thành (tỉnh Hà Nam ngày nay) có nói là về để trả nợ. Ông về đó bị quan lại bắt bỏ ngục và sát hại. chuyện này ám chỉ bị hại là do trả quả tội nghiệp kiếp trước.

 1419. Ung Chính
Ung Chính được nhiều người công nhận là một vị hoàng đế đã khai ngộ. Ung Chính lên ngôi rồi đọc cuốn ngữ lục của Ngọc Lâm, vị thiền sư đã được tổ phụ ông là Thuận Trị sắc phong là quốc sư, thấy rằng Ngọc Lâm quả đã triệt ngộ. Ông bèn hạ  chiếu vời Triệt hành giả là truyền nhân của Ngọc Lâm vào cung. Triệt hành giả (về sau là Thiên Tuệ Triệt Tổ) lúc đó đang ở Cao Mân Tự tham thiền. Lúc đó ông còn chưa khai ngộ, bị quan sai tìm đến, đưa về Bắc Kinh.
Ung Chính gập mặt Triệt hành giả bèn hỏi:
- Mặt mũi xưa nay khi cha mẹ chưa sinh ra như thế nào?
Triệt hành giả trì nghi (vì tâm sợ hãi trước mặt hoàng đế) giơ một nắm đấm lên. Ung Chính không đồng ý, nhưng thấy Triệt hành giả tham thiền lâu năm muốn thành toàn cho ông nên bảo:
- Ngươi hỏi lại trẫm đi!
- Xin hỏi Hoàng thượng thế nào là mặt mũi xưa nay lúc cha mẹ chưa sinh ra?
Ung Chính giơ nắm đấm lên. Triệt hành giả hốt nhiên đại ngộ.
(Báo Mỹ Phật Tuệ Tấn số 86)

Một người đã thấy tánh thì không bị lợi hại uy hiếp, ảnh hưởng đến kiến địa của mình mà phải do dự. Ung Chính chỉ cho ông “chính là cái đó”. Triệt hành giả tham thiền nhiều năm, hoặc giả cho rằng chỉ tiểu dân mới là “cái đó” đột nhiên phát hiện Hoàng đế “cũng là cái đó” do vậy đại ngộ. Vậy giơ nắm đấm lên là chỉ kiến tánh ư? Hoàn toàn không phải vậy. Lịch sử không ghi chép Ung Chính giác ngộ như thế nào? Nhưng ông quả là một vị đại tông sư. Khi ông tthấy Triệt hành giả đối tự tánh hãy còn do dự chưa quyết định tin hay không tin ở sự giơ nắm đấm lên. Ung Chính giúp ông theo nước đẩy thuyền. Giơ nắm đấm lên, giống như sấm nổ bên tai khiến nghi tình của Triệt hành giả bị đánh tan., thấy được tự tánh. Hành giả hàng ngày tu tâm phải làm sao không bị ngoại cảnh ảnh hưởng. Nói thì dễ, nhưng làm thì sao đây? Chúng ta phải kiên nhẫn dùng trí tuệ và từ bi hỷ xả đối diện nghịch cảnh mà đào luyện tâm.
(Chu Hữu Đường)

1420.  Hai con quạ.
Một lần Động Sơn đang rửa bát thấy 2 con quạ đang tranh nhau ăn một con ếch. Một ông tăng cũng trông thấy hỏi:
- Tại sao lại đến tình trạng này?
- Chỉ lợi cho xà lê.
(Động Sơn lục)
Câu đáp của Động Sơn có nghĩa là ông tăng phải tự phản tỉnh.

1421.  Người làm mặt nạ.
Một hôm, Xá Lợi Phất gập một người bạn cũ trên đường. Sau khi chào hỏi xong, rất kinh ngạc bảo:
- Xin lỗi tôi nói thật, khí sắc ông sao xấu thế! Sắc mặt hung dữ khó coi quá! Ông hãy bảo trọng!
Người bạn này sau khi nghe lời khuyên của Xá Lợi Phất liền suy nghĩ tại sao tướng mạo mình lại biến thành hung ác? Suy đi tính  lại cuối cùng đã hiều: thì ra hàng ngày mình chế tạo các mặt nạ quỷ Dạ Xoa, La Sát, mặt xanh nanh vàng, không ngừng nghĩ đến những khuôn mặt khó coi không ngờ tướng mạo mình biến thành Dạ Xoa, La Sát. Thật đúng là tướng do tâm sanh, đáng sợ thật. Từ nay ta không làm mặt nạ Dạ Xoa, La Sát nữa mà sẽ điêu khắc các tượng Phật, Bồ Tát, ông quán tưởng Phật, Bồ Tát từ bi, thân thiết biết bao. Càng điêu khắc càng hoan hỉ, tướng mạo ông dần dần thanh thản.
Một hôm Xá Lợi Phất gập lại ông trên đường, không ngăn được hỏi:
- A! Tướng mạo ông làm sao lại biến thành từ bi, thanh thoát như vậy?
Bạn ông mỉm cười:
- Hiện nay, hàng ngày tôi điêu khắc tượng chư Phật và Bồ Tát đó!
(Báo Phổ Môn số 238)
Do đó, ta thấy tâm như một người nghệ sĩ có thể sáng tạo mọi vật.  Tướng mạo chúng ta là do tâm chúng ta  vì mọi người có thể chính mình là người sáng tạo. Khi tâm ta hoan hỉ từ bi tướng mạo ta sẽ thanh thản, khi chúng ta giận dữ tướng mạo sẽ hung ác. Vậy chúng ta nên tịnh hoá tâm linh để tâm trở thành thuần tịnh, thiện lương.
(Ma Già)

1422.  Bài kệ của Bố Đại hòa thượng.

我 有 一 布 袋
Ngã hữu nhất bố đại
虛 空 無 障 礙
Hư không vô chướng ngại
展 開 遍 十 方
Triển khai biến thập phương
如 實 觀 自 在
Như thật quán tự tại

Ta có một túi vải
Hư không chẳng quái ngại
Mở ra khắp mười phương
Như thật quán tự tại.
(Báo Mỹ Phật tuệ tấn số 44)
Túi vải chỉ tâm đã khai ngộ, đối ngoại mười phương không chướng ngại, đối nội tất cả đều tự tại.
Mười phương thế giới của chúng sinh đều ở trong tâm ta, tâm ta và chúng sinh đồng tại, không đối lập.
(Thánh Nghiêm)

1423.  Đại ý Phật pháp.
Có một lần, một ông tăng hỏi Bố Đại:
- Thế nào là đại ý Phật pháp?
Bố Đại không nói một lời, bỏ túi vải xuống, khoanh tay đứng.
- Chỉ là thế thôi hay còn đạo lý cao thâm nào nữa không?
Bố Đại vẫn không nói một lời, lại khoác túi vải lên lưng mà đi.
(Cao tăng truyện)
Bỏ túi vải xuống là chỉ khám phá thế tình bỏ xuống vạn duyên (có thể xuất thế)
Khoanh tay mà đứng: lấy con mắt lãnh đạm mà nhìn thế gian, giải thoát tự tại.
Lại khoác túi vải lên lưng: có thể nhấc lên (có thể nhập thế).
Không nói một lời: ngôn ngữ không thể diễn tả được chân lý.
Hoạt cảnh trên biểu thị không chấp tướng mới gánh vác được gia nghiệp của Như Lai, ngay đó đảm trách bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, bát nhã, thiền định (lục độ). Tự độ rồi độ tha. Không một chuyện gì là không đảm đương, cũng không chấp một tướng nào. Phàm phu có thể nhấc lên được (chấp tướng) nhưng không bỏ xuống được. Tiểu thừa bỏ xuống được (xuất thế) nhưng không nhấc lên được. Đại thừa bồ tát bỏ xuống được (xuất thế) cũng nhấc lên được (nhập thế) nhưng không chấp tướng. Bỏ xuống là không (chân đế) nhấc lên là Hữu (tục đế). Không hữu viên dung, chân tục bất nhị đó là Trung đạo đệ nhất nghĩa đế, không lời nào có thể diễn tả được cho nên Bố Đại không nói.
Câu đại ý Phật pháp:
Mọi điều ác không làm: là bỏ xuống.
Mọi điều thiện đều làm: là nhấc lên.
Ý tự thanh tịnh: là không chấp tướng.
Đó là lời dạy của chư Phật.
(Hùng Uyển )

1424.  Trên đường gập mãnh hổ.
Một ông tăng hỏi Thiệu Hóa:
- Trên đường gập mãnh hổ, phải làm sao?
- Ngàn vạn người chẳng gập sao lại nhè nhà ngươi mà gập?
(Công án thiền cơ)
Câu hỏi của ông tăng có nghĩa là hành giả khi gập duyên ứng duyên thì phải làm thế nào?
Ngàn vạn người là chỉ những người có tu, có chứng, tâm đã thanh tịnh thì gập hay không gập mãnh hổ cũng không thành vấn đề. Vì tâm ngươi còn ô nhiễm, còn phân biệt nên mới bị phiền não.
Mãnh hổ ở đây chỉ nghịch cảnh. 
Tâm ông tăng chưa thanh tịnh, còn phân biệt nên mới thấy hổ là mãnh thú và thấy sợ hãi bị ăn thịt. Nếu tâm ông tăng thanh tịnh thì ông không thấy hổ là mãnh hổ, nếu hổ là chủ nợ của một kiếp quá khứ thì dù mất sinh mạng cũng phải trả; còn không thì chẳng hề hấn gì?
Thí dụ Hỏa Bảo Long rất hung dữ, Đức Phật lấy lòng từ bi nhập từ bi tam muội đã chiết phục được nó. 

1425.  Đến tăng đường.
Động Sơn thượng đường bảo đại chúng:
- Có một người ở trong đám ngàn vạn người, không xoay lưng hoặc đối diện với một người nào, các ngươi nói mặt mũi hắn thế nào?
Vân Cư bước ra thưa:
- Hiện giờ con muốn đến tăng đường.
  (Động Sơn lục)
Câu của Động Sơn có nghĩa là phải siêu việt trước, sau.
Vân Cư nói là muốn đến tăng đường nhưng thực ra là không đến tăng đường.
Hai thầy trò đồng ý: tự tánh không lệ thuộc vào không gian.

1426.  Hỏi, đáp không đúng cách.
Một ông tăng hỏi Động Sơn:
- Thế nào là hỏi, đáp đúng cách?
- Không từ miệng ra.
- Nếu có người hỏi, thầy có đáp không?
- Cho tới giờ chưa có người hỏi ta .
(Động Sơn lục)
Câu của Động Sơn có nghĩa là dùng không lời mà hỏi.

1427.  Thuyết pháp.
Một ông tăng hỏi Động Sơn:
- Từ khi thầy xuất gia, thuyết pháp có bao người tin phục.
- Không một người tin phục.
- Tại sao không ai tin phục thầy?
- Vì mọi người đều có kiến thức của bậc vương giả.
(Động Sơn lục)
Thuyết pháp giống như trị bệnh. Trên thế gian này không có một thứ tiên dược nào có thể trị bách bệnh, có khi bệnh tự lành.

1428.  Vì con mắc bệnh.
Một hôm khi chư tăng đều ra ngoài phổ thỉnh (lao tác), Động Sơn đi một vòng kiểm soát thấy một ông tăng còn ở tăng đường bèn hỏi:
- Sao ngươi không đi phổ thỉnh?
- Con mắc bệnh.
- Khi ngươi mạnh, có đi không?
(Động Sơn lục)
Phổ thỉnh không hạn chế ở việc làm ruộng. Ý của Động Sơn là không phải khi mạnh khỏe mới tu, vì người tu phải vượt lên các cảnh giới sinh, lão, bệnh, tử.

1429.  Tự tại.
Một ông tăng hỏi Tuệ Tông:
- Phía trước là vực thẳm vạn trượng, phía sau là hổ báo, sài lang, chính lúc đó phải làm sao?
- Tự tại!
(Công án thiền cơ)
Câu hỏi của ông tăng có ý là một người đã tu tập không, vô tướng, vô nguyện tam muội được chân chính giải thoát tri kiến là đã khai ngộ. Lúc đó linh tri, linh giác của tâm hành giả chiêu cảm nhiều nghiệp duyên tới khiến thân không tự chủ được còn tâm thì hoang loạn bất định. Trong khốn cảnh đó làm sao mở con đường máu để ra?
Tuệ Tông bảo ông trong quá trình tu tập khi chủng chủng nghiệp duyên tới, hành giả đối cảnh loạn tưởng là do tập khí còn chưa dứt tận. Hành giả phải lấy tâm không mà đối diện với cảnh. Cảnh thuận không chạy theo nắm giữ, cảnh nghịch không lẩn trốn. Tâm không khởi một niệm thì sẽ an nhiên tự tại. Điều kiện tiên quyết để tự tại là buông bỏ mọi chấp trước (Xem các công án 1, 461).

1430.  Phàm trần tục niệm.
Viện chủ đi thăm Thạch Thất trở về. Vân Nham hỏi:
- Ngươi đã đến Thạch Thất sao lại trở về tay không?
Viện chủ không trả lời được. Động Sơn đáp thay:
- Vì trong đó đã có người ở rồi.
- Vậy ngươi còn đến Thạch Thất làm gì?
- Không thể vì chặt đứt phàm trần tục niệm mà không đi.
(Động Sơn lục)
Chữ Thạch Thất ở đây là một song quan ngữ (có 2 nghĩa) Một là chỉ thiền sư Thạch Thất, một là chỉ động đá. Ở Du Huyện, Đàm Châu (tỉnh Hồ Nam ngày nay) có vô số thạch động. Những người sống trong các thạch động đều là các vị tu hành lánh xa trần thế, sống tự do. Ý của Động Sơn là chấp vào xa lánh trần thế cũng là mất tự do rồi.

1431.  Tất cả đều do tâm.
1- Đại sư Cưu Ma La Thập lúc lên bẩy, đến chùa chơi, thấy 1 quả chuông lớn đặt trên đất, bèn nhấc lên. Khi đặt chuông xuống thầm nghĩ “Ta mới có 7 tuổi, làm sao lại có sức mạnh như thế này? Lại thử nhấc chuông lên thì không sao nhấc lên được nữa.

2- Cổ thư có chép Lý Quảng đời Hán khi đi đánh trận thấy trong đám bụi rậm bên đường có một con hổ bèn trương cung bắn. Mũi tên liền xuyên qua con hổ. Ông xuống ngựa xem thì ra không phải là con hổ mà là một tảng đá. Ông tự nhủ:”Ta mạnh như thế sao?” Bèn giơ cung bắn một phát nữa, nhưng tên không cắm vào đá được, nói gì đến xuyên qua!
(Tĩnh Không thuyết cố sự)
Hai truyện trên chứng minh rằng người ta khi không có vọng niệm thì bản năng có năng lực vô hạn định. “Nhất thiết duy tâm tạo” là chỉ đạo lý này.

1432.  Đại  Trí.
Đại Trí từ nhỏ đã rất hứng thú với các nghi thức Phật giáo. Một hôm thưa với bố mẹ:
- Con muốn xuất gia, độ cha mẹ tới bờ bên kia.
Cha ông vui vẻ:
- Con định tu chùa nào?
- Chùa Đại Từ.
Lúc đó ông mới bẩy tuổi, tục danh là Vạn Thập. Cha ông dẫn ông đến gập thiền sư Nghĩa Doãn. Nghĩa Doãn nhận thấy đứa nhỏ này là một bậc tài trí bèn nói:
- Hoanh nghinh, hoan nghinh!
Và lấy một cái bánh bao trên bàn đưa cho, tự mình cũng lấy một cái vừa ăn, vừa hỏi:
- Ngươi tên chi?
- Con tên Vạn Thập.
Trong tiếng Nhật vạn thập đồng âm bới bánh bao. Do đấy Nghĩa Doãn cười bảo:
- Bánh bao ăn bánh bao là sao?
- Giống như rắn lớn nuốt rắn nhỏ.
- Ngươi rất thông minh, nếu xuất gia ta sẽ đặt tên là Tiểu Trí.
Vạn Thập không trả lời chỉ lắc đầu. Nghĩas Doãn hỏi:
- Sao ngươi không nói:
- Tiểu Trí làm trở ngại Bồ Đề, xin thầy ban danh Đại Trí.
Nghĩa Doãn rất khâm phục Vạn Thập còn nhỏ mà ứng đối được như vậy bèn xuống tóc cho Vạn Thập, lưu giữ bên mình để dạy dỗ. Năm năm sau Nghĩa Doãn viên tịch, Đại Trí quyết định vân du các nơi để tham học. Bẩy năm sau ông vượt biển tới Trung Hoa, thăm các danh lam thắng cảnh và tìm học các vị danh tăng. Tài trí ông khiến mọi người ca ngợi. Đại Trí ở Trung Quốc không tìm được điều ông mong muốn; ông có viết một bài kệ tặng các ông tăng Nhật Bản tới Trung Quốc du học:

冷 暖 分 明 只 自 知
Lãnh noãn phân minh chỉ tự tri
男 兒 豈 可 欺 人 哉
Nam nhi khởi khả khi nhân tai
以 日 本 眞 金 之 貴
Dĩ nhật bản chân kim chi quý
博 易 大 唐 鍮 子 歸
Bác dịch đại đường thâu tử quy

Nóng lạnh mình tự biết
Nam nhi há lừa ai
Đem vàng thật đất nước
Đổi về thau của người.

Ý  tưởng là cái mà mình định tìm kiếm kỳ thực là ở trong tâm mình.
Ông trở về nước, đến tham Doanh Sơn, Doanh Sơn hỏi:
- Khi đứa con trở về bên cha thì sao?
- Gương cổ chiếu gương cổ, không cần ánh sáng nào khác.
Đại Trí tu học với Doanh Sơn, sau cùng được khai ngộ.
(Thiền Tông dật sự)
Đối thoại của hai thầy trò có nghĩa là khi thầy và trò tương chiếu thì không phải là thầy chiếu trò hay trò chiếu thầy mà là ánh sáng giác ngộ của thầy trò hợp thành một thể phát sáng. Phật giáo do đó mà có truyền thừa.

1433.  Người không bệnh.
Động Sơn bị bệnh, một ông tăng hỏi:
- Còn có người không bị bệnh không?
- Có.
- Người không bị bệnh ấy có đến thăm sư phụ không?
- Lão tăng có phận thăm hắn.
- Không biết sư phụ thăm hắn làm sao?
- Khi thăm không thấy có bệnh.
Động Sơn hỏi ngược lại:
- Khi ngươi mất rồi gập ta ở đâu?
Ông tăng không đáp được, Động Sơn đọc cho bài kệ:

學 者 恒 沙 無 一 悟
Học giả hằng sa vô nhất ngộ
過 在 尋 他 舌 頭 路
Quá tại tầm tha thiệt đầu lộ
欲 得 忘 形 泯 蹤 跡
Dục đắc vong hình mẫn tung tích
努 力 殷 懃 空 裏 步
Nỗ lực ân cần không lý bộ

 Nhiều trò không một ngộ
Theo ngoài chẳng tìm trong
Muốn vong hình sạch vết
Thành khẩn bước trong không.
(Động Sơn lục)
Người không bệnh chỉ tự tánh (xem công án 649)
Ý nói sắc thân có bệnh có thể thấy, biết. Pháp thân không bệnh không thể thấy, biết.
(Tinh Vân)

1434. Ta có một câu nói.
Dược Sơn thượng đường bảo đại chúng:
- Ta có một câu chưa nói cho người!
Đạo Ngô thưa:
- Thầy đã tiết lộ rồi.
Về sau có ông tăng hỏi Dược Sơn:
- Làm sao nói “một câu”?
Dược Sơn đáp:
- Không dùng lời.
Đạo Ngô nói:
- Sớm đã nói rồi.
(Thiền Tông đích lịch sử dữ văn hóa)
“Một câu” của Dược Sơn chỉ cái biết “không biết” hoặc “không thể biết” là cứu cánh thật tướng, không phân biệt, không cách nào hình dung được. Không thể nói nó là cái này hoặc cái kia; là thiện hoặc ác; là thị hoặc phi. Nói ra là phủ định nó. Khi Dược Sơn mở mồm nói ra, bất luận là khẳng định hoặc phủ định “một câu” của ông đã không tồn tại rồi. Đạo Ngô nhận xét sư phụ đã mâu thuẫn rồi, nhưng nhân loại không thể tránh được mâu thuẫn này.

1435.  Thể lộ chân thường.
Đại Đăng (một thiền sư Nhật Bản) một hôm ngồi thiền một mình ở tăng đường, bỗng nghe tiếng người ở bên kia vách đọc câu nói của thiền sư Bách Trượng:
- Linh quang độc chiếu, hồi thoát căn trần, thể lộ chân thường, không chấp văn tự, tâm tánh bất thành, bản thân thành, lìa vọng duyên tức như, như Phật vậy. Ông hoát nhiên tỉnh ngộ bèn hướng sư phụ là Cao Phong trình kiến giải và được sư phụ chấp nhận.
(Hiện đại thiền nhập môn)
“Thể” trong câu “thể lộ chân thường” chỉ thế giới khách quan tự nhiên toàn thể. Khi tự mình biến thành “không” thì “thể” biến thành chính mình.

1436.  Đã từng gập qua.
Động Sơn đến tham Nam Nguyên, vào pháp đường Nam Nguyên bảo:
- Đã từng gập qua.
Động Sơn bỏ đi, hôm sau lại tới, hỏi:
- Hôm qua mông ơn hòa thượng từ bi chỉ thị, nhưng không biết hòa thượng và con gập nhau ở đâu?
- Tâm tâm không gián đoạn, đều chẩy vào bể tánh.
- Con cơ hồ lỡ cơ hội tốt này.
(Động Sơn lục)
Câu của Nam nguyên có nghĩa là tâm ngươi và chân tâm không khác.

1437.  Không bỏ một ai.
Động Sơn đến từ biệt Nam Nguyên, Nam Nguyên nói:
- Học nhiều Phật pháp, quảng thí ân trạch.
- Con không hỏi học nhiều Phật pháp, chỉ hỏi thế nào là quảng thí ân trạch?
- Không bỏ một ai.
(Động Sơn lục)
Ý của Nam Nguyên là khi có người học đặt câu hỏi phải hết sức trả lời.

1438.  Theo tánh chìm nổi.
Một ông tăng hỏi Phong Huyệt Diên Chiểu:
- Khi theo tánh chìm nổi thì thế nào?
- Dẫn trâu vào chuồng!
(Công án thiền cơ)
Câu hỏi của ông tăng có nghĩa là: Khi khai ngộ vì tập khí hãy còn; nếu tâm tùy duyên ứng duyên, theo cảnh mà chìm nổi thì phải làm sao?
Diên Chiểu bảo phải dẫn trâu vào chuồng. Trâu chỉ Thể của tự tánh. Trâu không chịu vào chuồng, muốn ở ngoài rong chơi là còn dã tánh (tập khí, vọng tưởng) phải điều phục nó. Bằng cách nào? Trước dùng giác để nhận biết tập khí, vọng tưởng, sau dùng quán để loại trừ chúng. Tập khí và vọng tưởng đã trừ rồi thì trâu sẽ ngoan ngoãn vào chuồng.

1439.  Ý Tây sang.
Vân Cư hỏi Động Sơn:
- Thế nào là ý tổ sư từ Tây sang?
- Sau này, xà lê có mái tranh che đầu, bỗng có người hỏi như vậy, thì trả lời sao?
- Con thực sai rồi!
(Động Sơn lục)
Ý của Động Sơn là nếu sau này ngươi không là viện chủ một tự viện lớn, chỉ là một am chủ ở một làng nhỏ. Ngươi không hỏi người mà bị người hỏi, ngươi có nghĩ đến chuyện này không? Bồ Đề Đạt Ma từ Tây phương xa xôi ngàn dặm đến Trung Thổ chỉ để thuyết giảng chân lý cho người, nhưng cái chân lý tuyệt đối này không thể dùng lời mà diễn tả ra, nên ta nói không được.

1440.  Trong cảnh khổ, không khổ.
Đời Đường có một vị thiền sư sống một mình trên núi. Vì không có dao kéo để hớt tóc nên đầu tóc bù xù, không có nhiều nước để tắm rửa, giặt giũ nên người ngợm cáu ghét, quần áo dơ bẩn. Có người gập mặt hỏi:
- Thiền sư, thầy việc gì phải tự làm khổ mình vậy?
- Ngươi thấy ta đầu tóc rối bù, nhưng phiền não ta đã đoạn tuyệt. Ngươi thấy ta bẩn thỉu, nhưng thân tâm ta đã thanh tịnh rồi. Ngươi thấy ta quần áo ty tiện, nhưng ta đã sớm khoác pháp y vô thượng để trang nghiêm sinh mạng rồi.
(Thanh tịnh lưu ly)
Trong sinh hoạt tuy thiếu thốn vật chất nhưng người ngộ thiền không thấy khổ não. Ở nơi khổ không thấy khổ; ở nơi vui không thấy vui, vì người ngộ đạo đã thấy được tính chất hư vọng của vui, khổ. Do vậy, dù ở đâu, lúc nào cũng tiêu dao, tự tại.

1441.  Thủy táng.
Đời Tống, thiền sư Tánh Không rất hâm mộ cách thủy táng của Thuyền Tử. Ông có làm một đoản khúc để ca ngợi:

船 子 當 年 返 故 鄕
Thuyền Tử đương niên phản cố hương
沒 踪 跡 處 好 商 量
Một tung tích xứ hảo thương lượng
真 風 遍 寄 知 音 者
Chân phong biến ký tri âm giả
鐵 笛 橫 吹 作 教 坊
Thiết địch hoành xuy tác giáo phường

Theo làn gió gởi bạn bốn phương
Vi vu tiếng sáo để làm gương
Chẳng còn vết tích nào để lại
Thuyền Tử năm đó về cố hương.

Khi muốn nhập diệt ông bước lên một cái thuyền thúng có đục lỗ ở đáy; ngồi trên thuyền thổi sáo chờ nước tràn vào nhận chìm cả người và thuyền. ông có để lại bài kệ:

坐 脫 立 亡
Tọa thoát lập vong
不 若 水 葬
Bất nhược thủy táng
一 省 柴 火
Nhất tỉnh sài hỏa
二 省 開 壙
Nhị tỉnh khai khoáng
撤 手 便 行
Triệt thủ tiện hành
不 妨 快 暢
Bất phương khoái sướng
誰 是 知 音
Thùy thị tri âm
船 子 和 尙
Thuyền Tử hòa thượng

Tọa thoát lập vong
Gì bằng thủy táng
Củi lửa không dùng
Bớt được khai khoáng (đào huyệt)
Đi chẳng bận tâm
Không ngại khoái sướng
Ai kẻ tri âm?
Thuyền Tử hòa thượng!
(Thanh tịnh lưu ly)

1442.  Bài kệ của Liên Trì đại sư.
Một hôm, một ông tăng hỏi Triệu Châu:
- Thời mạt kiếp cái đó còn không?
- Hoại.
- Cái đó bị hoại vậy chúng ta cũng theo nó sao?
- Theo nó đi.
Theo Phật giáo, thế giới của chúng ta cũng phải tuân theo định luật thành, trụ, hoại, không. Tới thời mạt kiếp, thế giới hoại còn tự tánh thì sao? Ông tăng thắc mắc, Triệu Châu trả lời rồi cũng không chắc là mình đúng hay không, trong lòng bất an nên đi tứ xứ để tham cứu vì vậy mới có câu “Nhất cú tùy tha khứ, thiên sơn tẩu nạp tăng” (chỉ vì một câu theo nó đi, mà nạp tăng phải đi tham phỏng khắp nơi). Bích Nham Lục lại gán cho Đại Từ (xem công án (162).
Đến triều Minh, Liên Trì đại sư đọc công án này viết bài thi như sau:

趙 州 八 十 猶 行 腳
Triệu Châu bát thập do hành cước
祇 爲 心 頭 未 消 然
Chi vi tâm đầu vị tiêu nhiên
及 至 歸 來 無 一 事
Cập chí quy lai vô nhất sự
始 知 空 費 草 鞋 錢
Thủy tri không phí thảo hài tiền

Triệu Châu tám chục còn vân du
Chỉ vì một niệm vẫn chưa rõ
Đến khi trở lại không được gì
Mới biết phí tiền mua dép cỏ.
(Thanh tịnh lưu ly)
Bài thơ diễn tả tình cảnh lúc đó Triệu Châu đã 80 tuổi, trong lòng còn một vấn đề chưa rõ; không quản ngại đường xá diệu vợi, cố tìm cho được đáp án. Trải nhiều năm, trở về không tìm được điều mình muốn tìm, mới biết bôn ba tìm kiếm bên ngoài chỉ là vô ích. Ý của bài thi này là gì? Đó là nói về Đạo. Đạo không ở bên ngoài mà tại tâm chúng ta. Nếu chúng ta, tâm trí mê man cũng như Triệu Châu tứ xứ tìm cầu chỉ là phí thời gian. Trong thiền học phải trải qua 3 giai đoạn: khám phá, phóng hạ, tự tại.

1443.  Bài kệ của Đàm Châu Long Sơn.

三 間 茅 屋 從 來 往
Tam gian mao ốc tòng lai  vãng
一 道 神 光 萬 境 閑
Nhất đạo thần quang vạn cảnh nhàn
莫 作 是 非 來 辨 我
Mạc tác thị phi lai biện ngã
浮 世 穿 鑿 不 相 關
Phù sinh xuyên tạc bất tương quan

Nhà tranh lui tới có ba gian
Một đạo thần quang vạn cảnh nhàn
Chớ đem thị phi làm rộn mỗ
Phù sinh xuyên tạc chẳng tương quan.
(Thanh tịnh lưu ly)
Bài kệ mô tả người ngộ đạo siêu nhiên vật ngoại. Tuy rằng sống trong căn nhà tranh nhỏ bé, ăn mặc thô sơ nhưng nếu biết dùng trí tuệ quán chiếu công danh lợi lộc, thiện ác thị phi: tất cả đều là giả tạm, hư vọng thì tâm được an định. Lúc đó nhà tranh biến thành lâu đài, vật thực tầm thường trở thành cao lương, mỹ vị, vì tâm đã khế hợp với đạo. Những chuyện tranh danh đoạt lợi chẳng còn ảnh hưởng gì đối với người tu nữa. Con người sống trong trần thế có 2 thái độ: một là túng dục, chỉ lo hưởng thụ, hai là cấm dục coi dục vọng như rắn độc. Cả 2 thái độ cực đoan này người tu đều không theo mà theo con đường trung đạo là tiết dục.

1444.  Bài kệ của Bàng bà.
Sau khi chôn cất mọi người trong gia đình (xem công án 279), Bàng phu nhân có lưu lại một bài kệ. Hành trạng của bà sau này ra sao thì không ai biết.

坐 臥 立 化 未 爲 奇
Tọa ngọa lập hóa vị vi kỳ
不 及 龐 婆 撤 手 歸
Bất cập Bàng bà triệt thủ quy
雙 手 撥 開 無 縫 石
Song thủ bát khai vô phùng thạch
不 留 踪 跡 與 人 知
Bất lưu tung tích dữ nhân tri

Ngồi, đứng, nằm, đi chẳng mấy kỳ!
Đâu bằng bà Uẩn ruỗi tay đi
Hai tay dang rộng không chạm đá
Tung tích tuyệt không để lại gì.
(Thanh tịnh lưu ly)

1445.  Con không có mồm.
Một ông tăng hỏi Lỗ Tổ:
- Làm sao nói mà không dùng lời?
- Mồm ngươi ở đâu?
- Con không có mồm.
- Vậy lấy gì ăn cơm?
Ông tăng không trả lời được, Động Sơn trả lời thay:
- Hắn no rồi, còn ăn cơm cái gì?
(Động Sơn lục)
Ông tăng hỏi ý Lão Tử khi nói “bất ngôn chi giáo”. Lỗ Tổ hỏi ngược lại “mồm ngươi ở đâu?” là hỏi nói hay không nói. Câu của Động Sơn có nghĩa là hắn đã thông suốt Phật pháp rồi, không còn nghi vấn gì nữa. (xem thêm công án 633)

1446.  Đi.
Một ông tăng hỏi Vân Môn:
- Thế nào là đạo?
- Đi.
(Nhất vị thiền: Quyển Nguyệt)
Ý của Vân Môn là ngươi cứ đi làm mọi việc cho tốt, nhưng đừng chấp vào phương pháp và kết quả.
(John C.H. Wu)

1447.  Chuyện chưa rõ.
Một ông tăng hỏi Dược Sơn:
- Con có chuyện chưa rõ, thỉnh thầy chỉ thị.
Dược Sơn im lặng một lát rồi bảo:
- Nay ta bảo cho ngươi một lời không khó, nhưng khi ta nói rồi ngươi phải thấy ngay, nếu ngươi suy nghĩ thì là lỗi của ta.
(Thiền tông lịch sử dữ văn hóa)
“Một lời” ở đây chỉ kinh nghiệm nội chứng, không dùng lời mà diễn tả được. Tại sao? Vì ngôn ngữ chỉ là phù hiệu không phải là bản thân sự vật, chỉ là phương tiện để truyền thông mà thôi. Các thiền sư chỉ dùng ngôn ngữ để gợi dậy kinh nghiệm nội tại của người học.

1448.  Truyền đăng.
Một hôm Huệ Khả bạch với tổ Đạt Ma:
- Con đã bặt hết mọi duyên rồi.
- Ngươi không đoạn diệt chứ?
- Không đoạn diệt.
- Lấy gì làm chứng.
- Con luôn tỉnh thức, không thể dùng lời mà nói được.
- Đó là sự truyền tâm của chư Phật, đừng nghi ngờ gì cả.
(Zen light)
Câu nói của Huệ Khả “con luôn tỉnh thức” chỉ rằng tâm ông luôn ở đây và bây giờ: nội tâm luôn thắp sáng. Lúc đó không có sự phân cách giữa chủ thể và đối tượng. Không có người truyền pháp và người nhận pháp, không có lời dạy (đăng) và không có sự giảng dạy (truyền đăng), chỉ có ánh sáng.

1449.  Mười sự khai thị.
Có học tăng hỏi Tịch Thất:
- Xin hỏi sư phụ, trong thiền môn phải có những điều kiện gì để có thể vào thiền đạo?
- Trong hang sư tử không có thú khác, đường voi đi không dấu vết hồ ly.
- Tham thiền và không tham thiền bất đồng như thế nào?
- Đường sinh tử ngươi tự coi, người sống ở trong người chết.
- Học thiền có ích gì?
- Đừng hiềm nhạt không có vị, ăn no rồi tiêu vạn kiếp tai nạn.
Học tăng nghe rồi tham thiền khởi lòng đại tín. Một hôm dẫn khoảng 10 người quỳ xin Tịch Thất chỉ thị tham thiền pháp yếu. Thiền sư thấy đại chúng thành tâm bèn khai thị:
- Người học thiền nên chú ý 10 sự sau:
1- Nên biết sinh tử là việc lớn, vô thường đến mau, không thể đánh mất chánh niệm.
2- Trong 4 oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi kiềm thúc thân tâm, không phạm luật nghi.
3- Không chấp, không kiến, không khoe mình, tinh tiến dũng cảm, không đọa tà đạo.
4- Nhiếp 6 căn, chánh niệm, im hay nói lìa xa vọng tưởng.
5- Nhiệt tâm cầu đạo, linh minh bất muội giáo hóa chư ma.
6- Bỏ ngủ quên ăn, đứng trên vách cao vạn trượng, thẳng lưng tiến bước.
7- Nghiên cứu ý Tây lai, người niệm Phật là ai, cái gì là bản lai diện mục?
8- Tham thoại đầu công phu miên mật, không cầu chứng thành.
9- Tâm an ổn, dù trải vạn kiếp cũng không nhị tâm.
10- Đại tâm không lùi bước, thấu suốt Bồ Đề, nêu cao Phật đạo.
10 đại sự trên các ngươi có hiểu không?
Chư tăng nghe rồi hoan hỉ, không ai không thệ nguyện phụng hành.
(Tinh Vân thiền thoại)
Mười điều khai thị của Tịch Thất hà chỉ dùng cho Thiền tông sao? Bất cứ pháp môn nào cũng đều nên như thế.

1450.  Ba lần bị đánh.
Lâm Tế họ Hình tên Nghĩa Huyền, người Nam Hoa, Tào Châu, từ nhỏ thông minh hơn người. Khi xuống tóc, thọ giới cụ túc, rất ham mộ Thiền tông. Theo học Hoàng Bá 3 năm, công phu cực thuần khiết.
Thủ tọa nói:
- Tuy là hậu sinh, cùng chúng chẳng đồng.
Lại hỏi:
- Ngươi ở đây bao lâu rồi?
- Ba năm rồi!
- Đã tham vấn chưa?
- Chưa, cũng chẳng biết hỏi gì?
- Sao ngươi không hỏi đại ý của Phật pháp là gì?
Lâm tế bèn đi hỏi, hỏi chưa dứt câu Hoàng Bá đã đánh. Khi trở lại Thủ tọa hỏi:
- Tham vấn thế nào?
- Hỏi chưa dứt lời, hòa thượng đã đánh, đệ tử không hiểu ý thế nào!
- Ngươi đi hòi nữa đi!
Lâm Tế lại đi hỏi, Hoàng Bá lại đánh. Như thế ba lần hỏi, ba lần bị đánh. Lâm Tế đến thưa với Thủ tọa:
- Nhờ lòng từ bi của thượng tọa, đệ tử ba lần đi hỏi, 3 lần đều bị đánh, tự hận chướng duyên, không lãnh hội được ý sâu của hòa thượng, nay đến từ biệt để đi.
- Trước khi ngươi đi, hãy đến giã từ hòa thượng.
Lâm Tế vái lạy mà lui. Thủ tọa bèn đến chỗ Hoàng Bá bạch rằng:
- Ông sư trẻ đến thỉnh giáo hòa thượng là một vị rất có căn cơ; khi hắn đến từ biệt xin sư phụ chỉ dạy, sau này hắn sẽ là một cây lớn, cấp bóng mát cho nhiều người.
Sư đến từ biệt, Hoàng Bá bảo:
- Ngươi chẳng cần đi đến nơi nào khác, chỉ cần tới Cao An chỗ ở của Đại Ngu hắn sẽ giảng cho ngươi.
Sư đến Đại ngu, Đại Ngu hỏi:
- Từ đâu đến?
- Từ Hoàng Bá.
- Hoàng Bá có câu gì chỉ dạy?
- Đệ tử 3 lần hỏi đại ý của Phật pháp là gì, cả 3 lần đều bị đánh, không biết có lỗi gì?
- Hoàng Bá thật là lão bà tâm thiết, mệt sức vì huấn luyện ngươi mà ngươi còn đến đây hỏi có lỗi hay không?
Nghe lời nói đó Lâm tế bỗng nhiên đại ngộ :
- Nguyên lai, thiền pháp của Hoàng Bá chỉ đơn giản như vậy.
Đại Ngu nắm lấy sư hỏi:
- Tên tiểu quỷ đái dầm này, lúc đến còn hỏi có lỗi, không lỗi, nay lại nói thiền pháp của Hoàng Bá chỉ đơn giản như vậy! ngươi thấy được đạo lý gì, nói mau! nói mau!
Sư đấm vào sườn Đại Ngu 3 đấm. Đại Ngu đẩy sư ra:
- Thầy ngươi là Hoàng Bá, không can dự gì đến ta.
Sư từ biệt Đại Ngu, trở lại Hoàng Bá. Hoàng Bá thấy sư đến bèn hỏi:
- Cái gã này đến đến, đi đi, bao giờ mới xong?
- Chỉ vì thầy là lão bà tâm thiết.
Chào hỏi xong bèn đứng hầu một bên. Hoàng Bá hỏi:
- Ngươi đi đâu?
- Theo lời khuyên từ bi của thầy, con đến tham Đại Ngu.
- Đại Ngu nói sao?
Sư kể lại đầu đuôi, Hoàng Bá bảo:
- Ta mà gập, thì sẽ cho hắn một trận.
- Việc gì phải đợi, cho ngay bây giờ.
Sư đánh Hoàng Bá một chưởng.
- Gã điên này dám đến đây mà nhổ râu cọp.
Sư hét lên, Hoàng Bá gọi:
- Thị giả! dẫn gã điên khùng này vào tham đường, mau!
Về sau Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn:
- Lâm Tế được Đại Ngu dạy hay được Hoàng Bá dạy?
- Lâm tế không những cưỡi đầu cọp mà còn nắm đuôi cọp nữa.
(Lâm Tế lục)
Lúc học với Hoàng Bá, Lâm tế công phu rất thuần khiết, nghĩa là giữ giới luật rất nghiêm về thân, khẩu, ý. Do đó tâm đã không còn vướng mắc vào 18 giới, sẵn sáng để giác ngộ. Hoàng Bá 3 lần đánh Lâm tế để thúc đẩy sự giác ngộ đó, nhưng thất bại. Lâm tế đã ở vào trạng thái chín mùi “gậy trúc trăm trượng chỉ cần thêm một bước nữa”. Hoàng Bá đánh Lâm Tế ngụ ý: chân lý tuyệt đối không thể dùng lời mà diễn tả được và cái chân lý đó ngươi phải hướng vào trong mà tìm chứ không thể tìm ở phòng phương trượng.
Đánh mắng vốn là hành vi thô lỗ. Nhưng các vị thiền sư dùng để truyền đạt, thậm chí còn nói phương thức này là lão bà tâm thiết. Đánh lại thầy, thầy không những không nổi giận còn chấp nhận, đó là sự hồi báo ân tình. Theo cái nhìn thế tục thì đó là “yêu cho roi, cho vọt” của bà mẹ hiền. Thiền giả đã siêu việt hình tượng nên đó là sự biểu lộ thiền tâm.
(Tinh Vân)

1451.  Động Sơn tham Bách Nham.
Động Sơn cùng Mật sư bá (đệ tử Vân Nham) đến tham Bách Nham (đệ tử Dược Sơn). Bách Nham hỏi:
- Từ đâu tới?
- Hồ Nam.
- Quan sát sứ họ gì?
- Không biết họ.
- Tên gì?
- Không biết tên.
- Còn tại chức không?
- Còn.
- Còn đi tuần tra không?
- Không.
- Tại sao không?
Sư phất tay áo đi ra. Sáng sớm hôm sau Bách Nham thượng đường kêu 2 người lại:
- Hôm qua lão tăng đối xà lê ngữ chẳng đầu cơ, cả đêm không an. Giờ thỉnh xà lê hạ một chuyển ngữ, nếu hợp ý thì lão tăng xin mời các vị dùng cháo và cùng qua hạ.
- Thỉnh hòa thượng hỏi.
- Sao không tuần tra?
- Vì quá cao quý.
Bách Nham bèn mời 2 người dùng cháo và cùng kết hạ.
(Động Sơn lục)
Quan sát sứ là 1 viên quan do Trung ương ủy quyền đi tuần tra các địa phương; ở đây dùng để chỉ sự xuất nhập của pháp thân.

1452.  Duy Ma cật và Phó Đại Sĩ.
Lâm Tế thượng đường nói:
- Một người ở trên đỉnh núi không có đường đi; một người ở ngã mười đường không biết đi về hướng nào? Ai ở trước? Ai ở sau? Không làm Duy Ma Cật, không làm Phó Đại Sĩ. Các ngươi đứng đã lâu rồi, hãy bảo trọng.
(Lâm Tế lục)
Người trên đỉnh núi chỉ người tu hành, dứt bỏ mọi ràng buộc với thế gian. Người ở ngã mười đường chỉ bậc Bồ Tát ở cõi ta bà. Duy Ma Cật còn gọi là Tịnh Danh cư sĩ là cư sĩ Ấn Độ ưa sống ẩn dật. Phó Đại Sĩ còn gọi là Thiện Huệ đại sĩ, vốn tên Truyền Ông là cư sĩ Trung Hoa thời Nam Bắc Triều nổi tiếng về những hoạt động Phật sự. Câu nói của Lâm Tế là muốn dung hoà 2 cách sống.
(Paul Demiéville)

1453.  Ông tăng do dự.
Một ông tăng hỏi Lâm Tế:
- Thế nào là đại ý của Phật pháp?
Thiền sư hét lên, ông tăng bèn lạy. Thiền sư bảo:
- Ông tăng này có thể nói chuyện được đây.
Một ông tăng khác hỏi:
- Sư xướng gia khúc tông phong nào?
- Ta ở nơi Hoàng Bá 3 lần hỏi Phật pháp, 3 lần bị đánh.
Ông tăng do dự. Sư bèn hét, sau đó vừa đánh vừa nói:
- Chẳng lẽ đóng đinh vào hư không hay sao?
(Lâm Tế lục)
Ông tăng do dự chứng tỏ còn suy nghĩ, không tự tin. Câu trả lời phải ngay tức khắc. Câu nói của Lâm Tế có nghĩa là tất cả đều là không, những câu hỏi đều vô ích, nhất là từ một ông tăng do dự.
(Paul Demiéville)

1454.  Động Thủy chẩy ngược dòng.
Long Nha hỏi Động Sơn:
- Ý tổ sư từ Tây sang là sao?
- Đợi Động Thủy chẩy ngược, ta sẽ nói cho ngươi biết.
(Động Sơn lục)
Tự tánh không thể diễn tả bằng lời.

1455.  Hợp đạo.
Động Sơn thượng đường bảo:
- Đạo vô tâm hợp người, người vô tâm hợp đạo. Muốn hiểu ý này thì một người già, một người chẳng già.
Về sau có ông tăng hỏi Tào Sơn:
- Thế nào là một người già?
- Chẳng nuôi dưỡng.
- Thế nào là một người chẳng già?
- Cây khô.
Ông tăng lại đem chuyện này hỏi Tiêu Dao. Tiêu Dao đáp:
- Tam tòng, lục nghi.
(Động Sơn lục)
Câu nói của Động Sơn là chỉ sự liên quan giữa người và Đạo. Không nuôi dưỡng bề ngoài chỉ là một người vô dụng, nhưng thâm ý là chỉ một người có khả năng hoằng Đạo. Cây khô là chỉ lúc Đạo không được quảng bá đến mọi người. Tam tòng là chỉ tam tòng tứ đức của phụ nữ, lục nghi là 6 nghi thức mà các cung nữ đời Đường phải tuân theo.

1456.  Không khởi một niệm.
Một ông tăng hỏi Vân Môn:
- Khi không khởi một niệt niệm thì sao?
- Núi Tu Di.
(Zen and Zen classic)
Ý của Vân Môn là khi ta không khởi một niệm thì tâm ta đã lìa hiện tượng giới vào được bản thể giới. Núi Tu Di là trung tâm điểm của một tiểu vũ trụ. Trên đỉnh là trời Đế Thích, phía dưới là 4 Thiên vuơng, chung quanh bao bọc bởi 8 núi, 8 biển.

1457.  Một ngày ăn hết bao nhiêu.
Hoàng Bá nhân vào phòng bếp hỏi ph