NHỮNG
ĐOÁ HOA THIỀN
禪
之 花
QUYỂN HẠ
1201.
Cha mẹ ở trong đám cỏ dậm.
Có
ông tăng hỏi Thạch Thất:
-
Thầy có qua Ngũ Đài Sơn không?
-
Có qua.
-
Vậy thầy có gặp Văn Thù không?
-
Có gặp.
-
Bồ tát Văn Thù có nói với thầy Phật pháp cao diệu gì không?
-
Văn Thù nói “cha mẹ ngươi đều nằm trong mộ, dưới đám
cỏ dậm.”
(Bồ Đề linh quang)
Thiền
không tìm thâm ảo, huyền bí, bình thường là đại đạo.
1202.
Một phiến đá trước am.
Tuyết
Phong Nghĩa Tồn đến tham học Đầu Tử Đại Đồng. Đầu
Tử chỉ phiến đá trước am:
-
Quá khứ, hiện tại, vị lai, tam thế chư Phật đều giảng
pháp ở phiến đá này.
-
Có nhiều vị Phật không giảng pháp ở phiến đá này mà
giảng ở chỗ khác.
(Bồ đề linh quang)
Phật
ở khắp mọi nơi, mọi thời, mọi sự vật đều ẩn tàng
Đạo, nếu nói tại chỗ này thì chỉ là ngộ ở một tầng
cảnh giới.
1203.
Mang trà lại.
Một
ông tăng hỏi Linh Tham:
-
Một hạt hoàn đơn có thể điểm sắt thành vàng; một câu
chí lý có thể chuyển phàm thành thánh. Đệ tử đến đây
xin thầy điểm.
-
Không điểm
-
Sao không điểm?
-
Sợ ngươi rơi vào tâm phân biệt phàm thánh.
-
Xin thầy chỉ thị.
-
Thị giả! Mang trà ra.
(Bồ đề linh quang)
Đắc
đạo thành Phật là do minh tâm kiến tánh, toàn là nhờ mình
tự ngộ. Đối với người chưa ngộ, không có cách nào điểm,
chỉ có thể mang trà ra tống khách, đợi lần khác đến sẽ
chỉ thị thiền cơ.
1204.
Đánh thành một phiến.
Hương
Lâm trụ trì Hương Lâm viện 40 năm, đến năm 80 tuổi thì
viên tịch. Ông từng nói:
-
Ta 40 năm qua đã đánh thành một phiến.
(Bồ đề linh quang)
Đánh
thành một phiến là chỉ đã chân chính trở về khuôn mặt
xưa nay; từ đầu đến cuối trung thành ‘thủ nhất’. Các
vị cao tăng thường thận trọng giữ gìn chánh niệm, chuyên
nhất hộ đạo; thường sống ẩn cư; đoạn tuyệt mọi trần
duyên. ‘Chỉ tại trong núi này, mây dầy không biết ở đâu’.
Người từ tự nhiên tới, lại trở về tự nhiên. Quá trình
tham thiền là quá trình trở về.
1205.
Một, Hai, Ba, Bốn, Năm, đủ số.
Có
ông tăng hỏi Bản Tịch:
-
Cổ nhân nói người người đều có; đệ tử sống trong thế
tục có không?
-
Đưa tay ta coi.
Ông
tăng duỗi tay ra, thiền sư chỉ ngón tay đếm:
-
1, 2, 3, 4, 5, đủ số!
(Bồ đề linh quang)
Điều
kiện để thành Phật cũng như ngón tay ai ai cũng đều có
đủ.
1206.
Ăn cơm đi.
Một
hôm trong giờ ăn, Đạo U vào nhà ăn bạch chúng cáo thị:
-
Có lời với đại chúng.
Chư
tăng ngẩng đầu lên nghe.
-
Ăn cơm đi!
(Bồ đề linh quang)
Ăn
cơm cũng đang ở trong thiền đạo, người thường không để
ý nên Đạo U bạch chúng chỉ cơ.
1207.
Phòng ngủ không người.
Có
ông tăng hỏi Giáp Sơn:
-
Làm sao đạt được cảnh giới Niết Bàn tịch tĩnh?
-
Như trong phòng ngủ rộng lớn không người.
(Bồ đề linh quang)
Niết
Bàn là cảnh giới vô nhân, vô ngã; nếu suy nghĩ làm sao để
vào thì không bao giờ vào được.
1208.
Khách chưa về, nhớ cố hương.
Nhân
Dõng thượng đường nói:
-
Từng trận gió thu thổi qua rặng thông, khách chưa về, nhớ
cố hương. Ai là khách chưa về? Chỗ nào là cố hương?
(Bồ đề linh quang)
Bản
tâm là cố hương là chỗ thiền khách trở về.
1209.
Văn Thù và Phổ Hiền.
Động
Sơn Thủ Sơ là cao đồ của Vân Môn. Một lần có một ông
tăng hỏi:
-
Lão thiền sư đã tu hành tới trình độ cao thâm; giả như
các bồ tát.
Văn
Thù và Phổ hiền đến thỉnh giáo thì thầy làm sao?
-
Ta coi họ như trâu, lùa vào chuồng!
(Bồ đề linh quang)
Cầu
Phật, bồ tát là vọng niệm, vọng tưởng, phải đối trị
như chăn trâu; coi sóc kỹ lưỡng.
1210.
Ngoảnh mặt về Nam nhìn Bắc Đẩu.
Có
ông tăng hỏi Huệ Thanh:
-
Thế nào là tự thân, tự tâm?
-
Ngoảnh mặt về Nam nhìn Bắc Đẩu.
(Bồ đề linh quang)
Tự
thân, tự tâm chỉ có tự nghiệm, tự giác mới triệt ngộ.
Huệ Thanh bảo ông tăng hướng về Nam quay đầu nhìn về Bắc
thể ngộ tự thân, tự tâm.
“Hồi
đầu tức thị: là phản quán tự tánh.
1211.
Về phòng sưởi ấm.
Trùng
Hiển thượng đường nói:
-
Giả sử nói đến kinh thiên động địa, trời rải hoa xuống
cũng chẳng bằng về phòng sưởi ấm.
(Bồ đề linh quang)
Ngôn
ngữ văn tự chỉ trói buộc thiền. Nhiều lời càng dễ bị
mê chấp, chẳng bằng về phòng hơ lửa sưởi ấm, điềm
nhiên tự tại lại còn gần thiền cảnh hơn.
1212.
Coi chừng chó dữ.
Ở
pháp hội Lâm Tế, 2 ông tăng đến tham kiến, vừa giở mành
lên thiền sư bèn hét lớn:
-
Coi chừng chó dữ!
Hai
ông tăng xoay đầu lại tìm kiếm, thiền sư bèn trở về phương
trượng.
(Bồ đề linh quang)
Tiếng
hét của thiền sư khiến 2 ông tăng quay đầu lại tìm kiếm,
tự ngộ tự tánh.
1213.
Sinh tử đến.
Một
ông tăng hỏi Vân Môn:
-
Lúc sinh tử đến, làm sao để thoát?
Vân
Môn đưa hai tay ra:
-
Đưa sinh tử cho ta.
(Bồ đề linh quang)
Người
chưa ngộ hay thích nói về sinh tử, đối với thiền giả
chân chính thì không có gì gọi là sinh tử.
1214.
Cây nhà nào chẳng đón xuân.
Một
cư sĩ hỏi Cư Nhân:
-
Người tục gia có thể lãnh hội Phật pháp không?
-
Tảng đá nào trăng không chiếu? Cây nhà nào chẳng đón xuân.
(Bồ đề linh quang)
Phật
quang chiếu khắp nơi, Phật tánh ở khắp chỗ.
1215.
Phật tánh vốn tự đầy đủ.
Có
ông tăng hỏi Mã Tổ:
-
Phải lý giải thế nào để được đạo?
-
Tự tánh vốn tự đầy đủ, chỉ cần trong thiện ác không
bị dính líu thì đó là người tu. Giữ thiện, bỏ ác, tâm
quán không tịnh, thần nhập vào định. Cứ thế mà làm. Còn
như hướng ra bên ngoài mà tìm thì càng lúc càng xa đạo.
(Bồ đề linh quang)
Thiền
ở trong tâm, đạo ngay dưới chân.
1216.
Thị giả thuyết pháp.
Khi
thiền sư Nhân Dũng thượng đường, thị giả đang thắp hương;
thiền sư chỉ thị thị giả nói:
-
Thị giả đã giảng pháp cho đại chúng rồi!
(Bồ đề linh quang)
Thị
giả thắp hương chính là tự tánh tự dụng. Có thể thể
ngộ tự tánh thì đắc đạo thành Phật, không khác gì hiện
thân thuyết pháp.
1217.
Thế nào là Đạo?
Trần
Tôn Túc hỏi một cụ tú tài:
-
Tiền bối nghiên cứu kinh điển gì?
-
Ta chuyên nghiên cứu kinh Dịch.
-
Kinh Dịch nói “bá tánh dùng hàng ngày mà không biết”, cụ
nói coi bá tánh không biết cái gì?
-
Bá tánh không biết đạo vận hành của trời đất.
-
Cái đạo ấy là thế nào?
Lão
tú tài không lời đáp lại.
(Bồ đề linh quang)
Sinh
hoạt bản thân chính là Đạo. Lão tú tài “bất thức Lư
Sơn chân diện mục, chỉ duyên thân tại thử sơn trung”.
1218.
Đi tới chỗ không biến đổi.
Tào
Sơn là cao đồ của Động Sơn, sau khi đắc pháp rồi bèn
hướng sư phụ từ biệt. Động Sơn hỏi:
-
Ngươi định đi đâu?
-
Con tới chỗ không biến đổi.
-
Nơi không biến đổi lại có đến, đi sao?
-
Đến đến, đi đi chẳng có ảnh hưởng gì đến sự tồn
tại của không biến đổi.
(Bồ đề linh quang)
Trong
tĩnh có động, trong động có tĩnh; lấy bất biến ứng vạn
biến. Thiền cảnh là cảnh giới động tĩnh là một.
1219.
Người trong mật thất.
Một
ông tăng hỏi một lão thiền sư:
-
Tình cảnh của người ẩn trong mật thất thế nào?
-
Người ẩn trong mật thất không muốn người ta biết, sợ
khách đến nên không lên tiếng. Tình cảnh của ông ta trừ
ông ta ra thì chẳng ai biết.
(Bồ đề linh quang)
Chúng
ta có phải là người trong mật thất không? Hay trong tâm chúng
ta có người trong mật thất? Nếu là vậy xin đừng lên tiếng.
1220.
Cho ta một đồng.
Bố
Đại đứng bên đường, có ông tăng hỏi:
-
Hòa thượng đứng đây làm gì?
-
Đợi một người.
-
Đến rồi! đến rồi!
-
Ngươi không phải là người đó.
-
Phải làm sao mới là người đó?
-
Cho ta một đồng.
(Bồ đề linh quang)
Bố
Đại nói đợi một người là chỉ cơ. Ông tăng tâm hãy còn
mê chấp, phân biệt nên hòa thượng chỉ còn cách xin tiền
để khai thị ông.
1221.
Rồng trong nước sống.
Thiền
sư Lương Sơn Duyên Quán là người đời Tống, trú ở núi
Lương Sơn tỉnh Hồ Nam; phó pháp cho Đại Dương Cảnh Huyền.
Ông có làm bài kệ:
梁
山 一 曲 歌
Lương
Sơn nhất khúc ca
格
外 人 難 和
Các
ngoại nhân nan hòa
十
載 訪 知 音
Thập
tải phỏng tri âm
未
嘗 逢 一 個
Vị
thường phùng nhất cá
Lương
Sơn một khúc ca
Người
ngoài khó biết hòa
Tri
âm nếu muốn kiếm
Một
người cũng chẳng ra.
Một
hôm một học tăng thỉnh thị:
-
Tri âm khó gập là một điều đáng tiếc, nhưng gia tặc khó
đề phòng mới là mối lo của con. Xin sư phụ cho một lời.
-
Nhận biết, hiểu thấu, biến hóa, vận dụng nó, cần gì
phải đề phòng?
-
Gia binh, gia tướng dễ xử dụng, nhưng gia tặc làm sao dụng?
-
Mời nó ở vô sinh quốc.
-
Chẳng lẽ chỗ ẩn thân lập mạng cũng không có sao?
-
Rồng không ẩn ở nước chết.
-
Thế nào là rồng ở nước sống?
-
Mây nổi chẳng phà sương.
-
Bỗng gặp mây nổi rồi mưa thì sao?
-
Đừng để ướt cà sa lão tăng.
(Tinh vân thiền thoại)
Vương
Dương Minh là một tay cao thủ trong nhà Thiền. Ông nói:
-
Đề phòng cướp ở trong núi dễ; đề phòng cướp ở trong
tâm khó.
Và:
-
Tâm như quốc vương có thể ra lệnh; tâm như oan gia thật
khó đề phòng.
Khi
chưa đạt được thiền tâm thì vọng tâm thật khó đề phòng.
Câu nói của Duyên Quán rất hay, giống như Gia Cát Lượng
bẩy lần bắt, bẩy lần tha Mạnh Hoạch, mới có thể dứt
tuyệt hậu hoạn.
Tâm
trụ ở đâu mới tốt? Ở chỗ không trụ mà trụ. Tâm không
có an trú tại ngũ uẩn của thân hoặc lục trần ở cảnh
vì đó là nước chết không chứa được rồng. Rồng thật
nổi mây rồi mưa. Không làm ướt áo cà sa của lão tăng,
ý là căn tính lợi lạc không bị nhiễm nước bùn. Mặt trời
có mọc, lặn; mặt trăng có tròn, khuyết. Chúng ta nên từ
trong sinh diệt biết an trú ở chân tâm không sinh diệt.
1222.
Chỉ trời, chỉ đất.
Một
ông tăng đến bái phỏng Đạo Khâm, thưa:
-
Đệ tử mới vào thiền viện xin thầy khai thị.
-
Một tay chỉ trời, một tay chỉ đất.
(Bồ đề linh quang)
Thiền
sư dẫn tích Phật đản sinh (xem công án 60, 72, 507) để chỉ
cho ông tăng tự phát hiện tự tánh.
1223.
Không thể hiểu.
Một
ông tăng hỏi Vân Môn:
-
Thế nào là chỗ tu hành của người xuất gia chân chính?
-
Là chỗ không người hiểu được.
-
Làm sao mọi người không hiểu được?
-
Vậy ngươi hãy cố tìm hiểu cái không hiểu được.
(Bồ đề linh quang)
Mọi
nhận thức đều từ bất nhận thức mà ra. Trở về cái bất
nhận thức (tức Không) chính là cái thiền cảnh “Không”
mà ta muốn tìm.
1224.
Một phiến đá trong không.
Có
ông tăng hỏi Thạch Sương:
-
Ý tổ sư từ Tây qua là gì?
-
Giống như một tảng đá từ không bay tới.
Ông
tăng lạy tạ, thiền sư hỏi:
-
Ngươi hiểu ý này không?
-
Con không hiểu.
-
May mà ngươi không hiểu nếu không đã bị tảng đá đập
bể đầu rồi.
(Bồ đề linh quang)
Hễ
có một niệm thì niệm niệm theo nhau không cùng. Đó không
phải là thiền cảnh. Phải nên “ nhấc lên được, cũng
bỏ xuống được” thì sẽ không bị tảng đá trong không
làm tâm mê, ý loạn, vỡ đầu chẩy máu.
1225.
Ở bên bờ sông mà chết khát.
Tuyết
Phong Nghĩa Tồn bảo đại chúng:
-
Các ngươi ngày ngày học Phật, tham thiền phải nhớ rằng
có người ngồi ngay bên cạnh mâm cơm mà chết đói, có người
đến bên bờ sông nước chẩy cuồn cuộn mà chết khát. Đây
chẳng phải là chuyện đùa.
(Bồ đề linh quang)
Chúng
ta mọi lúc đều ở trong Đạo, nhưng vẫn có người không
biết điều đó, thậm chí còn đi ngược lại Đạo. Chúng
ta hàng ngày chìm đắm trong sinh hoạt, có người bị sinh hoạt
làm rối loạn thậm chí uổng phí cả một kiếp người không
phải sao?
1226.
Dùng nèo chỉ cơ.
Hòa
thượng Bí Ma Nham ở Ngũ Đài Sơn tay thường cầm một cái
nèo, thấy ông tăng nào đến lạy liền dùng nèo móc vào cổ
hỏi:
-
Ma quỷ nào bảo ngươi xuất gia? Ma quỷ nào bảo ngươi hành
cước? Đáp được hay không đều chết dưới cây nèo
này, nói mau! Nói mau!
Học
tăng ít người trả lời được.
(Bồ đề linh quang)
Trực
tâm là Đạo, cứ vươn thẳng cổ ra để thiền sư móc.
1227.
Cơ ngữ qua sông.
Lương
Giới cùng Mật sư bá cùng qua sông. Lương Giới hỏi:
-
Qua sông thế nào?
-
Không làm ướt chân.
-
Sư bá già rồi còn nói vậy!
-
Còn ngươi thì nói sao?
-
Chân không bị ướt.
(Bồ đề linh quang)
Nói
điên đảo làm lộ ra “ngã” chủ thể. Thật là chân ngộ
vậy.
1228.
Có khác gì khóc.
Ngưỡng
Sơn lúc còn là chú tiểu, tụng kinh tiếng rất vang. Nhũ Nguyên
la:
-
Chú này đọc kinh như khóc.
-
Đúng vậy, còn hòa thượng thì sao?
Nhũ
Nguyên nhìn quanh không hiểu.
-
Nều thầy như vậy thì có gì khác với khóc đâu?
(Bồ đề linh quang)
Bản
tánh tự nhiên, không bó buộc theo một cách nào cả.
1229.
Tường Đông đánh tường Tây.
Một
ông tăng hỏi Quy Nhân:
-
Sinh hoạt của Linh Tuyền (pháp hiệu của Quy Nhân) thế nào?
-
Tường Đông đánh tường Tây.
-
Vậy làm sao qua ngày?
-
Nồi không chân, lửa không khói.
-
Sáng tối hai thời làm sao cúng dường?
-
Ông lão quê thổi cơm không có gạo, buổi họp mặt bên bờ
suối không có người đến dự.
(Bồ đề linh quang)
Cách
sinh hoạt của Linh Tuyền là tứ đại giai không.
1230.
Đánh vỡ đáy thùng.
Lâm
Tế từng nói:
-
Khi ta chưa khai ngộ, thấy quanh mình đều là sơn đen, giống
như bị cấm cố trong một cái thùng vậy.
(Bồ đề linh quang)
Người
sau nhân đó khi giải thoát được mê vọng hoát nhiên tỉnh
ngộ gọi là phá vỡ đáy thùng. Bàn Khuê cũng có một câu
kệ:
Đáy
thùng cổ vỡ rồi
Cả
một vòng đất trời!
Đáy
thùng vỡ rồi, phía dưới là một vòng tròn, trời đất đều
ở trong đó.
1231.
Bao dung.
Có
2 chú tiểu tranh cãi, không ai nhường ai; chỉ còn cách tìm
sư phụ làm trọng tài. Chú thứ nhất trình sư phụ lý do
của mình. Sư phụ nghe rồi bảo:
-
Ngươi đúng!
Chú
ta nghe rồi vui vẻ đi ra.
Chú
thứ hai trình ý kiến của mình, sư phụ nghe rồi bảo:
-
Ngươi cũng rất đúng!
Chú
này rất cao hứng đi ra.
Thị
giả đứng hầu một bên, ngạc nhiên hỏi:
-
Sư phụ bảo chú này đúng, chú kia cũng đúng, vậy thì ai
sai?
Thiền
sư cuời bảo thị giả:
-
Ngươi cũng đúng!
(Hảo tuyết phiến phiến)
Có
thị phi là có đối đãi, không khế hợp với Đạo. Thiền
tâm là bao dung. Kinh Hoa Nghiêm nói nếu trụ ở phân biệt sẽ
làm hỏng mất thanh tịnh, ngu si tà kiến tăng, vĩnh viễn không
thấy được chư Phật. Đối với người mới tu, bao dung là
một loại học tập; còn đối với người khai ngộ, đã thấy
được thực tướng của vạn pháp, biết Phật tánh của mọi
người đều bình đẳng thì sự bao dung là lý đương nhiên.
1232.
Phật là thế nào?
Có
một ông tăng hỏi Diên Chiểu:
-
Thế nào là Phật?
-
Thế nào là không Phật?
Ông
tăng thưa:
-
Con không rõ lời huyền diệu, xin thầy trực tiếp chỉ thị.
-
Nhà ở bờ biển Đông, mặt trời lên sẽ được chiếu sáng
trước.
(Bồ đề linh quang)
Phật
ở mọi thời, mọi nơi, phản chiếu tự tâm sẽ thấy.
1233.
Nở đã lâu rồi.
Một
ông tăng hỏi thiền sư:
-
Cây nở hoa không?
-
Đã nở lâu rồi.
-
Còn kết quả không?
-
Đêm qua sương xuống làm rụng rồi!
(Bồ đề linh quang)
Nở
hoa, kết quả là bản tánh của cây. Chấp vào kết quả là
còn mê vọng.
1234.
Hoa sen nở trên đá.
Có
ông tăng hỏi thiền sư Uẩn:
-
Thế nào là thiền?
-
Hoa sen trên đá, nước suối trong lò lửa.
-
Thế nào là Đạo?
-
Một cọng cỏ trên đỉnh Lăng Già.
-
Thiền và Đạo khác biệt thế nào?
-
Người bùn xuống nước, người gỗ mò tìm.
(Bồ đề linh quang)
Thiền
là ngộ ở trong tâm, ở bên ngoài nhìn không thấy, sờ không
được.
1235.
Chuyện cây bách có tặc cơ.
Đức
Sơn Sơ Kỳ, Ẩn Nguyên sang Nhật Bản truyền giáo. Đây là
một sự kiện trọng đại. Kể từ đời Liêm Thương Thiền
từ Trung Quốc truyền sang Nhật Bản, ít có cao tăng đến
Nhật. Chư Tăng Nhật Bản rất kính trọng mời ông trụ trì
Bản Sơn Diệu Tâm Tự. Ẩn Nguyên có lần đến Hoa Viên Diệu
Tâm Tự ở kinh đô hỏi:
-
Khai sơn tổ sư của quý tự có để lại ngữ lục gì không?
-
Không có ngữ lục, nhưng có để lại một câu “Chuyện cây
bách có tặc cơ” (Xem công án 786)
Ẩn
Nguyên kinh ngạc, kính phục thiền học của Quan Sơn hướng
về tháp Quan Sơn mà vái lạy.
(Bồ đề linh quang)
Chữ
tặc trong tặc cơ chỉ người mạnh lấy đi vật của người
khác. Ở đây chỉ thiền giả lấy đi vọng tưởng phiền
não, khiến thiền sinh thấy được khuôn mặt xưa nay.
1236.
Mười phương thế giới là tâm ngươi.
Có
ông tăng hỏi Trường Sa Cảnh Sầm:
-
Tâm con có dạng thức gì?
-
Chính mười phương thế giới là tâm ngươi.
-
Nếu tâm con rộng lớn như thế thì thân thể con ở đâu?
Chẳng lẽ không có chỗ để thân sao?
-
Đó chính là chỗ để thân ngươi.
(Bồ đề linh quang)
Tâm
và thế giới hợp nhất tức là thiền cảnh.
1237.
Tùy xứ an nhàn.
Hoa
Nghiêm hỏi Thạch Môn:
-
Cổ nhân nói: “Một người có thể làm tâm an ninh nhàn dật
thì tự nhiên cùng Đạo hợp nhất”. Điều này có phải
là chân lý không và cứ thế mà làm thì có đúng không? Xin
thầy giải thích.
-
Nếu hiểu đạo lý này có thể tùy xứ an ninh, bình hòa giống
như một người ở thành thị nghe được chuyện lạ vẫn
bình tĩnh. Không hiểu đạo lý này tâm cũng có thể an ninh,
bình hòa nhưng giống như một người ở làng quê nghe được
chuyện lạ thì kinh dị đi loan truyền khắp nơi.
Hoa
Nghiêm nghe rồi có chút lãnh hội.
(Bồ đề linh quang)
Tâm
bình thường là Đạo, như người ngồi thuyền gặp sóng gió,
nếu coi tất cả đều không thì dù có gập biến cũng không
sợ hãi.
1238.
Vô tâm gõ vô tâm.
Có
một ông quan chỉ cái mõ hỏi Hồng Nhân:
-
Cái này là cái gì?
-
Vật để cảnh tỉnh người buồn ngủ.
-
May tới chốn này!
-
Thật là (người) vô tâm gõ (vật) vô tâm.
(Bồ đề linh quang).
Khoảng
không trong mõ là “vô tâm”. Người vô tâm là không vọng
niệm. Vô tâm gõ vô tâm mới là vào thẳng cửa không.
1239.
Trời sáng gà gáy.
Một
ông tăng hỏi Nguyệt Luân:
-
Phải tu hành thế nào để thấy khuôn mặt xưa nay?
-
Không cần phải treo gương đá, hễ trời sáng là gà gáy.
(Bồ đề linh quang)
Thấy
khuôn mặt xưa nay là chỉ minh tâm kiến tánh, treo gương đá
chỉ cầu Phật là hư vọng. Câu của thiền sư có nghĩa là
ngộ rồi thì có thể kiến tánh thành Phật.
1240.
Khởi công từ chỗ nào?
Triệu
Châu và thủ tọa cùng đi thăm cầu đá Triệu Châu, Triệu
Châu hỏi:
-
Cầu này ai xây?
-
Lý Dung thiết kế và xây.
-
Xây từ chỗ nào?
Thủ
tọa không lời đối lại, Triệu Châu bảo:
-
Bình thời ngươi nói về cầu đá Triệu Châu rành rẽ lắm,
sao hỏi ngươi chỗ hạ thủ lại không biết?
(Bồ đề linh quang)
Chỗ
nào là chỉ không gian. Trong Phật giáo chỗ nào chính là chỗ
này; tất cả đều bắt đầu từ đây. Khởi điểm của Thiền
ở đây, bây giờ, tự mình. Nếu lìa chúng thì thiền đạo
cũng không tồn tại.
1241.
Không chấp tướng.
Thiền
sư Cảnh Sầm người Trường Sa là đệ tử của thiền sư
Nam Tuyền, đàm thiền luận đạo, cơ phong mẫn tiệp; đồng
đạo đều tôn xưng là hổ hòa thượng. Một tết trung thu,
Cảnh Sầm và Ngưỡng Sơn cùng thưởng nguyệt. Ngưỡng
Sơn chỉ trời nói:
-
Cái này mọi người đều có, chỉ vì vô minh nên không sử
dụng được.
Cảnh
Sầm không cho là phải:
-
Nếu mọi người đều có, làm sao không có ai sử dụng được?
May hôm nay cơ duyên hội hợp; vầng trăng sáng này chờ ngươi
sử dụng. hãy thử xem nào!
-
Dùng trăng sáng rất thú vị, mời pháp tọa dùng thử trước.
Cảnh
Sầm không khách khí đạp ngã Ngưỡng Sơn. Ngưỡng Sơn không
giận còn tán thán “Thật giống hổ”. Vì thế về sau mọi
người đều gọi ông là Sầm Đại Trùng.
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Ngưỡng
Sơn nói trăng sáng bị mây che lấp tương tự tâm chúng ta
bị vô minh, phiền não che lấp. Cảnh Sầm thì cho rằng chỉ
cần có thiền thì mây tan trăng lộ. Đạp ngã Ngưỡng Sơn
chỉ dưới ánh trăng thiền còn cần gì ngươi nói nhiều?
Câu tán thán của Ngưỡng Sơn có nghĩa là thiền có thể tĩnh,
có thể động, thiền lực như sư tử, hổ báo.
1242.
Chặt giun làm hai.
Đời
mạt Đường, một ông tăng hỏi Diên Khánh:
-
Một con giun bị chặt đôi, hai đầu đều động đậy, không
biết Phật tánh ở đầu nào?
Diên
Khánh không đáp, chỉ dang hai tay ra.
(Bồ đề linh quang)
Diên
Khánh dùng tay để diễn ý hai tay đều động, Phật tánh
ở đâu? Phật tánh ở tâm, không đâu không có (Xem thêm
công án 1954).
1243.
Ngày nay, ngày mai.
Có
ông tăng hỏi thiền sư Diễn Giáo:
-
Ý tổ sư từ Tây sang là gì?
-
Ngày nay, ngày mai.
(Bồ đề linh quang)
Ngày
nay, ngày mai đều bình thường. Bình thường là Thiền. Người
không ngộ nói nhiều vô ích, người lãnh hội ngày ngày
đều ở trong Đạo.
1244.
Trăng khuyết, trăng tròn.
Thạch
Thất và Ngưỡng Sơn cùng thưởng nguyệt. Ngưỡng Sơn hỏi:
-
Khi trăng khuyết thì trăng tròn đi đâu? Khi trăng tròn thì
trăng khuyết đi đâu?
-
Khi trăng tròn thì trăng khuyết ẩn, khi trăng khuyết thì trăng
tròn ẩn.
(Bồ đề linh quang)
Cảnh
trăng là cảnh thiền. Trong tròn có khuyết, trong khuyết có
tròn (Xem thêm công án 346).
1245.
Trú xứ của chân Phật.
Có
ông tăng hỏi Quang Dũng:
-
Chân Phật trú ở đâu?
-
Tức thời không hình trạng, cũng không ở chỗ nào khác.
(Bồ đề linh quang)
Chân
Phật ở tự tánh cho nên nói không hình trạng, cũng không
ở chỗ nào khác (vì ở khắp mọi chỗ).
1246.
Không phải là Phật thì là ai?
Một
lần, có vài pháp sư đến tham kiến Huệ Hải. Một ông hỏi:
-
Muốn hỏi một vấn đề, thiền sư có chịu trả lời không?
-
Bóng trăng dưới ao sâu, tùy ý nắm bắt.
-
Thế nào là Phật?
-
Đối mặt ao trong chẳng phải Phật thì là ai?
(Bồ đề linh quang)
Ý
thiền sư là trước mặt ta người người đều có tự tâm
là Phật.
1247.
Phật cũng là bụi.
Có
ông tăng hỏi Vân Môn:
-
Khi con quét sạch bụi trần, phiền não, thấy Phật rồi thì
sao?
-
Lúc đó ngươi thấy Phật cũng là bụi, là phiền não, cũng
phải quét đi.
(Bồ đề linh quang)
Có
thấy là không phải chân không, cho nên chưa thấy chân Phật.
1248.
Bảo Phúc.
Có
ông tăng hỏi Bảo Phúc:
-
Thế nào là gia phong của hòa thượng?
-
Mây trên trời xanh, nước trong bình.
(Thiền ngoại thuyết thiền)
Bảo
Phúc dùng lại câu nói của Dược Sơn (Xin xem công án 1021).
1249.
Hưng Giáo.
Có
ông tăng hỏi Hưng Giáo:
-
Thế nào là Đạo?
-
Cạo đầu vào chỗ hoang vu.
-
Thế nào là người trong Đạo?
-
Que cứt khô.
(Thiền ngoại thuyết thiền)
Hưng
Giáo dùng lại câu nói của Vân Môn (Xem công án 199).
1250.
Phàm và thánh.
Có
ông tăng hỏi Đức Sơn Tuyên Giám:
-
Phàm và thánh khác nhau nhiều ít?
Đức
Sơn bèn hét lớn.
(Thiền sư khải ngộ pháp)
Phàm
là chỉ cảnh giới của người đời, cũng là hiện tượng
giới. Thánh là cảnh giới sau khi ngộ, cũng là bản thể giới.
Đối với người kiến tánh thì phàm và thánh chỉ là một
vì lìa hiện tượng thì không có bản thể. Câu ông tăng hỏi
xuất phát từ tâm phân biệt. Đức Sơn hét lớn để cắt
đứt vọng niệm của ông tăng.
1251.
Đại ý Phật pháp.
Một
ông tăng hỏi Cảnh Như:
-
Đại ý Phật pháp là thế nào?
Thiền
sư hét lớn.
(Thiền sư khải ngộ pháp)
Lời
giảng cũng tượng tự công án trên.
1252.
Hừ!
Mỗi
khi có thiền sinh nào hỏi về pháp, về thiền, về Đạo,
Toàn Hoát đều hét lên:
-
Hừ!
(Thiền sư khải ngộ pháp)
Tiếng
hừ trong đời thường có hàm ý cấm đoán, thiền sư ám chỉ
câu của ngươi hỏi phát xuất từ vọng tâm chỉ làm trở
ngại sự kiến tánh.
1253.
Vô niệm.
Đại
Châu nói:
-
Vô niệm là ở tất cả mọi nơi đều vô tâm, không mong cầu
đối với mọi cảnh giới không động niệm.
(Thiền sư khải ngộ pháp)
Đối
với Đại Châu vô niệm là không bị ngoại cảnh hạn chế,
không có tình thức quyến luyến, đối với ngoại cảnh hoàn
toàn khách quan, không bị khích động. Cảnh giới này không
thể dùng phương thức lý giải của thế giới nhị nguyên
mà giải thích được.
1254.
Nghiệp thức mang mang.
Quy
Sơn hỏi Ngưỡng Sơn:
-
Chúng sinh nhân vì tâm bị ô nhiễm quá nghiêm trọng không
biết tự kỷ Phật tánh, ngươi có biện pháp nào để biết
nghiệp thức của họ ở đâu không?
-
Con đương nhiên có biện pháp.
Chính
lúc đó có một ông tăng đi qua. Ngưỡng Sơn kêu ông ta một
tiếng, ông tăng ngoảnh đầu lại. Ngưỡng Sơn thưa:
-
Thầy coi! Đấy là nghiệp thức mang mang không chỗ nắm
bắt.
(Bồ đề linh quang)
Trong
cõi hồng trần, người người đều là cố nhân. Chỉ cần
thức ngã, biết ngã, quên ngã, không bị ngã trói buộc thì
mới chính thức vượt ra ngoài tam giới.
1255.
Rõ mình, ngộ ngay trước mắt.
Tổ
Tâm thượng đường bảo đại chúng:
-
Chỉ rõ mình mà không lãnh ngộ sự trước mắt là người
có mắt không chân. Lãnh ngộ sự trước mắt mà không
rõ mình là người có chân không mắt. Hai loại người này
thường có một vật để trong lòng. Có vật trong lòng thì
trước mắt thường hiện ra tướng bất an, mọi chỗ đều
trở ngại, không thông làm sao an ổn? Chư tổ đã chẳng nói
qua sao “Chấp vào được mất là đi vào tà đạo. Cứ bỏ
xuống hết, thuận theo tự nhiên thì chẳng có hơi thở đến,
đi sai biệt”.
(Bồ đề linh quang)
Mắt
thấy hãy còn là hư, chân đạp là thật. Đối với thiền
giả mắt và chân đều trọng, bước đi trong đạo.
1256.
Ca Diếp múa.
Càn
Đạt Bà Vương tấu nhạc, sơn hà đại địa đều vang tiếng
đàn, Ca Diếp liền múa. Vương hỏi Thế Tôn:
-
Ca Diếp là A La hán các lậu đều hết, sao hãy còn dư tập?
Thế
Tôn đáp:
-
Thật không còn dư tập, ngươi đừng báng pháp.
Vương
lại đánh đàn ba lượt, Ca Diếp lại múa ba lần. Vương lại
hỏi:
-
Chẳng phải Ca Diếp múa sao?
-
Thật không múa.
-
Sao Thế Tôn lại vọng ngữ?
-
Không vọng ngữ. Khi ngươi đánh đàn, sơn hà đại địa cỏ
cây đều vang tiếng nhạc, chẳng phải sao?
-
Dạ phải.
-
Ca Diếp cũng vậy! Thật không có múa.
(Thiền thất dữ công án đích áo bí)
Diệu
nhạc của Càn Đạt Bà Vương là đại lực của cảnh giới
Bồ tát. Do đó sơn hà đại địa, cỏ cây đều vang tiếng
nhạc và Ca Diếp thì múa. Vương tuy phát tâm thâm viễn nhưng
trí tuệ chưa hoàn toàn thông suốt ngay trí tuệ của mình,
cũng chưa rõ nên không hiểu Ca Diếp vô tâm mà múa. Lúc đó
đáng nhẽ Thế Tôn phải đánh cho ông 30 gậy. Đây là cảnh
giới động tĩnh là một, múa mà không múa.
1257.
Dùng tay.
1-
Một ông tăng hỏi Hương Nghiêm:
-
Thế nào là ý tổ sư từ Tây sang?
Hương
Nghiêm thu tay vào lòng rồi dang hai tay ra.
2-
Một ông tăng hỏi Lạc Kinh Hắc Giản:
-
Thế nào là người trong mật thất?
Lạc
Kinh lấy tay đấm ngực.
(Thiền sư khải ngộ pháp)
Câu
hỏi của hai ông tăng trên đều là hỏi về tự tánh. Hương
Nghiêm và Lạc Kinh đều dùng động tác để trả lời. Động
tác là chỉ bản thân biểu hiện, nhưng đây không phải là
toàn bộ sinh mạng. Nếu chấp vào động tác là lạc vào hiện
tượng giới, không hiểu được tự tánh là gì .
1258.
Cơ kêu mổ.
Một
ông tăng hỏi Giang Tây Lư Sơn Song Khê Điền Đạo Giả:
-
Thế nào là cơ kêu mổ?
Sư
lấy tay ra dấu mổ.
(Thiền sư khải ngộ pháp)
Gà
mẹ ấp trứng 21 ngày. Gà con từ trong kêu, gà mẹ mổ, gà
con từ trong vỏ chui ra. Kêu mổ phải đồng thời. ông tăng
hỏi dụng của cơ kêu mổ. Thiền sư dùng tay ra dấu mổ là
chỉ thị, nếu ông tăng chưa siêu việt hiện tượng giới
thì đây là sự trợ giúp rất tốt khiến ông thoát khỏi
mê đắm mà thấy tự tánh (Xem công án 125).
1259.
Mèo bắt chuột.
Hối
Đường hỏi Thảo Đường:
-
Trong Đàn kinh có công án gió động, cờ động ngươi giải
thích thế nào?
-
Con một điểm nhập thủ cũng chẳng có, xin thiền sư chỉ
điểm.
-
Ngươi có xem mèo bắt chuột không? Khi rình chuột mắt nó
không chớp, bốn chân quỳ trên đất đợi cơ hội hành động.
Mắt, tai, mũi đều để ý đến chuột, đầu đuôi đều cùng
một hướng. Từ đầu đến cuối chỉ một mục đích. Do
đó, trăm lần vồ trăm lần trúng. Nếu ngươi làm được
như vậy tâm không tưởng gì khác: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, ý tự nhiên thanh tịnh, tự mình thể hội. Bảo đảm
trăm lần không sai.
Thảo
Đường cứ y thế mà làm, qua một năm cuối cùng đại ngộ.
(Bồ đề linh quang)
Thành
hay bại là do “toàn thần quán chú” và “tâm viên ý mã”.
Nhập thiền cũng không ngoại lệ.
1260.
Phật tánh của hòa thượng.
Có
ông tăng hỏi Ứng Thiên:
-
Mọi người đều có Phật tánh, Phật tánh của hòa thượng
ở đâu?
-
Ngươi bảo cái gì là Phật tánh?
-
Vậy hòa thượng là người không có Phật tánh.
-
Chính là thế đó! Ta khoái quá.
(Bồ đề linh quang)
Tất
cả đều không; Phật tánh thường tương tùy.
1261.
Ô, guốc ở đâu?
Một
hôm Thiên Vương đến thăm Nam Ẩn, gập lúc trời mưa không
ngớt. Khi chào hỏi xong, Nam Ẩn hỏi:
-
Ta biết ông để guốc ở ngoài hành lang nhưng ta không biết
ông để cái ô ở bên phải hay bên phải hay bên trái đôi
guốc?
Thiên
Vương không trả lời được, rất mắc cỡ bèn bái Nam Ẩn
làm thầy.
(Nhất vị thiền: quyển Phong)
Sau
sáu năm theo thấy cuối cùng Thiên Vương đã đạt được
yêu cầu của Nam Ẩn niệm niệm đều thiền.
1262.
Một cọng cỏ.
Đức
Phật và chúng đệ tử tản bộ ở nơi điền dã, thấy phong
cảnh đẹp đẽ, chỉ một khoảng đất bảo:
-
Chỗ này nên xây chùa.
Thiên
đế thuận tay ngắt một cọng cỏ cắm xuống đất:
-
Bạch Thế Tôn, chùa đã xây xong.
Đức
Phật gật đầu mỉm cười.
(Hảo tuyết phiến phiến)
Một
cọng cỏ là một tòa Phật điện trang nghiêm chẳng trách
Triệu Châu nói lão tăng lấy một cọng cỏ làm gậy kim cương;
lấy gậy kim cương làm một cọng cỏ. Các bậc tu hành nói
3 ngàn uy nghi, 8 vạn tế hạnh đều từ cái ‘một’ này
mà bắt đầu. Phải nên quý một cọng cỏ, một hạt gạo,
một bát cháo. Nên biết nước trong thiên hạ đều từ một
giọt nước Tào Khê mà ra.
1263.
Cư sĩ có nhà không?
Thiên
Nhiên đến thăm Bàng Uẩn, thấy một thiếu nữ đang ngồi
nhặt rau ngoài cổng (Đó là Linh Chiếu, con gái Bàng Uẩn).
Thiên Nhiên hỏi:
-
Cư sĩ có nhà không?
Linh
Chiếu bỏ rổ rau xuống, đứng dậy . Thiên Nhiên lại hỏi:
-
Cư sĩ có nhà không?
Linh
Chiếu nhấc rổ rau lên, bỏ đi.
(Thiền cơ)
Câu
hỏi ‘Cư sĩ có nhà không?’ lần thứ nhất hàm ý: ‘cư
sĩ có thể ở nhà, có thể không ở nhà’. Lần thứ hai có
nghĩa là cư sĩ (chỉ tự tánh) không chỗ nào là không ở.
1264.
Từ phương Nam tới.
Viên
Quang hỏi một ông tăng mới tới:
-
Ngươi từ phương Bắc hay phương Nam tới?
-
Từ phương Nam.
-
Không rơi vào ngôn ngữ, nói đi!
-
Con người Phước Kiến.
-
Tham thiền đi!
(Thiền cơ)
Không
rơi vào ngôn ngữ ám chỉ vào thẳng tự tánh.
1265.
Đệ tử có bệnh.
Một
ông tăng thưa với Hoàng Thông:
-
Đệ tử có bệnh, thỉnh thầy chữa!
-
Mang bệnh ra đây ta chữa cho.
-
Mời thầy chữa.
-
Trả tiền thuốc đi!
(Thiền cơ)
“Trả
tiền thuốc đi” là ám chỉ ông tăng có phàm bệnh thiền
sư sẽ cho thánh dược, ông tăng có thánh bệnh thiền sư sẽ
cho phàm dược.
1266.
Thầy của Chư Phật.
Thúy
Vi ở Chung Nam Sơn hỏi Đơn Hà:
-
Thế nào là thầy của Chư Phật?
-
Thật đáng thương, cầm chổi để làm gì?
(Thiền sư khải ngộ pháp)
Đơn
Hà mắng Thúy Vi còn muốn người phục dịch cái gì, khiến
Thúy Vi thể ngộ được pháp giới nhất như của tự tánh.
1267.
Gánh Vác.
Huyền
Sa và Đại Phổ chuyện trò với nhau. Huyền Sa nói:
-
Chỉ dẫn cho một người hiểu rõ Đạo sinh hoạt thật khó.
-
Đúng vậy, thật là khó!
-
Khó ở chỗ nào?
-
Ỡ chỗ hắn không chịu gánh vác.
(Thiền sinh mạng đích vi tiếu)
Vì
không chịu gánh vác nên không có khả năng tham dự vào sinh
hoạt. Do đó làm sao mà khoái lạc được? Khoái lạc là một
loại sinh hoạt thực tiễn không phải tìm cầu mà được.
1268.
Trí Tạng và Lý Cao.
Thượng
thư Lý Cao hỏi một ông tăng:
-
Mã đại sư có lời dạy gì?
-
Đại sư hoặc nói “Tức tâm tức Phật” hoặc nói “Phi
tâm phi Phật”.
-
Chưa quá bên này.
Lý
Cao lại hỏi Trí Tạng . Trí Tạng gọi lớn:
-
Lý Cao !
-
Dạ!
-
Cổ giác động.
(Thiền sư khải ngộ pháp)
Bên
này là chỉ cảnh phàm. Công án có thể có 2 giải thích:
Lý
Cao nhận rằng ông tăng đối với lời dạy của Mã Tổ chỉ
lý giải chứ chưa thể ngộ, cho nên nói ông hãy còn ở trong
cảnh phàm.
Lý
Cao nhận mình chưa liễu giải.
Cổ
giác:cổ là cái trống, giác là tù và, là những dụng cụ
trong quân đội để báo giờ. Trí Tạng dùng cổ giác để
chỉ tác dụng của tự tánh. Vì tự tánh vô hình vô tướng
nên lời nói không thể dùng để tả nhưng có thể dùng để
chỉ đạo cho thiền sinh ngộ nhập tự tánh.
1269.
Không rời pháp đường.
Dược
Sơn hỏi Đạo Ngô:
-
Ngươi từ đâu tới?
-
Đi chơi núi tới.
-
Không rời pháp đường, nói mau!
-
Trên núi chim trắng như tuyết, dưới khe cá lội tung tăng.
(Thiền ngộ dữ thực hiện)
Câu
hỏi của Dược Sơn là song quan ngữ (một mặt chỉ tự tánh,
một mặt chỉ pháp đường), nếu ngươi không rời pháp đường
làm sao du sơn ngoạn thủy? Đạo Ngô không bị mắc bẫy rơi
vào văn tự và trí giải, dùng cảnh sắc mà trả lời.
1270.
Làm sao để thành Phật.
Một
ông tăng hỏi Huệ Trung:
-
Làm sao mới thành Phật?
-
Tâm là Phật.
-
Tâm này có phiền não không?
-
Phiền não tự nhiên không khởi.
-
Vậy là phải cắt đứt phiền não?
-
Nếu cắt đứt phiền não thì là nhị thừa, phải không sinh
phiền não thì mới là đại Niết Bàn.
(Thiền Ngộ Dữ Thực Hiện)
Niết
Bàn là chỉ tâm đạt tới cảnh giới thanh tịnh, tròn đầy
không còn phiền não.
1271.
Chánh pháp nhãn tạng.
Lâm
Tế sắp di hóa bảo chúng đệ tử:
-
Ta mất rồi, không được làm mất chánh pháp nhãn tạng của
ta.
Đệ
tử Tam Thánh bước ra thưa:
-
Không dám làm mất đâu.
-
Về sau có người hỏi ngươi, ngươi sẽ trả lời làm sao?
Tam
Thánh lập tức hét to.
-
Không ngờ chánh pháp nhãn tạng của ta bị mất bởi con lừa
mù này!
Lâm
Tế nói rồi nhắm mắt an tọa, ly khai nhân thế.
(Nhất vi thiền: quyển Nguyệt)
Chánh
pháp nhãn tạng còn được gọi là thanh tịnh pháp nhãn. Chánh
là trung chánh, không nghiêng về một bên; pháp là cái tâm
thể trung chánh hiển hiện; nhãn là có thể chiếu soi mọi
vật; tạng là tâm chứa mọi thiện pháp. Chúng ta tập quán
dùng mắt thịt mà coi vạn tượng thế gian, rồi dùng thường
thức mà phán đoán. Do nhiều nguyên nhân cá biệt, mỗi người
đều có cái nhìn khác nhau. Nếu dùng chánh pháp nhãn tạng
thì phải có tâm nhãn thanh tịnh, vô nhiễm, lấy tâm vô phân
biệt mà quán sát sự vật. Chúng ta phải đóng con mắt thường,
mở con mắt huệ, đứng trên quan điểm duyên khởi, tánh không
mà quan sát sự vật thì mới xem thấy đước thực tướng
của vạn vật.
1272.
Một khúc tiêu thiền.
Giác
A là người Nhật bản đầu tiên đến Trung Quốc học thiền
đã được truyền chánh pháp. Sau đó ông cũng không đi khắp
nơi du sơn ngoạn thủy, chỉ tìm chỗ thâm sơn cùng cốc mà
ngồi tham thiền nhập định. Nếu có người tìm đến học
hỏi ông chỉ lược thuyết vài câu. Sau đó ông lại dời
đi chỗ khác, không để lại tung tích. Sau nhiều năm tham thiền
ở Trung quốc, ông trở về nước. Thiên Hoàng nghe tiếng ông,
mời ông vào Hoàng cung giảng pháp. Ông đứng yên lặng trước
mặt Thiên Hoàng rồi rút ở trong tay áo ra một một ống tiêu.
Ông thổi một điệu tiêu sau đó cung kính vái chào bỏ đi.
(Nhất vị Thiền: Quyển Phong)
Giác
A chỉ thổi một điệu tiêu thôi, không biểu thị gì khác.
Do đó, mọi người không nhận ông đã đem thiền vào Nhật
Bản, nhưng mỗi khi nghe tiếng chim hót ríu rít, tiếng suối
róc rách, tiếng gió thổi qua lá rì rào . . . thì tiếng tiêu
đó như phảng phất bên tai chúng ta.
1273.
Trong rừng vắng.
Một
hôm, Đức Phật ngồi thiền trong rừng vắng. Trừ tiếng gió
thổi qua lá ra không có tiếng động nào khác; có khi ngay cả
tiếng gió cũng không có nữa. Tất cả đều im lặng. Đột
nhiên Ngài nghe có tiếng tranh cãi của một đôi nam nữ từ
xa vọng lại. Không lâu thấy một thiếu nữ hoảng hốt chạy
qua, không biết có Đức Phật đang ngồi thiền dưới bóng
cây. Lại một lát sau, một chàng thanh niên chạy tới, trông
thấy Đức Phật bèn hỏi:
-
Ông có thấy một thiếu nữ chạy qua đây không? Cô ta đã
trộm tiền của tôi.
-
Đi tìm người thiếu nữ và đi tìm chính mình, điều nào
quan trọng hơn?
Chàng
thanh niên kinh ngạc, trong sát na đó như người tỉnh mộng.
(Nhất vị Thiền: Quyển Phong)
Đánh
mất chính mình để đi tìm vật dục thật là ngu xuẩn.
1274.
Xuống giường đứng.
Một
ông tăng hỏi Triệu Châu:
-
Thế nào là ý tổ sư từ Tây sang?
Triệu
Châu xuống giường đứng yên.
-
Có phải lão sư chỉ như vậy không?
-
Ta còn chưa nói mà.
(Thiền sư khải ngộ pháp)
Triệu
Châu xuống giường đứng là dùng động tác để chỉ thị.
Ông tăng không hiểu nên hỏi lại tự tánh có phải là như
thầy chỉ không? Tự tánh không có phạm vi, giới hạn, chỉ
có mình tự thể nghiệm mà biết thôi, không thể phân biệt.
Câu đáp của Triệu Châu có nghĩa là ta không có gì để chỉ
điểm cả, bác bỏ kiến giải của ông tăng.
1275.
Đào đất tìm trời.
Có
ông tăng hỏi Thiện Chiêu:
-
Đại đạo lúc bắt đầu thế nào?
-
Đào đất bùn tìm trời xanh.
-
Như vậy sao được?
-
Hãy nhận thức lý u huyền!
(Bồ đề linh quang)
Tìm
ngược về khởi nguyên của Đạo là chấp mê, giống như
đào đất mà tìm trời xanh.
1276.
Xúc mục Bồ đề.
Một
ông tăng hỏi Tuyền Châu:
-
Thế nào là xúc mục Bồ đề?
Sư
lấy gậy đánh đưổi đi.
(Thiền sư khải ngộ pháp)
“Xúc
mục Bồ đề” là chỉ những gì mắt nhìn, không gì không
là Bồ đề. Trong sinh hoạt hàng ngày không có gì không phải
là do tự tánh biểu lộ; nhưng điều này phải do chính mình
thể ngộ, không thể do người khác bảo cho biết vì những
gì người k