THƯ VIỆN HOA SEN
SearchEnglishMirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 

 
.
NHỮNG ĐOÁ HOA THIỀN
Dịch gỉa: Dương Đình Hỷ
Phước Quế Publications, Arlington, USA 2003
Mục Lục.
Quyển Thượng.
Quyển Trung.
Quyển Hạ.
Quyển Chung.
NHỮNG ĐOÁ HOA THIỀN
禪 之 花
QUYỂN TRUNG

1113.  Thì cũng thế.
Thị giả của thiền sư Pháp Khánh nhân đọc Động Sơn Lục, cảm khái thốt lên:
- Cổ nhân đối với vấn đề sanh tử tùy tiện biết bao, thật là kỳ quái.
Pháp Khánh nhân đó bảo:
Khi nào ta tọa hóa, ngươi có thể kêu ta, nếu ta tỉnh lại được thì đó là sanh tử tự tại có gì là kỳ với không kỳ.
Thị giả chăm chú nhìn thiền sư, Pháp Khánh đọc bài kệ dự ngôn:
今 年 五 月 初 五
Kim niên ngũ nguyệt sơ ngũ
四 大 將 離 本 主
Tứ đại tướng ly bản chủ
白 骨 當 風 颺 却
Bạch cốt đương phong dương khước
免 占 檀 那 地 土
Miễn chiếm đàn na địa thổ.
Mùng  5  tháng  5,  năm  nay
Bốn  đại  tướng  lìa  bản  chủ
Xương  trắng  bị  gió thổi  bay
Bỏ  lại  đất  của  thí  chủ.
Thời gian qua mau, tới ngày mồng 5 tháng 5, thiền sư đem hết quần áo, đồ đạc giao cho thị giả cúng dường chư tăng để kết duyên. Khi chuông nửa đêm vừa thỉnh, thiền sư ngồi kiết già mà hóa. Mạch ngưng đập, hơi thở không còn; thị giả nhớ lời lúc trước bèn gọi:
- Thiền sư! Thiền Sư!
Rất lâu Pháp Khánh mở mắt ra hỏi:
- Làm cái gì?
- Thiền sư sao không thay quần áo rồi hãy đi?
- Khi tới ta không mang theo gì!
Thị giả nhất định thay quần áo cho thiền sư.
Pháp Khánh bảo:
- Chẵng lưu lại gì cho người sau:
Thị giả hỏi:
- Chính lúc ấy thì thế nào?
Lại viết thêm một bài kệ:
七 十 三 年 如 制 電
Thất thập tam niên như chế điện
臨 行 為 君 通 一 線
Lâm  hành vi quân thông nhất tuyến
鐵 牛 跨  跳 過 新 羅
Thiết ngưu khóa khiêu quá tân la
撞 破 虛 空 七 八 片
Tràng phá hư không thất bát phiến
Bẩy  ba năm qua mau như điện lòe
Lúc  ra đi,  chỉ cho người thấy tánh.
Con trâu  sắt  nhẩy  quá  xứ Tân  La
Đập phá  hư không thành bẩy, tám mảnh.

Sau đó nghiễm nhiên mà hóa. 
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Nếu có người hỏi thiền giả có sanh tử không? Trả lời:thiền giả ở trong sanh tử rất tự tại. Đỏ hon hỏn tới, đỏ hon hỏn đi, có thể buông bỏ tất cả; chính lúc đó là giải thoát, là tự do vậy.

1114.  Pháp Bảo Vô Thượng.
Tổ Đạt Ma vốn tên là Bồ Đề Đa La, người Nam Ấn Độ. Xuất thân là quý tộc Bà La Môn, là hoàng tử thứ 3 của vua Hương Chí. Về sau gập được Bát Nhã Đa La, được ngài coi trọng, độ cho xuất gia cải tên là Bồ Đề Đạt Ma. Đạt Ma lúc chưa xuất gia đã là một ngưòi có tài trí hơn người, có thiện căn thoát tục. Một lần, tôn giả Bát Nhã Đa La chỉ khối châu báu hỏi 3 anh em:
- Trên đời này còn thứ gì quý hơn đám châu báu này không?
Đại ca Nguyệt Tĩnh Đa La đáp:
- Không có! Đây là của báu của Hoàng gia, trên thế gian này không có gì quý bằng.
Nhị ca Công Đức đa La đáp:
- Con chưa thấy vật nào quý báu hơn.
Chỉ có Bồ Đề Đạt Ma không đồng ý:
- Con nhận rằng ý kiến của 2 anh không đúng, đám châu báu này thực ra không có chút giá trị gì.
Hai anh đều hỏi:
- Ngươi nói đám châu báu này không có giá trị, vậy cái gì mới có giá trị?
- Vì đám châu báu này tự chúng không nhận biết giá trị của chúng, chỉ là đồ vật vô tri, còn như Phật nói chân lý đó là pháp bảo. Pháp bảo là do trí tuệ Bát Nhã phát huy, nó không những tự chiếu mà còn có thể phân biệt hình sắc của châu báu, phân biệt các pháp thiện ác của thế gian và xuất thế gian nữa.
Đó mới là điều quý nhất. 
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Đạt Ma tài trí siêu thoát, kiến giải của ông không bị truyền thống bó buộc, vì nhân duyên ưu việt, cho nên sau khi xuất gia kế thừa y bát của Bát Nhã Đa La thành tổ thứ 28 của Thiền Tông Ấn Độ. Dưới triều Lương Võ Đế  từ Tây qua Trung thổ, tọa thiền diện bích 9 năm ở núi Thiếu Thất trở thành sơ tổ của Thiền Tông Trung Hoa.
Thế nào là bảo vật chân chính? Ở thế tục đó là kim ngân châu báu, ở xuất thế gian đó là tam bảo: Phật, Pháp, Tăng, còn gọi là tự tánh tam bảo. Ai ai cũng có chẳng ai là không có chân tâm bản tánh. Kim ngân châu báu sẽ có lúc bị hủy hoại, nhưng chân tâm bản tánh thì không. Đạt Ma từ nhỏ đã có nhận thức tài trí như vậy, về sau kế thừa tổ vị, qua Trung Hoa truyền bá Phật pháp, một hoa nở 5 cánh, truyền đăng vô tận. Đó là 1 niệm giải thoát chiếu sáng vô cùng, pháp bảo đã quý hơn châu báu vậy.

1115.  Thiền là gì?
Có một tín đồ định học tọa thiền, nhưng không biết học tập thế nào. Một hôm lấy hết can đảm đến chùa hỏi Vô Tướng:
- Lão sư, con rất ngu, biết mình không phải là pháp khí để học thiền, như nhìn ngọn núi cao mà không thề trèo tới, mong thầy chỉ cho con Thiền là gì? 
- Ngũ tổ Pháp Diễn từng kể một câu chuyện:
Có 2 cha con một tên trộm; một hôm đứa con bảo bố:
- Cha, càng ngày cha càng lớn tuổi, lúc nào rảnh hãy chỉ cho con mánh khoé ăn trộm, nếu không sau này con làm sao kiếm ăn?
Ông bố bằng lòng. Một hôm dẫn con đến nhà một phú ông ăn trộm; dùng chùm chìa khóa vạn năng mở rương quần áo bảo đứa con chui vào đó khóa lại và kêu lên:  Có trộm! Có trộm!
Sau đó soay mình chạy. Người nhà phú ông nghe có trộm chạy tới thấy không mất đồ đạc gì, cũng không thấy tên trộm đâu, do đó lại ngủ lại. Lúc đó đứa con nằm trong rương không hiểu ý bố sao lại khóa mình trong rương, bây giờ phải làm gì để đào thoát? Linh cơ nhất động, giả tiếng chuột gậm quần áo. Một lúc sau bà chủ gọi chị người làm mang đèn lại coi. Chị người làm vừa mở rương, tên trộm bèn đẩy ngã và thổi tắt đèn, co giò chạy mất. Phú ông phát giác có trộm bèn sai gia nhân đuổi theo. Đuổi đến bờ sông, tên trộm nhỏ trong lúc nguy cấp sanh trí xô một tảng đá lớn xuống sông rồi quay trở lại; nghe có tiếng nói:
- Thật tội nghiệp! tên trộm bị bức quá, đã nhẩy xuống sông rồi!
Tên trộm nhỏ về nhà thấy bố đang nhậu, bèn trách bố sao lại khóa mình trong rương? Ông bố chỉ hỏi con làm sao ra. Đứa con thuật lại đầu đuôi, ông bố thích trí bảo con:
- Con sau này không sợ không có cơm ăn.
Cũng giống như tên trộm con, từ không có biện pháp mà tìm ra biện pháp. Đó là Thiền. 
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Trí tuệ Thiền là phát từ nội tâm.

1116.  Không động tâm.
Một nơi kia có thiên tai, các nhân sĩ Phật giáo muốn cứu trợ nạn nhân bèn mời một đoàn ca vũ đến biểu diễn, trù tính sẽ quyên góp ít tiền. Chư tăng cũng tới tham dự. Có một người mới vào học Thiền không cho là phải. Ông cho rằng người tham Thiền không nên coi ca vũ. Vì đoàn thể tổ chức, bất đắc dĩ ông phải tham dự. Ông nhắm mắt ngồi thiền không lý gì đến những náo động chung quanh. Khi cuộc trình diễn tạm ngưng, ban tổ chức bèn quyên tiền khán giả. Vị mới học thiền phất áo đứng dậy tức giận bảo:
- Ta nhắm cả 2 mắt, ngay một cái liếc cũng không sao lại đòi tiền ta?
Người tổ chức nói:
- Người mở mắt xem, chỉ trả nửa tiền là được, còn ông nhắm mắt tưởng tượng phải trả gấp đôi. 
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Chúng ta tu hành, không phải chỉ nhắm mắt không nhìn, không nghe cho là vô sự. Sự tưởng tượng lại còn lợi hại hơn là nhìn và nghe thật. Chỉ có không động tâm mới thật sự là chân chính tu hành.

1117.  Không tìm lại được.
Chu Từ Mục là một tín đồ Tịnh Độ, một hôm đến bái phỏng Phật Quang:
- Thiền sư, con niệm Phật đã hơn 20 năm rồi, gần đây không niệm được như trước nữa.
- Không như trước là sao?
- Khi trước con niệm Phật trong tâm có Phật tánh, dù miệng không niệm mà trong tâm vẫn cảm giác Phật thanh liên miên bất đoạn, dường như dòng suối tuôn trào.
- Tốt lắm! Đó là ngươi đã đạt tới tĩnh niệm tương tục cùng Phật tương ứng, đạt tới chân tâm rồi.
- Cám ơn thầy khen ngợi, nhưng bây giờ con không xong rồi, con khổ não lắm vì không thấy chân tâm nữa.
- Vì sao không thấy chân tâm?
- Vì tĩnh niệm tương tục không tìm thấy nữa, xin thầy chỉ cho con đi đâu mà tìm chân tâm?
- Chân tâm không ở đâu xa cả, ở ngay thân ngươi.
- Sao con không biết?
- Vì ngươi một niệm bất giác cùng vọng tâm giao lưu, chân tâm bèn lìa ngươi.
Chu Mục Từ nghe rồi bèn ngộ. 
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Nói không có chân tâm nữa là nói đánh mất chính mình. Vì sao bị mê? Chỉ vì hư vọng che mờ mất chân tâm. Vĩnh Gia từng nói: 
Tính  thật  vô  minh  tức  Phật  tánh
Thân  không  ảo  hóa  tức  Pháp  thân.
Là cũng ý này.

1118.  Gà trống và côn trùng.
Có một đứa nhỏ 7 tuổi thường kiếm thiền sư Vô Đức nói chuyện loạn cào cào. Vô Đức thấy đứa nhỏ này cơ trí hơn người, những lời nói thường có ít nhiều thiền vị. Một hôm Vô Đức bảo đứa nhỏ:
- Lão tăng hàng ngày bận rộn không có thì giờ nói chuyện với ngươi. Bây giờ chúng ta thử tranh luận 1 lần, nếu ngươi thua ngươi phải mua bánh cúng dường ta, nếu ta thua thì ta sẽ mua bánh cùng ngươi kết duyên.
- Thỉnh thầy hãy bỏ tiền ra.
- Hãy biện luận trước đã, giả sử lão tăng là một con gà trống.
- Con là một con côn trùng nhỏ.
Vô Đức nắm lấy cơ hội:
- Đúng rồi! ngươi là côn trùng nhỏ, vậy phải mua bánh cho ta là con gà trống lớn.
- Không được! Sư phụ phải mua bánh cho con mới đúng. Thầy là con gà trống lớn, con là côn trùng nhỏ. Con thấy thầy bèn bay đi mất. Thầy trò không tranh luận được. Như vậy không là thua sao?
Vô Đức dẫn đứa nhỏ đi hỏi nhiều người:
- Vấn đề này giống như chiến tranh chính trị, nếu một vài người không giải quyết được thì phải mang ra hỏi ý kiến cả làng xem ai có lý.
Cả làng có độ 300 người, nhưng không ai trả lời được.
Do đó Vô Đức trang nghiêm nói:
- Phải cần thiền sư trợn mắt mới phán đoán được.
3 ngày sau, cả chùa đều hay Vô Đức lẳng lặng mua bánh cho cậu bé 7 tuổi. 
 (Tinh Vân Thiền Thoại)
Thiền không có to nhỏ, dài ngắn, tốt xấu dĩ nhiên cũng không có thua được. Mới đầu Vô Đức tưởng thắng đứa nhỏ 7 tuổi. Đứa nhỏ tự nhận mình là côn trùng nhỏ, con gà trống chỉ mổ một cái là nuốt vào bụng. Nhưng con côn trùng thấy gà trống bèn bay đi, biểu thị sư, đồ không thể tranh luận.

1119.  Kiếm tâm thiền.
Tại Nam Thiên Tự, Vô Đức cử hành tiểu tham. Vô Đức bảo:
- Các vị đến đây tham học, có người nhiều năm, có người vài tháng, không biết các vị đã tìm thấy thiền tâm chưa?
Ông tăng một thưa:
- Con là người chủ quan rất mạnh, chỉ để ý đến những gì của mình hoặc về mình mà thôi, ngoài ra không quan tâm gì hết. Nhưng sau khi tham thiền rồi thì phát giác mọi sự, mọi việc ở trên đời đều tùy thuộc nhân duyên mà thành tựu. Thành ra lúc trước mỗi ngày chỉ vọng tưởng ta và cái của ta; hiện tại biết được ngoài ta còn có người có Phật, con nghĩ con đã nắm được thiền tâm rồi.
Ông tăng hai thưa:
- Lúc trước con chỉ tin những gì mắt thấy, tay sờ; nay tham thiền rồi con thấy rằng nhìn gần còn có nhìn xa, tâm lớn như không. Con nghĩ là đã thấy thiền tâm rồi.
Ông tăng ba thưa:
- Lúc trước, nếu nói mỗi ngày con đi 30 dậm, con quyết không đi 50 dậm; tham thiền rồi cảm thấy có thể lấy sinh mạng hữu hạn chứng ngộ Pháp thân vĩnh hằng, hận rằng không thể không ăn, không ngủ ngày đi trăm dậm. Con nghĩ con đã thấy thiền tâm.
Ông tăng bốn thưa:
- Con ít học, kinh nghiệm chẳng đủ, sử sự kém cỏi, có lúc tự ty. Từ khi học thiền rồi mới phát giác mình có thể đảm nhiệm trọng trách hoằng pháp lợi sinh, không còn thấy mình kém cỏi, tự ty nữa. Con nghĩ đó là thiền tâm.
Ông tăng năm thưa:
- Con chỉ cao 5 thước (thước Tầu), cảm thấy tự ty, sau khi học thiền rồi đứng trước người cảm thấy mình cao 2 trượng, con nghĩ rằng con đã thấy thiền tâm.
Vô Đức nghe rồi bảo:
- Lời các ngươi vừa nói là sự tiến bộ của các ngươi. Các ngươi  tự thọ dụng pháp hỷ chỉ là tham cứu sơ tâm chưa phải là thiền tâm. Thiền tâm là ở nơi minh tâm kiến tánh. Hãy tinh tấn tu hành! Tham!
 (Tinh Vân Thiền Thoại)
Tham thiền điều trọng yếu là minh tâm kiến tánh, nhưng trong quá trình tham thiền có thể cải biến quan niệm, tĩnh hóa thân tâm, khích phát nội lực, tăng gia huệ tư, như các ông tăng báo cáo.

1120.  Ta có thể vì ngươi mà bận rộn.
Phật Quang có lần gập Khắc Khế bèn hỏi:
- Ngươi đến đây học Thiền đã nhiều ngày tháng rồi, sao không thấy ngươi hỏi Đạo?
- Lão thiền sư hàng ngày bận rộn, học tăng không dám làm phiền.
Ba năm sau, Phật Quang gập Khắc Khế trên đường lại hỏi:
- Ngươi tham thiền tu đạo, có vấn đề gì sao không đến hỏi ta?
- Lão thiền sư bận rộn, học tăng không dám tùy tiện nói chuyện.
Lại một năm sau, Khắc Khế đi ngang qua phòng Phật Quang. Phật Quang gọi:
- Hôm nay ngươi có rảnh, lại đây cùng ta đàm đạo.
Khắc Khế chắp tay thưa:
- Lão thiền sư bận rộn, con sao dám lãng phí thời gian của người?
Phật Quang biết Khắc Khế quá nhũn nhặn, không dám ngay đó gánh vác làm sao mà ngộ đạo được, nếu mình không chủ động thì không được. Do đó lần sau gập Khắc Khế liền hỏi:
- Học Thiền cần tham cứu không ngừng, ngươi vì sao không đến hỏi ta?
- Lão thiền sư quá bận rộn, con làm sao dám làm phiền.
Phật Quang hét lớn:
- Bận! Bận! Bận vì ai? Ta cũng có thể vì ngươi bận!
Câu hét vào thẳng tâm Khắc Khế, khiến ông được khai ngộ.
 (Tinh Vân Thiền Thoại)
Có người chỉ nghĩ đến mình, chuyện chẳng có gì cũng làm phiền người khác. Có người lại chỉ nghĩ đến người, chẳng để ý gì đến mình, đánh mất nhiều cơ hội. Bản lai diện mục của Thiền là  gánh vác ngay đó, đang lúc ăn thì ăn, đang lúc tu thì tu. Khi hỏi thì hỏi điều trọng yếu, khi đáp thì đáp một cách khẳng định, chẳng thể tựa có mà không xoay đi xoay lại. Ta có thể giúp, ngươi vì sao không muốn ta giúp? Ngươi giúp ta, vì sao ta không thể giúp ngươi mà bận rộn? Không phải vì đó mà rõ nhân, ngã sao?

1121.  Nhọt mặt người.
Ngộ Đạt Tri Huyền thiền sư khi còn là vân thủy tăng, một hôm trên đường đến kinh sư, gập một ông tăng Tây Vực mắc bệnh mà không có ai chiếu cố. Ông không quản ngại rửa ráy, bôi thuốc cho ông tăng bệnh, ông tăng này sau khi khỏi bệnh bảo Ngộ Đạt:
- Sau này nếu có tai nạn gì hãy đến Tây Thục, Cửu Long Sơn ở giữa khoảng 2 cây tùng lớn gập ta.
Nhiều năm sau, pháp duyên của Ngộ Đạt ngày càng vượng, vua Đường Ý Tông rất tôn kính phong làm quốc sư, còn tặng đàn hương pháp tọa. Thiền sư tự giác rất vinh hạnh. Một hôm đầu gối thiền sư bỗng nổi một cái nhọt có hình mặt người có đủ mắt, mũi, miệng, răng như người thường. Thiền sư tìm đủ thầy chạy chữa mà không khỏi. Chính lúc bị bó tay sực nhớ đến lời dặn của ông tăng Tây Vực. Ông bèn y hẹn đến Cửu Long Sơn. Ông tăng Tây Vực chỉ dòng suối bên hàng tùng bảo:
- Ông đừng lo, hãy rửa nhọt bằng nước suối này sẽ hết.
Ngộ Đạt định vục nước rửa nhọt, thì hình mặt người trong nhọt bỗng mở miệng:
- Chờ một chút, ông có biết tại sao lại có nhọt này không? Ông có biết trong Tây Hán Sử có thuật chuyện Viên Ưởng giết oan Triều Thác không? Ông chính là Viên Ưởng chuyển thế, còn ta chính là Triều Thác. Từ 10 kiếp nay, trong vòng luân hồi trôi chảy ta đều tìm cơ hội để báo thù. Nhưng trong 10 kiếp này ông đều là tăng thanh tịnh giới hạnh, nên ta không có cơ hội hạ thủ. Gần đây trong triều, ngoài dân đều kính trọng, ông sinh lòng ngã mạn, làm mất đạo hạnh; do đó ta mới  có thể nhập vào thân ông. Bây giờ nhờ Già Nặc Già tôn giả từ bi lấy nước tam muội rửa hết tội nghiệp. Từ nay về sau không còn cùng ông oan oan tương báo.
Ngộ Đạt nghe rồi toát mồ hôi, vội vục nước rửa, cảm thấy đau đớn kịch liệt ngất đi. Khi tỉnh lại thì nhọt mặt người không còn nữa, ông tăng Tây Vực cũng không thấy đâu. 
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Tuy tham thiền minh tâm kiến tánh, nhưng tam thế nhân quả nghiệp báo rõ ràng không ai có thể trốn thoát được, chỉ có làm việc thiện, kết thiện duyên, sám hối tiên nghiệp, mới có thể cứu được. Ở tự tánh tuy không có tội nghiệp, nhưng ở sự tướng thì nhân quả nghiễm nhiên do đó hiện báo, sinh báo, hậu báo không thể không báo. Ngộ Đạt may gập Già Nặc Già tôn giả, cho thuốc trị bệnh. Tôn giả báo đáp giúp giải oan tiên nghiệp. Về sau Ngộ Đạt viết Thủy sám  lưu hành thế gian phổ độ thế nhân. Như vậy nghiệp báo lại chẳng nên thận trọng ư?

1122.  Đại Thiên là giường.
Có một lần, Tô Đông Pha đến thăm Phật Ấn. Viết thư dặn thiền sư hãy tiếp mình như Triệu Châu tiếp Triệu Vương (xem công án số 467) Tô Đông Pha tự coi mình hiểu được ý vị của Thiền muốn Phật Ấn lấy phương cách thượng thừa mà tiếp mình – không tiếp mà tiếp – nhưng Phật Ấn lại chạy ra tận cửa chùa tiếp đón. Tô Đông Pha nắm lấy cơ hội chế diễu Phật Ấn:
- Đạo hạnh của thầy không được tiêu sái như Triệu Châu, đệ tử đã dặn thầy đừng ra tiếp, mà thầy còn theo thường tục chạy ra tận cửa đón. 
Tô Đông Pha nghĩ lần này mình đã chiếm được thượng phong không ngờ Phật Ấn đọc một bài kệ trả lời:
趙 州 當 日  少 謙 光
Triệu Châu đương nhật thiếu khiêm quang
不 出 山 門 迎 趙 王
Bất xuất sơn môn nghinh Triệu Vương
怎  似 金 山 無 量 相
Chẩm tự kim sơn vô lượng tướng
大 千 世 界 一 禪 床
Đại thiên thế giới nhất thiền sàng

Triệu  Châu  lúc  đó  thiếu  khiêm  nhường
Chẳng  ra  ngoài   cửa   đón   Triệu   Vương
Sao  giống  Kim  Sơn  vô  lượng  tướng
Đại  Thiên  thế  giới  chỉ  một  giường.
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Đại ý bài kệ là ngươi thấy ta bước xuống thiền sàng ra đón, là ngươi dùng mắt thịt mà nhìn, không biết rằng ta vẫn ngủ yên trên thiền sàng đại thiên thế giới.

1123.  Lục Hy Thanh.
Đời Đường, cư sĩ Lục Hy Thanh đến tham Ngưỡng Sơn, hỏi:
- 3 cửa đều mở, từ cửa nào vào?
- Từ cửa Tín vào.
- Còn 2 cửa kia dùng làm gì?
- Từ cửa nào vào cũng được.
- Từ cửa nào?
- Từ cửa Tuệ vào.
- Còn cửa kia?
- Từ cửa Từ vào.
- Một cửa là đủ cần gì 3 cửa?
- Cửa Tín là theo Phật, cửa Tuệ là theo Pháp, cửa Từ là theo Tăng mà vào. 
Đó là 3 cửa báu vào Đạo. Lục Hy Thanh vào pháp đường lại hỏi:
- Chẳng lià ma giới mà vào Phật giới thì sao?
Ngưỡng Sơn chúc phất tử xuống, điểm 3 cái; Lục Hy Thanh bái tạ, lại hỏi:
- Thầy còn giữ giới không?
- Không giữ giới.
- Thầy còn tọa thiền không?
- Không tọa thiền.
Lục Hy Thanh im lặng, suy nghĩ hồi lâu, Ngưỡng Sơn hỏi:
- Ngươi hiểu không?
- Không hiểu.
- Giới chẳng giữ, thiền chẳng ngồi, trà uống 2, 3 chén, nghĩ đến việc cầy bừa. 
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Có câu đường nào cũng đến Trường An. Đó cũng là cửa nào cũng có thể vào Phật Đạo. Nhưng muốn vào Phật Đạo thì trước phải giữ giới, tham thiền. Nay Ngưỡng Sơn nói không giữ giới, không tham thiền chẳng là nghịch Đạo sao? Thực ra không phải vậy. Giới luật trọng quy tắc, các sự việc đều quy định rất nghiêm khắc. Còn thiền thì trọng giải thoát, không để các quan niệm hình thức bó buộc, thậm chí ma đến chém ma, Phật đến chém Phật. Do đó Ngưỡng Sơn phủ định tất cả đối đãi sau đó nói uống trà 2, 3 chén, ý nghĩ ở cầy bừa là trỏ thiền giả chân chính không lìa sinh hoạt.

1124.  Chuyện tốt chẳng bằng không chuyện.
Có một lần Triệu Châu nêu lên một câu thiền ngữ:
- Phật  là  phiền  não,  phiền  não  là  Phật.
Các thiền sinh không hiểu, nhao nhao yêu cầu Triệu Châu giải thích:
- Không biết Phật vì ai mà phiền não?
- Vì tất cả chúng sinh.
- Làm sao bỏ đuợc những phiền não này?
- Bỏ phiền não để làm gì?
Một lần khác Triệu Châu thấy đệ tử Văn Yển lễ Phật bèn dùng gậy gõ xuống đất hỏi:
- Ngươi đang làm gì vậy?
- Lễ Phật.
- Phật dùng để lễ hay sao?
- Lễ Phật cũng là chuyện tốt.
- Chuyện tốt chẳng bằng không chuyện.
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Phiền não là bệnh, Phật đạo cũng là bệnh. Phật, Bồ tát có bệnh không?
Không phải! Phật, Bồ Tát vì chúng sinh mà bệnh. Phật đản sinh cõi Ta bà, Bồ Tát hành hóa biển khổ, Địa Tạng nói nếu địa ngục còn người thì sẽ không thành Phật; do đó Phật, Bồ Tát vì lòng bi mẫn sao lại miễn trừ phiền não của chúng sinh? Lễ Phật tuy là chuyện tốt nhưng nếu bỏ được cái chấp chuyện tốt (công đức) thì không chuyện mới chính là chuyện tốt.

1125.  Thọ tín vật.
Một hôm, Quy  Sơn bảo Ngưỡng Sơn:
- Có một tín đồ mang 3 bó lụa trắng đến mong ta thỉnh chuông cầu phúc, cầu hòa bình an lạc cho thế nhân.
- Tín đồ đã thành tâm, thầy lại thâu lễ vật, xin hỏi thầy lấy gì để hồi báo?
Quy Sơn dùng gậy gõ vào giường 3 cái:
- Ta lấy cái này hồi báo.
- Cái này dùng làm gì?
Quy Sơn lại gõ 3 cái nữa:
- Ngươi sợ cái này còn không đủ sao?
- Con không hiểu cái này, cái này là của mọi người, con chỉ sợ lão sư không chịu lấy cái này hồi báo.
- Ngươi đã rõ cái này là của mọi người, sao lại còn muốn ta tìm vật gì khác để cho hắn nữa? 
- Tự mình có đủ, sao còn làm phiền người khác?
- Tự mình tuy có đủ, nhưng nếu không có người khác thì nào biết được? Ngươi đã quên Đạt Ma tổ sư sang Trung Thổ chẳng là đem cái này chỉ cho ngươi sao? Mỗi người các ngươi đều là người thọ tín vật.
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Cái này là chỉ cái gì? Đó là khuôn mặt xưa nay của mọi người. Nếu đã là khuôn mặt xưa nay của mình thì đâu cần ai tặng? Tuy là nói vậy, nhưng không có thầy chỉ thì làm sao biết? Cửa thiền không chấp ngôn ngữ văn tự làm sao chỉ thẳng tâm người? Hoàng Bá nói: “Chẳng cầu Phật, chẳng cầu Pháp, chẳng cầu tăng, nên cầu như thế!”
Ngôn ngữ văn tự chỉ là công cụ, không phải là mục tiêu. Như dùng đò qua sông, khi còn chưa qua sông sao bỏ đò được? Nhưng khi đã tới bờ bên kia rồi thì phải bỏ đò mà đi. Quy Sơn và Ngưỡng Sơn đứng trên lập trường khác nhau nhưng lý tánh chỉ là một.

1126.  Từng bước, từng bước chẳng lạc hướng.
Thiền sư Hiển Như ở núi La Phù lúc mới đến tham Cảnh Huyền ở Đại Dương Sơn tỉnh Hồ Bắc. Đại Dương hỏi:
- Ngươi là người vùng nào?
- Ích Sơn.
- Cách đây bao xa?
- 5 ngàn dậm.
- Làm sao tới? Có đạp đất không?
- Chưa từng đạp đất.
- Vậy ngươi biết cưỡi không sao?
- Không biết.
- Vậy làm sao tới?
- Từng bước, từng bước chẳng lạc hướng.
- Ngươi đã vượt tam muội sao?
- Tâm tánh không thể nằm được, sao khởi chướng danh tam muội?
- Như vậy! Như vậy! Nên tu như thế, tức bản thể rõ ràng, sự lý không hai; hãy khá hộ trì! 
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Đại Dương là thiền sư đời Tống. Ông theo thúc phụ Trí Thông xuất gia, 19 tuổi thọ giới liền có thiền cơ. Như xem kinh Viên Giác liền hỏi tại sao gọi là Viên Giác? Bái phỏng đạo trường Duyên Quan liền hỏi thế nào là Vô Tướng đạo trường? Bất cứ chuyện gì ông cũng đặt câu hỏi rất hay. Gập ông tăng sắp mất ông hỏi đi về đâu? Gập ông tăng trồng dưa, hỏi dưa ngọt bao giờ chín? Nếu có thiền giả hỏi ông, ông luôn luôn trả lời bằng một bài kệ. Hiển Như từ Ích Châu Tứ Xuyên, tới Hồ Bắc, 5 ngàn dậm mà không đạp đất vì Thiền vượt thời không gian, không có xa gần, cho thấy thầy trò khế hợp. Hiển Như về sau thọ pháp với Đại Dương không phải là vô cớ.

1127.  Ai là Thiền sư?
Thiền sư Phật Quang trong sinh hoạt thường tự quên mình. Các học tăng từ các nơi đến tham học yêu cầu bái kiến, thị giả vào thông báo có vị tăng muốn vào bái kiến. Thiền sư Phật Quang thường hỏi lại:
- Ai là thiền sư?
Có lần Phật Quang đang ăn, thị giả hỏi:
- Thiền sư! thầy đã ăn no chưa?
- Ai đang ăn đấy?
Một lần khác Phật Quang giẫy cỏ ngoài đồng từ sáng đến chiều không ngưng nghỉ. Đại chúng an ủi:
- Thiền sư! Thật là khổ!
Phật Quang trả lời:
- Ai khổ vậy? 
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Ai ăn? Ai kinh hành? Ai khổ? Ai nói? Phật Quang thường quên chính mình mà hỏi lại mọi người. Rất nhiều thiền giả nhân câu hỏi của Phật Quang mà tìm về chính mình. Người đời có lúc khẳng định tư tưởng, trí thức của mình làm mất đi chính mình. Có lúc cái gì cũng không khẳng định cũng lại đánh mất chính mình, giống như xác chết biết đi mất cả hồn vía, không có lập trường. Nếu có thiền thì có thể phủ định tất cả. Kỳ thật là ấp ủ tất cả. Tuy khẳng định tất cả, kỳ thực giải thoát tất cả. Thế cho nên thiền giả nói hay im, động hay tĩnh đều có một cảnh giới riêng. Lời nói, hành động của họ tuy đơn sơ nhưng ý vị vô cùng, nghiêm ngặt nhưng thâm thiết. Ai là thiền sư? Kỳ thực đó chính là thiền sư.

1128.  Đốt hương tăng phúc.
Tể tướng Bùi Hưu đời Đường là một tín đồ Phật giáo. Con ông là Bùi Văn Đức, tuổi trẻ mà đã thi đỗ Trạng Nguyên. Hoàng đế bổ làm Hàn Lâm. Nhưng Bùi Hưu không muốn con mình một bước đã huy hoàng. Do đó bắt con vào tự viện tu hành tham học, bắt đầu từ thủy đầu và hỏa đầu trở đi. Chàng thiếu niên Hàn Lâm ngày ngày gánh nước, bửa củi thân tâm mệt mỏi, phiền não, oán trách phụ thân bắt mình vào nơi chùa cổ núi sâu, làm trâu làm ngựa. Nhưng lệnh cha không giám trái phải ẩn nhẫn. Cái tình trạng tâm bất cam, tình bất nguyện sau một thời gian không nhẫn nại được, than rằng:
Hàn  Lâm  gánh  nuớc,  mồ  hôi  dòng  dòng.
Hòa  thượng  ăn  rồi,  làm  sao  tiêu  đặng?
Trụ trì là Vô Đức nghe được, ngâm hai câu trả lời:
Lão  tăng  chỉ  thắp  một  thẻ  hương
Có  thể  tiêu  cả  vạn  kiếp  lương.
Bùi Văn Đức nghe rồi nhẩy nhổm, từ đó thâu thúc thân tâm chịu khó làm việc lao dịch. 
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Các vĩ nhân không phải là ngồi ở trên cao để mọi người sùng bái. Thiền giả tạo dựng sự nghiệp từ chỗ thấp hèn, từ chỗ lao động thân thể mài rũa ý chí. Phật giáo rất coi trọng khổ hạnh, nhưng đó cũng chỉ là tạo phúc đức nhân duyên, thuộc hữu vi pháp. Khi thiền gia thắp hương tâm có thể quảng biến thập phương, tánh có thể xuyên suốt ba thế, tâm tánh có thể tương ứng cùng vô vi pháp thì đương nhiên sẽ:
Lão  tăng  chỉ  thắp  một  thẻ  hương
Có  thể  tiêu  cả  vạn  kiếp  lương.

1129.  Nên im lặng.
Có một năm, Linh Thụ Viện tới mùa hạ an cư, Hậu Hán Lưu Vương mời Vân Môn thiền sư và toàn thể đại chúng vào quá hạ ở nội cung. Chư vị pháp sư ở trong nội cung tiếp thọ các cung nữ cung kính hỏi pháp, oanh yến thỏ thẻ náo nhiệt vô cùng. Vì Lưu Vương chân thành trọng pháp nên ngày nào cũng có bài giảng. Các bậc tôn túc trong chùa đều vui vẻ nói pháp cho các cung nữ và thái giám. Chỉ có Vân Môn im lặng tọa thiền một bên. Các cung nữ cũng không dám thân cận thưa hỏi. Có một viên quan trị điện thấy tình cảnh ấy bèn hướng Vân Môn thỉnh thị pháp yếu. Vân Môn vẫn một mực im lặng. Viên quan không coi đó là ngỗ ngược mà còn kính trọng thêm, viết một bài kệ gián ở ngoài điện:
大 智 修 行 始 是 單
Đại trí tu hành thủy thị thiền
單 門 宜 默 不 宜 喧
Thiền môn nghi mặc bất nghi huyên
萬 般 巧 說 爭 如 實
Vạn ban xảo thuyết tranh như thật
愉 卻 單 門 總 不 言
Thu khước thiền môn tổng bất ngôn
Đại  trí  tu  hành  trước  là  Thiền
Thiền  môn  nên  lặng  chẳng  huyên  thuyên
Vạn  lời  tranh  cãi  tìm  chân  lý
Chẳng  biết  thiền  môn  vẫn  lặng  yên.
(Tinh Vân  Thiền  Thoại)
Vân Môn vốn là một vị cao tăng, vui cùng hạc nội mây ngàn, hoặc ở trong rừng núi, hoặc ở ven sông, ba y một bát tùy duyên; không bị ảnh hưởng bởi danh lợi, quyền lực. Tuy là không lời mà như sấm sét. Nếu con người có thể đắm mình trong im lặng, thì có thể nói đã bước vào Thiền vậy.

1130.  Nghi cái gì?
Cư Độn ở núi Long Nha muốn được triệt ngộ, chân thành đến núi Chung Nam Sơn tham học Thúy Vi. Ở được mấy tháng mà vẫn chưa được Thúy Vi gọi vào chỉ thị. Một hôm, lấy hết can đảm vào pháp đường hỏi:
- Học tăng từ khi đến đây, chỉ theo đại chúng ra vào pháp đường chưa được mông ơn khai thị một pháp, vì sao vậy?
Thúy Vi lờ đi, hỏi lại:
- Ngươi nghi gì?
Cư Độn không nhận được yếu lãnh, chỉ đành cáo biệt Thúy Vi, đến Đức Sơn. Nhiều ngày qua lại thưa với Đức Sơn:
- Đệ tử đến đây đã lâu vẫn chưa được nghe một câu Phật pháp của Đức Sơn.
Đức Sơn cũng giống như đã hẹn trước với Thúy Vi, cũng hỏi 
lại:
- Ngươi nghi gì?
Câu đáp của 2 vị tông sư không hẹn mà hợp, Cư Độn bất đắc dĩ lại đến Động Sơn tham học. Một hôm hỏi:
- Xin thầy một lời, chỗ khẩn yếu của Phật pháp là gì?
Động Sơn chỉ đơn giản bảo:
- Đợi khi nước ở Động Sơn chẩy ngược ta sẽ bảo ngươi.
Cư Độn nghe rồi đại ngộ. 
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Dùng nghi tâm tham thiền, dùng thể hội tham thiền, dùng vấn đạo tham thiền, kỳ thực không bằng dùng tâm bình thường mà tham. Con người sinh hoạt ở thế gian, đều ở trong điên đảo vọng tưởng, mâu thuẫn do đó bị sanh tử lôi cuốn không ngừng được. Nếu biết rõ nước ở Động Sơn chẩy ngược, tức tâm bình thường hiển hiện. Ngàn nghi, vạn vấn chẳng bằng một tâm bình thường.

1131.  Mặc áo, ăn cơm.
Có người hỏi Mục Châu:
- Chúng ta hàng ngày đều phải mặc áo, ăn cơm, cứ lập đi lập lại như vậy thật là phiền quá, phải làm sao để trừ các phiền này?
- Mặc áo, ăn cơm.
- Con không hiểu.
- Ngươi không hiểu, vậy thì cứ mặc áo, ăn cơm.
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Thiền không lìa bỏ sinh hoạt, người thường mặc áo, ăn cơm; ngộ đạo thành Phật rồi cũng mặc áo, ăn cơm. Cái khác biệt là ý nghĩa và cách cảm thọ.

1132.  An trú ở đâu?
Trào Đường Đơn Hà có lần đi bái kiến Mã Tổ. Trên đường gập một ông lão tóc bạc dắt một đứa nhỏ, hình dung bất phàm, cung kính hỏi:
- Cụ trú ở đâu?
Cụ già giơ tay trỏ lên trời, rồi trỏ xuống đất:
- Trên là trời, dưới là đất (Ý là trong khoảng vũ trụ đâu cũng là nhà).
- Nếu trời xụp, đất lở phải làm sao? (Ý là trời đất nếu bị hủy diệt thì phải làm sao?)
Cụ già lớn tiếng:
- Trời xanh! Trời xanh! (Ý là vũ trụ cũng phải trải qua quá trình thành, trụ, hoại, diệt)
Đứa nhỏ đứng bên hứ lên một tiếng (Ý là tự tánh bất sanh, bất diệt)
Đơn Hà khen ngợi:
- Không có cha ấy thì không sanh được con này!
Ông lão và đứa nhỏ bèn đi vào núi. 
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Con người ta trú ở đâu? Từ Hành pháp sư nói:
-Chỉ cần tâm an thì Đông, Tây, Nam, Bắc đều tốt.
Do đó trên trời, dưới đất không nhà, nơi nơi đều là nhà. Người đời trú ở thanh sắc, lợi lộc; mà thanh sắc, lợi lộc đều bị biến đổi không ngừng, vậy làm sao có thể an tâm trú? Nếu con người có thể khẳng định chính mình, không bị 5 dục, 6 trần lôi kéo, tâm có thể an trú thì trời xụp, đất lở cũng chẳng làm sao.

1133.  Thiền Đạo.
Một học tăng đến tham phỏng Việt Khê:
- Con từng nghiên cứu Nho học, Phật học 20 năm trời, nhưng đối với Thiền học một điểm cũng không thông, mong thầy chỉ cho chút ít!
Việt Khê không há mồm, chỉ nghênh mặt tát cho ông một cái.
Ông tăng kinh hoảng, tung cửa mà chạy, nghĩ bụng thật chẳng hiểu gì cả, phải tìm cách lý luận với thiền sư mới được. Chính đương lúc tức giận gập được Thủ Tọa, Thủ Tọa hỏi:
- Xẩy ra chuyện gì vậy? Hãy đến chỗ ta uống trà. Người học đạo có gì mà phải nổi giận.?
Học tăng vừa uống trà vừa than vãn Việt Khê vô duyên vô cớ đánh ông một cái tát tai. Đang lúc học tăng kể lể, thủ tọa lập tức ra tay cho ông tăng một tát, chén trà trong tay ông tăng văng xuống đất vỡ tan. Thủ Tọa bảo:
- Ngươi vừa nói hiểu Nho học, Phật học chỉ không hiểu Thiền đạo. Ta liền dùng Thiền đạo cung dưỡng ngươi, ngươi đã biết thế nào là Thiền chưa?
Học tăng kinh ngạc, trợn mắt, há hốc mồm không biết trả lời thế nào. Thủ tọa lập lại câu hỏi, ông tăng vẫn không trả lời được.
- Thật là chẳng hay, đã để cho ngươi thấy đạo Thiền của chúng ta.
Nói rồi, nhặt những mảnh chén vỡ, và dùng khăn lau khô nước trà đổ và nói:
- Ngoài những chuyện này ra, còn có gì gọi là Thiền đạo nữa?
Học tăng cuối cùng đã hiểu Thiền đạo ngay ở bên mình, từ đó lưu lại Việt Khê tham học. 
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Trong Thiền tông, các học tăng khi tham học, thường bị đánh chửi, kỳ thực các thiền sư rất ôn hòa. Các thiền sư đánh mắng là để cho học tăng tự mình cảm thọ triệt để. Đánh vỡ rồi nhặt lên, đổ nước rồi lau khô, như vậy còn chưa đủ để ngươi ngộ sao?

1134.  Làm sao hiểu được?
Vân Môn sau khi đã khai ngộ nơi Mục Châu, bèn đi du phương. Tại Giang Châu gập được thượng thư Trần Tháo. Trần Tháo cũng là một học giả Thiền học, lúc mới gập mặt bèn đặt câu hỏi thử thách:
- Thế nào là chuyện hành cước của nạp tăng?
Vân Môn không đáp hỏi ngược lại:
- Ông đem câu này hỏi qua bao nhiêu người rồi?
- Mặc kệ con hỏi bao nhiêu người, hôm nay con chỉ hỏi thầy.
- Chuyện này để từ từ, ta hỏi ông thế nào là ba tạng giáo nghĩa?
- Quyển vàng, trục đỏ.
- Đó chỉ là văn tự, giấy mực, không phải là chân nghĩa của Phật pháp; xin nhắc lại thế nào là giáo nghĩa?
- Mở miệng là lời chết, tâm muốn duyên thì lự vong.
- Mồm muốn nói là lời chết là đối hữu ngôn; tâm muốn duyên thì lự vong là đối vọng tưởng. Vẫn chưa đúng! Nói lại thế nào là giáo nghĩa.
Trần Tháo không trả lời được.
- Nghe nói thượng thư bình thời nghiên cứu kinh Pháp Hoa?
- Dạ phải.
- Kinh nói tất cả sinh sản nghiệp cùng bảo tướng không trái nghịch. Xin hỏi phi phi tưởng thiên có mấy vị trở lại?
Trần Tháo không trả lời được.
- Ta đã xem qua 10 kinh, 5 luận sau lại vào nghiệp lâm tu hành, 10 năm, 20 năm mới khai ngộ; thượng thư chỉ mới xem qua vài quyển kinh luận làm sao hiểu được?
- Xin thầy thứ lỗi, thật là lỗi của con!
Từ đó Vân Môn lưu lại nhà Trần Tháo 3 năm.
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Thiền môn chứng ngộ, không sợ không mở miệng, chỉ cần mở miệng là biết ngộ hay không. Vân Môn sau ba lần bị nắm ngực đuổi ra cửa khi tham Mục Châu, rồi sau trăm cay ngàn đắng mới khai ngộ. Do đó thượng thư Trần Tháo mới đọc vài quyển làm sao so sánh được.

1135.  Kết bạn.
Dược Sơn là vị trụ trì ở Tịnh Độ Viện, Hàng Châu, giữ gìn giới luật rất nghiêm, từng tiếp dẫn thái thú Lý Cao quy y Phật pháp, cũng từng giảng pháp cho Đường Văn Tông. Tuy vậy tính ông vốn đạm bạc, không thích giao tiếp. Các vị đại thần trong triều thường tranh nhau mời mọc cung dưỡng, nhưng ông đều tìm cách từ chối. Ông cùng Tường Thị lang có thể coi là bạn rất thân. Một hôm Tường Thị lang mời ông:
- Ngày mai hàn xá có nhiều văn nhân nhã tập, có vài tri kỷ, bạn tốt, đều là những vị học giả, danh sĩ đương đại, mạo muội mời thầy đến phổ độ cam lộ, diễn nói diệu pháp thì rất hân hạnh cho chúng tôi.
Dược Sơn cố từ nhưng Tường Thị lang cố ép, bất đắc dĩ Dược Sơn phải hứa hôm sau sẽ đến. Hôm sau, Tường Thị lang sai người đến đón, nhưng Dược Sơn đã rời viện. Người đi đón không tìm thấy Dược sơn, nhưng thấy trên bàn có lưu lại một bài kệ:
昨 日 僧 將 今 日 其
Tạc nhật tằng tương kim nhật kỳ
出 門 倚 杖 又 思 惟
Xuất môn ỷ trượng hựu tư duy
爲 橧 祇 合 居 巖 穴
Vi tăng chỉ hợp cư nham huyệt
國 士 筵 中 葚 不 宜
Quốc sĩ diên trung thậm bất nghi.
Hôm  qua  tưởng  hôm  nay  sẽ  đến
Ra  cửa  chống  gậy  lại  nghĩ  rằng
Làm  tăng  nên  ở  nơi  hang  động
Nhóm  cùng  danh  sĩ  có  nên  chăng?

Bèn đem về dâng lên thị lang.
Thị lang xem xong không giận Dược sơn đã thất hứa mà còn kính trọng thêm. 
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Tánh cách của người xuất gia không đồng. Có người phát tâm hoằng pháp khắp giai tầng kêu là: Nhân gian Tỳ khưu; có người thích ở núi sâu rừng thẳm gọi là Lan Nhã Tỳ khưu. Đó là do sự bất đồng về bi nguyện của Tiểu thừa và Đại thừa. Đức Phật thường giảng pháp cho các vua chúa, đại thần nhưng ngài cũng để cho Ca Diếp tĩnh tọa ở trong núi, ven sông. Do đó có nghĩa học tỳ khưu, hoằng pháp Tỳ khưu, trì luật tỳ khưu, thần dị tỳ khưu.. . Phong cách của các đại thiền sư, có người là quốc sư, có người là ẩn giả, đều là vì lợi ích của chúng sinh nhưng hình tượng thì không đồng.

1136.  Chiến sĩ.
Một lần, một đoàn quân dã chiến học diễn tập, các sĩ quan nhận thấy tạm trú ở tu viện Nga Sơn là thích hợp nhất. Do đó yêu cầu nhà chùa cung cấp cho 3 bữa ăn. Nga Sơn bảo Điển Tọa:
- Cung cấp thực phẩm cho họ như chúng ta thường dùng hàng ngày để kết duyên.
Do đó đoàn quân chỉ có rau và củ cải, không có thịt cá để ăn. Đoàn quân rất tức giận, một vị sĩ quan chạy đến tìm Nga Sơn phẫn nộ trách:
- Ngươi coi bọn ta là hạng ngươi gì?
- Ta coi các ngươi như chính mình.
- Vậy sao chỉ cho bọn ta ăn toàn rau và củ cải?
- Chúng ta hàng ngày đều ăn rau và củ cải mà không chán.
Sĩ quan giận dữ hét lớn:
- Ngươi biết chúng ta là ai không? Chúng ta là chiến sĩ đánh giặc chẳng tiếc thân mạng.
Nga Sơn cũng không khách khí hét lại:
- Còn ngươi coi bọn ta là ai? Chúng ta là sứ giả của chân lý, cái gì chúng ta cũng xả bỏ để cứu độ chúng sinh!
 (Tinh Vân Thiền Thoại)
Thế giới ngày nay có biết bao loại bạo lực: thiên tai, khủng bố, chiến tranh khiến mọi người phải kinh sợ, luôn bị cái chết ám ảnh, nếu không có tôn giáo an định lòng người thì xã hội lại càng hỗn loạn.  Người xuất gia ly gia cắt ái, truyền thừa chân lý khiến cho nhân loại có chỗ nương dựa. Cống hiến cả đời, can tâm đạm bạc, không phải ai cũng làm được.

1137.  Hiểu căn nguyên.
Văn Thù Tâm Đạo thiền sư tham cứu “3 giới duy tâm, vạn pháp duy thức” nhiều năm, nhưng đối với vấn đề tâm thức vẫn chưa khế hội, bèn đi hành cước tham phỏng. Một hôm đến Thái Bình Phật Giám định đem công án “cây Bách trước sân” của Triệu Châu để hỏi. Nhưng Phật Giám (Giác Thiết Chủy) đã đoán trước, liền bảo:
- Thầy ta không có lời này, đừng hủy báng ổng!
Tâm Đạo do đó khởi nghi tình tham cứu nhiều ngày có chỗ tỉnh ngộ bèn đến phòng phương trượng tưởng đem kiến địa của mình giãi bầy cho Phật Giám. Nhưng Phật Giám thấy có người đến bèn đóng cửa lại.
Tâm Đạo ở bên ngoài kêu lớn:
- Thiền sư, chẳng nên lừa dối con.
- Mười  phương  không  tường  vách
  Sao  chẳng  mau  đi  vào?
Tâm Đạo dùng tay phá rách cửa giấy, Phật Giám liền mở cửa túm lấy Tâm Đạo:
- Nói! Nói!
Tâm Đạo dùng hai tay bưng đầu Phật Giám, miệng giả khạc nhổ, đọc bài kệ:
趙 州 有 個 柏 樹 話
Triệu Châu hữu cá bách thụ thoại
禪 客 相 傳 滿 天 下
Thiền khách tương truyền mãn thiên hạ.
多 是 摘 葉 與 尋 枝
Đa thị trích diệp dữ tầm chi
不 能 直 向 根 源 會
Bất năng trực hướng căn nguyên hội
覺 公 說 道 無 此 語
Giác công  thuyết đạo vô thử ngữ
正 是 惡 言 當 面 罵
Chính thị ác ngôn đương diện mạ
禪 人 若 具 通 方 眼
Thiền nhân nhược cụ thông phương nhãn
好 向 此 中 辨 真 假
Hảo hướng thử trung biện chân giả.
Triệu  Châu  có  câu  chuyện  cây Bách
Thiền khách  truyền đi  khắp bốn phương
Đều  là  vạch  cành  và  bới  lá
Chẳng  thể  hiểu  ngay  từ  ngọn  nguồn.
Giác  công  rằng  chuyện  này  vốn  không
Chính  là  ngay  mặt  mắng  lời  ác
Người  thiền  nếu  đã  có  mắt  thông
Chân  giả  có  thể  nhận  ra  được.
Phật Giám ấn chứng cho ông:
- Ngươi đã khai ngộ rồi! 
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Thế gian có chuyện thị phi, biện minh đạo lý cũng có chân giả. Câu đáp của Triệu Châu là chỉ cây Bách tùy theo mùa mà lá biến đổi, cái cảnh giới vô tâm đó là ý tổ sư từ Tây sang. Tâm Đạo ở nơi Phật Giám đã tìm đến tận gốc rễ, thể ngộ vô phân biệt trí. Do đó không trách gì đã mắng mỏ các thiền giả trí giải trong thiên hạ.

1138.  Người thiếu nữ hấp dẫn nhất.
Có một nữ thí chủ, gia cảnh rất sung túc. Bất luận là tiền tài, địa vị, năng lực, quyền lực, dung mạo đều hơn người. Nhưng cô rất cô đơn, ngay một bạn để tâm sự cũng không có. Vì vậy cô đến thỉnh giáo Vô Đức làm sao để có sô lực khiến người khác hoan hỉ. Vô Đức bảo cô:
- Con phải cùng mọi người hợp tác, giống như Phật đầy lòng từ bi nói chuyện Thiền, nghe âm Thiền, làm chuyện Thiền, dùng tâm Thiền, con sẽ thành người có sô lực nhất.
- Làm sao nói chuyện Thiền.
- Là nói chuyện vui vẻ, chân thật, khiêm tốn, làm lợi cho người.
- Thiền âm làm sao nghe?
- Thiền âm là hóa tất cả các âm thanh thành tiếng vi diệu, đem những lời chửi rủa biến thành những tiếng từ bi, đem những tiếng hủy báng biến thành lời nâng đỡ, những tiếng khóc, tiếng ồn ào đều không để ý.
- Làm sao làm chuyện Thiền?
- Là bố thí, làm việc thiện, phục vụ tha nhân, hòa hợp Phật pháp.
- Làm sao dụng tâm Thiền?
- Là ta người một tâm, phàm thánh là một, bao dung phổ lợi tất cả.
Nữ thí chủ nghe rồi sửa đổi không còn kiêu ngạo giầu có, tài giỏi, xinh đẹp. Đối với mọi người rất lễ phép, đối với họ hàng rất quan tâm. Chẳng bao lâu trở thành người hấp dẫn nhất.
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Thiền không phải là lý luận, thiền là sinh hoạt. Trong sinh hoạt có Thiền thì pháp lực vô cùng: mọi người đều tôn trọng, nơi nơi đều quý mến.

1139.  Đại Điên và Hàn Dũ.
Hàn Dũ hỏi Đại Điên:
- Xin hỏi hòa thượng bao nhiêu tuổi?
Thiền sư giơ niệm châu lên hỏi lại:
- Hiểu không?
- Không hiểu.
- Ngày đêm 108.
Hàn Dũ không hiểu hàm ý gì, ngày hôm sau lại đến thỉnh giáo. Khi tới cửa chùa gập một chú tiểu bèn hỏi:
- Hòa thượng bao nhiêu tuổi?
Chú tiểu không đáp, chỉ nghiến răng 3 lần. Hàn Dũ mơ hồ như đi trên mây, vào gập Đại Điên xin khai thị. Đại Điên cũng nghiến răng 3 lần. Lần này Hàn Dũ như có chỗ ngộ:
- Nguyên lai Phật pháp không hai, đều cùng một dạng.
 (Tinh Vân Thiền Thoại)
Công án này có ý tưởng gì? Hàn Dũ hỏi hòa thượng bao nhiêu tuổi, do kinh nghiệm đời thường, muốn tính thời gian. Sự thật thời gian luân chuyển không ngừng, không đầu không cuối làm sao có thể nói là bao nhiêu. Tại vô hạn thời gian, không gian, sinh mạng không ngừng luân hồi. Nghiến răng 3 lần là chỉ trong vô tận sinh mạng, chúng ta không nên trình khẩu thiệt, trừ ngôn ngữ, văn tự chúng ta phải chứng nghiệm Phật pháp, nhận thức bản lai diện mục, tìm được cái vĩnh hằng trong tam thiên đại thiên thế giới.

1140.  Ta ở đâu?
Thiền sư Vô Căn có một lần nhập định 3 ngày; đại chúng tưởng ông đã chết bèn mang đi thiêu. Vài ngày sau, thần thức của Vô Căn xuất định, không tìm thấy thân thể. Cả chùa đều nghe tiếng Vô Căn tự hỏi:
- Ta, ta đang ở đâu?
Càng về đêm tiếng kêu của Vô Căn càng bi thảm khiến mọi người bất an. Một hôm, đạo hữu của Vô Căn là thiền sư Diệu Không biết chuyện này, bảo đại chúng:
- Hôm nay ta sẽ ở trong phòng Vô Căn, khi ông tới ta sẽ nói chuyện với ông. Các ngươi hãy chuẩn bị cho ta một thùng nước và một lò lửa. Ta muốn cho ông biết thế nào là cái ta.
Đêm khuya Vô Căn trở lại tìm thân thể bi thiết kêu lên:
- Ta, ta đi đâu rồi?
Diệu Không trả lời:
- Ngươi ở trong đất.
Vô Căn vào đất tìm Đông, tìm Tây, rất lâu thấy tiếng kêu lên:
- Trong đất không có ta.
- Vậy ngươi vào hư không coi.
- Hư không cũng không có ta.
Diệu Không chỉ thùng nước:
- Ngươi ở trong nước.
- Trong nước không có ta.
Diệu Không chỉ lò lửa:
- Ngươi ở trong lửa.
- Trong lửa cũng không có ta.
- Ngươi đã có thể vào đất, nước, lửa, tự do tự tại ra vào hư không ngươi còn tiếc cái sắc thân bị chướng ngại nữa làm gì?
Vô Căn nghe rồi có tỉnh, từ đó không còn đi tìm cái ta nữa.
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Chân ngã không phải là sắc thân. Sắc thân có chướng ngại, có bệnh; sắc thân vô thường, chân ngã là pháp thân. Chân ngã ở khắp hư không, tràn đầy pháp giới, tự cổ đến nay không biến, trải qua vạn kiếp vẫn mới. Thiền giả chứng ngộ chân tâm, cùng pháp thân tương ứng. Vô Căn niệm niệm không quên túi da thối làm sao giải thoát, may gập Diệu Không phương tiện chỉ thị mới tìm lại được chân ngã.

1141.  Tông Diễn.
Tông Diễn khi còn là một vân thủy tăng, tham thiền với thiền sư Tuấn Nhai ở Kiến Nhân Tự. Một ngày mùa hạ nọ, trời rất nóng nực Tông Diễn lợi dụng lúc Tuấn Nhai ra ngoài, nằm duỗi thẳng tứ chi ở hành lang chùa mà ngủ. Không lâu Tuấn Nhai trở về. Nghe tiếng bước chân thầy Tông Diễn tỉnh giấc, kinh sợ, nhưng không đủ thời gian để lẩn tránh đành mặt dầy mày dạn giả vờ ngủ. Tuấn Nhai bước nhẹ vòng qua chân Tông Diễn nhỏ nhẹ:
- Xin lỗi! Xin lỗi!
Tông Diễn lúc đó mắc cỡ, xuất mồ hôi lạnh từ đó không giám chểnh mảng một giây, sáng chiều tinh tấn tham thiền. Tuấn Nhai viên tịch rồi, Tông Diễn trở thành một đại tôn sư, lãnh đạo 300 học tăng tham thiền. Nhân nhớ đến lão sư đối với mình rất từ bi, do đó ông đối với các học tăng cũng rất khoan dung. Về sau trở về già vì phải bận rộn giáo dục các học tăng ngày đêm, không có thì giờ ngủ thành giấc, bất đắc dĩ lợi dụng lúc tọa thiền chợp mắt một lúc.
Có một lần một học tăng bình phẩm:
- Lão thiền sư Tông Diễn mỗi ngày ngồi thiền đều có tập quán ngủ. Chúng ta hỏi sao thầy tọa thiền lại ngủ, lão sư bảo mình vào mộng để gập cổ thánh, tiên hiền giống như Khổng Tử mộng thấy Chu Công vậy mà!
Lời bình phẩm này lan truyền rất rộng, thậm chí các học tăng cũng lợi dụng lúc tham thiền để ngủ. Tông Diễn không ngừng khích lệ các học tăng dụng công. Một học tăng không phục thưa:
- Chúng con cũng vào mộng để gập cổ thánh, tiên hiền giống như Khổng Tử mộng thấy Chu Công.
Tông Diễn không giận hỏi lại:
- Các ngươi gập cổ thánh, tiên hiền, họ khai thị gì cho các ngươi?
Các học tăng không trả lời được, nhưng đều có chỗ tỉnh ngộ.
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Cảnh giới của học tăng và lão sư không đồng. Tông Diễn nhận sự từ ái của thầy nên cũng đem lòng từ ái nhiếp thọ học tăng. Nhưng trong sự giáo dục từ ái không, không đủ uy lực chiết phục, không dễ gì tạo thành tánh tôn sư trọng đạo. Nhưng Tông Diễn ngoài ái tâm còn thêm thiền vị nên cuối cùng đã chiết phục được các học tăng.

1142.  Làm sao thấy Đạo?
Mã Tổ Đạo Nhất lúc còn trẻ, mới gập Hoài Nhượng hỏi:
- Dụng tâm thế nào để khế hợp Vô Tướng Tam Muội?
- Ngươi học tâm địa pháp môn như gieo mạ, ta thuyết Phật pháp như mưa rơi, chỉ cần duyên hợp thì sẽ thấy Đạo.
- Thầy nói thấy Đạo là thấy Đạo nào? Đạo không có hình tướng làm sao có thể thấy Đạo vô hình, vô tướng được?
- Cái tâm địa pháp nhãn này có thể thấy Đạo; Đạo vốn là Vô tướng tam muội, cũng do từ tâm địa pháp môn tự thấy Đạo vậy.
Hoài Nhượng sợ Mã Tổ còn chưa hiểu rõ lại thêm:
- Nếu có thể khế hợp Đạo thì Đạo không đầu không cuối, không thành không hoại, không tụ không tán, không dài không ngắn, không tĩnh không loạn, không nhanh không chậm. Nếu hiểu lý này thì đó là Đạo.
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Đạo là gì? Đạo không có thời gian: không đầu không cuối, Đạo không có không gian: không trong không ngoài. Đó là chân lý. Đạo từ cổ cho đến nay không biến, trải vạn kiếp vẫn mới toanh. Làm sao thấy đạo? Chỉ cần rõ tự mình thường trú chân tâm là thấy Đạo.

1143.  Còn nặng không?
Thiền sư Cảnh Hư người Đại Hàn dẫn đệ tử mới xuất gia là Mãn Không đi hành cước. Mãn Không trên đường không ngớt than phải vác hành lý nặng nề, xin sư phụ tìm chỗ nghỉ chân. Cảnh Hư không chịu, cứ thẳng bước. Khi đi qua một trà sơn trang, một thiếu phụ từ trong nhà bước ra. Sư phụ bỗng nắm lấy tay người phụ nữ ấy. Thiếu phụ la to, người nhà và láng giềng nghe tiếng kêu chạy ra nghĩ rằng hòa thượng này trêu ghẹo phụ nữ, đều nhất tề hô đánh. Cảnh Hư thân hình to lớn co giò chạy trước. Đồ đệ Mãn Không lưng vác hành lý cũng chạy bén gót thầy. Rất lâu sau khi đã chạy qua khỏi mấy con đường núi, thôn dân không có cách gì đuổi kịp 2 thầy trò. Tại một chỗ thanh vắng sư phụ bèn dừng chân bên đường, ngoảnh đầu lại quan tâm đệ tử:
- Còn thấy nặng không?
- Sư phụ! Thật là kỳ quái, vừa rồi chạy chẳng thấy hành lý nặng gì cả!
 (Tinh Vân Thiền Thoại)
Đối với mục phiêu trước mặt nếu không có tín tâm vững chắc thì việc ngại xa, ngại khó, ngại nặng là điều tất nhiên. Trái lại nếu vững tin chịu đảm trách thì không còn ngại xa, ngại khó nữa.

1144.  Nghe mà chẳng hiểu!
Vương Phú Ích là một tín đồ nhiệt thành. Ngoài đi làm ra, hễ rảnh là chạy tới Đông Thiền Tự hoặc giúp Viên Đầu trồng cây tưới nước hoặc giúp Điển Tọa bổ củi, nấu cơm, khi gập Vô Danh thuyết pháp hay khai thị cho các học tăng, ông đều hết sức lắng nghe. Có một lần Vương Phụ Ích ở thiền đường nhìn các học tăng ở tư thế mắt nhìn mũi, mũi quán tâm mà thở dài. Gập đúng lúc Vô Danh đi qua, Vô Danh hỏi:
- Ông vì sao mà thở dài?
Vương Phụ Ích lại thở dài.
- Bình thường ông phát tâm trợ giúp công việc trong chùa, lại rất dụng công nghe Phật pháp có thể nói thân, khẩu, ý đều ngao du trong pháp hải, vì sao lại thở dài?
- Phiền não của con là nghe mà không hiểu Phật pháp. Đối với những gì thầy khai thị học tăng, những gì là ý Tổ sư từ Tây qua? Con chó có Phật tánh không? Tức tâm tức Phật; thế nào là sự trong tông môn? Thế nào là Phật, thế nào là khuôn mặt xưa nay, Đạo ở đâu?  . . . Mỗi khi con nghe những Phật pháp này giống như xem hoa trong sương mù! Thiền sư, vì sao con nghe mà không hiểu?
- Lúc trước thiền sư Đức Sơn thấy học tăng vào cửa liền đánh; thiền sư Lâm Tế thì hét, Tuyết Phong thì hỏi là cái gì? Mục Châu thì nói tất cả đều hiện thành. Lịch Đại tổ sư, đại đức có người nghiên cứu một công án suốt đời cũng không thể khai ngộ, cho thấy học Thiền phải dụng công tham cứu chứ không phải chỉ nghe.
- Nhưng làm sao tham?
- Ngươi hãy tham nghe mà chẳng hiểu.
Vương Phụ Ích nghe rồi có chỗ ngộ.
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Tham thiền nên tham thoại đầu; đây là phương pháp bất đắc dĩ cần phải có một cái gì trợ giúp. Tập trung tinh thần, thống nhất ý chí chủ yếu là không cho nghĩ ngợi loạn lên. Các thiền sư đề thị thoại đầu như: ý tổ sư từ Tây sang .  .  .  không phải là vấn đề dễ hiểu, nhưng tham cứu rồi thì những thoại đầu này giống như chìa khóa có thể giúp ta mở cửa bí ẩn vào vũ trụ; Vô Danh bảo tham “nghe mà chẳng hiểu” lại chẳng nên sao?!

1145.  Chẳng là hỗn tạp sao?
Có một ông vân thủy tăng khi đi tham phỏng, qua một  am do một lão bà quản lý, dừng lại nghỉ ngơi. Ông hỏi bà lão:
- Sư cô, am này ngoài cô ra còn có quyến thuộc nào không?
- Có.
- Sao không thấy?
- A! Sơn hà đại địa, cỏ cây đều là quyến thuộc của ta cả.
- Vô tình không phải là hữu tình, sơn hà cỏ cây có hình dạng cô sao?
- Vậy ta có dạng nào?
- Tục nhân.
- Ngươi cũng chẳng phải là người xuất gia.
- Sư cô, cô không thể hỗn tạp Phật pháp.
- Ta không làm hỗn tạp Phật pháp.
- Tục nhân trụ trì am, cỏ cây là đạo hữu như vậy không phải là  làm hỗn tạp Phật pháp là gì?
- Pháp sư! Ngươi không nói vậy được, ngươi là nam nhân, ta là nữ nhân có hỗn tạp gì đâu? 
 (Tinh Vân Thiền Thoại)
Vũ trụ vạn hữu vốn một thể. Tâm, Phật, chúng sinh không sai biệt. người đời thường phân biệt cái không sai biệt, cho nên mới có thị phi, thiện ác, tình và vô tình, thậm chí nam nữ dị loại, thế và xuất thế đều là pháp đối đãi; nếu được như lão bà chỉ có một chân pháp giới thì làm gì có hỗn tạp.

1146.  Mặc kệ.  Đừng để ý.
Đây là một thiền án hiện đại. Một cô nương rất xinh đẹp quyết tâm tham thiền ngộ đạo, đến thỉnh giáo một vị thiền sư:
- Con phải làm sao để tham thiền ngộ đạo?
Lão thiền sư nghĩ bụng cô gái xinh đẹp này chắc là trong đời sẽ 
gập nhiều trở ngại bó buộc, làm sao có thể tham thiền ngộ đạo? Do đó bèn dạy cô một câu quyết:
- Mặc kệ, đừng để ý.
Đương nhiên, các thiền sư trong quá khứ dạy tham thiền có nhiều phương pháp, tỷ như tham “Người niệm Phật là ai?” “Mặt mũi lúc cha mẹ chưa sanh là gì?” v.v. Câu quyết này là muốn cô không để cho ngoại cảnh quấy rối; do đó minh tâm kiến tánh, chứng ngộ Phật pháp. Vị cô nương này không phụ lòng thiền sư chỉ đạo, nhớ kỹ trong lòng nỗ lực tham cứu.
Một hôm, có người bảo:
- Bạn trai cô đến kiếm kìa!
- Mặc kệ, đừng để ý.
Không lâu, trường đại học Mỹ gửi giấy thông báo cô đã được nhận vào học, cô cũng không xem:
- Mặc kệ, đừng để ý.
Mẹ cô gọi điện thoại báo cho biết cô đã trúng thưởng.
- Mặc kệ, đừng để ý.
Trải qua nhiều lần như vậy, phá hết cửa này, cửa nọ. Một hôm cô xem lại bức ảnh cũ chụp chung với bà nội, ảnh vàng cũ kỹ, cô còn là một bé gái kháu khỉnh. Cô thầm nghĩ đã mười mấy năm rồi mình cũng khác xưa, giống như bà nội đã chôn vùi dưới lòng đất, chuyển niệm đầu cô đã phá xong sinh tử quan. Đối với cô sống chết không còn đáng sợ nữa. Vượt qua vô thường sinh tử, cô ngộ được cứu cánh bất sinh, bất diệt, an lạc. 
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Ngộ cảnh này của cô, đối với những gì hư vọng ở đời, thực cao hơn nhiều.

1147.  Lớn làm nhỏ.
Một tín đồ đến chùa lễ Phật rồi vào khách đường nghỉ ngơi. Vừa ngồi xuống liền nghe tiếng một vị tri khách tăng trẻ nói với lão tăng Vô Đức:
- Lão sư! Có tín đồ tới, mời rót trà.
Không đầy 2 phút sau lại nghe:
- Lão sư! Bình hương đầy tàn nhang rồi, mời đi đổ.
- Lão sư, nhớ thay nước cho bình bông trên bàn thờ Phật.
- Lão sư, đến trưa đừng quên mời tín đồ ở lại độ ngọ.
Tín đồ thấy Vô Đức thiền sư dưới sự chỉ huy của vị tăng trẻ chạy Đông, chạy Tây bèn hỏi:
- Lão sư và tri khách tăng có quan hệ gì?
- Thầy trò.
- Nếu vậy sao ông ta không lễ phép gì cả, sai thầy chạy đây, chạy đó?
- Ta có đồ đệ năng cán như vậy là phúc khí của ta. Tín đồ đến chỉ muốn ta rót trà, không muốn ta phải giảng pháp. Bình thường thắp hương hắn làm, ta chỉ đổ tàn nhang. Hắn chỉ bảo ta giữ tín đồ lại độ ngọ, không bắt ta nấu cơm, đun nước. Trong chùa mọi chuyện lớn nhỏ đều do hắn tính toán, an bài, điều này khiến ta rất an ủi, nếu không thì ta khổ lắm.
Tín đồ nghe xong vẫn không hiểu:
- Không biết thầy trò các vị, nhiều tuổi  là lớn hay ít tuổi là lớn?
- Dĩ nhiên nhiều tuổi là lớn, nhưng ít tuổi cũng hữu dụng vậy.
(Tinh Vân Thiền Thoại)
Có câu ngạn ngữ “hòa thượng muốn lão, lão rồi là qúy”. Tín đồ cung dưỡng tăng chúng đến cúng lão không cúng tiểu, hộ trì lão cũng không hộ trì tiểu, vì trong tâm tín đồ lão là lớn, nhỏ là bé, không dễ dàng hiểu được Vương tử tuy nhỏ nhưng tương lai có thể lãnh đạo quốc gia, sa di tuy nhỏ nhưng tương lai có thể thành pháp vương. Như Vô Đức không coi nhẹ hậu học, tùy duyên tri túc, đó chính là thiền bình đẳng quán.