NHỮNG
ĐOÁ HOA THIỀN
禪
之 花
QUYỂN TRUNG
1012.
Gập hổ không?
Hoàng
Bá từ ngoài về, Bách Trượng hỏi:
-
Ngươi đi đâu về?
-
Hái nấm ở chân núi Đại Hùng về.
-
Có thấy hổ không?
Hoàng
Bá giả làm tiếng hổ gầm. Bách Trượng lấy tay giả bộ
cầm búa chém hổ. Hoàng Bá hươi tay đánh cho Bách Trượng
một chưởng. Bách Trượng lớn tiếng cả cười.
Ngày
hôm sau, Bách Trượng thượng đường bảo với đại chúng
rằng:
-
Dưới núi Đại Hùng có một con hổ, các ngươi phải cẩn
thận đề phòng, lão tăng đã bị nó ngoạm một miếng đấy.
(Thiền
ChiHoa)
Con
hổ của Bách Trượng là để chỉ tự tánh. Hoàng Bá đã
hiểu ý Bách Trượng nên không trực tiếp trả lời (Vì tự
tánh không thể dùng lời mà tả được), mà giả tiếng hổ
gầm hàm ý đã ngộ tự tánh. Bách Trượng giả vờ đánh,
Hoàng Bá giả vờ đỡ đều là biểu lộ chấp nhận hành
động của đối phương. Cái cười của Bách Trượng mới
bao hàm nhiều ý nghĩa làm sao!
1013.
Cán dao có công dụng gì?
Có
một ngày, Thạch Thất theo Thạch Đầu lên núi chơi. Thạch
Đầu nói:
-
Đằng trước có cái cây ngăn cản không nhìn được, mau giúp
ta chặt đi.
-
Đưa dao đây.
Thạch
Đầu rút dao ra hướng lưỡi dao về phía Thạch Thất.
-
Không phải đầu này, đầu có cán kia.
-
Cán có ích gì?
Ngay
lúc đó Thạch Thất đại ngộ.
(Thiền
Chi Hoa)
Thạch
Đầu kêu Thạch Thất chặt cây ngăn thị tuyến, ám chỉ trừ
bỏ những ràng buộc của Tâm thì tâm sẽ trở lại thanh tịnh.
Khi Thạch Thất yêu cầu đưa phía cán dao, Thạch Đầu hỏi,
“Cán có ích gì?” ám chỉ bản thể giới. Lời cùng, ý
tuyệt, còn chấp “cán” thì làm sao đạt tới cảnh giới
này được?
1014.
Ai ở trong giếng?
Có
ông tăng hỏi Thạch Sương:
-
Ý của tổ sư từ Tây sang là gì?
-
Giả như có người rớt xuống giếng sâu ngàn thước, ngươi
không dùng giây mà cứu được hắn ra thì ta sẽ bảo cho ngươi
biết ý của tổ sư từ Tây sang là gì!
-
Gần đây ở Hồ Nam có Xướng hòa thượng cũng hệt như thiền
sư, giảng Đông, giảng Tây.
Thạch
Sương kêu Ngưỡng Sơn đuổi ông tăng ra.
Ngưỡng
Sơn hỏi Đam Nguyên:
-
Cứ ý thiền sư thì làm sao cứu được người ở trong giếng?
-
Đồ ngốc, ai ở trong giếng?
Ngưỡng
Sơn lại hỏi Quy Sơn:
-
Làm sao để cứu được người ở trong giếng?
Quy
Sơn lớn tiếng gọi:
-
Huệ Tịch.
-
Dạ.
Quy
Sơn nói:
-
Đã ra rồi!
Về
sau Ngưỡng Sơn kể lại câu chuyện này cho đại chúng nghe
và nói:
-
Ta tại Đam Nguyên đắc danh, tại Quy Sơn đắc địa!
(Thiền
Chi Hoa)
“Ta
tại Đam Nguyên đắc danh” là chỉ lý ngộ. Câu của Đam
Nguyên, “Ai ở trong giếng?” đả phá sự chấp trước của
Ngưỡng Sơn làm cho Ngưỡng Sơn hiểu rằng tự tánh không
bị trói buộc bởi không, thời gian. “Tại Quy Sơn đắc địa”
là chỉ sự chứng ngộ. Khi nghe Quy Sơn kêu tên mình bèn lên
tiếng dạ, lập tức hiểu rằng cái tâm ấy đã ra khỏi giếng.
Chân Tâm là như như bất động ở khắp nơi, không bị ra
vào, trong, ngoài, cùng những quan niệm về thời, không gian
giới hạn. Chính là “Mười đời xưa nay, đầu cuối chẳng
rời đương niệm, vô biên sát thổ, ta người chẳng cách
một sợi lông.”
1015.
Biện luận về ngón tay và mặt trăng.
Có
ông tăng hỏi Pháp Nhãn:
-
Đệ tử không hỏi ngón tay mà muốn hỏi mặt trăng là cái
gì?
-
Ngươi không hỏi ngón tay, vậy ngón tay là gì?
Lúc
đó, có một ông tăng khác hỏi:
-
Đệ tử không hỏi mặt trăng mà muốn hỏi ngón tay là cái
gì?
-
Mặt trăng.
Ông
tăng phản đối:
-
Đệ tử hỏi ngón tay sao sư phụ lại đáp mặt trăng?
-
Đó là vì ngươi hỏi ngón tay.
(Thiền
Chi Hoa)
Nhân
lúc trước có người hỏi Pháp Nhãn, “Thế nào là tâm của
cổ Phật?” Pháp Nhãn đáp, “Có lòng từ bi hỉ xả là tâm
của cổ Phật.” Lời đáp tâm của cổ Phật và lời đáp
ngón tay và mặt trăng đều là lấy dụng làm thể. Hỏi mặt
trăng đáp ngón tay, ngón tay chỉ là để chỉ phương hướng
mà thôi, không phải là tự tánh chân thật vì tự tánh chân
thật không có sở tại. Hiện tượng thấu xứ tức bản thể,
bản thể hiện xứ tức hiện tượng. Thể không ly dụng,
dụng không ly thể, thể dụng chẳng hai. Hỏi ngón tay đáp
mặt trăng giả như hỏi mặt trăng nhất định đáp ngón tay.
Ngón tay và mặt trăng đều là thế pháp, giả danh mà an lập;
nhưng ở tự tánh thì lại không có sự phân biệt.
1016.
Một mình trên núi.
Có
một ông tăng hỏi Triệu Châu:
-
Khi một mình ở trên núi thì cảm thấy thế nào?
-
Ta không trả lời ngươi.
-
Tại sao vậy?
-
Vì sợ ngã lăn trên đất.
(Thiền
Chi Hoa)
Núi
(cô phong) là chỉ bản thể giới vượt trên năng sở đối
đãi không thể dùng lời mà nói! “Ngã lăn trên đất” là
chỉ hiện tượng giới. Ta không thể dùng ngôn ngữ để nói
về bản thể giới đuợc, vì ngôn ngữ đã có sai biệt, năng
sở tương đối, do đó Triệu Châu mới nói, “Sợ ngã lăn
trên đất” để chỉ rằng ở bản thể giới phải quên
lời, tuyệt ý vậy.
1017.
Tự tánh thần châu.
Có
một lần đức Thế Tôn lấy một viên “tùy sắc ma ni châu”
cho năm thiên vương xem và hỏi rằng:
-
Viên bảo châu này mầu gì?
Năm
vị thiên vương, mỗi người đều nói một mầu khác nhau.
Đức Phật thâu viên bảo châu lại và giơ bàn tay ra hỏi
rằng:
-
Viên bảo châu này có mầu gì?
Các
thiên vương đáp:
-
Bạch đức Thế Tôn, trong tay người không có châu thì làm
sao có mầu gì?
Đức
Thế Tôn bèn nói rằng:
-
Các ngươi thực là mê muội, khi ta lấy viên bảo châu cho
các ngươi xem, các ngươi mỗi người đều nói khác nhau: Xanh,
vàng, trắng, đỏ. . . không người nào nói giống nhau. Nhưng
lúc ta lấy viên chân bảo châu triển thị ra thì các ngươi
lại không biết, Ngộ đạo lại khó như vậy sao?
Ngay
chính lúc đó năm vị thiên vương đều giác ngộ.
(Thiền
Chi Hoa)
Chân
bảo châu dụ cho tự tánh. Tự tánh thần châu có tánh quang
minh, thanh tịnh bất động… nhưng có dạng thức nào? Nói
giống một vật nào là cũng không trúng. Đó là chỗ khó khăn
vậy! Bởi vì nếu có thể trình hiện thì chỉ làm cho rối
mắt. Không phải là bản thân của tự tánh thần châu vì
tự nó không có pháp nào trình hiện cũng không thể nào trình
hiện được. Đó mới thật là tự tánh thần châu.
1018.
Sa di có chủ.
Ngưỡng
Sơn tham phỏng Quy Sơn.
Quy
Sơn hỏi:
-
Ngươi là sa di có chủ hay là sa di vô chủ?
-
Có chủ.
-
Chủ ở đâu?
Ngưỡng
Sơn từ tây chạy sang Đông, sau đó đứng yên. Quy Sơn rất
tán thưởng.
(Thiền
Chi Hoa)
“Chủ”
đây là chỉ tự tánh. Quy Sơn biết Ngưỡng Sơn đã hiểu
nhưng muốn cho chắc nên hỏi thêm,” Chủ ở đâu?” Ngưỡng
Sơn biết ở đâu là trỏ không gian, không diễn tả được
bản chất của tự tánh, do đó, không mở miệng mà đi từ
Tây sang Đông, rồi đứng yên, tỏ rằng tự tánh ở khắp
nơi và động tĩnh là một, không dùng lời mà nói được.
Kinh Duy Ma Cật có nói, “Đến chẳng đến, đi chẳng đi!
Vì sao? Vì đến chẳng biết từ đâu đến, đi chẳng
biết đi về đâu.” Chính là miêu tả rất đúng tính
chất của tự tánh.
1019.
Đường Thạch Đầu trơn lắm.
Ẩn
Phong đến từ biệt Mã Tổ. Mã Tổ hỏi:
-
Ngươi định đi đâu?
Ẩn
Phong đáp:
-
Đệ tử định đến thăm Thạch Đầu.
Mã
Tổ nói:
-
Cẩn thận đường Thạch Đầu trơn lắm đấy!
-
Sư phụ đừng ngại, đệ tử có mang theo gậy trúc, phùng
trường tác hí, ứng phó được mà!
Đến
nơi, đi diễu quanh thiền sàng một vòng, chống gậy đứng
mà hỏi tông chỉ của Thạch Đầu là gì? Thạch Đầu không
nhìn Ẩn Phong ngẩng đầu lên mà than dài:
-
Trời xanh! Trời xanh!
Ẩn
Phong không lời đối lại, về thuật cho Mã Tổ nghe.Mã Tổ
nói:
-
Ngươi đến hỏi lại, đợi Thạch Đầu trả lời thì ngươi
hứ hai tiếng.
Ẩn
Phong quay lại và cũng làm như cũ nhưng khi hỏi lại thì Thạch
Đầu không nói nữa mà chỉ hứ hai tiếng. Ẩn Phong lại không
lời đối được về kể cho Mã Tổ nghe. Mã Tổ nói:
-
Ta đã chẳng bảo ngươi trước là gì: “Đường Thạch Đầu
trơn lắm!”
(Thiền
Chi Hoa)
Câu
của Mã Tổ, “Đường Thạch Đầu trơn lắm” là chỉ cơ
phong của Thạch Đầu rất lợi hại, không dễ đối phó.
Ẩn Phong tự thị thông minh, có mang theo gậy trúc không sợ
đường trơn. Khi hỏi tông chỉ của Thạch Đầu, Thạch Đầu
trả lời, “Trời xanh!” có thể giải thích là hư không
(thiền gia thường lấy trời, đất để trỏ hư không), là
chỉ tự tánh; có ý nói tông chỉ, mục đích của người
tu là chứng ngộ chân như bản tánh. Hiển nhiên là Ẩn Phong
không hiểu ý của Thạch Đầu nên khi Thạch Đầu nói, “Trời
Xanh!” là dùng ngôn ngữ, là chấp tướng do đó Mã Tổ dạy
Ẩn Phong dùng tiếng hứ mà đáp, có ý bảo còn chấp. Đồng
thời, tiếng hứ đồng thanh với tiếng hư vừa đại biểu
hư không mà cũng không phải là ngôn ngữ. Chẳng ngờ Thạch
Đầu biết đối phương có chuẩn bị bèn chiếm tiên cơ hứ
trước hai tiếng. Ẩn Phong vô pháp mở miệng. Quả nhiên,
câu nói của Mã Tổ đã ứng nghiệm, “Đường Thạch Đầu
trơn lắm!”
1020.
Con chó không có Phật tánh.
Có
ông tăng hỏi Triệu Châu:
-
Con chó có Phật tánh không?
-
Không!
-
Những loài xuẩn động hàm linh đều có Phật tánh, tại sao
con chó lại không có?
-
Vì có nghiệp thức.
Lại
có ông tăng khác hỏi:
-
Con chó có Phật tánh không?
-
Có.
-
Tại sao phải làm thú?
-
Biết mà cứ làm!
(Thiền
Chi Hoa)
Với
cùng một câu hỏi, cách trả lời của Triệu Châu lúc nói
có, lúc nói không theo lẽ đương nhiên là đầy mâu thuẫn.
Nhưng tại sao lại có sự mâu thuẫn khó hiểu ấy? Đứng
trên lập trường của Triệu Châu thì lại chẳng có gì là
mâu thuẫn cả. Vì đây là tùy cơ mà đáp, không cốt trả
lời mà là làm cho khởi nghi tình rồi do giải được nghi
tình mà ngộ. Nếu lấy chữ “không” của Triệu Châu mà
giải là không tứ đức (thường, lạc, ngã, tịnh) và chữ
“có” là tất cả đều có Phật tánh thì cũng được vì
con chó có nghiệp thức thành ra bốn đức không hiện; tuy
chó có Phật tánh nhưng mà vì “biết mà cứ làm” tạo ra
những ác nghiệp cho nên phải làm kiếp chó. Chữ “không”
này của Triệu Châu quả là độc sáng, nó chính là sinh mạng,
là tông chỉ của thiền sư vậy.
1021.
Mây trên trời xanh, nước trong bình.
Lý
Cao rất ngưỡng mộ phong thái và trí tuệ của Dược Sơn
bèn tìm vào núi bái phỏng. Tới nơi chỉ thấy Dược Sơn
cầm sách đứng dưới tùng cây chăm chú đọc hầu như không
thèm để mắt tới Lý Cao. Lý Cao thấy Dược Sơn mục hạ
vô nhân, nổi giận nói rằng:
-
A! Gập mặt chẳng như nghe danh.
Nói
rồi phất tay áo định đi. Chính lúc đó, Dược Sơn bỏ sách
xuống, mỉm cười mà rằng:
-
Xin hỏi tiên sinh vì sao trọng tai mà khinh mắt vậy?
Lý
Cao không hiểu lời nói bóng gió của Dược Sơn, bèn hỏi:
-
Xin hỏi đại sư thế nào là Đạo?
Dược
Sơn giơ tay chỉ lên trời, rồi lại chỉ xuống đất hỏi:
-
Ngươi hiểu không?
-
Không hiểu.
Dược
Sơn nói:
-
Mây trên trời xanh, nước trong bình.
Lý
Cao nghe rồi lập tức đại ngộ, bỏ ngay thái độ khinh mạn,
cung kính bái tạ Dược Sơn, và làm ngay một bài kệ dâng
lên Dược Sơn đại ý, “Đại sư tu luyện thân hình như
con hạc, đọc sách dưới gốc tùng, khi tôi đến hỏi Đạo
ngài, đại sư chỉ đơn giản đáp, “Mây trên trời xanh,
nước trong bình.”
Bài
kệ của Lý Cao:
練
得 身 形 似 鶴 形
Luyện
đắc thân hình tự hạc hình
千
株 松 下 兩 函 經
Thiên
châu tùng hạ lưỡng hàm kinh
我
來 問 道 無 餘 說
Ngã
lai vấn đạo vô dư thuyết
雲
在 青 天 水 在 瓶
Vân
tại thanh thiên thủy tại bình
Luyện
được thân hình giống nhạn hình
Dưới
tùng ngàn gốc hai hòm kinh
Ta
tìm hỏi Đạo không lời khác
Mây
ở trời xanh, nước trong bình.
(Thích
Thanh Từ dịch)
(Thiền
Chi Hoa)
Mây
trên trời xanh không biết có trời. Nước ở trong bình không
biết có bình tự do, tự tại chẳng bị trói buộc. Đó chính
là bản chất của Đạo. Vạn vật trong vũ trụ cũng đều
thế cả không phân biệt cao hay thấp giống như câu của Lục
Tượng Sơn:” Đạo ở khắp thiên hạ, không chỗ nào là
thiếu cả.”
1022.
Muỗi đốt trâu sắt.
Dược
Sơn hỏi Thạch Đầu:
-
Đệ tử đối với tam thừa thập nhị phân giáo có chỗ hiểu
được, nhưng đối nam phương,”Chỉ thẳng tâm người, thấy
tánh thành Phật” thì vẫn chưa hiểu, mong sư phụ lượng
cả từ bi giảng giải cho.
Thạch
Đầu trả lời:
-
Khẳng định không trúng, phủ định cũng không trúng; khẳng
định và phủ định đều chẳng trúng, lúc đó ngươi phải
làm sao?
Dược
Sơn hoang mang chẳng biết đáp làm sao.
Qua
một lúc, Thạch Đầu lại nói:
-
Nhân duyên của ngươi chẳng phải tại đây, mau đi kiếm Mã
Tổ đại sư.
Dược
Sơn nghe lời đi kiếm Mã Tổ và cũng nêu lên cùng câu hỏi.
Mã
Tổ đáp:
-
Ta có lúc kêu hắn nhướng mày chớp mắt, có lúc không kêu
hắn nhướng mày chớp mắt. Có lúc hắn tự nhướng mày chớp
mắt, có lúc không. Ngươi giải thích thế nào?
Dược
Sơn nghe tới đó liền giác ngộ hướng về Mã Tổ mà lạy
tạ.Mã Tổ hỏi:
-
Ngươi hiểu thế nào mà lạy ta?
-
Đệ tử ở nơi Thạch Đầu giống như con muỗi mà đốt trâu
sắt vậy!
(Thiền
Chi Hoa)
Lời
nói của Thạch Đầu và Mã Tổ tuy khác nhau nhưng cùng một
ý nghĩa. Câu của Mã Tổ:”Ta có lúc kêu hắn nhướng mày
chớp mắt” là khẳng định không trúng của Thạch Đầu;
“Có lúc không kêu hắn nhướng mày chớp mắt” là phủ
định không trúng của Thạch Đầu; “Có lúc hắn tự nhướng
mày chớp mắt, có lúc không” là khẳng định và phủ định
đều không trúng của Thạch Đầu.
Hắn
chính là tự tánh. “Muỗi đốt trâu sắt” là chỉ Dược
Sơn tại Thạch Đầu không liễu giải được mà chỉ đốn
ngộ được nhờ nghe Mã Tổ.
1023.
Mặt mũi lúc chưa sanh.
Hương
Nghiêm tham phỏng Quy Sơn. Quy Sơn nói:
-
Ta nghe nói lúc ngươi ở với Bách Trượng, hỏi một đáp
mười, hỏi mười đáp trăm, vì ngươi thông minh lanh lợi.
Nay sinh tử là việc lớn, ta hỏi ngươi lúc cha mẹ chưa sanh
ra thì mặt mũi ngươi như thế nào?
Câu
hỏi này làm Hương Nghiêm không biết đâu mà đáp. Về phòng,
đem những sách vở thường đọc, giở xem từng quyển hy vọng
tìm lời giải đáp mà không thấy. Nhân đó cảm khái mà nói
rằng, “Bánh vẽ trong sách không làm thỏa mãn cơn đói của
ta”.
Do
đó, yêu cầu Quy Sơn giải thích bí mật.
Quy
Sơn từ chối:
-
Giả sử nay ta giải thích cho ngươi, tương lai ngươi sẽ mắng
chửi ta; vả lại những kiến giải của ta không quan hệ gì
đến ngươi cả.
Hương
Nghiêm cực kỳ thất vọng đem hết sách vở ra đốt, phẫn
hận mà rằng:
-
Ta là gã chẳng ra gì, học Phật chẳng nổi chỉ nên làm một
vị tăng hóa duyên khất thực mà thôi!
Bèn
từ biệt Quy Sơn, vân du khắp nước. Khi tới Nam Dương bèn
đi tham bái di tích của Huệ Trung quốc sư và tạm trú ở
đó. Một ngày kia, chính lúc đang rẫy cỏ, bẩy một hòn gạch
văng lên, chạm vào cây tre kêu thành tiếng. Tiếng động ấy
bỗng nhiên đưa Hương Nghiêm vào ngộ cảnh. Hương Nghiêm
bèn về phòng tắm gội sạch sẽ, đốt hương hướng vào
quãng không và nói:
-
Sư phụ, ơn huệ của người còn lớn hơn ơn cha mẹ sinh thành,
nếu sư phụ giảng cho con lúc đó thì con đâu có ngày nay.
Hương
Nghiêm cảm kích làm một bài kệ dâng Quy Sơn như sau:
一
擊 忘 所 知
Nhất
kích vong sở tri
更
不 假 修 持
Cánh
bất giả tu trì
動
容 揚 古 路
Động
dung dương cổ lộ
不
墮 悄 然 機
Bất
đọa tiễu nhiên cơ
處
處 無 蹤 跡
Xứ
xứ vô tung tích
聲
色 外 威 儀
Thanh
sắc ngoại uy nghi
諸
方 達 道 者
Chư
phương đạt đạo giả
咸
言 上 上 機
Hàm
ngôn thượng thượng cơ
香 嚴 智 閑
Hương Nghiêm Trí Nhàn
Tiếng
dội lùm tre quên sở tri
Có
gì đối trị giả tu trì
Đổi
thay thần sắc nêu đường cổ
Nếp
cũ tiêu điều chẳng trệ si
Chốn
chốn dạo qua không dấu vết
Sắc
thanh nào nhiễm được uy nghi
Mười
phương đạt giả đều như vậy
Tối
thượng là đây biết nói gì?
(Trúc
Thiên dịch)
(Thiền
Chi Hoa)
Ngôn
ngữ là công cụ để chuyển đạt ý thức, nhưng dùng ngôn
ngữ để diễn đạt tự tánh thì không thể được. Do đó,
thiền gia không dùng ngôn ngữ để giải thích, chỉ cố làm
sao cho người ta khởi nghi tình, thâm nhập tham cứu. Mục đích
là xóa bỏ mọi chấp trước (bao quát tất cả những kinh
nghiệm nghe, thấy) mà có thể chứng được tự tánh. Cũng
như trường hợp của Hương Nghiêm nghe tiếng động của hòn
gạch va vào cây tre mà giác ngộ tự tánh không bị câu thúc
bởi hình thể, không, thời gian. Quy Sơn không chịu giảng
ra, không phải là không giảng ra được mà là sợ làm dứt
đoạn huệ mạng của Hương Nghiêm, muốn để tự Hương Nghiêm
theo thiền cơ mà ngộ chân như tự tánh. Do đó, Hương Nghiêm
tắm gội sạch sẽ, đốt hương mà lạy tạ sư phụ cũng
chẳng phải là lạ.
1024.
Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác.
Lục
tổ Huệ Năng tiếp thu y bát từ Ngũ tổ bí mật rời bỏ
Đông Sơn, sợ đồ chúng của Thần Tú đuổi theo. Trần Huệ
Minh là quân nhân xuất thân, cước bộ rất mau, tánh tình
rất thô bạo, đuổi kịp Huệ Năng. Thấy Huệ Minh tới, Huệ
Năng đưa y bát cho Huệ Minh.
Huệ
Minh không nhận nói:
-
Tôi tới đây không phải vì y bát mà là cầu pháp.
-
Nếu ông muốn cầu pháp thì trước hết hãy dẹp hết ngoại
duyên tư niệm, ta sẽ vì ông mà nói pháp.
Huệ
Minh lạy tạ. Lúc đó Huệ Năng nói:
-
Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính ngay khi ấy thế nào
là bản lai diện mục của Minh thượng tọa?
Huệ
Minh nghe rồi đại ngộ bèn quay trở lui.
(Thiền
Chi Hoa)
Quan
niệm thiện ác là quan niệm thị phi (phải, trái). Loại quan
niệm này là do thức tâm sinh ra. Lục tổ bảo Huệ Minh không
nghĩ thiện và ác là để trừ thức tâm mà đạt tới tự
tánh. Vì tự tánh vượt trên tất cả hiện tượng nên không
dùng khẳng định mà hình dung vì như vậy là chấp có, cũng
không dùng phủ định vì như vậy là chấp không, rơi vào
đoạn diệt.
1025.
Chẳng có thánh gì cả.
Đạt
Ma tổ sư năm 527 đến miền nam Trung Quốc nhận lời mời
của Lương Võ Đế ghé qua Nam Kinh.Lương Võ Đế hỏi:
-
Từ khi trẫm lên ngôi, lập nhiều chùa chiền, in nhiều kinh
sách, cấp dưỡng tăng ni, vậy có công đức gì không?
-
Không.
-
Tại sao không?
-
Vì những việc bệ hạ làm đó, chỉ là quả báo nhỏ của
thế tục không phải là chân công đức.
-
Vậy sao, còn chân công đức là thế nào?
-
Chân công đức là trí tuệ tối viên mãn, tối dung thông;
bản thể của nó là không tịch, bệ hạ không thể dùng phương
pháp thế tục mà đạt được.
-
Thế nào là thánh?
-
Là hoàn toàn không, trong cái thế giới không đó, không có
cái gì là thánh cả!
-
Không có thánh sao, vậy người là ai?
-
Không biết.
(Thiền
Chi Hoa)
Căn
bản của công án này là câu “Chẳng có thánh gì cả” (quách
nhiên vô thánh). Phật pháp phân làm chân, tục nhị đế. Lương
Võ Đế hỏi là hỏi nghĩa của Chân đế. Đạt Ma đáp là
tự chứng cảnh giới, vượt trên cả Chân Tục nhị đế
là cảnh giới niết bàn tuyệt đối. Do đó, Lương Võ Đế
không hiểu cũng chẳng có gì là lạ, vì trong cảnh giới “quách
nhiên vô thánh” vượt ngoài tất cả phàm thánh, mê ngộ,
phải trái; được mất là cảnh giới tự tại vô ngại. Do
đó, căn bản của thiền là truyền ngoài giáo lý, không thể
dùng lời mà giảng cho hiểu thế nào là thánh đế được.
1026.
Tất cả hiện thành.
Có
lần La Hán hỏi Pháp Nhãn:
-
Người từng nói tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức; giờ
xin hỏi hòn đá ở trước sân kia là ở trong tâm hay ở ngoài
tâm?
-
Ở trong tâm.
-
Tại sao ngươi lại đem khối đá lớn kia ném vào trong tâm
vậy?
Câu
nói này làm cho Pháp Nhãn khốn quẫn, quyết tâm nhờ La Hán
giải đáp. Mỗi ngày đều đưa những lời đáp mới, La Hán
đều nói:
-
Phật pháp chẳng phải như vậy.
Cuối
cùng Pháp Nhãn chỉ còn cách thưa với La Hán rằng:
-
Đệ tử đã cùng lời, tuyệt lý rồi.
-
Nếu lấy Phật pháp mà nói tất cả đều hiện thành vậy!
Nghe
câu nói đó Pháp Nhãn hoát nhiên đại ngộ.
(Thiền
Chi Hoa)
“Tất
cả hiện thành” là chỉ chúng sinh đều có Phật tánh hay
“Phiền não tức Bồ Đề.” “Sinh tử tức Niết Bàn”
dụng tức là thể. Phật tánh vốn không trong ngoài, hòn đá
là Phật tánh hiển lộ sao lại phân biệt trong tâm, ngoài
tâm? Tinh thần của thiền là vượt ngoài cả Dụng lẫn Thể.
Về sau Pháp Nhãn làm phương trượng thường nói với đệ
tử rằng, “Xưa nay thực thể vốn hiện thành ngay trước
mắt chỉ vì bị các ngươi biến thành danh tướng vậy.”
1027.
Xả thức, dụng căn.
Có
ông tăng hỏi Pháp Nhãn:
-
Dùng phương pháp nào để phát lộ tự kỷ mà cùng với Đạo
hợp nhất?
Pháp
Nhãn hỏi lại:
-
Ngươi lúc nào phát lộ tự kỷ mà không cùng với Đạo hợp
nhất?
Ông
tăng lại hỏi:
-
Lúc sáu thức không ngộ âm của chân lý thì làm sao?
Pháp
Nhãn đáp:
-
Đó chẳng qua như bầy gia thuộc của ngươi thôi!
Và
hỏi lại:
-
Ngươi nói sáu thức không thể tri âm là nói tai hay nói mắt?
Nếu quả có chân lý thì đâu có thể vì sáu thức không biết
mà không có chân lý đâu? Cổ nhân từng nói “Lìa thanh sắc
chấp thanh sắc, lìa danh tự chấp danh tự” là ý đó.
(Thiền
Chi Hoa)
Công
án này nêu lên hai vấn đề:
Vấn
đề một: Người ngộ đạo có sinh hoạt khác thường không?
Câu trả lời của Pháp Nhãn nhận định rằng, “Thấy núi
vẫn là núi, sông vẫn là sông” đều là Đạo, Đạo không
ngoài sinh hoạt hàng ngày.
Vấn
đề hai: Thức tâm sinh diệt và tự tánh vô sinh diệt không
khế hợp thì sao? Chúng ta trong sinh hoạt hàng ngày vọng tưởng
quá nhiều nên tự tánh bị mê mờ nên có thể “tu” nhưng
không thể “ngộ.” Đức Phật lúc giác ngộ dưới gốc
Bồ Đề có nói rằng, “Kỳ thay! Kỳ thay! Đại địa chúng
sinh đều có như lai trí tuệ đức tướng nhưng vì vọng tưởng
chấp trước nên không chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng
thì nhất thiết trí, tự nhiên trí, vô sư trí, tự nhiên hiện
tiền.” “Bầy gia thuộc” là chỉ lục căn, nếu biết dùng
lục căn thì lục thức sẽ giúp chúng ta liễu giải tự tánh.
(Kinh Lăng Nghiêm: Xả thức dụng căn) Vì lục thức phải nghe
lệnh của chủ nhân tự tánh. Chỉ cần không sinh niệm phân
biệt tùy duyên mà hành động thì tất cả đều là Đạo
không có gì gọi là Thể, là Dụng nữa.
1028.
Diệu dụng của chữ vô.
Đạo
Thụ là môn đồ của Thần Tú, cùng vài vị học tăng trú
ở trên núi. Có một vị quái nhân thường xuất hiện, có
thể tùy ý hóa thành Phật, Bồ Tát, La Hán, hoặc phóng thần
quang hoặc thanh âm làm cho đồ đệ của Đạo Thụ rất kinh
khủng, không biết vị quái nhân ở đâu đến mà có quyền
phép như vậy? Vị quái nhân tác quái mười năm rồi bỗng
nhiên một hôm biến mất, không thấy xuất hiện nữa.
Đạo
Thụ bảo môn đồ rằng:
-
Vị thuật sĩ này dùng trăm kế, ngàn phương mà lừa dối
người; phương pháp đối phó của ta là chỉ không nghe, không
thấy nên hắn đã dùng hết cách mà cũng chẳng ăn thua gì!
(Thiền
Chi Hoa)
Thuật
sĩ dùng hình tướng lừa dối đại chúng, giả như Đạo Thụ
cũng dùng hình tướng ứng phó thì không thể thắng được
vì cảnh chẳng bao giờ ngưng. Phương pháp của Đạo Thụ
là không nghe, không thấy nên vượt cả hình tướng khiến
cho thuật sĩ cùng đường mà phải đi. Đạo Thụ chỉ dùng
chữ “Vô” mà chế chữ “Hữu”. Bởi vì bất luận chữ
hữu rộng lớn như thế nào, bền vững như thế nào cũng
còn giới hạn, còn chữ vô thì lớn không ngoài, nhỏ không
trong, giải trừ mọi chấp trước, vi diệu vô cùng, đó chính
là ứng dụng chữ “không” của nhà Phật đối cảnh không
chấp nên không bị vướng mắc vào cảnh mà thắng được
cảnh vậy.
1029.
Rửa bát.
Có
ông tăng bạch với Triệu Châu:
-
Đệ tử mới đến thiền viện, xin sư phụ chỉ điểm.
Triệu
Châu hỏi:
-
Ăn cháo chưa?
-
Ăn rồi!
-
Vậy, rửa bát đi.
Ông
tăng lập tức lạy tạ.
(Thiền
Chi Hoa)
“Bát”
chỉ tự tánh, tự tánh không để vật nào dính vào. Câu hỏi
của Triệu Châu, “Ăn cháo rồi chưa?” “Rồi” và “Chưa”
đều là biên kiến, phải trừ bỏ biên kiến đối đãi thì
mới chứng được tự tánh. Vì vậy Triệu Châu mới khuyên
đi rửa bát.
1030.
Vô vị chân nhân.
Một
lần tại pháp hội, Lâm Tế nói với đại chúng rằng:
-
Trong thịt đỏ của các ngươi có một vị vô vị Chân Nhân
thường ra vào, mà các ngươi chẳng biết. Kẻ chứng hãy thử
coi.
Lúc
đó có một ông tăng bước ra hỏi:
-
Vô vị chân nhân là gì?
Lâm
Tế từ thiền sàng nhẩy xuống túm lấy ông tăng:
-
Nói đi, nói đi!
Chính
lúc ông tăng này mở miệng định nói, Lâm Tế đẩy ông ra
và nói:
-
Cái que cứt khô có phải là vô vị chân nhân không?
(Thiền
Chi Hoa)
Vô
vị chân nhân là chỉ Phật tánh, là cái chân ngã không đầu,
không cuối, chẳng sanh, chẳng diệt, vượt cả thời, không
gian cùng với Đạo hợp nhất. Tự tánh chân như không thể
nói ra được. Lâm Tế vì muốn tiếp dẫn học nhân dùng “Vô
vị chân nhân” để biểu thị. Ông tăng đã hiểu rõ ý.
Lâm Tế biết vậy nhân cơ hội trắc nghiệm ngộ cảnh của
ông, muốn ông tự giải đáp. Khi ông tăng mở miệng định
nói, Lâm Tế sợ ông lạc vào tâm thức nói ra cái không thể
nói, nên đẩy ông ra ngăn không cho nói. Động tác này là
tác phong nhất quán của thiền gia. Sau, Lâm Tế lại lấy que
cứt khô mà dụ cho “vô vị chân nhân” , chỉ phàm thánh
bình đẳng, chúng sinh đều có Phật tánh. Thật là một mũi
tên mà bắn hai chim vậy.
1031.
Vô Tình thuyết pháp.
Động
Sơn khi mới gập Vân Nham hỏi rằng:
-
Vô tình thuyết pháp ai nghe được?
Vân
Nham lập tức trả lời:
-
Vô tình nghe được.
-
Thiền sư nghe được chăng?
-
Giả sử ta nghe được, ta đã được pháp thân, lúc đó ta
thuyết pháp ngươi không nghe được.
Động
Sơn không hiểu hỏi lại:
-
Vì sao đệ tử không nghe được?
Vân
Nham đưa phất trần lên hỏi:
-
Ngươi nghe không?
-
Không nghe.
-
Ta thuyết pháp ngươi còn không nghe ra, nói chi đến vô tình
thuyết pháp?
-
Vô tình thuyết pháp là do đâu?
-
Trong kinh A Di Đà chẳng có nói: “Nước, chim, cây rừng đều
niệm Phật, niệm pháp sao? “
Nghe
lời đó Động Sơn khai ngộ bèn làm bài kệ sau:
也
大 奇 也 大 奇
Dã
đại kỳ dã đại kỳ
無
情 說 法 不 思 議
Vô
tình thuyết pháp bất tư nghì
若
蔣 耳 聽 終 難 會
Nhược
tương nhĩ thính chung nan hội
眼
處 聞 聲 方 得 知
Nhãn
xứ văn thanh phương đắc tri.
Thật
cũng lạ thay, thật cũng lạ!
Vô
tình nói pháp, nghĩ không ra
Dùng
đến tai nghe càng chẳng rõ
Lấy
mắt mà nghe mới hiểu a!
(Thiền Chi Hoa)
Tai
thì nghe được thanh trần, mắt thì nhìn được sắc trần;
ở đây mắt nghe được thì thanh này không phải là thanh trần
mà là tự tánh. Mắt này không phải mắt thịt mà là mắt
Đạo.Tự tánh ở khắp mọi nơi, có mắt Đạo thì có thể
nghe thanh của tự tánh. Người khác vật vì có ngôn ngữ để
diễn đạt tư tưởng. Vật vô tình không có ngôn ngữ, dĩ
nhiên không có tư tưởng làm sao có thể thuyết pháp? Nhân
vì hữu tình và vô tình đều có cùng một thể tự tánh.
Chỉ cần nhìn thấu suốt tự tánh của sự vật là có thể
xúc động linh cơ mà khai ngộ. Tô Đông Pha có thơ rằng:”Tiếng
suối reo chính là tướng lưỡi rộng dài, Mầu sắc núi chẳng
phải là không thân thanh tịnh.” Do đó, vô tình thuyết
pháp không phải là vọng ngữ vậy.
1032.
Tâm là Phật.
Vô
Nghiệp bình thời nghiên cứu luật tạng rất thâm sâu. Lúc
mới gập Mã Tổ, Mã Tổ thấy tướng mạo mạnh mẽ, to lớn
bèn nói:
-
Bên ngoài đường đường mà bên trong chẳng có Phật!
Vô
Nghiệp cung kính quỳ xuống thưa rằng:
-
Con từng nghiên cứu tam thừa có chỗ sở đắc, nhưng đối
với chủ trương của thiền tông, “Tức tâm. Tức Phật”
thì vẫn chưa hiểu.
-
Ta bảo cho ngươi biết chính cái tâm chưa hiểu được đó
là Phật chứ không có cái gì khác.
Vô
Nghiệp vẫn không hiểu, bèn hỏi tiếp:
-
Xin hỏi ý của tổ sư từ Tây sang là gì?
Mã
Tổ trợn mắt:
-
Vị đại đức này thực mê mờ quá, mau đi đi, lúc khác lại.
Chính
lúc Vô Nghiệp định đi, Mã Tổ ở phía sau lưng quát lớn:
-
Đại đức!
Vô
Nghiệp quay đầu lại. Mã Tổ bèn hỏi:
-
Là cái gì?
Nghe
lời nói đó Vô Nghiệp bèn lạy tạ.
(Thiền
Chi Hoa)
Tâm,
Phật, chúng sinh không sai khác. Vô Nghiệp không hiểu rõ ý
đó. Vì tự tánh không thể nói, chỉ có thể dùng cơ duyên
xảo diệu mà tiếp dẫn. Mã Tổ kêu lớn, “Đại Đức!”
Vô Nghiệp ngoảnh đầu lại. Ai nghe tiếng kêu? Ai ngoảnh đầu
lại? Đó chẳng phải hoàn toàn do tự tánh của Vô Nghiệp
đó sao? Chỉ một tiếng quát của Mã Tổ đã làm Vô Nghiệp
ngộ được cái diệu dụng của tâm vậy.
1033.
Chuột thuyết pháp.
Thị
lang Vương Công Tông Mộc nói với Liên Trì rằng:
-
Nửa đêm, chuột kêu chít chít không ngừng, giảng hết cả
bộ kinh Hoa Nghiêm.
Liên
Trì nói:
-
Ngay chính lúc đó, con mèo đột nhiên xuất hiện, biết phải
làm sao?
Tông
Mộc im lặng. Liên Trì bèn tự trả lời:
-
Pháp sư chạy đi, lưu lại giảng án.
Sau
đó lại làm một bài kệ như sau:
老
鼠 喞 喞 華 嚴 歷 歷
Lão
thử tức tức hoa nghiêm lịch lịch
奇
哉 王 侍 郞 卻 被 畜
Kỳ
tai Vương thị lang khước bị súc
生
惑
sanh
hoặc
猫
兒 突 出 畫 堂 前
Miêu
nhi đột xuất hoạch đường tiền
床
頭 說 法 無 消 息
Sàng
đầu thuyết pháp vô tiêu tức
無
消 息 大 方 廣 佛 華
Vô
tiêu tức đại phương quảng Phật hoa
嚴
經
Nghiêm
kinh
世
主 妙 嚴 品 第 一
Thế
chủ diệu nghiêm phẩm đệ nhất
Giảng
Hoa Nghiêm chuột kêu chút chít
Đã
làm mê hoặc Vương thị lang
Một
chú mèo bỗng nhiên xuất hiện
Đâu
người nói pháp nơi đầu giường
Và
đâu phẩm thế chú diệu nghiêm
Của
Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm.
(Ngộ
Không dịch)
(Thiền
Chi Hoa)
Do
tiếng kêu, “Chít, chít” của con chuột, có thể thể hội
một bộ kinh Hoa Nghiêm; Tông Mộc tâm theo vật mà chuyển bị
súc sinh sở hoặc. Người tu nếu đạt đến “tùy duyên bất
biến, bất biến tùy duyên” thì đạt được tâm cảnh vật
ngã là một. Nếu tùy duyên mà biến thì tâm có sở trụ không
đạt được “Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm” của cảnh
giới giác ngộ. Tâm trụ thì không linh, các pháp theo đó mà
diệt. Như chuột thuyết pháp, con mèo xuất hiện, chuột bèn
lẩn trốn. Tâm bị vật mà động, trí bị thức mà mê như
vậy làm sao khai mở được Phật tri kiến? Vì vậy, muốn
thành Phật, phải tu tâm kiến tánh, tu thiền cũng vậy, mà
tu tịnh cũng vậy. Vương thị lang đêm nghe chuột thuyết pháp
không phản hồi nghe tự tánh vì vậy không kiến tánh, do đó
ngày càng rời xa Đạo. Chuyện nghe chuột thuyết pháp chỉ
thành hý luận. Nếu có thể ngộ, một niệm phản tỉnh thì
một mầu sắc, một mùi hương đều là trung Đạo, tiếng
gió, tiếng mưa chẳng phải là không diệu đế.
1034.
Thế nào là Chánh Nhãn.
Có
lần Triệu Châu định lên Ngũ Đài sơn thăm chùa Thanh Lương
là đạo trường của Bồ Tát Văn Thù. Có ông tăng nghe Triệu
Châu định đi chùa Thanh Lương bèn làm bài kệ sau, trao cho
Triệu Châu:
何
處 清 山 不 道 場
Hà
xứ thanh sơn bất đạo tràng
何
須 策 杖 禮 清 凉
Hà
tu sách trượng lễ thanh lương
雲
中 縱 有 金 毛 現
Vân
trung túng hữu kim mao hiện
正
眼 觀 時 非 吉 祥
Chánh
nhãn quán thời phi cát tường
Chỗ
nào núi xanh chẳng đạo trường
Việc
gì chống gậy lễ Thanh Lương
Trong
mây dầu có Kim Mao hiện
Chánh
Nhãn nhìn xem chẳng cát tường.
Triệu
Châu bèn hỏi lại một câu:
-
Thế nào là Chánh Nhãn?
Ông
tăng không lời đáp lại. Do đó Triệu Châu vẫn cứ đi.
(Thiền
Chi Hoa)
Ông
tăng làm bài kệ cho rằng Triệu Châu chưa lìa được quan
niệm về Không Gian và Ảnh Tượng. Vì pháp thân Phật ở
khắp nơi, chỉ cần tâm niệm chúng ta thanh tịnh thì có thể
cảm ứng được; việc gì phải chấp tượng Phật do bùn
đắp nên mà phải đi Ngũ Đài Sơn để lễ bái? Triệu Châu
biết ông tăng có tri kiến như vậy mà vị tất đã có ngộ
cảnh; còn ông tăng không biết Triệu Châu chính là người
có Chánh Nhãn. Một người có Chánh Nhãn đương nhiên không
bị thời, không gian và ảnh tượng ngăn trở, nhưng cũng không
phủ định sự tồn tại của mọi tướng. Ông tăng làm bài
kệ trước hết đã có quan niệm về Thanh Sơn, đạo trường
Kim Mao (viết tắt của Kim Mao Sư Tử: chỉ trí tuệ), Cát Tường
(viết tắt của Diệu Cát Tường, chỉ Bồ Tát Văn Thù), Chánh
Nhãn. Như vậy là đã chấp tướng rồi, làm sao kiến tánh
được? Kinh Kim Cương có nói, “Nếu thấy các tướng là
không tướng thì thấy Như Lai.” Do đó, ông tăng bị Triệu
Châu hỏi lại một câu đã không lời đáp lại. Nhìn bánh
vẽ không làm cho no. Chỉ những người đã vào được bể
trí tuệ chân như thì đối với bản thân mới có thọ dụng
chân chính vậy.
1035.
Đỉnh núi không mây vờn
Lòng sóng, bóng trăng rơi.
Từ
Minh hỏi Thúy Nham:
-
Đại ý Phật pháp là gì?
Thuý
Nham đáp:
Đỉnh
núi không mây vờn
Lòng
sóng, bóng trăng rơi.
-
Đầu tóc bạc trắng, răng rụng cũng nhiều rồi mà còn kiến
giải như vậy, ngươi làm sao mà phá vòng sinh tử?
Thúy
Nham kinh sợ, khẩn khoản cầu Từ Minh chỉ bảo. Từ Minh nói:
-
Ngươi hỏi lại đi.
Thúy
Nham hỏi lại:
-
Thế nào là đại ý của Phật pháp?
Từ
Minh đáp:
Đỉnh
núi không mây vờn,
Lòng
sóng, bóng trăng rơi.
(Thiền
Chi Hoac)
“Đỉnh
núi không mây vờn” là chỉ chân không, là lý pháp giới.
“Lòng sóng, bóng trăng rơi” là chỉ diệu hữu, là lý sự
pháp giới. Toàn câu là để chỉ Chân Không Diệu Hữu. Cũng
tương tự như Tâm Kinh có nói, “Sắc tức thị không, không
tức thị sắc.” Nếu có người trần thuật ngộ cảnh của
mình cho thiền sư, thiền sư sẽ khảo nghiệm xem có ngộ thật
không. Nếu học nhân nói đúng, thiền sư sẽ cố ý nói là
không đúng khiến học nhân nghi ngờ; sau đó mới bảo học
nhân hỏi lại. Rồi sau đó trả lời bằng chính câu nói của
học nhân làm cho học nhân hết nghi hoặc mà thêm lòng tự
tín.
1036.
Ly khai hai bên.
Để
khảo nghiệm tăng đồ, Hương Nghiêm Trí Nhàn nêu ra vấn đề
như sau:
-
Người cầu Đạo giống như một người dùng răng cắn vào
cành cây, mình lơ lửng giữa trời. Bên dưới có người đặt
câu hỏi, “Ý của tổ sư từ Tây sang là gì?” Nếu không
đáp là không biết, nếu mở miệng đáp thì sẽ rơi xuống
mà chết. Xin hỏi phải làm sao?
Lúc
đó Hổ Đầu Chiêu hòa thượng cũng có mặt bèn đứng dậy
thưa:
-
Không hỏi lúc đã ở trên cây, xin hỏi lúc chưa trèo lên
cây thì thế nào?
Hương
Nghiêm nghe rồi ha hả cười lớn.
(Thiền
Chi Hoa)
Phàm
nhân chúng ta tâm động thì niệm sanh, Vọng tưởng chấp trước
nên bị lạc vào biên kiến. Yếu chỉ của thiền là trừ
khử biên kiến. Chúng ta vỉ sao không chứng được trí tuệ
Như Lai? Chỉ bởi vì Vọng và Chấp vậy. Mà Vọng và Chấp
là do tâm động mà sanh. Hương Nghiêm có ý giúp đồ
đệ tự phá biên kiến. Trong công án trên trả lời hay không
trả lời đều là biên kiến; chẳng bằng hỏi lúc chưa trèo
lên cây thì sao? Đó chính là đã chứng được bản lai diện
mục. Phương pháp này đi thẳng vào tâm trách chi Hương Nghiêm
chẳng cười lớn sao được.
1037.
Thể hội đại Đạo.
Có
người hỏi Mã Tổ:
-
Vì sao thiền sư nói: “Tức tâm, tức Phật.”?
-
Để dỗ con nít khỏi khóc!
-
Đứa trẻ ngưng khóc rồi làm sao?
-
Bảo nó: “Phi tâm, phi Phật.”
-
Ngoài hai phương pháp trên còn phương pháp nào để tiếp dẫn
người tu chăng?
-
Bảo cho hắn biết hắn không phải là “vật.”
-
Còn người đã giác ngộ thì sao?
-
Cứ theo tự tâm mà thể hội đại Đạo.
(Thiền
Chi Hoa)
Câu
đáp thứ nhất là đối với những người chấp không, dùng
khẳng định mà khai thị.
Câu
đáp thứ hai là đối với những người chấp có dùng phủ
định mà khai thị.
Câu
đáp thứ ba là đối với những người chấp không và có.
Phải loại trừ mọi chấp trước.
Câu
thứ tư là đối với những người đã ngộ rằng không và
có không phải là hai, giúp cho ngưòi này giữ được ngộ
cảnh.
Nói
một cách tổng quát, Phật pháp không có một pháp nhất định,
mục đích là làm sao cho chúng sinh khai thị mà ngộ được
cái “Phật tri kiến” vậy.
1038.
Không ra không vào.
Có
vị giảng sư đến hỏi Mã Tổ:
-
Không biết Thiền tông chuyên tu pháp nào?
Mã
Tổ không trực tiếp trả lời mà hỏi ngược lại:
-
Ngươi chuyên tu pháp nào?
-
Nói ra thì hổ thẹn, bần tăng đã giảng ngoài hai chục bộ
kinh.
-
Thật là sư tử hống.
-
Không giám!
Mã
Tổ bèn giả tiếng sư tử gầm lên. Hòa thượng nói:
-
Đó cũng là pháp.
-
Pháp gì vậy?
-
Sư tử ra khỏi hang.
Mã
Tổ lại im lặng không nói. Hòa thượng nói:
-
Đó cũng là pháp.
-
Pháp gì vậy?
-
Sư tử ở trong hang.
Mã
Tổ hỏi:
-
Không ra, không vào là pháp gì vậy?
Hòa
thượng không có lời nào đáp lại được.
(Thiền
Chi Hoa)
Tiếng
gầm là một pháp sinh diệt. Khi gầm lên chỉ sư tử ra khỏi
hang, khi im lặng chỉ sư tử vào trong hang. Cả hai (ra, vào)
đều là loại tướng động. Nếu tâm có khởi cầu tĩnh thì
tức là đã động rồi. Câu Mã Tổ hỏi: “Không ra, không
vào là pháp gì?” chỉ cảnh giới vượt ngoài cả động
lẫn tĩnh. Nhưng vì hoà thượng chỉ hiểu có một mặt
động không hiểu rằng chân tâm thì động tĩnh là một cho
nên không đáp được. “Động tĩnh là một” không thể
dùng lý mà ngộ được, lại càng không thể dùng lời mà
giảng ra được, chỉ có thực chứng.
1039.
Ai là người sau?
Đạo
Ngộ hỏi Thạch Đầu:
-
Nếu siêu thoát định, tuệ. Xin hỏi sẽ bảo kẻ khác cái
gì nữa?
-
Ta vốn không có nô lệ, nói gì đến siêu thoát.
Đạo
Ngộ buồn phiền hỏi:
-
Nói như vậy, ai mà hiểu nổi?
Thạch
Đầu không trực tiếp trả lời mà hỏi lại:
-
Ngươi hiểu chữ “Không” chăng?
-
Đối với chữ “Không” đệ tử cũng có chỗ tâm đắc!
-
A!Không ngờ ngươi là “Người phía bên kia”.
Đạo
Ngộ phản đối:
-
Đệ tử không phải là “Người phía bên kia.”
Thạch
Đầu cười mà rằng:
-
Ta đã sớm biết cư xứ của ngươi.
Đạo
Ngộ phẫn nộ:
-
Sư phụ lấy chứng cứ gì mà vu khống cho đệ tử?
-
Thân thể ngươi là chứng cứ.
-
Cứ nói như vậy thì làm sao người sau hiểu đạo được?
Thạch
Đầu hét lên:
-
Ai là người sau?
Đạo
Ngộ hoát nhiên đại ngộ.
(Thiền
Chi Hoa)
Không
có “nô lệ” đương nhiên đều là chủ nhân như vậy đương
nhiên không phân biệt tự tha (ta, người). Đó là để đối
lại với” kẻ khác” của Đạo Ngộ. Khi Đạo Ngộ nói,
“Đệ tử không phải là ‘người phía bên kia’ ý nói mình
không phải là tiểu thừa “không tông.” Đạo Ngộ đã không
hiểu chữ “Không” của Thạch Đầu là một pháp chẳng
lập, trong chữ không đó không có phân biệt tự tha. “Thân
thể ngươi là chứng cứ” vì thân thể là do ảo mà có,
cuối cùng cũng quay về không. Vì có thân thể nên có tự
tha, thân thể diệt thì hoàn không, tự tha cũng không nốt.
Vì người không có tự tha, đều là một thể tự tánh, tự
giác tức giác tha, làm gì còn có người sau? Do đó Đạo Ngộ
hoát nhiên khai ngộ.
1040.
Một trở về đâu?
Có
ông tăng hỏi Triệu Châu:
-
Vạn pháp trở về một, một trở về đâu?
Triệu
Châu đáp:
-
Ta tại Thanh Châu may một cái áo bông nặng bẩy cân rưỡi.
(Thiền
Chi Hoa)
Kinh
Phật thường dùng một và nhiều để trỏ Thể và Dụng.
Một là Thể và nhiều là Dụng. Vì bản thể chỉ có một
cái tuyệt đối không tánh, mà Dụng thì có thiên biến vạn
hóa. Câu đáp của Triệu Châu không phải là câu trả lời.
Một cái áo bông là cái một, nặng bẩy cân rưỡi là cái
nhiều. Một không lìa bẩy rưỡi, bẩy rưỡi không lìa một
tức diễn cái ý một là tất cả, tất cả là một nếu theo
câu hỏi của ông tăng thì câu đáp sẽ là, “Vạn pháp trở
về một, một trở về vạn pháp”.
1041.
Con vịt trời của Bách Trượng.
Có
lần Bách Trượng và sư phụ là Mã Tổ ra ngoài, thấy con
vịt trời đang bay. Mã Tổ hỏi:
-
Con gì vậy?
-
Con vịt trời.
Mã
Tổ hỏi:
-
Bay đi đâu vậy?
-
Đã bay đi rồi!
Mã
Tổ đột nhiên lấy tay bóp mũi Bách Trượng.
Bách
Trượng bị đau kêu lớn:
-
Ái!
Mã
Tổ nói:
-
Ngươi nói đã bay đi rồi, nhưng cho tới giờ tất cả đều
chả ở đây là gì?
Bách
Trượng nghe câu nói đó, toàn thân xuất mồ hôi lạnh khai
ngộ ngay chính lúc đó.
(Thiền
Chi Hoa)
Đối
với thiền gia thì mắt nhìn, tai nghe toàn là do tự kỷ. Vịt
trời đang bay hay đã bay đi rồi đều là do mình. Mã Tổ nói:
“Con gì” trực tiếp trỏ pháp không ẩn mật mà hiển lộ
ngay trước mắt. Câu đáp của Bách Trượng “là con vịt”
làm mất đi chân sinh mạng của “pháp.” Nếu do tự thể
của Pháp mà nói con vịt trời là con vịt trời, hoặc ‘núi
tự cao, biển tự sâu’ thì mới đúng. Còn nếu lấy con vịt
trời làm cảnh thì ta đã phân ra chủ khách, trong ngoài. Nếu
hiểu được rằng vạn cảnh đều do chân như thể hiện thì
tâm cảnh chỉ là một. Mã Tổ muốn Bách Trượng hiểu đạo
lý đó nên bóp mũi Bách Trượng làm Bách Trượng hiểu rằng
tất cả khách quan đều do chủ quan triển khai, tất cả khách
thể đều do chủ thể mà thành do đó chứng được thánh
cảnh, “Một là tất cả, tất cả là một”. Nếu có chứng
được cảnh giới này thì mới có thể tùy xứ mà phát triển
tánh sáng tạo của mình được.
1042.
Hạt gạo này từ đâu tới?
Thạch
Sương đang đong gạo tại kho, Quy Sơn đến nơi và nói:
-
Cẩn thận, đừng làm hao gạo của thí chủ.
Thạch
Sương hiểu nghĩa bóng, bèn trả lời:
-
Không làm hao đâu!
Quy
Sơn nhặt một hạt gạo rơi trên đất và nói:
-
Ngươi nói không, vậy hạt gạo này từ đâu ra?
Thạch
Sương không lời đáp lại. Quy Sơn lại nói:
-
Đừng coi thường hạt gạo này, hàng trăm ngàn hạt gạo từ
hạt này mà ra đó!
Thạch
Sương hỏi:
-
Hàng trăm ngàn hạt từ hạt này mà ra, nhưng chẳng biết hạt
này từ đâu ra?
Quy
Sơn ha hả cười lớn, trở về phương trượng thất.
(Thiền
Chi Hoa)
Câu
của Quy Sơn, “hàng trăm ngàn hạt từ hạt này mà ra” ý
nói vạn pháp đều do tự tánh sinh ra. Câu của Thạch Sương,
“Chẳng biết hạt này từ đâu ta?” là hỏi “Tự tánh
từ đâu mà ra?” Quy Sơn biết Thạch Sương đã ngộ tự tánh
là đệ nhất nguyên lý nên ha hả cười lớn. Quy Sơn không
dùng phương pháp át (hét), bổng (đánh), từ những sự việc
tầm thường Quy Sơn đã nhìn thấy những chỗ mà người thường
không thể thấy, tuy là những lời bình thường nhưng mỗi
lời đều là chân lý, thấm sâu vào tận xương tủy vậy.
1043.
Đầu Tạng trắng, đầu Hải đen.
Có
ông tăng hỏi Mã Tổ:
-
Ly Tứ Cú, Tuyệt Bách Phi, xin hỏi” Ý của Tổ sư từ Tây
sang là gì?”
-
Hôm nay ta mệt lắm, không giải thích cho ngươi được, ngươi
đi mà hỏi Trí Tạng.
Ông
tăng đi hỏi Trí Tạng, Trí Tạng hỏi lại:
-
Sao ngươi không đi hỏi sư phụ?
-
Chính sư phụ bảo đệ đi hỏi sư huynh.
-
Ta hôm nay nhức đầu lắm, không giải thích cho ngươi được,
ngươi kiếm Hoài Hải mà hỏi.
Ông
tăng này lại đi hỏi Hoài Hải. Hoài Hải đáp:
-
Ta cũng chẳng biết.
Ông
tăng này trở về thưa với Mã Tổ. Mã Tổ bèn nói:
-
Đầu Tạng trắng, đầu Hải đen.
(Thiền
Chi Hoa)
Trắng
là “Minh Đầu Hợp”, đen là “Ám Đầu Hợp” đều là
thuật ngữ của thiền gia. “Minh Đầu Hợp” chỉ Dụng,
“Ám Đầu Hợp” chỉ Thể. Trí Tạng là Minh Đầu Hợp,
vì nhức đầu nên không giải thích được, giả như nếu
không bệnh thì sẽ trả lời, đó là thế pháp, là Dụng.
Hoài Hải là “Ám Đầu Hợp, “Ta cũng chẳng hiểu” là
chỉ tự tánh là Thể. Cứ như cách thấy của Hoài Hải thì
“Ý của tổ sư từ Tây sang” vượt ngoài cả khẳng định
và phủ định, không thể dùng ngôn ngữ mà diễn tả được,
cũng như Lão Tử quan niệm “Đạo có thể gọi, thì không
phải là Đạo thường, tên có thể gọi, thì không phải là
tên thường” hoặc cảnh giới “được ý, quên lời” của
Trang Tử.
1044.
Phật tánh ở mọi nơi.
Vân
Môn khai thị đại chúng:
-
Người niệm Phật nhiều như cát sông Hằng, nhưng có ai hiểu
được Phật tánh ở đâu?
Rất
lâu, đại chúng không ai đáp được, thiền sư vì đại chúng
mà tự đáp:
-
Đều khắp.
(Thiền
Chi Hoa)
Câu
đáp của Vân Môn có ý là Đạo không trụ tại một nơi nào
nhất định mà ở khắp mọi nơi, cũng như Trang Tử cũng đã
nói Đạo ở loài giun dế, ở cả cứt đái.
1045.
Cây trà.
Có
một lần, Ngưỡng Sơn theo Quy Sơn lên núi hái trà.
Quy
Sơn nói với Ngưỡng Sơn:
-
Chúng ta hái trà cả ngày mà chỉ phảng phất nghe thấy tiếng
chứ không nhìn thấy hình thể.
Ngưỡng
Sơn nghe rồi, dùng sức mà lay cây.
Quy
Sơn thấy vậy nói:
-
Ngươi chỉ thấy Dụng chứ không thấy Thể.
Ngưỡng
Sơn hỏi:
-
Sư phụ muốn thế nào?
Quy
Sơn yên lặng không nói.
Ngưỡng
Sơn lại nói:
-
Sư phụ chỉ biết Thể chứ không biết Dụng.
Quy
Sơn bèn nói:
-
Ta đánh cho ngươi ba mươi gậy.
-
Sư phụ đánh con, còn con thì đánh ai đây?
-
Ta lại đánh ngươi ba mươi gậy nữa!
(Thiền
Chi Hoa)
Ngưỡng
Sơn lay cây để chỉ cái Động của Dụng. Quy Sơn yên lặng
để chỉ cái Tịch Tĩnh của Thể. Ngưỡng Sơn vì Quy Sơn
mà phá Thể, nhưng vì tự tánh không thể dùng lời mà nói,
vì nói ra là chấp tướng. Do đó Quy Sơn đánh Ngưỡng Sơn
ba mươi gậy. Ngưỡng Sơn nghĩ sư phụ đã nói ra Dụng thì
sao mình lại không thể nói ra Thể. Già sử nói không trúng
thì sư phụ cũng bị ăn gậy. Nhưng Ngưỡng Sơn không biết
rằng Động mà nói ra thì không sai, nhưng Tịnh mà nói ra thì
lại sai. Vì vậy Quy Sơn lại đánh cho Ngưỡng Sơn ba mươi
gậy nữa.
1046.
Do sinh hoạt hàng ngày mà ngộ Đạo.
Long
Đàm nói với Đạo Ngộ rằng:
-
Từ ngày đệ tử đến đây chưa hề được nghe sư phụ chỉ
dạy tâm yếu.
-
Từ ngày ngươi đến đây không có lúc nào là ta không chỉ
cho ngươi tâm yếu?
Long
Đàm chẳng chịu lại hỏi:
-
Sư phụ có chỉ cho con cái gì đâu?
Đạo
ngộ đáp:
-
Ngươi thử nghĩ lại mà xem: khi ngươi bưng trà lại, ta uống;
khi ngươi bưng cơm lại, ta ăn; khi ngươi hành lễ, ta gật
đầu. Đó không phải đều là chỉ thị tâm yếu cho ngươi
sao? Tại sao lại bảo ta không chỉ?
Long
Đàm cúi đầu suy nghĩ rất lâu, lúc đó Đạo Ngộ lại nói:
-
“Ngộ tức chân ngộ, suy tưởng là sai.”
Nghe
câu nói đó Long Đàm liền khai ngộ.
Lại
hỏi:
-
Làm sao giữ được ngộ cảnh này?
-
Dễ dàng thôi, chỉ cần ngươi thuận theo tự tánh, giữ tâm
bình thường, không phân phàm thánh là được.
(Thiền
Chi Hoa)
Tu
đạo không cần người khác, chỉ cần trong sinh hoạt hàng
ngày mà luyện tâm, lâu dần có thể tự ngộ. Khai ngộ cũng
vậy, bảo trì ngộ cảnh cũng vậy. Đạo rất bình thường,
không hề kinh thế hãi tục. Kinh Kim Cương có chép rằng: “Tới
giờ độ thực, Đức Thế Tôn, sửa y, trì bát vào thành xá
Vệ khất thực, khất thực rồi về chỗ ở độ thực, sau
đó thâu y bát, rửa chân, ngồi thiền.” Cho chúng ta thấy
rằng sinh hoạt của Phật tổ so với thường nhân cũng không
khác. Sách Trung Dung có nói rằng: “Đạo không xa người,
người vì Đạo mà xa người, không thể gọi là vì Đạo.”
Cũng chính là ý này vậy.
1047.
Lễ Phật.
Có
lần Hoàng Bá đến bái phỏng Diêm Quan thiền sư, vào chùa
hướng về tượng Phật hành lễ. Lúc đó Đường Tuyên Tông
đang làm sa di ở chùa, hỏi thiền sư rằng:
-
Người cầu Đạo không chấp Phật, Pháp, Tăng, xin hỏi vì
sao người lại hành lễ?
Hoàng
Bá đáp:
-
Ta vốn không chấp Phật, Pháp, Tăng, hành lễ chỉ là do tùy
duyên mà thôi.
Tuyên
Tông lại hỏi:
-
Hành lễ có ích gì?
Hoàng
Bá tiện tay tát cho Tuyên Tông một cái. Tuyên Tông kêu lên:
-
Cái người này, sao lại thô lỗ như vậy?
Hoàng
Bá lại hét lên:
-
Đây là đâu ngươi biết không? Lại còn kêu thô với tế?
(Thiền
Chi Hoa)
Thiền
tông không sùng bái ngẫu tượng, lại còn phá trừ quan niệm
về ngẫu tượng, không thiếu những câu truyện thiền trong
đó các thiền sư mắng Phật, mắng Tổ, đốt tượng . v.
v. Nhưng những hành động đó đều là phương tiện để phá
chấp cho học nhân, còn bình thường gập tượng Phật thì
cũng cung kính lễ bái. Hoàng Bá tát cho Tuyên Tông một
cái là để giải trừ cái chấp của Tuyên Tông. “Ta là Hoàng
Tử” nhưng Tuyên Tông không hiểu còn nói Hoàng Bá thô lỗ.
Không biết rằng ở tự tánh làm gì có thô với tế, hơn
nữa tu viện không phải là triều đình, sa di chẳng phải
là Hoàng tử.
1048.
Tổ sư thiền.
Một
hôm Ngưỡng Sơn khảo nghiệm sư đệ là Hương Nghiêm Trí
Nhàn, hỏi sư đệ gần đây tâm đắc như thế nào? Hương
Nghiêm làm một bài kệ rằng:
去
年 貧 未 是 貧
Khứ
niên bần vị thị bần
今
年 貧 始 是 貧
Kim
niên bần thủy thị bần
去
年 貧 猶 有 卓 錐 之 地
Khứ
niên bần do hữu trác trùy chi địa
今
年 貧 錐 也 無
Kim
niên bần trùy dã vô.
Năm
ngoái, nghèo chưa là nghèo
Năm
nay, nghèo mới là nghèo.
Năm
ngoái nghèo, còn đất để cắm
Năm
nay nghèo, không cả dùi cắm.
Ngưỡng
Sơn nghe rồi cười ha hả:
-
Sư đệ, ta thừa nhận ngươi đã qua Như Lai Thiền, còn như
Tổ Sư Thiền tưởng ngươi nằm mộng cũng chưa tới được.
Do
đó Hương Nghiêm lại làm một bài kệ nữa:
我
有 一 機
Ngã
hữu nhất cơ
瞬
目 是 伊
Thuấn
mục thị y
若
人 不 會
Nhược
nhân bất hội
別
喚 沙 彌
Biệt
hoán sa di.
Ta
có một cơ
Chớp
mắt là y
Nếu
ngươi chẳng hiểu
Đừng
gọi sa di.
Nghe
xong bài kệ, Ngưỡng Sơn rất cao hứng bèn đi báo cáo với
Quy Sơn:
-
Sư đệ đã đắc Tổ Sư Thiền.
(Thiền
Chi Hoa)
Như
Lai Thiền là chỉ tiệm tu, Tổ Sư Thiền là chỉ đốn ngộ.
Bài kệ thứ nhất diễn tả cảnh giới Như Lai Thiền. Nghèo
chỉ là Không. Năm ngoái đã tu tập được Nhân Không, vì
vậy nói, “Năm ngoái nghèo, chưa là nghèo”, chưa đạt được
chữ Không triệt để.Năm nay tu tập đến Pháp Không nên viết
“Năm nay nghèo mới là nghèo”. Muốn tới cảnh giới này
chỉ cần tu tập Giới, Định, Tuệ. Bài kệ thứ nhì cho thấy
đã ngộ nhập Chân Ngã vượt ngoài tất cả những quan niệm
về lý tính. “Cơ” là chỉ tự kỷ tâm linh, “Y” là chỉ
chân ngã. “Chớp mắt là y” là trọng tâm của bài kệ,
diễn tả sự đốn ngộ cảnh giới Chân Ngã, tức Tổ Sư
Thiền.
1049.
Thì là cái đó.
Động
Sơn, sau khi ngộ đạo, đến bái biệt lão sư Vân Nham, đề
ra câu hỏi đã thắc mắc từ lâu:
-
Sư phụ, giả sử trăm năm sau có người hỏi con có còn nhớ
Chân Diện Mục của Thầy không thì phải đáp làm sao?
Vân
Nham mỉm cười, nhìn Động Sơn, qua một lúc rồi nói:
-
Thì là cái đó.
(Thiền
Chi Hoa)
Cái
đó, chính là cái Lục tổ Huệ Năng trong Pháp Bảo Đàn Kinh
có nói qua:
Nào
ngờ tự tánh vốn không sinh
diệt,
Nào
ngờ tự tánh vốn trọn vẹn,
Nào
ngờ tự tánh vốn không dao động,
Nào
ngờ tự tánh có thể sinh ra
vạn pháp!
“Cái
đó” là tự tánh vượt ngoài cả phủ định và khẳng định,
không có đối đãi chấp trước, là cái một, hễ nói ra là
sai, chỉ dùng trực giác mà thể ngộ.
1050.
Hư không mất tiêu.
Thượng
tọa Ngạn Minh là vị học thức quảng bác, có ký ức tốt,
lại giỏi biện bác, nên có ý tự phụ. Một hôm đến bái
phỏng Bảo An Huệ Minh thiền sư; thiền sư hỏi rằng:
-
Càng nói nhiều lại càng xa Đạo, nay ta có một câu hỏi:
‘Lúc trước các Thánh nhân và các Tiên Đức còn có vị
nào không ngộ chăng?’
Ngạn
Minh đáp:
-
Đã gọi là Thánh Nhân, Tiên Đức thì sao lại không ngộ được?
Huệ
Minh nói:
-
Một người trở về nguồn chân, thì mười phương hư không
đều tiêu mất, nay Thiên Đài Sơn vẫn tồn tại, vậy là
sao?
Ngạn
Minh không sao đáp được.
(Thiền
Chi Hoa)
“Một
người trở về nguồn chân, mười phương hư không đều tiêu
mất”, đây là lời kinh Lăng Nghiêm giảng giải tự chứng
cảnh giới của tâm, không phải là chỉ ngoại cảnh của
hiện tượng giới. Thiền là tự tu tâm tánh mình không phải
là tu cho tha nhân, lại càng không phải là tu sơn hà đại
địa của ngoại cảnh. Thiền tâm là vô tâm, không chấp một
pháp. Nếu còn có một vi trần tại tâm thì không thể nào
kiến tánh được. Khi đã đạt được tới cảnh giới một
niệm chẳng sanh thì tâm đã vượt lên trên quan niệm về
thời không, vật ngã năng sở. Mười phương hư không còn
chẳng có, nói gì đến Thiên Đài sơn? Minh thượng tọa vì
không thực ngộ, nên làm sao hiểu được điều đó.
1