NHỮNG
ĐOÁ HOA THIỀN
禪
之 花
QUYỂN TRUNG
880.
Chết đi sống lại.
Có
một lần, Nam Tuyền đang ngồi thiền bỗng hét lên một tiếng
lớn khiến thị giả giật mình vội chạy lại bên. Nam Tuyền
bảo:
-
Ngươi hãy đến Nát Bàn Đường xem có phải có người vừa
mất không?
Thị
giả vừa đi được nửa đường thì gập Nát Bàn đường
chủ, do đó cùng đi báo cáo Nam Tuyền:
-
Vừa có một ông tăng viên tịch
Thị
giả và Nát Bàn đường chủ vừa nói dứt thì thấy tri khách
tăng hốt hoảng chạy tới hướng Nam Tuyền thưa:
-
Ông tăng vừa mất đã sống lại rồi.
Nam
Tuyền hỏi:
-
Ông ta hiện thế nào rồi?
-
Ông ta muốn gặp sư phụ, nhưng đó là ông tăng không chịu
tu phúc cũng không chịu kết duyên.
Do
đó, Nam Tuyền đến gặp ông tăng bệnh, hỏi:
-
Vừa rồi ngươi đi đâu?
-
Con tới âm gian.
-
Tình hình âm gian thế nào?
-
Con đi được chừng 100 dậm thì chân tay bủn rủn không đi
được nữa, miệng rất khát. Bỗng có một người kêu vào
tòa lâu đài. Lúc đó, con rất mệt muốn vào đó nghỉ ngơi.
Vừa bước vào thì thấy một vị lão tăng hét lớn ngăn không
cho con vào. Tiếng hét lớn khiến con ngã bật ra đằng sau;
do đó mà con còn thấy được lão sư.
Nam
Tuyền bảo ông tăng:
-
Đó là một tòa lâu đài tráng lệ; nhưng nếu không tích phúc
thì làm sao vào được. Nếu như ngươi không gập lão tăng
thì ngươi đã sa địa ngục, chịu khổ rồi!
Từ
đó về sau ông tăng bệnh không ngừng tích đức tu phúc sống
đến ngoài 70 tuổi mới an nhiên tọa hóa.
(Tinh
Vân thiền thoại)
Nam
Tuyền trong cơn đại định có thể lên trời, xuống đất,
có thể hét lớn khiến một người đã chết có thể trở
lại dương gian. Người ta thường nói các thiền sư hay đi
nguợc lại nhân tình, nhưng Nam Tuyền thì rất quan tâm và
thương mến đệ tử. Đệ tử đã sa địa ngục rồi còn
cứu sống lại để ông ta có một cơ hội “Lãng tử hồi
đầu, vàng cũng không chuyển.” Do đó, thiền cũng có khi
khổ tâm thuận theo nhân tình.
881.
Phật nay ở đâu?
Đường
Thuận Tông có một lần hỏi Như Mãn:
-
Phật từ phương nào tới, nhập diệt đi về đâu? Nói Phật
thường trụ thế, nay Phật ở đâu?
-
Phật từ vô vi tới, nhập diệt về vô vi, pháp thân ngang
hư không, thường trú ở nơi vô tâm, hữu niệm trở về vô
niệm, có trú trở về vô trú; đến vì chúng sanh đến, đi
vì chúng sanh đi, thể thanh tịnh trong sáng thường trú, người
trí biết suy nghĩ thì không bị nghi hoặc.
-
Phật sanh ở hoàng cung, diệt ở Sa La song thụ, giảng pháp
49 năm lại nói không nói một lời, sơn hà đại địa, mặt
trời, mặt trăng đến kỳ cũng tận, ai nói không sinh diệt?
Người trí là người giỏi phân biệt.
-
Phật thể vốn vô vi, mê tình vọng phân biệt, pháp thân ngang
hư không, chưa từng sanh diệt, hiểu được chỗ vô tâm thì
tự nhiên thấy không có pháp nào để nói cả.
Thuận
Tông nghe rồi vui vẻ, càng coi trọng Như Mãn.
(Tinh
Vân thiền thoại)
Có
người hỏi A Di Đà Phật ở Tây Phương Tịnh Độ, Dược
Sư Phật
ở
Đông Phương thế giới, còn Thích Ca Phật nay ở đâu? Kỳ
thật Phật Thích Ca ở Thường Tịch Quang Độ, nhưng Thường
Tịch Quang Độ ở đâu? Vấn đề này thiền giả trả lời
rất hoạt bát: Hữu tâm nhìn thế giới thấy có sinh diệt,
có Ứng thân Phật; vô tâm nhìn thế giới vô sinh diệt, có
Pháp thân Phật. Vô tâm chính là Thiền tâm. Chỉ có dùng Thiền
tâm mới biết Phật ở đâu. “Có duyên Phật xuất thế,
vô duyên Phật nhập diệt.” Chữ diệt ở đây không có nghĩa
sinh diệt mà là cảnh giới Niết Bàn. Tại Thường Tịch Quang
Độ, diệt trừ mọi phiền não, sai biệt, đối đãi, là thế
giới tuyệt đối, tịch diệt giải thoát.
882.
Cầu Phật và hỏi Đạo.
Đời
Đường, Dương Đình Quang gập Bản Tĩnh ở núi Tư Không hỏi:
-
Sanh tử là việc lớn, vô thường đến mau, con một lòng một
dạ cầu Đạo, xin thầy từ bi khai thị.
-
Ông từ kinh đô đến, nơi đó có nhiều thiền giả ông hỏi
các vị đó là hơn, đối với Đạo ông vừa hỏi, ta chẳng
biết gì cả.
Dương
Đình Quang năn nỉ xin chỉ dạy, Bản Tĩnh bảo:
-
Ông muốn cầu Phật hay hỏi Đạo? Nếu cầu Phật thì tâm
là Phật; nếu hỏi Đạo thì vô tâm là Đạo.
Dương
Đình Quang vẫn chưa hiểu rõ, nên Bản Tĩnh lại giảng thêm:
-
Tâm là Phật vì Phật là do tâm mà được, nếu ngộ vô tâm
thì ngay cả Phật cũng không có. Do đó vô tâm là Đạo.
-
Các Đại đức ở kinh thành đều nói phải bố thí, trì giới
để cầu Phật, nay thầy nói trí huệ Bát Nhã vốn tự đầy
đủ không phải do tu mà được; như vậy những gì con bố
thí, trì giới lúc trước đều là phí công?
Bản
Tĩnh nói chắc như đinh đóng cột:
-
Phí công rồi!
(Tinh
Vân thiền thoại)
Giống
như Đạt Ma khi Lương Võ Đế hỏi về công đức đã trả
lời “Chẳng có công đức gì cả.” Tự tánh ai ai cũng có,
không thể cầu được, do đó nói vô công đức. nhưng làm
sao kiến tánh thành Phật? Bờ bên kia tuy có, nhưng nếu không
có bè thật thì làm sao qua?
Cho
nên công đức bố thì, trì giới làm được càng nhiều càng
tốt.
883.
Không hổ là thị giả.
Một
lần Thạch Thê thấy thị giả bưng bát đi về phía trai đường
bèn gọi lại hỏi:
-
Ngươi đi đâu?
-
Đến trai đường.
-
Thấy ngươi bưng bát sao ta lại không biết là ngươi đến
trai đường?
-
Đã biết sao còn bắt con trả lời?
-
Đó là ta muốn hỏi bản phận sự của ngươi.
-
Nếu thầy hỏi bản phận sự của con thì con thực muốn đến
trai đường.
Thạch
Thê vỗ tay khen:
-
Ngươi thật không hổ là thị giả của ta.
(Tinh
Vân thiền thoại)
Bản
phận sự là gì? là minh tâm kiến tánh, là thoát khỏi sanh
tử, là về nhà, là nhận rõ bản tánh, an trú thân tâm, từ
bi nhẫn nại phát tâm làm việc. Trong sinh hoạt của nhà Thiền
không đâu không là thiền: ăn là thiền, ngủ là thiền, đi
đứng nằm ngồi, xách nước bửa củi không việc nào không
là thiền. Thiền không những bao hàm sinh hoạt lại bao hàm
cả vũ trụ. Nếu chúng ta làm việc cho tốt, không vọng cầu,
đó là bản phận sự, cũng là thiền tâm vậy.
884.
Tuyết Phong và Tây Sơn.
Một
ông tăng hỏi Tây Sơn:
-
Ý tồ sư từ Tây sang là gì?
Tây
Sơn giơ phất trần lên, ông tăng không hiểu lại đến gặp
Tuyết Phong. Tuyết Phong hỏi:
-
Ngươi từ đâu đến?
-
Hạ này từ Tô Châu Tây Sơn đến.
-
Tây Sơn có mạnh không?
-
Khi con tới, tất cả đều an lành.
-
Vì sao ngươi không ở lại học với người?
-
Vì Tây Sơn không hiểu tổ sư thiền.
-
Sao ngươi biết?
-
Khi con hỏi “Ý của tổ sư từ Tây sang là gì?” Tây Sơn
chỉ giơ
phất
trần lên, không đáp được một lời nào.
-
Ngươi có thấy nam nữ ở Tô Châu không?
-
Có thấy.
-
Vậy là đúng rồi! Ngươi thấy nam nữ, biết là nam nữ khác
nhau; ngươi thấy cây cỏ hoa lá, biết chúng đều có tên gọi
và công dụng khác nhau. Sơn hà đại địa, cỏ cây hoa lá
chưa nói pháp với ngươi, nhưng ngươi vẫn rõ ý chúng phải
không?
-
Phải.
-
Tây Sơn giơ phất trần lên là chỉ Phật pháp sao ngươi lại
không hiểu.
Ông
tăng nghe lời, có chỗ tỉnh ngộ liền lạy và thưa:
-
Con thốt lời bất cẩn, thỉnh thầy từ bi cho con trở lại
Tây Sơn
sám
hối.
-
Cả càn khôn là một con mắt, ngươi hướng chỗ nào để
lạy?
(Tinh
Vân thiền thoại)
Mắt
thịt không thấy phất trần, nhưng mắt huệ thấy cả càn
khôn, đâu đâu cũng là Phật pháp. Do đó ông tăng cuối cùng
đã hiểu giơ phất trần lên là ý gì.
885.
Buông bỏ.
Kim
Đại rất thích hoa lan. Bên sân chùa trồng cả trăm chậu
lan, đủ mầu đủ loại. Ngoài giảng kinh, thuyết pháp ông
để hết tâm trí săn sóc hoa. Mọi người đều nói hoa Lan
là sinh mạng của thiền sư. Một hôm, ông có việc phải ra
ngoài, dặn một đệ tử tưới cho hoa. Người đệ tử này
sơ ý làm đổ giàn hoa khiến các bồn lan đều bị đổ vỡ.
Người đệ tử nghĩ sư phụ về chắc sẽ tức giận lắm.
Ông bàn với các huynh đệ sẽ dũng cảm nhận tội, chịu
bất cứ hình phạt nào. Khi Kim Đại về, nhìn thấy cảnh
tượng này, không một chút tức giận, tâm bình khí hòa bảo
đồ đệ:
-
Ta sở dĩ yêu hoa lan là để dùng hương cúng Phật, lại còn
làm đẹp cảnh chùa nữa, chứ không phải trồng để nổi
giận. Tất cả mọi sự việc ở thế gian đều vô thường,
không nên chấp vào sự vật ưa thích mà không buông bỏ được
vì đó không phải là đường lối của người tu Thiền.
Người
đệ tử nghe rồi hết thấp thỏm, càng tinh tấn trên đường
tu học.
(Tinh
Vân thiền thoại)
Ở
đời việc khó nhất là có thể buông bỏ. Những gì mình
ưa thích không thể bỏ xuống được. Cả những gì mình không
ưa thích cũng không bỏ được. Đó là vì ái và hận. Vậy
làm sao có được cái vui tự chủ? Phải làm sao để được
không ái, không hận như Tâm Kinh nói: “viễn ly điên đảo
mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn.” Câu nói của Kim Đại
“trồng hoa không phải để nổi giận” thật là thiền công
rất cao vậy.
886.
Vân thủy tùy duyên.
Pháp
Nhãn tham học với Khánh Huy mãi vẫn không khế ngộ, bèn từ
biệt đi vân du. Một hôm, trên đường gập mưa, tạm
trú ở một tòa Địa Tạng Viện. Tri khách tăng hỏi:
-
Thiền sư định đi đâu?
-
Không mục đích, chỉ tùy tiện thôi.
-
Thầy đối với phương thức vân du tứ phương có cảm thọ
gì?
-
Vân thủy tùy duyên.
-
Câu nói này thật là tiêu dao tự tại.
Pháp
Nhãn nghe rồi đối tiêu dao tự tại bỗng có sở cảm.
(Tinh
Vân thiền thoại)
Người
ta sống ở trên đời đi Đông, đi Tây, mấy ai có thể vân
thủy tùy duyên, huống chi lại còn tiêu dao tự tại.
887.
Diệu dụng của Thiền.
Tiên
Nhai trên đường hoằng pháp gập một cặp vợ chồng đang
cãi lộn.
Vợ:
-
Ông không phải là trượng phu, không có một điểm nào là
đàn ông.
Chồng:
-
Bà mắng tôi? Nếu còn nói thế nữa tôi sẽ đánh bà.
Vợ:
-
Tôi cứ mắng! Ông thật không giống đàn ông.
Tiên
Nhai kêu gọi người qua đường:
-
Mọi người mau tới xem! Xem đấu bò, chọi dế, đá gà đều
phải mua vé, hiện đấu người không phải mua vé, lại xem
mau!
Hai
vợ chồng vẫn tiếp tục cãi lộn.
Chồng:
-
Bà mà nói tôi không phải là đàn ông một lần nữa tôi sẽ
giết bà.
Vợ:
-
Ông cứ giết đi, tôi vẫn cứ nói ông không phải là đàn
ông.
Tiên
Nhai:
-
Bây giờ lại muốn giết nhau, mau lại xem.
Người
đi đường:
-
Hòa thượng, thầy làm gì mà kêu loạn lên thế? Vợ chồng
người ta cãi lộn, quan hệ gì đến thầy?
Tiên
Nhai:
-
Sao lại không? Ngươi không nghe họ nói giết người sao? Có
người chết thì cần phải có hòa thượng tụng kinh, có tụng
kinh thì ta lại có phong bao.
Người
đi đường:
-
Chuyện lạ, vì phong bao mà hy vọng có người bị giết sao?
Tiên
Nhai:
-
Hy vọng không bị giết cũng được, vậy thì ta sẽ thuyết
pháp.
Lúc
đó hai vợ chồng đang cãi nhau cũng ngưng lại xem Tiên Nhai
và người đi đường tranh luận cái gì.
Tiên
Nhai hướng về cặp vợ chồng vừa cãi nhau nói:
-
Trời lạnh, băng tuyết dù dầy khi mặt trời lên cũng bị
tan, rau dưa tuy lạnh, củi lửa nấu cũng chín. Vợ chồng vì
có duyên mới được cùng chung sống. Ta muốn được là mặt
trời sưởi ấm mọi người, làm củi lửa đun rau cho chín,
hy vọng hai vợ chồng hãy thương yêu và kính trọng lẫn nhau.
(Tinh
Vân thiền thoại)
Tiên
Nhai ứng dụng Thiền một cách thật linh động.
888.
Một khối củi.
Thạch
Đầu Hi Thiên trú ở Hồ Nam, một lần hỏi một ông tăng
mới đến:
-
Ngươi từ đâu lại?
-
Từ Giang Tây.
-
Vậy ngươi có tới Mã đại sư không?
-
Dạ có.
Thạch
Đầu thuận tay chỉ đống củi hỏi:
-
Mã Tổ có giống đống củi này không?
Ông
tăng không trả lời được, ở nơi Thạch Đầu không khế
hợp
được,
lại quay lại Giang Tây, thuật cho Mã Tổ nghe. Mã Tổ cười
hỏi:
-
Ngươi thấy đống củi đó nặng bao nhiêu?
-
Con không xem kỹ.
-
Ngươi thật rất khỏe!
-
Vì sao vậy?
-
Ngươi từ Nam Nhạc xa xôi, vác một đống củi về đây chẳng
là mạnh lắm sao?
(Tinh
Vân thiền thoại)
Đời
Đường, các thanh niên tăng không đến Giang Tây tham học Mã
Tổ thì đến Hồ Nam tham học Thạch Đầu. Đó là căn nguyên
của từ ngữ giang hồ, chỉ sự tham học. Về sau từ ngữ
này biến nghĩa thành lão luyện, thậm chí còn chỉ những
người bán cao đơn, hoàn tán. Ông tăng trên chạy tới chạy
lui cũng tỷ như các tín đồ ngày nay hết đi chùa nọ tới
chùa kia, vác một đống củi tới, lui mà chẳng biết nặng
bao nhiêu!
889.
Đi tham mùi khai.
Đời
Tống, Giang Tây Tòng Duyệt tham phỏng Vân Cái, nói chưa được
vài câu, Vân Cái bảo:
-
Tuy ngươi là thủ tọa Trường Sa Đạo Ngô Sơn, nhưng ngươi
nói như người say ruợu.
Tòng
Duyệt đỏ mặt thưa:
-
Xin hòa thượng từ bi khai thị cho.
-
Ngươi có tham Xương thiền sư không?
-
Học nhân có xem ngữ lục của ngài, đã dung hội tại tâm
nên không đến tham phỏng.
-
Vậy ngươi có tham Động Sơn Khắc Văn không?
Tòng
Duyệt khinh thường trả lời:
-
Động Sơn Khắc Văn ư? Cả ngày khùng khùng điên điên, mặc
hoài một cái quần vải khai nồng mùi nước tiểu, thật chẳng
giống một vị thiền giả.
Vân
Cái nghiêm trang bảo:
-
Thiền chính tại nơi đó, ngươi hãy đi tham phỏng vị nước
tiểu khai nồng đó.
Tòng
Duyệt thấy Vân Cái dặn dò cẩn thận như thế bèn y lời;
sau
khi
thâm lãnh áo chỉ về tạ ơn Vân Cái. Vân Cái hỏi:
-
Ngươi tham Động Sơn Khắc Văn thế nào?
-
Nếu không được thiền sư chỉ thị, học tăng đã uổng
phí kiếp này, vì vậy đến lạy tạ.
-
Tạ cái gì, tạ mùi nước tiểu khai là được!
(Tinh
Vân thiền thoại)
Trông
mặt mà bắt hình dong là thông bệnh của người đời. Thiền
ở đâu? Thiền không ở tướng mạo trang nghiêm, cũng không
ở quần áo đẹp, một quần vải khai mùi nước tiểu chỉ
con mắt tuệ mới nhìn thấy chân cảnh, là hoa sen mọc trong
bùn nhơ, là châu ngọc trong đất đá.
890.
Chỉ trộm một lần.
Thạch
Thất đi du phương gập một người, họ mải nói chuyện không
biết trời đã tối. Hai người do đó cùng vào một quán trọ
qua đêm. Nửa đêm, Thạch Thất nghe có tiếng động bèn hỏi:
-
Trời sáng rồi sao?
-
Chưa, hãy còn tối.
Thạch
Thất nghĩ một người đêm tối mà đã thức chắc phải là
một người tu Đạo cao hoặc có thể là một vị La Hán không
chừng, bèn hỏi:
-
Ngươi là ai?
-
Kẻ trộm.
-
A! Thì ra là kẻ trộm, ngươi trộm bao nhiêu lần rồi?
-
Nhiều không đếm hết.
-
Mỗi lần trộm vui được bao lâu?
-
Tùy theo vật trộm có giá nhiều ít.
-
Lần vui nhất được bao lâu?
-
Chỉ được vài ngày, sau đó hết vui.
-
Chỉ là trộm nhỏ, sao không làm một vố thiệt lớn?
-
Ông có kinh nghiệm không? Trộm bao nhiêu lần rồi?
-
Chỉ một lần.
-
Một lần có đủ không?
-
Chỉ một lần dùng cả đời không hết.
-
Vật trộm ở đâu? Ông dạy tôi được không?
Thạch
Thất nắm lấy ngực tên trộm bảo:
-
Cái này là bảo tàng vô cùng tận, ngươi chân chính phụng
sự sự nghiệp này thì dùng hoài không hết, ngươi hiểu không?
-
Dường như hiểu, dường như không hiểu, nhưng cái cảm giác
thọ nhận này khiến cho rất khoan khoái.
Tên
trộm sau đó sám hối hành vi trộm cắp và xin quy y với Thạch
Thất.
(Tinh
Vân thiền thoại)
Kỳ
quái! Kỳ quái! Con người ta vì sao ham chiếm đoạt tài vật
ngoài thân, còn bảo tàng của mình thì lại không muốn?
891.
Ai tội?
Một
cư sĩ đang tản bộ bên bờ sông, thấy ông lái đò chống
sào
đẩy
thuyền rời bến. Vừa vặn một thiền sư cũng có mặt ở
đó, cư sĩ chạy lại hỏi:
-
Thiền sư vừa rồi ông lái đò chống sào làm cho các sò,
hến nhiều con bị chết. Xin hỏi đó là tội ông lái đò
hay là tội người đi đò?
-
Không phải là tội ông lái đò, cũng không phải là tội người
đi đò.
-
Vậy là tội của ai?
-
Là tội của ngươi.
(Tinh
Vân thiền thoại)
Phật
giáo tuy giảng lục đạo chúng sanh nhưng mà lấy con người
làm gốc; đứng trên lập trường con người. Chân lý không
thể nói toạc ra, sự tướng có lúc cũng không thể nói toạc
ra. Ông lái đò vì kiếm tiền để sống, người đi đò vì
có việc phải qua sông, sò hến vì ở dưới đất mà bị
ép chết, đó là tội của ai? Không của ai cả vì tất cả
đều vô tâm. Tội nghiệp vốn do tâm tạo, nếu tâm không
thì tội cũng không. Vô tâm làm sao tạo tội? Nếu có tội
cũng là vô tâm tội. Cư sĩ vì từ không sinh có, vọng tự
phân biệt, do đó thiền sư bảo tội ở ông.
892.
Tụng kinh tám lạng.
Một
Phật tử đến chùa thỉnh Phật Quang tụng kinh siêu độ cho
phụ thân. Phật Quang thắp hương, bầy hoa quả lên bàn thờ,
sửa soạn tụng kinh. Vị hiếu tử này cứ thắc mắc về
phí dụng của lễ cầu siêu, không ngớt hỏi Phật Quang:
-
Tụng một bộ kinh A Di Đà phải tốn bao nhiêu tiền?
Phật
Quang không chịu được thái độ này nên không nể nang đáp:
-
Phải 10 lạng.
-
Mười lạng quá nhiều đi, thầy có thể bớt 2 lạng được
không?
Phật
Quang tụng:
-
Thập vạn chư Phật, Bồ tát, nguyện công đức tụng kinh
này xin hồi hướng về người chết, mong hương linh được
vãng sanh Đông Phương thế giới.
Hiếu
tử liền phản đối:
-
Không đúng! Con thường nghe người ta tụng vãng sanh Tây
phương
Cực Lạc thế giới chứ không phải Đông Phương thế giới.
-
Vãng sinh Tây Phương Cực Lạc thế giới phải 10 lạng, ngươi
đòi bớt 2 lạng thì chỉ có thể đi về Đông Phương thế
giới.
Hiếu
tử bất đắc dĩ nói:
-
Con xin đưa thêm 2 lạng, thầy hãy tụng cho phụ thân con về
Tây Phương.
Lúc
đó người chết trong quan tài mắng con:
-
Thằng bất hiếu, chỉ vì ngươi bớt 2 lạng khiến ta phải
nhọc sức chạy Đông, chạy Tây.
(Tinh
Vân thiền thoại)
Phật
pháp không phải là món hàng nên không thể trả giá.Kinh Phật
nói: “Tâm Điền sự bất đồng, công đức phân thắng, liệt.”
Cùng một số tiền (sự) đem bố thí, nhân vì người nhận
(điền) không đồng thậm chí có ý nghĩ (tâm) to nhỏ, kết
quả thiên sai vạn biệt. Công đức to nhỏ là do tâm chân,
vọng chứ không phải là do số tiền nhiều ít.
893.
Tướng quân sám hối.
Một
lần, Mộng Song quốc sư đi đò. Thuyền vừa rời bến, bỗng
có một vị tướng quân vai đeo kiếm, tay cầm roi, gọi lớn:
-
Ông lái, chờ một chút cho ta đi với!
Cả
thuyền đều nói thuyền đã rời bến rồi không thể quay
lại, ông lái đò cũng nói to:
-
Xin chờ lần sau đi.
Lúc
đó Mộng Song bảo ông lái:
-
Ông lái, thuyền chưa đi xa, hãy ghé lại cho ông ta lên.
Ông
lái đò thấy vị xuất gia nói vậy bèn quay thuyền lại cho
vị tướng quân lên. Vị tướng quân lên thuyền đứng bên
cạnh Mộng Song, giơ roi lên quất vào đầu Mộng Song và hét:
-
Hòa thượng, xê ra nhường chỗ cho ta ngồi!
Roi
đánh trúng đầu làm phun máu, Mộng Song im lặng xích ra nhường
chỗ cho tướng quân. Mọi người đều sợ hãi không dám nói
lớn chỉ thầm thì bàn tán, làm ơn mắc oán. Tướng quân
biết mình sai, nhưng cũng không chịu thừa nhận. Thuyền cập
bến, Mộng Song theo mọi người lên bờ, ra ven sông im lặng
rửa vết thương. Tướng quân cuối cùng thấy mình không phải,
lại quỳ trước mặt Mộng Song sám hối:
-
Thiền sư, con xin lỗi!
Mộng
Song tâm bình, khí hòa đáp:
-
Không sao đâu, người ta đi ra ngoài tâm tình thường không
được tốt.
(Tinh
Vân thiền thoại)
Ở
thế gian này sức mạnh nào là lớn nhất? Chính là sự nhịn
nhục. Phật nói:
-Người
tu đạo nhịn được sự mắng chửi, coi đó như được uống
đề hồ thì mới là người có đại lực.
Dùng
đao thương uy hiếp chỉ làm cho người ta sợ chứ không phục,
chỉ có sự nhẫn nhục mới cảm hóa được ngoan cường.
894.
Nhất Hưu phơi kinh.
Nhất
Hưu ở trong làng dưới chân núi Tỷ Duệ. Một hôm thấy các
tín đồ kéo nhau từng đoàn lên núi. Hỏi ra mới biết chùa
trên núi phơi kinh. Theo truyền thuyết khi phơi kinh, có cơn
gió nào thổi qua kinh, người nào đón được gió ấy thì
có thể trừ được tai ách và trí tuệ tăng trưởng. Nhất
Hưu liền nói:
-
Ta cũng phơi kinh.
Nói
rồi, Nhất Hưu cởi trần nằm trên bãi cỏ phơi nắng. Các
tín đồ lên núi trông thấy lấy làm bất nhã. Pháp sư ở
trên chùa vội chạy xuống khuyên Nhất Hưu đừng làm mất
uy nghi. Nhất Hưu giải thích:
-
Các ngươi phơi là phơi kinh chết, còn ta phơi kinh sống, có
thể thuyết pháp, làm lụng, ăn cơm, có trí tuệ, tạng kinh
đó lại không đáng quý sao?
(Tinh
Vân thiền thoại)
Hành
động đùa nghịch của Nhất Hưu thực ra rất chí lý không
gì không từ tự tâm hiển lộ. Tu hành sợ nhất là bỏ gốc
theo ngọn. Kinh chỉ là chữ in trên giấy, chân tâm mới là
pháp. tại sao chỉ chú ý đến kinh mà không chú ý đến tự
tâm? Huệ tăng trưởng là do đọc kinh, tham thiền nhập Phật
là phải biết cơ yếu, tất cả đều do tâm tạo. Quý trọng
kinh không phải là do chữ in trên giấy, mà là in trên tâm.
Tạng kinh in trên tâm mới có thể sinh vạn pháp.
895.
Bánh ngọt.
Một
ông tăng đến tham học Mục Châu Đạo Minh. Đạo Minh hỏi:
-
Ngươi bình thường học Phật là học pháp môn nào?
-
Duy thức.
-
Ngươi có thể giảng Duy Thức luận không?
-
Không dám.
Thiền
sư bẻ một cái bánh ngọt ra làm đôi và hỏi:
-
Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, ngươi làm sao thuyết
pháp?
Ông
tăng không trả lời được; thiền sư lại hỏi:
-
Cái bánh này gọi là bánh ngọt đúng hay không gọi là bánh
ngọt đúng?
Ông
tăng nghĩ toát mồ hôi, trả lời:
-
Không thể không gọi là bánh ngọt.
Thiền
sư nhìn quanh, tùy tiện chỉ một sa di hỏi:
-
Cái bánh chia làm hai, ngươi làm sao thuyết pháp?
Sa
di không do dự đáp:
-
Hai mảnh lưu lại nhất tâm.
-
Ngươi gọi nó là gì?
-
Bánh ngọt.
Mục
Châu Đạo Minh cười ha hả:
-
Ngươi cũng biết giảng Duy Thức luận.
(Tinh
Vân thiền thoại)
Duy
Thức và Thiền tông phương pháp và phương hướng khác nhau.
Duy Thức trọng trí giải và phân tích, muốn người học nhận
rõ Duy Thức nghĩa; còn Thiền tông thì không trọng trí giải
và phân tích. Thiền là trực tiếp bản tâm, kiến tánh thành
Phật. Câu nói của các thiền sư đầy khôi hài, thái độ
thân thiết. Khi họ nói Đông là để chỉ Tây; có lúc
đánh mắng thực ra là thương yêu và giúp đỡ.
896.
Ta không phải là Phật.
Có
một vị tú tài trú ở chùa để học, tự phụ thông minh
thường lấy thiền cơ tranh luận với Triệu Châu.
Một
hôm hỏi Triệu châu:
-
Phật từ bi phổ độ chúng sanh là do tâm nguyện, không trái
với những gì chúng sanh mong cầu không biết có phải thế
không?
-
Phải.
-
Nay con muốn thiền trượng trong tay thầy, không biết có được
thỏa mãn không?
Triệu
Châu cự tuyệt:
-
Người quân tử không đoạt của người, ngươi có hiểu đạo
lý này không?
-
Con không phải là quân tử.
-
Ta cũng không phải là Phật.
Tú
tài không đáp được nhưng không chịu thua. Một hôm tú tài
ngồi thiền Triệu Châu đi ngang qua. Tú tài trông thấy nhưng
lờ đi. Triệu Châu trách:
-
Người trẻ thấy bậc trưởng giả tới sao không đứng dậy
nghênh đón?
-
Con ngồi đón thầy cũng như đứng dậy đón thầy.
Triệu
Châu bèn cho ông một tát tai. Tú tài nổi giận:
-
Thầy vì sao đánh con.
-
Ta đánh ngươi cũng như không đánh ngươi!
(Tinh
Vân thiền thoại)
Vị
tú tài là phần tử trí thức; Triệu Châu là thiền giả đã
thể ngộ; trí thức không phải là đối thủ của bậc thể
ngộ, huống hồ lại là Triệu Châu mà thiền phong rất hoạt
bát. Triệu Châu không cho thiền trượng không phải là hẹp
lượng mà là không thích lối cưỡng lời đoạt lý của tú
tài, lại cho ông một tát tai là để huấn giới ông chỉ
học thiền mà không ngộ thiền.
897.
Con cũng có miệng lưỡi.
Quảng
Huệ Nguyên Liễn lúc mới học đạo, tham thiền ở nơi Chân
Giác thiền sư. Buổi sáng phụ trách nhà bếp, buổi chiều
tụng kinh coi đó là công khóa. Một hôm Chân Giác hỏi ông:
-
Ngươi xem kinh gì?
-
Kinh Duy Ma.
-
Kinh ở đây còn cư sĩ Duy Ma ở đâu?
Nguyên
Liễn không biết làm sao trả lời, tự thẹn tri thức có hạn,
bèn
hỏi lại:
-
Cư sĩ Duy Ma nay ở đâu?
-
Ta biết cũng được, không biết cũng được, nhưng không thể
bảo cho ngươi biết.
Nguyên
Liễn rất mắc cỡ, từ biệt Chân Giác đi vân du, thân cận
hơn 50 vị thiện tri thức, nhưng vẫn chưa khế ngộ. Một
hôm tham phỏng Thủ Sơn Tĩnh Niệm ở Hà Nam, hỏi:
-
Học nhân đến Bảo Sơn, khi tay không trở về thì thế nào?
-
Bỏ giữ kho báu nhà mình.
Nguyên
Liễn ngộ ngay lúc đó, bèn nói:
-
Con sẽ không nghi miệng lưỡi của các thiền sư nữa.
-
Tại sao?
-
Vì con cũng có miệng luỡi.
Thủ
Sơn cao hứng bảo:
-
Ngươi đã ngộ tâm yếu của Thiền rồi!
(Tinh
Vân thiền thoại)
Miệng
lưỡi ai cũng có, nhưng thực sự hiểu được diệu dụng
của nó thì có mấy ai. Một câu nói có thể làm đất nước
hưng vượng, cũng có thể làm mất nước. Có người dùng
miệng lưỡi làm công đức; có người tạo tội nghiệp. Đó
là có biết cách xử dụng miệng lưỡi hay không.
898.
Tâm yếu của Thiền.
Thi
sĩ Bạch cư Dị có một lần hỏi Duy Khoan:
-
Thân, khẩu, ý làm sao tự tu?
-
Người vô thượng bồ đề ở thân là luật, nói ra miệng
là pháp, hành ở tâm là Thiền. Ứng dụng có 3 nhưng chỉ
là một, như sông Hoài sông Hán do nơi chảy qua mà có tên
khác nhau, nhưng tánh nước thì không hai. Luật tức là pháp,
pháp chẳng lìa Thiền. Lấy thân, khẩu, ý hợp nhất mà tu.
Vì thân, khẩu, ý đều là tên gọi của tâm, vì vọng nên
khởi phân biệt.
-
Nếu đã không phân biệt, làm sao tu tâm?
-
Tâm vốn không tổn thương, sao cần tu. Nên biết bất luận
là tịnh là trần không nên khởi niệm.
-
Trần (bụi) có thể dùng phất trần quét khiến không khởi
niệm;
Tịnh
trong sạch thì làm sao còn có niệm?
-
Cũng như mắt người không để vật gì bám vào, ví như mạt
vàng tuy quý nhưng vào mắt sẽ sinh bệnh. Mây đen, mây trắng
đều che phủ bầu trời.
-
Không tu không niệm thì khác gì phàm phu?
-
Phàm phu nuôi dưỡng vô minh, nhị thừa nuôi dưỡng chấp trước.
Lìa bỏ hai bệnh vô minh và chấp trước là chân tu. Người
chân tu không cầu, không vọng. Cầu gần chấp, vọng thì rơi
vào vô minh. Đó là tâm yếu.
(Tinh
Vân thiền thoại)
Thế
gian có tốt, có xấu, có lớn, có nhỏ. Thí dụ như bố thí
nhiều, ít thì công đức nhiều ít; tất cả đều có phân
biệt. Tu thân thì không được sát, đạo, dâm. Tu khẩu thì
không vọng ngữ, không lưỡng thiệt, không ác khẩu. Tu ý
thì không tham dục, không sân si, không tà kiến. Tu thân, khẩu,
ý dĩ nhiên có phân biệt. Nhưng chân tâm tự tánh vốn thanh
tịnh đầy đủ cần gì tu chứng, sao có cầu, vọng. Do vậy,
Duy Khoan cho đó là tâm yếu của Thiền.
899.
Hóa duyên độ chúng.
Chiêu
Dẫn vân du khắp nơi, có tín đồ hỏi:
-
Con thường nổi giận làm sao sửa đổi?
-
Nổi giận là do tâm sân mà ra; được rồi để ta hóa duyên,
ngươi hãy đem tâm sân và sự nổi giận cho ta có được không?
Con
của tín đồ ham ngủ, cha mẹ không biết phải làm sao. Chiêu
Dẫn đến nhà lay tỉnh đứa con:
-
Ta đến hóa duyên mê ngủ của con; hãy đem mê ngủ cho ta!
Nghe
vợ chồng tín đồ cãi nhau, Chiêu Dẫn bèn hóa duyên sự cãi
lộn. Tín đồ uống rượu, Chiêu Dẫn liền hóa duyên uống
ruợu.
(Tinh
Vân thiền thoại)
Chiêu
Dẫn suốt đời hóa duyên độ chúng. Các ác tập của người
đời đều được ông hóa duyên mà thay đổi.
900.
Chẳng hứa làm thầy.
Tòng
Duyệt tham phỏng Thanh Tố; có một lần đang ăn trái vải
đi ngang qua cửa sổ phòng Thanh Tố, cung kính thưa:
-
Đây là trái vải ở Giang Tây quê con, mời trưởng lão ăn
vài trái.
Thanh
Tố hoan hỉ tiếp nhận, cảm khái bảo:
-
Từ ngày tiên sư viên tịch, lâu lắm không ăn thứ này.
-
Tiên sư của trường lão là ai?
-
Từ Minh thiền sư, ta làm quản lý 13 năm cho ngài.
-
Mười ba năm kham nhẫn, không đắc đạo sao được?
Nói
rồi cung kính dâng hết vải trong tay cho Thanh Tố. Thanh Tố
cảm kích:
-
Ta vì phúc bạc, tiên sư thọ ký không nhận truyền nhân, nay
thấy ngươi thành kính, hãy nói tâm đắc của ngươi cho ta
nghe.
Tòng
Duyệt bèn nói sở kiến, Thanh Tố khai thị:
-
Thế giới có Phật, có ma, phải bỏ xuống hết, nên nhập
Phật, chẳng nên nhập ma.
Tòng
Duyệt được ấn khả rồi, Thanh Tố lại bảo:
-
Nay ta vì ngươi chỉ điểm khiến ngươi được đại tự tại
nhưng không thể nói ngươi truyền thừa ta; Chân Tĩnh Khắc
Văn mới là thầy ngươi.
(Tinh
Vân thiến thoại)
Muốn
học Phật đạo trước hết phải kết nhân duyên, cầu đạo
phải cung kính mà cầu. Tòng Duyệt cung kính đối với tiền
bối nên đã được đạo. Câu nói “Chân Tĩnh Khắc Văn mới
là thầy ngươi” biểu thị trong Thiền môn thầy trò tương
trợ, tương tín.
901.
Tâm của cổ Phật.
Động
Sơn hỏi Hưng Bình hòa thượng:
-
Thế nào là tâm của cổ Phật?
-
Là tâm ngươi.
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
Câu
của Động Sơn có nghĩa là: “thế nào là tâm yếu của chư
Phật quá khứ?” Chư Phật cho đến tất cả chúng sanh đều
có Phật tánh quang minh, thanh tịnh. Phật tánh không vì Phật
(giác)và chúng sanh (chưa giác) mà tăng hay giảm. Vì vậy, Hưng
Bình mới nói “là tâm ngươi.”
902.
Tháp vô phùng.
Một
ông tăng hỏi Pháp Chân:
-
Thế nào là tháp vô phùng? (Xem công án 172)
-
Cao 5 thước.
Lại
mắng:
-
Hồ đồ!
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
Tháp
vô phùng là tháp không vá; các tháp ở thế gian đều dùng
gạch xếp lên nhau, dùng vữa mà dính lại, không thể không
vá, Như vậy là ở đây tháp vô phùng không chỉ thế giới
hiện tượng mà chỉ cảnh giới vô lậu, không còn phiền
não, là lý cứu cánh là chân tướng của sinh mạng. Lão sư
đáp “cao 5 thước” có vẻ mâu thuẫn với quốc sư Huệ
Trung. Có cao độ là có hình thể. Có hình thể thì không phải
là cảnh giới tuyệt đối; 5 thước ở đây là thiền sư
chỉ ông tăng cao 5 thước (thước Tầu).
903.
Tìm linh dương.
Có
6 học tăng cùng đến Hoàng Bá tham học. Khi mới gập mặt,
năm người thành kính vái lạy, chỉ có một ông tăng tỏ
ra mình là một thiền giả, giơ tọa cụ lên vẽ một vòng
tròn, không nói một câu, đứng tại một bên. Hoàng Bá bảo
ông tăng đó:
-
Ta nghe nói có một chó săn rất hung dữ.
Ông
tăng dùng Thiền ngữ trả lời:
-
Chắc là nghe tiếng linh dương mà tới.
-
Ngươi có nghe được tiếng linh dương không?
-
Vậy nhất định là do dấu chân mà tới.
-
Ngươi có thấy dấu chân linh dương không?
-
Vậy thì nhìn sau lưng linh dương mà tới.
-
Ngươi có thấy sau lưng linh dương không?
-
Chỉ là xác một con linh dương.
Hoàng
Bá bèn thối lui. Hôm sau ở Pháp đường nói lại chuyện cũ:
-
Mời ông tăng nói chuyện linh dương hôm qua bước ra.
Ông
tăng bước ra vài bước.
-
Công án hôm qua còn chưa xong, ngươi giải thích thế nào?
Ông
tăng không trả lời được.
-
Tưởng ngươi là một thiền giả đã tới nhà; nguyên lai chỉ
là một ông tăng nghĩa học, tông đồ trí giả.
Đại
chúng nhận rằng ông tăng này mạo nhận thiền giả, liền
mời ông ra khỏi cửa.
(Tinh
Vân thiền thoại)
Thiền
là ngộ, không phải là học. Tri thức có thể học, Thiền
không thể học. Tự cổ, các thiền tăng cử chỉ, lời nói
quái dị, nhưng trong sự quái dị ấy có chân thật, thường
lý. Nếu không phải là thiền giả, chỉ cần mở miệng ra
là người ta biết ngay là giả; còn thiền ngộ tự nhiên hiển
lộ ra.
904.
Bốn chín năm trước.
Một
ông tăng hỏi Tuyết Phong Nghĩa Tồn:
-
Chuyện 49 năm sau không hỏi, còn chuyện 49 năm trước thì
sao?
Thiền
sư bỗng dùng phất tử đánh vào mồm ông tăng.
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
Thích
Ca Mâu Ni thành Đạo rồi thuyết pháp 49 năm, sau đó nhập
Niết Bàn. Chuyện 49 năm sau chỉ Phật đã nhập Niết Bàn;
chuyện 49 năm trước chỉ Phật chưa thành Đạo thì cũng tu
trì cầu Đạo, nỗ lực chứng Phật tánh vốn tự đầy đủ.
Đây là ông tăng mượn cổ dụ kim. Dụ rằng mình cũng như
Phật Thích Ca lúc chưa thành Phật, cũng nỗ lực tầm Đạo,
cần lão sư chỉ dẫn. Tự tánh vốn tự quang minh do con người
ta tự vọng tâm khởi phân biệt do đó có sáng tối, mê ngộ.
Chính câu hỏi của ông tăng đã là một loại ý thức phân
biệt rồi. Thiền sư bỗng đánh làm cho ông tăng hoảng sợ
mà bỏ được vọng niệm. Nếu ông tăng tâm lực tập trung
đến trình độ đại ngã thì nhân đó có thể siêu việt
tất cả phân biệt, vào thẳng tự tánh quang minh.
905.
Pháp thân.
Một
ông tăng hỏi Ngưỡng Sơn Huệ Tịch:
-
Pháp thân còn nói pháp không?
-
Ta không nói được, nhưng có một người nói được.
-
Người nói ở đâu?
Thiền
sư đưa cái gối đầu ra.
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
Pháp
thân không phải là một vật cụ thể mà vô hình, vô tướng,
vô sinh, vô diệt của cảnh giới tuyệt đối, đã vượt qua
đối lập của hiện tượng giới. Do đó không nói pháp. Chỉ
có người đã ngộ mới biết lý này, còn không thì cứ xoay
quanh múa lộn ở trong vòng danh tướng. Vì vậy thiền sư mới
bảo mình không nói được, nhưng có một người có thể nói
được, ông tăng hỏi người nói được ở đâu? Thiền sư
bèn đưa cái gối đầu ra. Vì hiện tượng và bản thể là
một không hai cho nên bất cứ vật gì cũng là pháp thân, không
đâu không có pháp thân nói pháp. Nếu ngộ thì cái gối đầu
là một pháp thân, còn chưa ngộ thì đó chỉ là một đồ
vật ở hiện tượng giới.
906.
Quý mến hiện tại.
Thân
Loan Thượng Nhân của Nhật Bản, mới 9 tuổi đã quyết tâm
đi tu; xin Từ Trấn xuống tóc cho ông. Từ Trấn nói:
-
Ngươi còn nhỏ như vầy, vì sao muốn xuất gia?
-
Con tuy mới 9 tuổi, nhưng cha mẹ đều mất cả. Con không biết
vì sao người ta phải chết, vì sao con nhất định phải lìa
xa cha mẹ? Vì muốn hiểu đạo lý này nên con nhất định
xuất gia.
-
Được! Ta biết rồi! Ta chấp nhận thâu ngươi làm đệ tử;
hôm nay trời đã muộn rồi, sớm mai sẽ xuống tóc cho ngươi.
-
Sư phụ, tuy thầy hứa sáng mai sẽ xuống tóc cho con, nhưng
con còn trẻ vô tư, không biết ngày mai còn giữ được quyết
tâm xuất gia hay không? Hơn nữa, thầy niên kỷ đã cao không
biết sáng mai còn sống không?
Từ
Trấn nghe lời vỗ tay khen:
-
Được lắm! Ngươi nói không sai, bây giờ ta xuống tóc cho
ngươi.
Đời
Đường, Huyền Trang cũng 12 tuổi xuất gia. Bấy giờ muốn
xuất gia phải qua một kỳ khảo hạch. Huyền Trang vì quá
nhỏ không được thâu nhận. Huyền Trang thương tâm khóc lớn.
Chủ khảo Thiện Quả hỏi:
-
Vì sao nhất định xuất gia?
-
Vì muốn làm sáng di giáo của Như Lai, giới thiệu hạt giống
bồ đề của Phật.
Nhận
thấy lời nguyện rộng lớn nên chủ khảo đặc biệt chấp
nhận.
(Tinh
Vân thiền thoại)
Gương
của hai vị cao tăng trên đã trở thành giai thoại trong Phật
giáo.
907.
Bịt tai.
Một
ông
tăng hỏi Tào Sơn Bản Tịch:
-
Lỗ Tổ xoay mặt vào vách là biểu thị chuyện gì?
Sư
bịt tai lại.
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
Lỗ
Tổ xoay mặt vào vách là một thủ đoạn để tiếp dẫn thiền
sinh (Xem công án 796); thủ đoạn ấy không ngoài tác dụng
của tự tánh là xúc, mục. Tào Sơn bịt tai chỉ không nghe,
vì câu hỏi của ông tăng trái ngược với dụng ý của Lỗ
Tổ. Động tác này làm cho ông tăng rõ câu hỏi của ông là
thừa, muốn ông bỏ vọng tưởng.
908.
Một đường Nát Bàn.
Một
ông tăng hỏi Như Bảo:
-
Thế nào là một đường Nát Bàn?
Sư
khẩy ngón tay rồi mở rộng hai tay ra.
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
Câu
hỏi của ông tăng là hỏi về tự tánh. Động tác của thiền
sư là chỉ diệu dụng của tự tánh. nếu ông tăng quay về
tự thể nghiệm động tác của chính mình thì có thể thấy
một đường Nát bàn, hiểu được câu trả lời của thiền
sư.
909.
Cổ đức vì sao mà thôi?
Một
ông tăng hỏi Cát chân Tư Phúc;
-
Hòa thượng, cổ nhân được ý chỉ gì mà thôi?
Sư
vẽ vòng tròn chỉ thị.
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
Câu
hỏi của ông tăng có nghĩa là cổ đức được tâm yếu gì
mà giác ngộ? Tâm yếu chỉ có thể thể ngộ, không thể dùng
lời mà giải thích; do đó thiền sư vẽ vòng tròn để trả
lời (Xem công án 881).
910.
Cái nào không là Phật.
Một
ông tăng hỏi Đại Châu Huệ Hải:
-
Tức tâm, tức Phật, cái nào là Phật?
-
Ngươi nghi cái nào không là Phật, chỉ ra cho ta coi!
Ông
tăng không trả lời được, sư bảo:
-
Nếu đạt thì mọi cảnh đều là Phật, còn không thì vĩnh
viễn trái ngược.
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
Thiền
sư hỏi ngược lại, ông tăng không trả lời được, sư đành
phải
thuyết
minh: Nếu ngươi chứng được tự tánh thì mọi cảnh đều
là Phật. Còn như ngươi dùng lý trí để phân tích thì những
gì ngươi kiến thức được chỉ là tương đối, không phải
là cảnh giới tuyệt đối.
911.
Không được, không biết.
Đạo
Ngô hỏi Thạch Đầu:
-
Đại ý của Phật pháp là gì?
-
Không được, không biết.
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
Câu
đáp của Thạch Đầu có hai ý:
1/
Phật pháp không thể dùng trí mà biết được.
2/
Ta không phải là người đắc pháp. Do đó, đả phá vọng
tâm của Đạo Ngộ muốn nhờ thầy chỉ cho đáp án, phải
tự mình thể nghiệm tự tánh.
912.
Ý tổ sư.
Một
ông tăng hỏi Ngưỡng Sơn:
-
Thế nào là ý tổ sư?
Sư
vẽ vòng tròn, ở trong viết chữ Phật. Ông tăng không nói
được một lời.
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
Ý
tổ sư là ý chỉ của Tổ Đạt Ma vượt biển tới Trung thổ.
Ý chỉ này thực là tinh tủy của Thiền: “Chỉ thẳng tâm
người, thấy tánh thành Phật.” Ngưỡng Sơn dùng vòng tròn
và chữ Phật để khai ngộ cho ông tăng. Nếu ông tăng chấp
vào vòng tròn và chữ Phật, dùng đường lối suy luận mà
tìm ý nghĩa thì vĩnh viễn không khai ngộ được.
913.
Thế nào là Thiền, là Đạo?
Một
ông tăng hỏi Thạch Đầu:
-
Thế nào là Thiền?
-
Đá, gạch.
-
Thế nào là Đạo?
-
Khúc gỗ.
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
Gạch
đá là gạch đá, khúc gỗ là khúc gỗ. Đối thoại trong công
án này nếu cố giải thích thì có thể nói Thiền, Đạo không
lìa hiện tượng giới mà tồn tại trong mọi sự, mọi vật.
Lời giải thích này là dùng lý trí phân tích. Ở đây thiền
sư dùng một vật không liên quan để làm đứt đoạn suy nghĩ
của thiền sinh. Nếu thiền sinh còn cố giải thích thì có
đúng không? Trong quá trình dạy dỗ thiền sư không giảng
lý Đạo, mục đích là giúp thiền sinh lần lượt trừ bỏ
những chấp trước của nội tâm mà đạt tới mục đích
minh tâm kiến tánh. Những lời nói của các thiền sư không
có hàm ý rõ ràng, do đó chúng ta đứng ở góc độ nào mà
giải thích thì cũng được. Như câu hỏi: Đạo là gì? Chúng
ta có thể giải thích lúc đó thiền sư chạm mắt vào khúc
gỗ nên tự nhiên đáp là khúc gỗ, biểu thị Đạo ở khúc
gỗ, ở tất cả mọi vật. Cũng có thể giải thích cách khác
là Đạo không lìa tự thân. Ông tăng vì chưa thể hội tự
thân là Đạo nên bị thiền sư mắng “Ngươi sống như một
người chết, không khác gì khúc gỗ.”
Cả
hai lối giải thích trên không giúp ích gì cho ông tăng cả
nếu ông không tự thể nghiệm.
914.
Tây sang không ý.
Một
ông tăng hỏi Đại Mai:
-
Thế nào là ý của tổ sư từ Tây sang?
-
Tây sang không ý.
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
Ông
tăng hỏi tinh yếu của Thiền là gì? Câu hỏi của ông chỉ
rằng ông có vọng tưởng chấp rằng có tự tánh có thể
cầu được. Do đó, Đại Mai phủ định để phá chấp cho
ông, khiến ông bỏ ý niệm mong cầu giải thoát mà vào thẳng
ngộ cảnh.
915.
Giơ phất tử.
Hương
Nghiêm Trí Nhàn hỏi ông tăng đến tham phỏng:
-
Từ đâu tới?
-
Từ Quy Sơn.
-
Hòa thượng gần đây có lời gì?
-
Có người hỏi ý Tây sang, Quy Sơn giơ phất tử lên.
-
Huynh đệ nơi đó hiểu ý hòa thượng thế nào?
-
Họ cho rằng hòa thượng lấy sắc minh tâm, nương vật hiển
lý.
-
Hiểu liền hiểu ngay, không hiểu thì gấp làm gì?
-
Ý thầy thì sao?
Hương
Nghiêm giơ phất tử lên.
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
Do
đối thoại chúng ta thấy đáp án không phải ở phất tử,
cũng không phải ở động tác giơ lên. Các đệ tử của Quy
Sơn cho rằng thầy giơ phất tử lên là lấy săc minh tâm,
nương vật hiển lý. Do lý mà nói thì suy luận này là đúng,
nhưng ở lão sư là thực tiễn, còn ở đồ đệ chỉ là khái
niệm, sai biệt như trời và đất. Thiền sư dùng thủ đoạn
này (nương vật hiển lý) mục đích là muốn đồ đệ khế
nhập không tánh; thấy được tự tánh. Do đó Hương Nghiêm
phê bình đồ đệ Hương Nghiêm “Hiểu liền hiểu ngay, không
hiểu thì gấp làm gì.” Ông tăng bèn thỉnh thị Hương Nghiêm,
Hương Nghiêm giơ phất tử lên. Cử chỉ và lời nói của
Hương Nghiêm xuất từ cảnh giới vô ngã, chỉ là động tác,
không nương tựa vào đó để thuyết minh cái gì. Nói theo
nhà Phật thì đó là cảnh giới diệu hữu, một thể không
hai như nước và sóng không phân biệt được. Động tác của
thiền sư là diệu hữu cũng là duyên khởi. Do đó giơ phất
tử lên bản thân là hiện tượng, nhưng cũng là tánh không.
Nếu thiền sinh bỏ được các quan niệm mà coi động tác
của thiền sư thì có thể thoát khỏi sự trói buộc của
khái niệm mà vào thẳng bản nguyên của nội tâm. Đó gọi
là kiến tánh.
916.
Đà La Ni.
Một
ông tăng hỏi Trường Sa Cảnh Sầm:
-
Đà La Ni là thế nào?
Sư
chỉ thiền sàng bên phải:
-
Sư tăng này không tụng được.
-
Người khác tụng được không?
Sư
chỉ thiền sàng bên trái:
-
Sư tăng này tụng được.
-
Sao con không nghe?
-
Đại đức không biết tụng thật không tiếng, nghe thật không
nghe.
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
Đà
la ni ý dịch là tổng trì. Có bốn loại đà la ni là: pháp,
nghĩa, chú, dẫn. Ngày nay thường dùng Đà La Ni để chỉ chú
Đà La Ni. Chú chỉ Phật, Bồ tát từ trong thiền định ra
bảo cho biết những lời bí mật, là tự tánh dùng âm
thanh để lưu lộ. Tự tánh không thể dùng ngôn ngữ để
chỉ rõ, chỉ có thể dùng Dụng để hiển thể. Vì vậy Trường
Sa chỉ thiền sàng bảo nó có thể tụng Đà La Ni. Nếu ông
tăng có thể trừ bỏ ý thức phân biệt, vào thẳng thế giới
tuyệt đối thì không đâu không là diệu tâm của Đa La Ni.
Ngược lại, nếu ông còn chấp khái niệm thiền sàng là một
cá thể thì còn có phân biệt ta, người; miệng tuy đọc chú
nhưng đó không phải là Đà la ni. Do đó, thiền sư lại chỉ
cho ông tụng thật không tiếng, nghe thật không nghe. Có tiếng,
có nghe là có chủ thể và đối tượng không phải là cảnh
giới tuyệt đối. Phải trừ bỏ sự phân biệt tiếng cho
đến tất cả mọi sự phân biệt; thì đó mới là tụng Đà
la ni.
917.
Cá chép trên núi, cỏ bồng dưới sông.
Một
ông tăng hỏi Đạo Khâm:
-
Thế nào là Đạo?
-
Cá chép trên núi, cỏ bồng đáy sông.
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
Cá
chép là sinh vật sống trong sông, cỏ bồng là loại cỏ mọc
ở lục địa. Câu nói của Đạo Khâm rõ ràng là trái với
thường lý. Nếu nghĩ rằng có thể căn cứ vào câu đáp của
thiền sư để tìm vết tích của Đạo thì khó chẳng khác
gì lên trời. Thiền sư không giảng lý luận. Khi huấn luyện
có lúc dùng những câu đáp phản thường, mục đích là để
cắt đứt những niệm đầu của vọng tâm. Nếu ông tăng
còn dùng suy luận thì câu nói này hoàn toàn vô ý nghĩa.
918.
Thế nào là Phật.
Một
ông tăng hỏi Đạo Minh:
-
Thế nào là Phật?
-
Là không thể nói cho ngươi biết.
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
Người
đã hiểu thì không đặt câu hỏi này; do đó thiền sư phủ
định là đối với tâm cảnh đặt câu hỏi của ông tăng
lúc đó, chứ không phải là phủ định Phật tánh sẵn có
nơi ông.
919.
Tự độ.
Một
Phật tử đứng tránh mưa ở dưới mái hiên thấy một thiền
sư cầm dù đi qua bèn gọi lớn:
-
Thiền sư phổ độ chúng sanh, hãy cho con đi ké dù một quãng.
-
Ta đi dưới mưa, ngươi đứng ở dưới mái hiên. Ở dưới
mái hiên không mưa, ngươi không cần ta độ.
Phật
tử chạy ra:
-
Hiện con cũng ở dưới mưa, thầy có độ không?
-
Ngươi và ta đều ở dưới mưa, ta không bị ướt vì có dù
che, ngươi bị ướt vì không có dù che. Do đó dù độ ta,
ta không độ ngươi. Ngươi muốn được độ thì tìm dù, đừng
tìm ta.
Nói
rồi đi thẳng.
(Tinh
Vân thiền thoại)
Mình
có dù thì không bị ướt; kiến tự tánh thì không bị mê.
Trời mưa không mang dù muốn người khác giúp giống như không
chịu kiến tánh mà muốn người khác độ mình. Dùng dù mình
mà che mưa, dùng tự tánh mình mà tự độ. Thiền sư không
cho mượn dù là do lòng đại từ bi vậy.
920.
Là một, là ba.
Huyền
Sa hỏi Tuyết Phong:
-
Thầy có thiền trượng không, cho con hóa duyên một cái.
-
Ta có ba cái, ngươi hãy lấy một cái đi.
-
Mỗi người chỉ có một cái, vì sao thầy có 3 cái?
-
Mỗi cái đều có dụng xứ.
-
Phải là phải, con không có dụng pháp đó.
-
Ngươi dụng thế nào?
-
Là ba, là một.
-
Ba là ba, một là một, ba không phải là một, một không phải
là ba, là ba là một, là một là ba; chuyện này giống mảnh
ruộng mặc chúng trồng cấy, mọi người không nhờ đó mà
sống. Là một, là ba, sao ngươi chỉ nói là ba là một?
-
Thầy căn cứ vào đâu mà nói một mảnh ruộng?
Tuyết
Phong vạch một vạch trong không:
-
Nhìn coi! Đây là một mảnh ruộng.
-
Đúng thì đúng; con không nói thế.
-
Ngươi vì sao không nói thế.
-
Người nào sanh, người đó chết; người nào ăn người đó
no.
-
Dĩ nhiên là mọi người đều vậy; sao ngươi không dùng gậy
của mình mà đi mượn gậy của người khác?
-Đạt
Ma chẳng tới Đông thổ, Nhị tổ chẳng tới Tây phương.
Đến thì đến, đi thì đi; dùng gậy để giúp người, không
dùng để khốn người.
(Tinh
Vân thiền thoại)
Gậy
ở đây chỉ bản tánh mà mọi người đều có. Không thể
nói có, không thể nói không; không thể nói một sao có thể
nói ba. Ngươi không có gậy ta đoạt đi, ngươi có gậy ta
lại cho ngươi. Giữa các thiền sư chỉ là một đến, một
đi hà tất phân biệt hai, ba.
921.
Thân này ở đâu?
Một
ông tăng hỏi Thảo Đường:
-
Khi chưa có một pháp thì thân này ở đâu?
Sư
vẽ vòng tròn, trong viết chữ thân.
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
“Chưa
có một pháp” chỉ tự tánh không thể nghĩ bàn. Người ngộ
nhập tự tánh thì thấy bản thể và hiện tượng là một;
rời hiện tượng thì không thể có bản thể có thể cầu
được. Câu hỏi của ông tăng có nghĩa là ở thế giới tuyệt
đối còn thân này (hiện tượng) không? Cách hay nhất để
trả lời câu hỏi này là dẫn ông tăng ngộ nhập tự tánh.
Nếu ông tăng dùng lý luận mà cho rằng tác động của thiền
sư chỉ rằng thân này và tự tánh viên dung vô ngại thì đã
sai rồi.
922.
Tổ sư chưa tới.
Một
ông tăng hỏi Sùng Huệ:
-
Đạt Ma chưa tới Trung quốc, Trung Quốc có Phật pháp không?
-
Chuyện chưa tới gãy gác lại, còn chuyện ngày nay thì sao?
-
Con không hiểu, xin thầy chỉ thị.
-Vạn
cổ trường không, một sáng gió trăng.
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
Vạn
cổ chỉ thời gian vô cùng; trường không chỉ không gian vô
tận. Cả câu có nghĩa là Đạo vô biên giới, vượt lên thời,
không gian, là chân không. Một sáng gió trăng là chỉ bất
cứ sự việc gì trong trời đất đều đương thể tồn tại;
đó là diệu hữu, là cảnh giới giác ngộ tuyệt đối, không
còn ta, người vì chân không là diệu hữu, diệu hữu là chân
không. Vạn cổ là một buổi sáng, một buổi sáng là vạn
cổ. Vì vậy thiền sư không bàn chuyện “chưa đến” mà
chỉ bàn chuyện “ngày nay.” Nếu chuyện ngày nay đã rõ
thì đâu cần biết Đạt Ma tới hay không tới. Phật pháp
không đâu không có, không bị giới hạn bởi không gian và
thời gian. Do đó, Đạt Ma không mang Phật pháp tới Trung Quốc,
mà tới giúp người Trung Hoa thể hội tự tánh.
923.
Hồng!
1/
Có ông tăng hỏi Toàn Hoát:
-
Giếng sâu làm sao tới đáy?
-
Hồng!
2/Có
ông tăng hỏi An Phi:
-
Thế nào là tháp vô phùng?
-
Hồng!
-
3/Có
ông tăng hỏi Hưng Thánh quốc sư:
-
Thế nào là sự trong tông môn?
-
Hồng!
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
Cả
3 câu hỏi đều hỏi tự tánh là gì? Các thiền sư đều
dùng chữ “Hồng” mà đáp. Tiếng Hồng này cũng tương tự
như tiếng hét khiến thiền sinh giật mình; trong khoảng khắc
kinh ngạc ấy đoạn trừ tất cả mọi vọng tưởng, có cơ
hội tương ứng với Đạo.
924.
Bùa hộ mạng.
Đam
Nguyên hỏi quốc sư Huệ Trung:
-
Trăm năm sau, có người hỏi con sự cực tắc, con phải trả
lời làm sao?
-
Thật đáng thương! Còn muốn bùa hộ mạng để làm gì?
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
Tự
tánh lìa ngôn ngữ, vĩnh viễn không có một đáp án chính
xác, bùa hộ mạng chân chính cho Đam Nguyên là ông tự mình
thật chứng tự tánh.
925.
Một và hai.
Trong
lịch sử Phật giáo Trung Hoa, đạo sĩ của Đạo giáo thường
tranh luận, đấu pháp với các thiền sư. Có một đạo sĩ
hỏi Pháp Ấn:
-
Phật giáo các người dù dưới dạng thức nào so với Đạo
giáo cũng thua cả; bởi vì cảnh giới tối cao của Phật giáo
là nhất tâm, nhất thừa, nhất chân pháp giới, nhất Phật,
nhất Như Lai, đều là một cả. Trong khi đó Đạo giáo chúng
tôi cái gì cũng là hai như càn khôn, âm dương . . . Hai
thắng một, hai cao minh hơn một.
-
Có thật không? Có thật hai của các ngươi thắng một không?
-
Chỉ cần người nói một, chúng tôi sẽ nói hai, nhất định
thắng các người.
Pháp
Ấn liền nhấc một chân lên hỏi:
-
Bây giờ ta nhấc một chân lên, ngươi có nhấc được hai
chân lên không?
Đạo
sĩ không trả lời được.
(Tinh
Vân thiền thoại)
Phật
giáo Trung Hoa có 3 võ, 1 tông pháp nạn đều là do đạo sĩ
đố kỵ. Phật giáo chuộng hòa bình mà cũng không tránh khỏi,
ngay cả 1, 2 cũng là đề tài để tranh luận. Cách đối phó
của Pháp Ấn là ứng dụng xảo diệu của Thiền vậy.
926.
Ném gậy.
Một
ông tăng hỏi Nghĩa Đoan:
-
Thế nào là trực tiếp cắt đứt căn nguyên?
Thiền
sư ném gậy xuống đất, trở về phòng phương trượng.
(Thiền
sư khải ngộ pháp)
Câu
hỏi của ông tăng dẫn từ câu: “Trực tiệt căn nguyên Phật
sở ấn” của Vĩnh Gia Huyền Giác trong Chứng Đạo Ca (Thẳng
tận đầu nguồn phăng dấu Phật. Trúc Thiên dịch) là chỉ
trực tiếp cắt đứt căn nguyên của sanh tử. Sanh tử là
khái niệm của thế giới nhị nguyên, thuộc hiện tượng
giới. Nếu cắt đứt được căn nguyên của sanh tử thì thể
ngộ được tự tánh. Vì vậy câu hỏi: cắt đứt được
căn nguyên là thế nào, có nghĩa tự tánh là thế nào? Tự
tánh là cảnh giới không một sự việc, làm sao có sự tiếp
dẫn; do đó thiền sư ném gậy và về phòng. Nhìn về bề
ngoài thì là thiền sư từ chối không trả lời câu hỏi,
nhưng thật ra đó là cách dạy rất sinh động, bảo thiền
sinh phải nỗ lực để giác ngộ.
927.
Nhà điêu khắc.
Thanh
niên Quang Tạng lúc chưa học Phật, quyết tâm thành một
nhà
điêu khắc tượng Phật. Ông đặc biệt đến bái phỏng Đông
Vân, mong được thiền sư chỉ bảo cho những điều thường
thức về tượng Phật. Đông Vân gập mặt rồi, bảo ông
ra giếng múc nước. Đông Vân xem Quang Tạng múc nước xong,
to tiếng mắng chửi và đuổi đi. Lúc đó trời đã tối,
các đệ tử thấy tình cảnh ấy năn nỉ sư phụ cho Quang
Tạng lưu lại một đêm, sáng mai sẽ đi. Đông Vân đồng
ý. Đến nửa đêm Quang Tạng đang ngủ bị gọi dậy đến
gập Đông Vân. Thiền sư ôn tồn bảo:
-
Chắc ngươi không hiểu lý do chiều qua tại sao ta lại mắng
ngươi; nay ta bảo cho ngươi biết. Tượng Phật được mọi
người cúng lễ do đó tượng phải do người có tâm thành
kính tạc thì mới thành tượng Phật trang nghiêm. Ta thấy
ngươi múc nước để nước đổ ra ngoài thùng, tuy là chút
nước nhưng đó là phúc đức nhân duyên; nhưng ngươi không
thèm để ý, cái cách lãng phí không biết tiếc phúc ấy làm
sao có thể điêu khắc tượng Phật được?
Quang
Tạng nghe lời chỉ dạy cảm động, phản tỉnh, cuối cùng
xin nhập môn làm đệ tử, trở thành một nhà điêu khắc
nổi tiếng.
(Tinh
Vân thiền thoại)
Tâm
thành kính không phải chỉ để điêu khắc tượng Phật, bất
cứ làm gì cũng nên thành kính.
928.
Cắn không?
Thời
Đức Phật còn tại thế, có một vị tỳ khưu ni tên là Ưu
bà tiên na, một hôm đang ngồi thiền trong sơn động bỗng
lớn tiếng kêu gọi tôn giả Xá lợi phất ngồi thiền ở
động đối diện.
Khi
Xá lợi phất tới , bà nói:
-
Tôn giả Xá lợi phất! vừa rồi tôi ngồi thiền có vật
gì bò qua người, mới đầu không chú ý, sau nhìn lại thì
là một con rắn độc. Tôi bị nó cắn một miếng; tôi chắc
sắp chết rồi! Thừa lúc độc khí còn chưa phát xin ngài
từ bi chiêu tập đại chúng lân cận, tôi muốn cáo biệt
họ.
Xá
lợi phất nghe xong, nhìn kỹ Ưu bà tiên na nghi hoặc hỏi:
-
Có chuyện đó thật sao? Bị rắn cắn sao sắc mặt bà vẫn
bình thường vậy?
-
Tôn giả! Cái thân này là do tứ đại, ngũ uẩn tạo thành,
vốn không có chủ tể, vốn vô thường, do nhân duyên tụ
hội nên là không. Tôi đã hiểu đạo lý đó do vậy rắn
độc có thể cắn xác thân tôi, nhưng làm sao có thể cắn
không tuệ được?
Xá
lợi phất nghe rồi, tán thán:
-
Bà nói đúng lắm! Bà đã đạt đến bực giải thoát. Dù
sắc thân có bị đau đớn cũng có thể dùng huệ kiến chân
tâm bất biến. Người tu đạo phải điều tâm tiến vào Niết
Bàn bất sinh, bất diệt.
Chết
là chết đi sắc thân, không phải là chết đi chân ngã.
Đó
là dùng mắt trí tuệ mà nhìn thể tướng, ra khỏi nhà lửa,thật
tốt quá.
(Tinh
Vân thiền thoại)
Con
người vì sanh tử mà phiền não, sợ hãi. Nếu chứng được
thiền quán, hoặc khế nhập không huệ thì sẽ tiến vào cảnh
giới không sợ nữa. Như Ưu bà tiên na nói rắn độc có thể
cắn sắc thân nhưng làm sao có thể cắn không tuệ được?
Bậc
thánh sống trong cảnh giới chân thiện mỹ không phải là
lìa bỏ thế giới ta bà này mà tới cảnh giới tịnh độ,
chủ yếu là không tuệ thiền quán một khi chuyển thì một
sát na sẽ thành vĩnh viễn, ô uế thành thanh tịnh, phiền
não thành bồ đề, sanh tử thành niết bàn.
929.
Không gập được.
Tào
Sơn Bản Tịch lúc mới tới tham Động Sơn. Động Sơn hỏi:
-
Ngươi từ đâu tới?
-
Từ Tây Viện tới.
-
Xà lê tên gì?
-
Mỗ, giáp.
-
Nói rõ hơn một chút.
-
Không nói!
-
Vì sao không nói?
-
Vì tên con không là mỗ, giáp.
Động
Sơn vừa lòng, nhận Tào Sơn ở lại tham học, thường chỉ
thị pháp yếu cho ông. Một hôm Tào Sơn đến cáo biệt. Động
Sơn hỏi:
-
Ngươi định đi đâu?
-
Đi đến nơi không biến dịch.
-
Nơi không biến dịch lại có đi sao?
-
Không đi thì không biến.
Tào
Sơn thọ pháp rồi, đi giang hồ; chúng thỉnh trụ trì ở Vũ
Châu Cát Thủy sơn, sư cải tên là Tào Sơn, pháp độ ngày
càng thạnh, đồ chúng không dưới hai ngàn người. Nam Bình
Chung Lăng Vương nghe danh, 3 lần mời mà không đáp ứng do
đó Vương nổi giận bảo chuyên sứ:
-
Ngươi không mời được Tào Sơn đại sư đến, thì đừng
gập mặt ta!