NHỮNG
ĐOÁ HOA THIỀN
禪
之 花
QUYỂN TRUNG
661.
Lấy Đầu Làm Ghế.
Trong
thiền viện do Tiên Nhai trụ trì có một học tăng thường
lợi dụng đêm tối leo tường ra ngoài chơi.
Một
hôm, Tiên Nhai đi tuần trong chùa, phát hiện có một cái ghế
đẩu ở góc tường liền biết ngay có người đã leo tường
ra ngoài chơi. Ông không kinh động ai cả, tiện tay dời ghế
đẩu đi chỗ khác tự mình đứng ở chỗ ghế đó đợi học
tăng trở về. Đêm đã khuya học tăng đi chơi trở về, không
biết ghế đẩu đã bị dời chỗ, cứ đạp lên đầu thiền
sư mà nhẩy xuống. Xuống tới đất mới biết người mình
đạp lên đầu là Tiên Nhai thì kinh sợ, hoang mang không biết
làm sao cho phải, nhưng Tiên Nhai không có ý giận lại còn
an ủi:
-
Trời khuya, sương nhiều ngươi phải cẩn thận kẻo bị lạnh,
mau về phòng mặc thêm áo!
Sau
đó, tự viện không ai biết chuyện này. Tiên Nhai cũng không
đề cập đến, nhưng từ đó ban đêm không còn thấy ghế
đẩu đặt ở góc tường nữa.
(Nhất
Vị Thiền: Quyển Phong)
Ông
tăng đã được thiền sư dùng tâm từ cảm hóa.
662.
Hoằng Nhẫn.
Đạo
Tín sau khi được Tăng Xán truyền tâm ấn, một hôm trên đường
đến Hoàng Mai gập một đứa nhỏ khoảng 7 tuổi nói năng
kỳ lạ, bèn hỏi:
-
Ngươi tánh gì? (tiếng trung Hoa tánh là Họ)
-
Tánh thì có mà chẳng phải tánh thường.
-
Là tánh gì?
-
Phật tánh.
-
Ngươi không có tánh sao?
-
Vì tánh vốn không.
Đạo
Tín nói với tả, hữu:
-
Đứa nhỏ này rất phi phàm, sau khi ta diệt độ hai mươi năm,
sẽ đại hưng Phật pháp.
(Tổ
Đường Tập)
Công
án này nói về Phật tánh, siêu việt thời gian và không gian.
Nó có thể biểu thị bằng một vòng tròn Thiền. Vòng tròn
này hở vì không có trong, ngoài. Phật tánh có trong tất cả
chúng ta: kẻ hành quyết, nạn nhân, anh hùng, thục nữ, kẻ
sát nhân…ở tất cả mọi người, không có ngoại lệ.
(Barragato)
663.
Gạo Trắng Chưa?
Một
hôm, Hoằng Nhẫn đến nhà giã gạo hỏi Huệ Năng:
-
Gạo trắng chưa?
-
Trắng đã lâu, nhưng còn chưa sàng.
Hoằng
Nhẫn lấy gậy gõ vào cối ba cái rồi bỏ đi.
(Pháp
Bảo Đàn Kinh)
-
Gạo đã trắng chưa: gạo trong câu nói này chỉ tâm Huệ Năng.
Đã loại hết trấu và sạn chưa? Tâm ngươi đã thanh tịnh
chưa?
-
Trắng đã lâu nhưng còn chưa sàng: con đã ngộ rồi, nhưng
còn chờ thầy chứng cho thôi.
Hoằng
Nhẫn gõ vào cối ba cái là tỏ ý chấp nhận.
(Barragato)
664.
Tâm Như Hư Không.
Thiền
sư Trí Hoàng, sau khi tham phỏng Ngũ tổ Hoằng Nhẫn tự xưng
đạt được tâm tưởng bặt, duyên lự mất của thiền định
tam muội. Do đó ở trong am tập thiền hơn 20 năm. Đệ tử
của Huệ Năng là Huyền Sách, vân du đến Hà Bắc nghe danh
Trí Hoàng bèn đến thăm, hỏi rằng:
-
Ông ở đây làm gì?
-
Nhập định.
-
Ông nói nhập định là hữu tâm hay vô tâm nhập? Nếu là
vô tâm nhập định thì tất cả loài không tình thức như
cây cỏ, ngói gạch đều được định. Nếu là hữu tâm nhập
định thì tất cả chúng sanh hữu tình, hàm thức đều được
định rồi.
-
Khi tôi nhập định không thấy có hữu tâm, vô tâm.
-
Không thấy hữu tâm, vô tâm thì là thường định làm gì
còn có nhập định, xuất định. Nếu có xuất, nhập thì
chẳng phải là Đại Định.
Dưới
tay tướng giỏi, không có binh hèn. Kiến địa của Huyền
Sách làm cho Trí Hoàng không lời nào đối lại. Một lúc sau
mới hỏi:
-
Ông kế thừa pháp của vị nào?
-
Thầy tôi là Tào Khê Lục tổ.
-
Lục tổ lấy gì làm thiền định?
-
Thầy tôi nói diệu trạm viên tịch, thể dụng như như, năm
uẩn vốn không, sáu trần chẳng có, chẳng ra chẳng vào, chẳng
định chẳng loạn, thiền tánh vô trụ lià "trụ thiền
tịch.” Thiền tánh vô sanh, lìa "sinh Thiền tưởng.” Tâm
như hư không cũng không có số lượng hư không có thể đạt
được.
Trí
Hoàng nghe lời này rồi liền tự đến bái kiến Lục tổ.
Lục tổ hỏi:
-
Ngươi từ đâu tới?
Trí
Hoàng mang chuyện gập Huyền Sách kể lại. Lục tổ nói:
-
Thật đúng như vậy, nếu tâm ngươi như hư không, không chấp
không kiến, ứng dụng vô ngại, tâm không động tịnh, phàm
thánh đều quên, năng sở đều diệt, tánh tướng là một,
chẳng có định và hết định.
Trí
Hoàng nghe rồi đại ngộ, cái tâm sở đắc từ 20 năm tiêu
diệt không còn dấu vết.
(Nhất
Vị Thiền: Quyển Nguyệt)
Chấp
có pháp để đắc, có ngộ để chứng là chưa thật ngộ.
Thiền không rơi vào nhị biên có, không. Cũng không chấp ở
giữa. Nhị biên đã không có thì làm gì có trung gian? Không
thọ một hạt bụi, cũng không xả một pháp, thâu phóng tự
như.
665.
Bài Giảng Của Thiền Sư La Sơn.
Mân
Vương xây một tự viện cho thiền sư La Sơn và mời ông ban
cho một thời pháp vào ngày khánh thành. Ông lên giảng đàn,
khoác cà sa vào rồi cởi ra và nói:
-
Xin chào!
Nói
rồi xuống tòa giảng.
Mân
Vương lại gần ông và nói:
-
Bài giảng bữa nay của thầy cũng giống như bài giảng của
Thế Tôn ở núi Linh Thứu.
-
Tôi tưởng ngài không biết gì về giáo lý không ngờ ngài
cũng biết chút ít về thiền.
(Zen
Koans)
Bài
giảng được coi là hay nhất của đức Phật là bài giảng
ở núi Linh Thứu (sự tích niêm hoa vi tiếu). Bài giảng yên
lặng và sự truyền tâm ấn là sự khởi đầu của Thiền.
Mân Vương so sánh bài giảng của La Sơn và của đức Phật.
Nhưng thiền sư biết rằng người đi tìm chân lý sốt sắng
nhất luôn luôn đến với tâm không. Biết chút ít về Thiền
còn tệ hơn là không biết gì cả.
666.
Thầy Tôi Không Có Lời Này!
Có
người hỏi Triệu Châu:
-
Thế nào là ý tổ sư từ Tây sang?
-
Cây bách trước sân.
Lúc
đó vấn đáp này đã trở thành thoại đầu danh tiếng. Về
sau, Pháp Nhãn hỏi đệ tử trực truyền của Triệu Châu là
Giác Thiết Chủy:
-
Nghe nói Triệu Châu có câu "cây bách trước sân" có phải
không?
-
Thầy tôi không có lời này, xin đừng hủy báng ổng.
-
Ngươi thiệt là sư tử con, lời nói y hệt lão sư tử Triệu
Châu.
(Nhất Nhật Nhất Thiền Ngữ)
Cổ
nhân tán thưởng Giác Thiết Chủy rằng:"Con tốt không sài
tiền cha." Câu nói "Thầy tôi không có lời này" của Giác
Thiết Chủy cũng giống như câu nói của Triệu Châu "Cây bách
trước sân" đều rất sinh động.
667.
Hoàng Long Tam Quan.
Hoàng
Long khi thấy người tới bèn duỗi tay ra hỏi:
-
Tay ta sao giống tay Phật?
Nếu
trả lời một câu thiền sư liền duỗi chân ra hỏi:
-
Chân ta sao giống chân lừa?
Sau
đó lại hỏi:
-
Cái nào là sinh duyên của thượng tọa?
(Minh
Tâm Kiến Tánh Thoại Thiền Tông)
Câu
thứ nhất là so sánh người với Phật.
Câu
thứ hai là so sánh người với súc vật.
Tổng
hợp lại là Tâm, Phật, chúng sanh không có sai biệt.
Hai
câu đầu đề thị học nhân: chúng sanh đều có Phật tánh,
cho nên không thể coi thường mình và chúng sanh. Sau đó tham
câu thứ ba, coi khuôn mặt xưa nay của mình là cái gì? Đó
là cái trong Đàn Kinh, Lục tổ nói: chẳng nghĩ thiện (Phật),
chẳng nghĩ ác (lừa), lúc đó cái gì là khuôn mặt xưa nay
(sinh duyên).
668.
Vạn Dậm Không Tấc Cỏ.
Động
Sơn bảo đại chúng rằng:
-
Đầu Thu, cuối Hạ các huynh đệ hoặc đi Đông hoặc đi Tây,
nên hướng thẳng vào nơi vạn lý không tấc cỏ mà đi.
Lại
nói:
-
Nơi vạn lý không tấc cỏ làm sao đi?
Về
sau có ông tăng đến Lưu Dương, kể lại cho Thạch Sương
nghe. Thạch Sương bảo:
-
Ra cửa liền là cỏ.
Ông
tăng trở về trình lên Động Sơn. Động Sơn nói:
-
Trong nước Đại Đường có được mấy người?
(Bình
Thường Tâm Thị Đạo)
Vạn
dậm không tấc cỏ mọc là chỉ sa mạc hay sao? Dĩ nhiên không
thể căn cứ vào chữ mà giải thích được. Đây là diễn
tả cảnh giới không tịch của tự tánh, rộng lớn vô biên,
siêu việt hình tượng. Lại sợ đại chúng kẹt vào câu nói
nên lại nói "làm sao đi?" là ý ở ngoài lời nói. Câu "Ra
cửa liền là cỏ" của Thạch Sương là nói ngoài "không giới"
là sắc giới, những người chưa ngộ đạo ra cửa liền gập
cỏ.
"Trong
nước Đại Đường có được mấy người" là lời Động
Sơn khen ngợi Thạch Sương đã hiểu ý mình.
669.
Ngàn Mắt, Ngàn Tay.
Nhân
một ngày đến Hà Bắc, phủ chủ Vương Thường Thị mời
Lâm Tế thượng đường nói pháp. Ma Cốc bước ra hỏi:
-
Quán Thế Âm ngàn mắt, ngàn tay, mắt nào là chánh?
Lâm
Tế đáp:
-
Quán Thế Âm ngàn mắt, ngàn tay, mắt nào là chánh? Nói mau!
Nói mau!
Ma
Cốc kéo sư xuống ngồi vào chỗ của sư.
Sư
lại gần chào:
-
Ngươi mạnh chăng?
Ma
Cốc định nói , sư kéo Ma Cốc ra, ngồi vào chỗ cũ. Ma Cốc
đi ra, sư cũng hạ đường.
(Lâm
Tế Lục)
Tượng
bồ tát Quán Thế Âm tượng trưng cho lòng từ bi, có một
ngàn tay, một ngàn mắt. Một ngàn mắt để nhìn thấy những
người đang cần cứu và một ngàn tay giơ ra để giúp. Một
vài tượng có mười một mặt để có thể nhìn khắp mọi
nơi. Lâm Tế lập lại câu hỏi của Ma Cốc, chỉ thêm vào
mấy chữ :"Nói mau! Nói Mau!"
Lâm
Tế lấy câu hỏi của Ma cốc, do đó Ma Cốc lấy chỗ ngồi
của Lâm Tế (chủ, khách đảo ngược). Sau đó Lâm Tế chiếm
lại chỗ ngồi (chủ khách không khác). Ngàn mắt của Quán
Thế Âm mắt nào cũng là chánh. Chúng ta có 2 mắt, mắt nào
cũng thật, không ai hỏi mắt nào là giả. Một câu hỏi như
vậy thật vô nghĩa.
(Kubose)
670.
Lâm Tế Phỏng Vấn Tam Phong.
Lâm
Tế tới Tam Phong, Bình hoà thượng hỏi:
-
Từ đâu tới?
-
Từ Hoàng Bá.
-
Hoàng Bá nói gì? (1)
-
Hôm qua cho trâu vàng vào lò nấu chẩy không còn dấu vết.
-
Gió vàng thổi tiêu ngọc, ai là kẻ tri âm? (2)
-
Qua vạn cửa không ngừng ở thanh không.
-
Câu đối thoại của ngươi thực cao thâm! (3)
-
Rồng sanh phụng hoàng vàng, xung phá sóng nước xanh.
-
Mời uống trà!
Bình
hòa thượng lại hỏi:
-
Gần đây ngươi đi đâu?
-
Long Quang.
-
Long Quang thế nào rồi?
Lâm
Tế không đáp, đi ra.
(Lâm
Tế Lục)
Đoạn
vấn đáp (1):
Hoàng
Bá nói gì?
-
Hoàng Bá dạy ta chân lý tột cùng, nhị nguyên đối đãi biến
mất không còn dấu vết.
Đoạn
vấn đáp (2):
-
Dĩ nhiên giáo lý của Hoàng Bá cao siêu, nhưng ngươi có thực
sự hiểu không?
-
Không những ta hiểu mà còn vượt lên trên nữa kìa!
Đoạn
vấn đáp (3):
-
Ngươi đã rời khỏi tầm tay!
-
Con rồng Hoàng Bá sanh con phượng Lâm Tế, đã đạt tới cảnh
giới cao nhất.
Bình
hòa thượng ngưng tranh luận.
(Akizuki,
dẫn theo Watson)
671.
Cây Gậy Lớn Của Cảnh Thanh.
Cảnh
Thanh hỏi một ông tăng mới đến, từ đâu lại. Ông tăng
đáp:
-
Từ ba núi.
-
Lần kết hạ cuối ở đâu?
-
Từ năm non.
-
Ta sẽ cho ngươi 30 gậy.
-
Sao lại đánh con?
-
Vì ngươi hết đi từ thiền viện này lại sang thiền viện
khác.
(Zen
Koans)
Có
lẽ ông tăng này chỉ đơn giản thích đi loanh quanh các thiền
viện. Mặt khác, có thể ông đang đi tìm một vị thầy tốt.
Một vị thầy tốt sẽ biết ngay phẩm chất của đồ đệ.
Kỷ luật thiền rất nghiêm ngặt, bất cứ chấp vào một
cái gì cũng đều bị đánh.
672.
Giọt Nước Tào Khê.
Một
ông tăng hỏi Pháp Nhãn:
-
Thế nào là giọt nước Tào Khê?
-
Là giọt nước Tào Khê!
(Zen
Koans)
Thiền
bắt đầu ở Trung Hoa với Bồ Đề Đạt Ma (năm 520) và đạt
đến sung mãn với Huệ Năng. Vì vậy, câu hỏi có nghĩa là
cốt tủy của thiền là gì? Ông tăng chờ đợi được nghe
những giảng dạy cao siêu, nhưng Pháp Nhãn chỉ lập lại câu
hỏi. Thường thường câu trả lời đã nằm sẵn trong câu
hỏi. Nước là nước dù ở đâu. Thiền ở khắp mọi nơi.
Tất cả mọi sự vật đều là thiền. Dầu ta có bỏ chữ
Thiền đi, Thiền vẫn ở đấy không cần phải dán nhãn Cồ
Đàm, Đạt Ma, chúng ta.
673.
- Chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai đang thuyết pháp gì
vậy?
-
Chíp chíp (tiếng sẻ), meo meo (tiếng mèo) gâu gâu (tiếng chó).
(Chích
Thủ Chi Thanh)
Câu
trả lời nhấn mạnh ở đây, bây giờ.
674.
- Hãy chỉ cho ta cái cây không lay động trong cơn gió mạnh.
Ông
tăng đứng dậy, thân ngả tới ngả lui, hai tay vung trong không
khí, miệng kêu vi vu.
(Chích
Thủ Chi Thanh)
Nếu
ngươi đứng yên , ngươi đã bị động (tâm ngươi động
vì có ý kháng cự lại với gió). Nếu ngươi động theo gió,
ngươi không động (vì tâm ngươi không động).
675.
Văn Thù cưỡi sư tử, Phổ Hiền cưỡi voi trắng, còn Thích
Ca cưỡi gì?
-
Con ngồi thiền trên một cái nệm rách, bất động.
(Chích
Thủ Chi Thanh)
Ông
tăng không thèm để ý đến lịch sử và thần thoại, ông
chỉ biết Phật hiện tại (là ông và thiền sư).
676.
Đã nghe được tiếng vỗ của một bàn tay, hãy đưa chứng
cớ ra coi!
677.
Nghe được tiếng vỗ của một bàn tay, khai ngộ thành Phật,
xin hỏi làm sao làm Phật?
678.
Khi ngươi đã biến thành tro, còn nghe được tiếng vỗ của
một bàn tay không?
(Chích
Thủ Chi Thanh)
Trong
cả ba công án trên, ông tăng không nói chỉ giơ một bàn tay
ra phía trước.
Trong
công án 676, ông tăng không bị chứng cớ trói buộc, chỉ
ám thị là thế đó.
Trong
công án 677, ông tăng không bị mê, ngộ trói buộc, ám thị
ở đây, bây giờ.
Trong
công án 678, ông tăng không bị sanh, tử trói buộc. Khái niệm
sau khi chết chỉ có khi ta còn sống.
679.
Bàn tay này (tức bàn tay cho tiếng vỗ) có bị xuy mao kiếm
chặt đứt không?
-
Không chặt được.
(Chích
Thủ Chi Thanh)
Ông
tăng vừa nói không chặt được vừa giơ một bàn tay
ra. Chặt không được vì chặt không ta lại được không.
680.
Thế nào là sáng tới Tây Thiên, chiều về Đông Độ?
Ông
tăng đi tới đi lui trong phòng và nhắc lại sáng tới Tây
Thiên, chiều về Đông Độ.
(Chích
Thủ Chi Thanh)
Ông
tăng không bị thời gian (sáng, chiều) và không gian (Tây Thiên,
Đông Độ) trói buộc, chỉ phản ứng lại với Đi và Về.
681.
Thế nào là tiếng không tiếng của một bàn tay?
Ông
tăng không nói, đứng dậy lạy rồi lại ngồi xuống.
(Chích
Thủ Chi Thanh)
Trong
nghi thức chào hỏi Nhật Bản, ngoài động tác còn kèm theo
lời chào hỏi. Ở đây ông tăng chỉ dùng động tác không
nói là để diễn tả tiếng không tiếng.
682.
Cảnh Giới Giáp Sơn.
Có
ông tăng hỏi Giáp Sơn:
-
Thế nào là cảnh Giáp Sơn?
Giáp
Sơn trả lời bằng một câu kệ:
猿
抱 子 歸 青 嶂 後
Viên
bão tử quy thanh chướng hậu
鳥
啣 花 落 碧 巖 前
Điểu
hàm hoa lạc bích nham tiền
Vượn
ẵm con về sau núi biếc
Chim
tha hoa rụng trước non xanh.
(Thích
Thanh Từ dịch)
(Thiền
Ngộ)
Ông
tăng hỏi Cảnh giới giác ngộ của Giáp Sơn. Câu đáp của
Giáp Sơn cho biết Vô Tâm là giác ngộ, muốn vậy phải từ
bỏ Tâm phân biệt.
683.
Vạn Dặm Không Một Cụm Mây.
(Thiền
Ngộ)
Vạn
dặm không một cụm mây chỉ cảnh giới giác ngộ. Mây chỉ
phiền não. Mặt trời, mặt trăng dụ cho Phật tánh, bị mây
che không nhìn thấy được. Muốn thấy được mặt trời,
mặt trăng chỉ cần gió thổi, mây tan. Gió ở đây là Bát
Chánh Đạo, trong đó Chánh Định là đại biểu.
684.
Ngựa Trắng Vào Đám Hoa Lau.
(Thiền
Ngộ)
Hoa
lau mầu trắng, ngựa cũng mầu trắng. Khi ngựa vào khóm lau
ta khó phân biệt đâu là ngựa, đâu là hoa. Câu này cũng như
câu “Tuyết đầy chén bạc”, đều chỉ Thiên Địa vạn
vật khách quan và tự ngã chủ quan đều cùng một thể.
685.
Đè đầu trâu bắt ăn cỏ.
(Thiền Ngộ)
Đây
là chỉ cưỡng bức trâu no phải ăn cỏ. Ý là cơ duyên chưa
chín mùi, dù dụng công thế nào cũng không liễu ngộ được.
686.
Thế Tôn Chẳng Nói, Ca Diếp Chẳng Nghe.
(Thiền
Ngộ)
Đây
là dẫn sự tích “niêm hoa vi tiếu.” Sự thực thì Thế
Tôn nói rất nhiều và Ca Diếp chú ý nghe. Nói cách khác, cảnh
giới chân chính giác ngộ không thể dùng lời mà thuyết minh
được; chỉ dùng tâm truyền tâm.
687.
Vũ Trụ Không Hai Mặt Trời, Càn Khôn Chỉ Một Người.
(Thiền
Ngộ)
Vũ
chỉ không gian; trụ chỉ thời gian, càn chỉ trời, khôn chỉ
đất. Đây là cảnh giới sau khi lãnh ngộ rồi, câu này cũng
tương tự như câu “duy ngã độc tôn.”
688.
Một Tiếng Sấm Động, Gió Mát Khởi.
(Thiền
Ngộ)
Sau
cơn mưa gió sấm chớp, phiền não và vọng tưởng đều bị
rửa sạch, tiến vào ngộ cảnh thanh tịnh.
689.
Mộng.
Trạch
Am thiền sư sắp mất, chúng đệ tử xin ngài cho một bài
kệ phó pháp. Thiền sư bèn viết một chữ Mộng rất lớn,
bên cạnh đề hàng chữ nhỏ:
Thị
là mộng , phi cũng là mộng
Di
Lặc là mộng , Quán Âm cũng
là mộng.
Phật
nói nên quán như thế!
Sau
đó liền mất
(Thiền
Ngộ)
Ý
của Trạch Am là coi sự vật hữu hình và vô hình ở thế
gian là mộng, do đó thoát ly được những nhận thức tương
đối của thế gian và tiến vào cảnh giới giác ngộ.
690.
Trúc Rậm Không Ngăn Nước Chẩy
Núi Cao Chẳng Cản Mây Bay.
(Thiền
Ngộ)
Nước,
trúc, núi, mây đều tự nhiên vô tâm; do đó không bị sự
vật gì làm trở ngại. Tâm Kinh có nói: “Cố tâm vô quái
ngại” là chỉ vô tâm thì không bị trở ngại. Chỉ khi nào
tự giác tất cả đều không thì mới đạt được tâm cảnh
“Trúc rậm không ngăn nước chẩy.”
691.
Vân Cư.
Vân
Cư đến tham Động Sơn. Động Sơn hỏi:
-
Tên ngươi là gì?
-
Vân Cư.
-
Nói lên trên.
-
Nói lên trên thì chẳng phải là Vân Cư.
-
Lời nói của ngươi cũng giống như câu trả lời của
ta khi đến Vân Nham.
(Zen
Light)
Có
tên là có phân biệt. Chúng ta sống ở trong thế giới nhị
nguyên đối đãi, ở thế giới danh tướng. Chúng ta nên biết
rằng còn có thế giới không danh tướng. Danh tướng chỉ
là tương đối, luôn thay đổi và không thật. Chân lý không
có tên, không chỗ, không vật.
Khi
chúng ta ở trong một phòng sáng chúng ta không cần mở đèn.
692.
Chuông Kêu.
Một
lần nghe gió thổi làm chuông kêu, Tăng Già Nan Đề hỏi Già
Da Xá Đa:
-
Chuông kêu hay gió kêu?
-
Chẳng phải chuông hay gió kêu mà là tâm con kêu.
-
Tâm như thế nào?
-
Thẩy đều im lặng.
-
Tốt, ngươi sẽ nối pháp ta!
(Zen
Light)
Công
án này có thể là nguồn gốc của công án gió động hay cờ
động trong Vô Môn Quan (xem Công án số 95). Khi ta nhìn một
sự vật bên ngoài chúng ta đã có sự phân biệt chủ thể
và đối tượng. Có phân biệt là có đối đãi: Chúng ta đang
sống trong thế giới hư vọng.
Samuel
Johnson đạp mạnh ngón chân cái trên một hòn đá và kêu lên
Ối! Làm thế ông đã chứng minh được sự hiện hữu của
ngón chân, hòn đá và sự đau đớn. Lúc đó không phải chỉ
có tiếng ối hay sao? Tiếng ối đó không phải là sự hợp
nhất của ngón chân, hòn đá và sự đau đớn hay sao? Tiếng
ối đó đã chứng minh sự không thể tách rời chủ thể và
đối tượng, tất cả là tiếng ối đó. Ối! là toàn
thể vũ trụ. Ối!
693.
Vân Nham.
Vân
Nham tham học với Bách Trượng hai mươi năm, sau lại đến
học với Dược Sơn. Dược Sơn hỏi:
-
Bách Trượng dạy pháp gì?
-
Có lần, thiền sư thượng đường, đại chúng sắp thành
hàng, Bách Trượng cầm gậy sua mọi người đi hết sau đó
lại gọi: “Đại chúng!” Đại chúng xoay đầu lại, Bách
Trượng nói: “Là cái gì.”
Dược
Sơn bảo:
-
Sao ngươi không nói sớm, hôm nay nghe ngươi kể lại, ta được
thấy
Hải huynh.
Ngay
câu nói ấy, Vân Nham tỉnh ngộ.
(Zen
Light)
Mục
đích của thiền là ngộ. Thiền sư dùng đủ mọi cách để
thiền sinh đạt tới đích này. Đôi khi cách thức có vẻ
kỳ lạ nhưng chỉ là muốn thiền sinh vượt qua những lề
thói thông thường. Trong công án này, Bách Trượng không giảng
cho một thời pháp, dùng gậy đuổi đại chúng đi, sau đó
lại hỏi là cái gì? Ông ám chỉ phải buông bỏ tất cả
những thành tựu, học vấn . . . vì tất cả chỉ là
không, ngay cả cái không này cũng phải bỏ thì mới có thể
ngộ, Lúc đó Vân Nham còn chưa tỉnh chỉ sau khi nghe lời nói
của Dược Sơn ông mới thực sự giác ngộ.
694.
Bảo Tích.
Bảo
Tích một hôm ra khỏi cửa thấy một đám tang, người hát
thuê rung chuông hát rằng:
Vầng
hồng quyết định lặn về Tây
Chưa
biết ủy hồn hướng về đâu?
Người
con hiếu ở dưới màn khóc hu hu, sư bỗng nhiên thân tâm vui
mừng, khai ngộ.
(Niêm
Hoa Vi Tiếu)
Chữ
bỗng nhiên này thật sinh động, diễn tả thiền sư trong tình
huống ngẫu nhiên mà ngộ. Trải bao thời gian tìm tòi, cuối
cùng trong lúc vô ý như một tia điện chớp lòe đạt tới
tâm phát sáng, chiếu cả mười phương. Các thiền sư không
thể nào giải thích tại sao tại lúc đó mà không tại lúc
khác, ở trong tình huống đó mà không ở trong tình huống
khác, mà bỗng nhiên khai ngộ, chỉ tự mình thể hội.
695.
Đại Đường Đánh Trống Tân La Múa.
(Thiền
Ngộ)
Biểu
thị sự lãnh ngộ.Thiên địa nhất thể, siêu việt không
gian và thời gian. Cũng để chỉ 2 người bạn tuy xa cách nhau
trong không gian nhưng tâm ý tương thông.
696.
Suối Sâu Dùng Gáo Cán Dài.
(Thiền
Ngộ)
Dùng
gáo để múc nước suối. Suối cạn dùng gáo cán ngắn, suối
sâu dùng gáo cán dài. Trong Phật giáo có câu: “Ứng cơ thuyết
pháp,” nghĩa là tùy theo căn cơ của người nghe mà thuyết
pháp. Đối với người ngu thì dùng lời lẽ thông thường,
còn người thông minh thì dùng lý lẽ cao siêu của Phật lý
mà giảng. Cũng tỷ như dùng dao mổ trâu mà làm gà hoặc ngược
lại dùng dao giết gà mà mổ trâu thì không thuận lợi.
697.
Bên Ngọn Lửa Hồng Không Chủ Khách.
(Thiền
Ngộ)
Ý
là khi ngồi sưởi ấm bên ngọn lửa thì không phân biệt
ai là chủ, ai là khách. Chủ là chủ thể, khách là khách thể,
tuy có sai biệt nhưng vẫn tương đồng, cũng như con người
ai cũng có Phật tánh.
698.
Trăng Mọc Trên Biển , Bao Người Lên Lầu.
Nếu
muốn ngắm trăng mọc trên biển thì phải lên lầu cao, ý
nói nếu có một người đức cao vọng trọng xuất hiện,
mọi người đều tôn kính và ngưỡng vọng.
699.
Dép Cỏ Rách.
(Thiền
Ngộ)
Dép
cỏ dùng để đi đường cho khỏi đau chân, rách rồi thì
phải vứt bỏ nếu cứ khư khư giữ bên mình thì chỉ làm
trở ngại. Cũng vậy, văn tự, công án dùng để thức tỉnh,
ngộ rồi thì phải bỏ.
700.
Mây Bay, Nước Chẩy.
(Thiền
Ngộ)
Mây
tự do bay lượn, gió cuốn tới đâu thì tới, không bị bó
buộc. Nước chẩy không ngừng. Câu này ý nói người tu hành
tự do, tự tại đi khắp nơi tìm thầy hay, bạn giỏi để
học hỏi. Do đó, người ta thường gọi các ông du tăng là
hành vân lưu thủy tăng hay vân thủy tăng.
701.
Bài Kệ Phó Pháp Của Ma Noa La Tôn Giả:
心
隨 萬 境 轉
Tâm
tùy vạn cảnh chuyển
轉
處 實 能 幽
Chuyển
xứ thật năng u
隨
流 性 認 得
Tùy
lưu tánh nhận đắc
無
喜 亦 無 憂
Vô
hỷ diệc vô ưu
Tâm
theo muôn cảnh chuyển
Chỗ
chuyển thật kín sâu
Theo
dòng nhận được tánh
Không
mừng cũng không lo.
(Thích
Thanh Từ dịch)
(Thiền
Ngộ)
Thông
thường con người bị ngoại giới mê hoặc, có lúc cảm thấy
vui, có lúc cảm thấy buồn, đó đều là do nhân duyên cả.
Nếu như sống trong thế giới vô thường này mà có thể vô
tâm và vô ngã thì sẽ được tự do vô ngại.
702.
Trực Tâm là Đạo trường.
Một
hôm Quang Nghiêm đồng tử lìa bỏ nơi náo nhiệt, tìm một
chỗ thanh tịnh để tu hành, ngẫu nhiên gập Duy Ma Cật, bèn
hỏi:
-
Cư sĩ từ đâu lại?
-
Ta từ đạo tràng lại.
-
Đạo trường ở đâu vậy?
-
Trực tâm là đạo trường.
(Thiền
Ngộ)
Người
thường khi đề cập đến tu hành phần lớn đều nghĩ đến
tìm một chỗ thanh tịnh, xa rời nhân quần để tu tập. Nhưng
nếu tâm còn phân biệt, vọng tưởng thì bất cứ đi đến
đâu cũng không thể nào tới được đạo trường. Đạo trường
ở đây không phải là chỉ cơ sở mà là chỉ tâm cảnh.
703.
Bõm.
Phật
Đính hòa thượng đến thăm thi sĩ Ba Tiêu. Hòa thượng biết
Ba Tiêu đã khai ngộ, tới nơi bèn hỏi:
-
Gần đây có chuyện gì tốt chăng?
-
Mưa xuống rêu xanh tươi.
-
Khi rêu chưa mọc, Phật pháp thế nào?
Ba
Tiêu trả lời bằng một bài hài cú:
Mặt ao cũ yên lặng
Một con ếch nhẩy vào
Bõm!
(Đồ
Giải Thiền vấn đáp)
Trong
thế giới Thiền - thế giới của tự tánh- không có sự phân
biệt có hay không có giá trị; không quan trọng hay quan trọng.
Bất cứ sự việc gì dù tầm thường hay có vẻ vô ý nghĩa
cũng có thể làm thức dậy sự tỉnh thức đang ngủ. Con ếch
trong tâm Ba Tiêu, khi nhẩy xuống ao đã tạo nên những vòng
tròn lan ra mặt nước, vượt qua ao, qua mặt trăng, mặt trời,
qua những vì sao xa nhất, vượt lên không gian. Và nó cũng
chìm sâu hơn Ba Tiêu, Bồ Đề Đạt Ma, Thích Già Mâu Ni trong
cảnh giới không thời.
(Marian
Mountain)
704.
Một bài thơ Xuân.
Một
vị tỳ khưu ni đời đường sau khi đi khắp nơi tham học,
khai ngộ rồi viết bài thơ sau:
盡
日 尋 春 不 見 春
Tận
nhật tầm xuân bất kiến xuân
芒
鞋 踏 破 嶺 頭 雲
Mang
hài đạp phá lãnh đầu vân
歸
來 偶 把 梅 花 嗅
Quy
lai ngẫu bả mai hoa khứu
春
在 枝 頭 已 十 分
Xuân
tại Chi đầu dĩ thập phần
某 尼
Mỗ Ni
Trọn
buổi tìm Xuân chẳng thấy Xuân
Giầy
cỏ dẫm khắp mây đầu non
Trở
về bỗng qua dưới hoa mai
Xuân
ở đầu cành đà mười phần.
(Đồ Nam dịch)
(Thanh
Tịnh lưu ly)
Chúng
ta cầu đạo cũng như đi tìm xuân. Cả ngày đi khắp sơn cùng,
thủy tận, mòn cả dép mà cũng chẳng thấy xuân ở đâu.
Đến khi trở về, ngửi thấy mùi thơm của hoa mai trong vườn
mới biết xuân đã tới rồi. Bài thơ này thuyết minh chúng
ta đi tìm chân lý, trí tuệ, tìm hoài mà vẫn không thấy vì
không biết hướng nội.
705.
Chị dâu Mã Tổ.
Đời
Đường, thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất chứng đạo rồi trở
về quê cũ. Bà chị dâu ông rất kính trọng ông, coi như bậc
thầy và cầu đạo với ông. Mã Tổ bảo:
-
Tẩu tẩu hãy lấy một quả trứng gà, dùng dây treo giữa
khoảng không, hàng ngày chú ý lắng nghe, chỉ cần nghe thấy
quả trứng phát ra tiếng là ngộ đạo.
Bà
chị dâu tin đó là thực, hàng ngày chú ý lắng nghe không
hề trễ nải. Đã nhiều năm trôi qua rồi mà vẫn không nghe
được âm thanh nào của quả trứng phát ra cả. Dần dần,
sợi dây treo quả trứng bị mục nát; một hôm đứt ra, quả
trứng rớt bạch xuống đất. Bà chị dâu nghe rồi liền ngộ:
nguyên lai vật ngã là một.
(Thanh
Tịnh Lưu Ly)
Tiếng
“bạch” đó giúp bà chị dâu Mã Tổ đả phá trong ngoài,
nhân ngã, đạt tới cảnh giới như như.
706.
Kim Bích Phong.
Kim
Bích Phong tuy đã ngộ đạo, có thể buông bỏ tất cả tham
ái,
tuy
nhiên ông rất thích cái bát ngọc để ăn cơm.
Trước
khi nhập định, đều cất cái bát ngọc cẩn thận rồi mới
an tâm ngồi thiền.
Một
hôm, Diêm Vương thấy thọ mạng của ông đã dứt, bèn sai
vài tên tiểu quỷ đến bắt. Kim Bích Phong biết trước thời
đã tới, bèn nhập vào cảnh giới thiền định rất sâu.
Các tên tiểu quỷ đợi một hôm, hai hôm rồi đợi mãi mà
vẫn không thấy ông xuất định, không biết làm sao về tâu
với Diêm Vương bèn đi hỏi thổ địa lập kế nào để Kim
Bích Phong xuất định. Thổ Địa nói:
-
Kim Bích Phong rất thích cái bát ngọc, nếu các ngươi
lấy được bát ngọc, nhất định ông ta sẽ xuất định.
Lũ
tiểu quỷ vội đi lấy bát ngọc, dùng hết sức lay động
làm bát kêu keng keng.
Kim
Bích Phong nghe tiếng vội xuất định. Lũ tiểu quỷ vỗ tay
cười:
-
Được rồi! Bây giờ mời ông đi gặp Diêm Vương.
Kim
Bích Phong trong sát na đó đại ngộ, hiểu rằng chỉ vì một
chút tham ái mà hủy diệt thiên cổ tuệ mạng. Ông bèn ném
bát ngọc vỡ tan và lập tức nhập định vào cảnh giới
niết bàn.
(Thanh
Tịnh Lưu Ly)
Nếu
còn một chút tham ái dù rất nhỏ cũng không thể vào niết
bàn thanh tịnh được.
707.
Linh Quyển.
Linh
Quyển đến tham phỏng Quy Tông hỏi:
-
Phật là gì?
-
Không thể nói cho ngươi biết vì ngươi không tin. Nếu ngươi
tin thì lại gần đây ta bảo cho.
Linh
Quyển bước lại gần, quy Tông ghé tai thì thầm:
-
Chính là ngươi!
(Thanh Tịnh Lưu Ly)
Học
thiền cần có ngộ tánh linh xảo , lại cần phải có tính
khôi hài nữa.
708.
Phật là ai?
Có
ông tăng hỏi Bách Trượng:
-
Phật là ai?
Bách
Trượng hỏi ngược lại:
-
Ngươi là ai?
(Thanh
Tịnh Lưu Ly)
Câu
trả lời của Bách Trượng rõ ràng chỉ rằng mình là Phật
lại còn đi hỏi ai nữa?
709.
Bài kệ của Bố Đại.
Bố
Đại hòa thượng có bài kệ:
手
把 青 苖 插 滿 田
Thủ
bả thanh miêu tráp mãn điền
低
頭 便 見 水 中 天
Đê
đầu tiện kiến thủy trung thiên
六
根 清 淨 方 為 道
Lục
căn thanh tịnh phương vi đạo
退
步 原 來 是 向 前
Thối
bộ nguyên lai thị hướng tiền
Tay
cấy mạ non đầy cả đồng
Cúi
đầu thấy trời trong vũng nước
Sáu
căn thanh tịnh Đạo mới thông
Lùi
về sau là tiến tới trước.
(Ngộ
Không dịch)
(Thanh
Tịnh Lưu Ly)
Người
thường hay có khuynh hướng nhìn cao chẳng nhìn thấp, cầu
xa chẳng cầu gần. Bài kệ này nói cho chúng ta biết từ gần
có thể thấy xa, thối lui chính là tiến bước.
710.
An Lạc.
Có
ông tăng đang ngồi thiền, một vị ngoại đạo đến hỏi:
-
Có phải ông tu để kiếp sau an lạc không?
-
Không, tôi tu để kiếp này an lạc!
(Thanh
Tịnh Lưu Ly)
Sự
an lạc ở Niết Bàn không phải chết rồi mới được, mà
là dập tắt mọi phiền não.
711.
Duy Khoan.
Có
ông tăng hỏi Duy Khoan:
-
Đạo ở đâu?
-
Chỉ ngay trước mắt.
-
Sao con không thấy?
-
Vì ngươi có “ngã” nên không thấy.
-
Con có “ngã” nên không thấy, còn hòa thượng có thấy không?
-
Có ta có ngươi thao thức nên không thấy.
-
Không con, không hòa thượng lại thấy chăng?
-
Không ta, không ngươi thì ai cầu thấy!
(Thanh
Tịnh Lưu Ly)
Khi
ta có thể an trú ở vô nhân ngã, vô đối đãi thì ta và hư
không là một. Tâm, Phật, chúng sinh vốn không sai biệt. Phật,
chúng sinh, vạn vật đều ở trong tâm ta. Ngoài tâm nào có
chúng sinh. Nói là độ chúng sinh nhưng không có một chúng
sinh nào để độ.
712.
Tiết Giản.
Tiết
Giản hỏi lục tổ:
-
Hiện ở kinh thành các đại đức tham thiền đều nói nếu
muốn giác ngộ phải tọa thiền, tập định. Xin hỏi đại
sư có cao kiến gì?
-
Đạo do tâm ngộ, há phải tại ngồi sao?
(Thanh
Tịnh Lưu Ly)
Đi,
đứng, nằm, ngồi, gánh nước , bửa củi, chau mày, chớp
mắt, nhất cử nhất động đều có thể làm đốn ngộ. Mài
gạch không thể thành gương, tọa thiền chẳng thể thành
Phật. Tham thiền cầu đạo điều quan trọng là giác ngộ
chân tâm, bản tánh.
713.
Đốn, tiệm.
Đường
Tuyên Tông hỏi Hoàng Biện:
-
Thế nào là đốn, là tiệm?
-
Đốn là thấy rõ tự tánh, đồng thọ với Phật, nhưng từ
vô thủy tâm đã bị tập nhiễm nên phải dùng tiệm để
trị, thuận theo tánh mà khởi dụng như người ăn cơm chẳng
thể vừa và một miếng mà đã no bụng được.
(Thiền
Ngoại Thuyết Thiền)
Nhà
Phật lấy nghịch làm thuận. Trải qua khổ tu bỗng nhiên linh
cơ nhất động thấy rằng nghịch chính thực là thuận. Nhưng
ở thế tục lực lượng thuận rất mạnh muốn tránh khỏi
bị lôi cuốn vào vòng nguy hiểm thì không một giây phút nào
được buông lơi. Nghĩa là linh cơ nhất động (đốn) vẫn
phải liên tục tu hành (tiệm).
714.
Thần Hội và Lục Tổ.
Thần
Hội lúc 13 tuổi từ chùa Ngọc Tuyền ở kinh Nam đến tham
kiến lục tổ. Tổ nói:
-
Thiện trí thức từ xa đến khó nhọc, có mang bản lai theo
không, nếu có thì nhận biết được chủ nhân ông, vậy hãy
nói thử coi?
-
Lấy vô trụ làm gốc, “thấy” là chủ nhân ông.
-
Gã tiểu sa di này sao dám khinh xuất nói vậy?
-
Hòa thượng ngồi thiền thấy hay chẳng thấy?
Lục
tổ hươi gậy đánh cho 3 cái rồi hỏi:
-
Khi ta đánh thì ngươi đau hay không đau?
-
Cũng đau, cũng chẳng đau.
-
Ta cũng thấy, cũng chẳng thấy.
-
Thế nào là cũng thấy, cũng chẳng thấy?
-
Ta thấy là thường thấy những sai lầm của nội tâm ta, nhưng
không thấy phải trái, tốt xấu của người khác. Vì vậy
mới nói cũng thấy, cũng chẳng thấy. Còn người nói cũng
đau, cũng chẳng đau là sao? Nếu ngươi chẳng đau thì
khác chi cỏ cây, sỏi đá? Nếu ngươi đau thì giống kẻ phàm
phu có lòng sân hận. Như ngươi hỏi thấy chẳng thấy là
chấp nhị biên; đau chẳng đau là chấp sinh diệt. Ngươi còn
chưa kiến tánh sao dám dỡn người?
Thần
Hội nghe rồi đảnh lễ sám hối.
(Nhất
Vị Thiền Quyển Nguyệt)
Lời
nói của lục tổ hợp “lý” hợp “cơ” khiến Thần Hội
á khẩu, tự biết mình vô tri do đó lạy tổ 100 lạy và theo
hầu một bên.
715.
Trăng soi đáy hồ không lưu dấu
Bóng trúc quét thềm bụi chẳng động.
(Thiền
Ngộ)
Vô
Học Tổ Nguyên (người đời Tống, được Nhật Bản mời
sang truyền dạy Phật pháp, là tổ khai sơn của Viên Giác
tự). Lúc nhỏ nghe một ông tăng ngâm câu này, bèn quyết tâm
xuất gia. Bóng trăng, bóng trúc đều biểu thị tâm đã thoát
ly mọi phiền não, vọng tưởng, đạt tới cảnh giới đại
ngộ.
Muốn
bụi trúc chẳng động thì tâm phải trừ mê hoặc và vọng
tưởng. Thực ra nhất tâm vốn chẳng động. Ánh trăng chiếu
xuống bụi trúc tạo ra bóng trên thềm. Khi gió thổi, bụi
trúc lung lay, bóng trúc trên thềm cũng chuyển động qua lại
như quét thềm. Ánh trăng tuy soi suốt tới đáy hồ nhưng bóng
trăng không để lại một dấu vết nào trong nước. Cả hai
câu trên đều nhấn mạnh đến chẳng động. Chúng ta đều
bị 8 vạn bốn ngàn phiền não quấy nhiễu, vì vậy chúng
ta phải làm chủ lấy mình. Mê hoặc và vọng tưởng chỉ
là hình bóng là ảo tưởng chẳng có thực thể.
716.
Để gió thành gió.
Thiền
sư Bảo Triệt ở núi Ma Cốc dùng quạt quạt gió. Lúc đó
có một ông tăng qua đó bèn hỏi:
-
Tánh gió thường trú, chẳng chỗ nào là không có, vì sao thầy
phải dùng quạt?
-
Ngươi tuy biết đạo lý tánh gió thường trú, nhưng chưa biết
chẳng chỗ nào là không có.
-
Vậy sao, thế nào là chẳng chỗ nào là không có?
Đại
sư chỉ phe phẩy quạt, ông tăng bỗng ngộ, vội lạy tạ.
(Thiền
Lý Dữ Nhân Sinh)
Do
áp lực không khí sai biệt mà gió được tạo thành, vì vậy
chỉ cần có không khí là lúc nào cũng có thể có gió. Nhưng
có gió ở một nơi nào cũng cần có điều kiện sai biệt
về áp xuất (duyên khởi). Bảo Triệt phẩy quạt là chỉ
cho ông tăng phải để ý đến cái điều kiện đó.
717.
Vàng ròng không đổi sắc.
(Thiền
Ngộ)
Muốn
thử vàng, cho vào lò lửa nó lại càng sáng. Một người đã
tu đạt đến một trình độ nào đó thì sẽ không dễ dàng
bị biến tiết.
718.
Sư tử lông vàng biến thành chó.
(Thiền
Ngộ)
Sư
tử là vua trong loài thú chỉ Phật, chó là loài thú nuôi trong
nhà chỉ chúng sinh. Phật vì lòng từ bi muốn cứu độ chúng
sinh nên hạ sanh ở cõi người.
719.
Trong điện Hàm Nguyên hỏi đường đến Trường An.
(Thiền
Ngộ)
Điện
Hàm Nguyên là tên một cung điện ở thành Trường An, đời
Đường. Tâm mình là Phật, đã không hướng vào trong lại
còn hướng ra ngoài mà tìm kiếm.
720.
Hoa rụng, nước chẩy bát ngát.
(Thiền
Ngộ)
Hoa
và nước đều vô tâm, bát ngát chỉ sự rộng lớn vô cùng.
Khi làm một việc gì ta đem hết tâm sức mà làm, không loạn
tưởng, không khởi tạp niệm, trạng thái ấy gọi là tam
muội hay vô tâm.
721.
Xuân đến, trăm hoa nở vì ai?
(Thiền
Ngộ)
Hoa
nở không phải để cho ngưởi nào thưởng thức, cũng không
phải vì hoa, mà là theo luật tự nhiên. Nếu con người có
thể bỏ được những mưu mô tính toán, cứ thuận theo tự
nhiên mà sống thì sẽ đạt được cảnh giới vô tâm.
722.
Quang minh tịnh chiếu biến hà sa.
Có
ông tăng hỏi Vân Môn:
-
Quang Minh tịch chiếu biến hà sa.
Ông
tăng chưa dứt lời Vân Môn hỏi lại:
-
Có phải đó là câu của tú tài Trương Chuyết chăng?
(Đó
chính là một câu trong bài kệ của Trương Chuyết học thiền
với Thạch Sương giác ngộ, làm ra).
Ông
Tăng đáp:
-
Dạ! Đúng vậy!
-
Ngươi nói sai rồi!
Về
sau Từ Tâm hòa thượng (1043- 1114) đem câu nói này ra
hỏi :
-
Ông tăng ấy sai ở chỗ nào?
(Vô Môn Quan)
Câu
thơ ấy chẳng phải là của Trương Chuyết sao? Nếu đúng
thì khi ông tăng đáp “Dạ, Đúng vậy” Sao lại nói là ông
ta sai? Nếu lúc đó ông đáp “Không phải! Đó là câu
của con thì có đúng không? Nếu ông tăng quả thực đạt
được cảnh giới giác ngộ, những gì ông ta nói ra đều
coi là của ông vì xuất phát từ tâm ra. Khi đối diện với
chân lý thì đâu còn kể câu nói là của mình hay của người
nữa.
723.
Một cọng cỏ.
(Long
Mãn)
Triệu
Châu thiền sư lên pháp đường nói:
-
Tỷ như minh châu trong bàn tay, Hồ đến Hồ hiện, Hán đến
Hán hiện. Lão tăng lấy một cọng cỏ làm gậy kim cương
sáu trượng, lấy gậy kim cương sáu trượng làm một cọng
cỏ. Phật là phiền não, phiền não là Phật.
Có
ông tăng hỏi:
-
Phật là phiền não của nhà nào?
-
Là phiền não của tất cả mọi người.
-
Làm sao tránh phiền não?
-
Cần gì phải tránh!
(Thiền
Cơ)
Minh
châu chỉ tự tánh, vốn không một vật do đó không đi tìm
ở bên ngoài, cũng chẳng lưu hình bên trong; tùy thời, tùy
chỗ dung nhiếp vạn tượng, phản chiếu vạn vật; phàm thánh
biến thành một phiến. Cọng cỏ, phiền não là phàm, gậy
kim cương, Phật là thánh. Lấy phàm làm thánh, lấy thánh làm
phàm, phàm thánh vô ngại. Ông tăng hỏi làm sao tránh được
phiền não là còn phàm thánh sai biệt.
724.
Thổi vào tai.
Một
hôm, Duy Kiện ngồi thiền ở pháp đường. Mã Tổ trông thấy
bèn lại bên thổi vào tai hai lượt. Duy Kiện mở mắt ra thấy
Mã Tổ lại nhắm mắt lại nhập định. Mã Tổ về phương
trượng sai thị giả mang một tách trà đến đưa cho Duy Kiện.
Duy Kiện không thăm hỏi, trở về tăng đường.
(Thiền
Cơ)
Đây
là Mã Tổ phá chấp ngồi thiền cho Duy Kiện.
725.
Con chó ghẻ.
Thanh
Lương Sơn tương truyền là đạo trường của Văn Thù bồ
tát. Ngài thường thị hiện ở nơi này cưỡi trên sư tử
lông vàng. Có một ông tăng lập chí đến chiêm bái. Từ xa
xôi ngàn dậm, trải qua bao cay đắng khốn khổ cuối cùng
đã tới Ngũ Đài Sơn. Ở dưới chân núi ông gặp một con
chó ghẻ, quanh quẩn đi cùng với ông ba ngày đêm. Mới đầu
ông tăng không để ý, sau đó cảm thấy bị phiền nhiễu
bèn đá cho một đá đuổi đi. Ông cứ đi lên lên, xuống
xuống suốt ba ngày mà chẳng thấy bóng dáng Văn Thù đâu
cả. Thất vọng, ông xuống núi gặp một vị cao tăng và kể
lể tâm sự. Vị cao tăng đề tỉnh ông:
-
Ngươi đã gặp Văn Thù rồi, ngài chính là con chó ghẻ đó!
(Nhất
Vị Thiền, quyển Hoa)
Câu
chuyện này cảnh tỉnh chúng ta, một con chó ghẻ cũng có thể
là Văn Thù bồ tát; vậy đối với vạn sự vạn vật chúng
ta lại không nên có tâm cung kính hay sao?
726.
Tổ Bát Nhã Đa La (tổ thứ 27 của Ấn Độ).
Quốc
vương Đông Ấn Độ thiết trai cung dưỡng tổ Đa La. Quốc
vương hỏi:
-
Thầy vì sao không tụng kinh?
-
Bần đạo thở vào không ở trong ấm giới, thở ra chẳng
tiếp chúng duyên, tùy thời tụng thứ kinh này, trăm ngàn vạn
ức quyển.
(Thiền
Lý Dữ Nhân Sinh)
Ấm
giới là chỉ ngũ ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), 12
xứ, 18 giới. Câu này ý nói: nếu vì thọ trai mà phải tụng
kinh thì chẳng phải là bị trói buộc ư? Cứ theo tâm không
bị tập quán ô nhiễm mà hành động thì đó là tụng kinh
vậy.
727.
Tượng bẩy tấc.
Có
ông tăng người Tứ Xuyên tên là Phương Biện đến bái phỏng
Huệ Năng. Ông nói:
-
Con giỏi nắn tượng.
-
Ông làm thử coi.
Ông
tăng không hiểu, bèn nắn một tượng Huệ Năng cao 7 tấc
rất tinh xảo. Huệ Năng xem rồi bảo:
-
Ông chỉ hiểu cái tánh nắn hình mà chẳng hiểu cái tánh
Phật.
(Thiền
Cơ)
Nắn
hình chỉ hiện tượng giới, tánh Phật chỉ bản thể giới.
728.
Nói khẽ chứ.
Pháp
Hội hỏi Mã Tổ:
-
Ý tổ sư từ Tây sang là gì?
-
Nói khẽ chứ! Đi ra đằng trước.
Pháp
Hội bước ra trước, Mã Tổ tát cho ông một bạt tai và nói:
-
Chẳng cùng lục căn thương lượng; ngày mai hãy đến!
Cách
một ngày Pháp Hội lại đến:
-
Thỉnh thiền sư chỉ thị.
-
Tạm thời hãy đi ra, đợi lão thượng đường sẽ chỉ thị
cho ngươi.
Pháp
Hội gật đầu:
-
Đa tạ đại chúng chỉ thị.
Nói
rồi, đi nhiễu quanh pháp đường một vòng, theo lối sau mà
ra.
(Thiền
Cơ)
Mã
Tổ bảo”Nói khẽ chứ”, “Đi ra đằng trước”, tát cho
một bạt tai đều là ám chỉ ông tăng còn có tâm tìm kiếm,
vọng cầu.
729.
Xem nước.
Bảo
Triệt và Mã Tổ cùng đi đường, Bảo Triệt hỏi:
-
Đại Niết Bàn là gì?
-
Gấp.
-
Gấp cái gì?
-
Xem nước.
(Thiền
Cơ)
Đại
Niết Bàn chỉ tự tánh. Mã Tổ bảo ông tăng xem nước là
ám chỉ ông phải tự quan sát, tự thể nghiệm.
730.
Đập vỡ nồi.
Cam
Chí đặt một chén cháo trên bàn nói:
-
Thỉnh thiền sư niệm kinh.
Nam
Tuyền quay lại chư tăng, bảo:
-
Cam Chí để một chén cháo trên bàn thỉnh đại chúng niệm
kinh A Di Đà.
Cam
Chí nghe rồi lạy mà lui ra.
Nam
Tuyền vào bếp đập vỡ nồi.
(Thiền
Cơ)
Cháo
có niêm tính, tượng trưng sự bị trói buộc. Nam Tuyền đập
vỡ nồi ám chỉ phá bỏ sự trói buộc.
731.
Đức Sơn mắng Phật, mắng Tổ.
Đức
Sơn nói:
-
Nơi đây không có Phật, không có pháp, Đạt Ma là lão Hồ
hôi hám, thập địa bồ tát là gã gánh phẩn, đẳng diệu
nhị giác là phàm phu phá giới. Bồ Đề, Niết Bàn là cọc
buộc lừa, mười hai phần giáo là sách quỷ, là giấy lau
mụn mủ, tứ quả, tam hiền, sơ tâm, thập địa chỉ là quỷ
giữ mồ, tự cứu chẳng xong.
(Minh
Tâm Kiến Tánh Thoại Thiền Tông)
Ông
càng chửi càng ác độc, triệt để. Nhưng nếu ta đảo ngược
lại: lão Hồ hôi hám là Đạt Ma, gã gánh phẩn là bồ tát
thập địa. . . thì câu nói mắng Phật, mắng tổ đã
trở thành tán thán phàm phu. Cũng như các câu: Diêm Đề cũng
có Phật tánh, con chó cũng có Phật tánh. Phàm thánh đối
đãi, mắng chửi hay khen ngợi, vướng vào một mặt nào cũng
là chướng ngại. Lục tổ lấy 36 cách phản diện mà đáp,
hỏi thánh lấy phàm đối, hỏi phàm lấy thánh đối, dùng
phản diện mà thông qua phàm thánh, không bị chấp trước,
vượt lên phàm thánh. Đối với thế và xuất thế pháp đều
quán như vậy.
732.
Phật là thế nào?
Trường
Khánh Đại An đến tham phỏng Bách Trượng, thi lễ rồi liền
hỏi:
-
Con muốn biết Phật, Phật là thế nào?
-
Giống như cưỡi trâu mà tìm trâu.
(Thiền
Ngoại Thuyết Thiền)
Tự
tánh thanh tịnh, không tìm ở bên ngoài.
733.
Thiền là gì?
Có
ông tăng hỏi Nga Hồ Đại Nghĩa:
-
Thiền là gì?
-
Thiền sư lấy tay chỉ vào khoảng không.
(Thiền
Ngoại Thuyết Thiền)
Học
thiền phải như “không”, tức là không chấp gì cả.
734.
Thiền là gì? (II)
Có
ông tăng hỏi Mục Châu Trần Tôn Túc:
-
Thiền là gì?
-
Đổ dầu vào lửa.
(Thiền
Ngoại Thuyết Thiền)
Học
thiền cần phải có nghị lực lớn để chống lại cảnh
gây rối.
735.
Kẻ cướp không cướp của người nghèo.
Kỳ
Lâm thiền sư thường cầm kiếm gỗ tự xưng là trừ ma, mắng
chửi Văn Thù, Phổ Hiền đều là loài ma quỷ. Khi có ông
tăng nào đến tham phỏng thiền sư liền nói:
-
Ma đến rồi, ma đến rồi!!
Thiền
sư giơ kiếm gỗ múa loạn một hồi rồi trở về phòng phương
trượng. Cứ thế liên tiếp 12 năm, bỗng nhiên buông kiếm
không hò hét nữa. Có ông tăng hỏi:
-
12 năm trước vì sao trừ ma?
-
Kẻ cướp không cướp của người nghèo.
-
12 năm sau vì sao không trừ ma nữa?
-
Kẻ cướp không cướp của người nghèo.
(Thiền
Cơ)
Kỳ
Lâm hò hét và dùng kiếm gỗ để phá chấp về ngẫu
tượng cho chư tăng. Câu trả lời của thiền sư ám chỉ người
nghèo thì thủ phận (tự tánh) còn người giầu thì hay đuổi
theo vật chất bên ngoài đồng thời cũng chỉ ông tăng phải
tự kiến tánh.
736.
Phật là thế nào?
Có
ông tăng hỏi Thủ Sơn:
-
Phật là thế nào?
-
Cô dâu mới cưỡi lừa, bà mẹ chồng dẫn đi.
(Thiền
Lý Dữ Nhân Sinh)
Phật
là bản chất của mọi sự việc được kiến lập nên bởi
duyên khởi, không, vô ngã, chưa ô nhiễm. Tuy mỗi sự kiện
tự độc lập, nhưng phải hỗ tương duy trì thì mới tồn
tại được.
Trong
câu nói của Thủ Sơn: cô dâu là vai chính, bà mẹ chồng chỉ
là vai phụ. Bà mẹ chồng tuy dắt lừa cho con dâu nhưng trong
lòng cảm thấy cao hứng, còn cô dâu trong lòng cũng cảm kích.
Qua một đoạn thời gian, đã quen với nếp sống nhà chồng,
cô dâu mới sẽ hầu hạ mẹ chồng, lúc đó mẹ chồng sẽ
lại là vai chính, cô dâu lại trở thành vai phụ. Thiền ngữ
có câu:”Chủ khách lịch nhiên”, ý là chủ và khách hỗ
tương duy trì thì mới có thể tồn tại được.
737.
Thân tâm thoát lạc, thoát lạc thân tâm.
(Thiền
Ngộ)
Thoát
lạc có nghĩa là giải thoát. Thân tâm thoát lạc: không còn
một chấp trước nào; thân tâm thanh tịnh, tự do vô ngại,
đạt tới cảnh giới đại ngộ (tự giác hạnh). Tiến lên
bước nữa: thoát lạc thân tâm (giác tha hạnh). Đã đạt
tới cảnh giới giác ngộ tối cao rồi tất phải cứu độ
cho chúng sinh thoát khỏi phiền não.
738.
Cá bơi nước đục, chim bay lông rụng.
(Thiền
Ngộ)
Cá
lội qua nước trong, nước trở thành đục. Chim bay trên trời
làm lông bị rụng. Cá và chim đều không cố ý nhưng vẫn
lưu dấu. Dù ta cố dấu những tình cảm (vui, buồn, nổi giận,
sợ hãi) vẫn lộ ra ở lời nói hay hành động. Khi vấn đáp
với đồ đệ dù đồ đệ ngụy trang thế nào sự phụ cũng
phân biệt được sự giác ngộ của đồ đệ là thật hay
giả. Câu nói trên có 2 cách giải thích:
1.
Cá lội làm nước đục, chim bay làm rớt lông: chưa thực
ngộ.
2.
Do nước đục tìm thấy cá, do lông rụng tìm thấy chim.
739.
Sông đều chẩy về biển, trăng lặn chẳng lìa trời.
(Thiền
Ngộ)
Dù
sông chẩy theo phương hướng nào, cuối cùng cũng ra biển.
Trăng mọc đằng Đông, lặn đằng Tây nhưng cũng không lìa
bầu trời. Thế gian tuy có phân biệt nam nữ, già trẻ, hiền
ngu, giầu nghèo, nhưng tất cả đều có Phật tánh. Thế giới
tương đối sai biệt đồng thời cũng là thế giới tuyệt
đối vô sai biệt. Sông chẩy về biển, trăng lặn về trời,
người trở về tự tánh.
740.
Sáng tối song song.
(Thiền
Ngộ)
Sáng
chỉ buổi sáng, lúc đó có thể phân biệt được hình dạng
mọi vật, chỉ hiện tượng giới sai biệt.
Tối
chỉ ban đêm, lúc đó không thể phân biệt được hình dạng
các vật, chỉ bản thể giới tuyệt đối.
Song
song là chỉ quan hệ hỗ tương, trong sáng có tối, trong tối
có sáng, bình đẳng và sai biệt, hiện tượng và bản thể,
sắc và không.
741.
Ngồi Đạo trường trăng, nước; tu không hoa vạn hạnh.
(Thiền
Ngộ)
Đạo
trường là chỗ đức Phật giác ngộ, tức dưới gốc cây
bồ đề, nói chung là chỉ chỗ tu hành.
Tu
không hoa vạn hạnh: cắt đứt tất cả phiền não, vọng tưởng,
đạt được vô tâm. Câu này ý nói người ta phải tu sao cho
giống như nước hoặc trăng, đạt được tự do vô ngại
của cảnh giới vô tâm, triệt ngộ tất cả đều là không
thì mới thoát ly được tâm chấp trước.
742.
Ngàn sông cùng một bóng trăng, Xuân đến khắp mọi nhà.
(Thiền
Ngộ)
Dù
là nước sông, nước giếng, ao, hồ, khe, lạch tất cả đều
được trăng soi bóng. Cũng vậy, xuân đến khắp mọi nhà
không kể giầu nghèo. Do đó, chúng ta thấy rằng đại tự
nhiên rất công bằng, vô tư. Lòng từ bi của nhà Phật đối
với chúng sinh cũng vậy: người thiện hay người ác đều
có Phật tánh, vì hành vi thiện hay ác đều cùng do một tâm
mà ra.
743.
Vô Tận Tạng.
Một
ông tăng hỏi Hành Xung:
-
Vô tận tạng là thế nào?
Hành
Xung yên lặng không đáp, ông tăng ngây người ra. Hành Xung
bảo:
-
Lại gần đây!
Ông
tăng lại gần.
-
Đi ra!
(Thiền
Cơ)
Ông
tăng hỏi “Vô Tận tạng là thế nào?” là hỏi về tự
tánh; Hành Xung không đáp là ám chỉ hỏi là dư thừa.
744.
Lồng đèn là tâm.
Một
ông tăng hỏi Truyền Ân:
-
Kiến sắc là kiến tâm, lồng đèn là sắc, cái nào là tâm?
-
Ngươi không hiểu ý người xưa.
-
Ý người xưa là gì?
-
Lồng đèn là tâm.
(Thiền
Cơ)
Câu
hỏi của ông tăng còn chấp 2 bên, câu đáp của thiền sư
là chỉ sắc tức là Tâm.
745.
Đập nước cá sợ.
Có
ông tăng hỏi Chí Ân :
-
Thế nào là thổi lông trên kiếm?
-
Ta tiến, ngươi lùi.
-
Như vậy là đệ tử mất mạng sao?
-
Không đập nước, cá tự sợ.
(Thiền
Cơ)
Nước
chỉ hiện tượng giới, cá chỉ bản thể giới. Câu nói của
thiền sư ám chỉ ông tăng phải tự tu, tự chứng.
746.
Cả ngày ăn cơm.
Bách
Trượng nói:
-
Có một người rất lâu không ăn nhưng không nói đói, có
một người cả ngày ăn cơm nhưng không nói no.
Đại
chúng không ai đáp được.
(Thiền
Cơ)
Một
người chỉ tự tánh.
747.
Tiếng trống báo giờ ăn.
Đại
chúng đang cuốc đất, bỗng nghe tiếng trống báo giờ ăn.
Một ông tăng vác cuốc lên vai, cười khanh khách trở về
tăng đường. Bách Trượng bảo:
-
Tốt lắm, đó chính là Quán Âm vào cửa.
Thiền
sư về phòng phương trượng cho người gọi ông tăng đó đến,
hỏi:
-
Vừa rồi ngươi thấy đạo lý gì?
-
Vừa rồi con chỉ nghe thấy tiếng trống báo giờ ăn, cho nên
về tăng phòng ăn.
Bách
Trượng ha hả cười lớn.
(Thiền
Cơ)
Quán
Âm vào cửa là do phàm nhập thánh, ông tăng đã thể nghiệm
được cảnh giới này, được Bách Trượng mặc nhiên công
nhận.
748.
Một quả hồng.
Một
hôm, Quy Sơn dẫn Ngưỡng Sơn đi chơi núi. Một con chim bay
ngang làm rớt một quả hồng trước mặt 2 người. Quy Sơn
nhặt lên đưa cho Ngưỡng Sơn. Ngưỡng Sơn dùng nước
rửa sạch rồi trao lại Quy Sơn. Quy Sơn hỏi:
-
Ngươi lấy được từ đâu vậy?
-
Đó là do đạo đức của hòa thượng làm cảm động.
-
Ngươi cũng không thể tay không.
Nói
rồi bẻ quả hồng làm 2, chia cho Ngưỡng Sơn một nửa.
(Thiền
Cơ)
Quả
hồng chỉ tự tánh, dùng nước rửa là trừ bỏ những ô
nhiễm của ngoại duyên.
749.
Đập vỡ gương.
Ngưỡng
Sơn lên pháp đường giơ một cái gương Quy Sơn vừa cho, hỏi
đại chúng:
-
Hãy nói coi: là gương Quy Sơn hay là gương Ngưỡng Sơn, nếu
có ai đáp trúng thì gương sẽ không bị đập.
Đại
chúng không ai đáp được, Ngưỡng Sơn bèn đập gương vỡ
tan.
(Thiền
Cơ)
Gương
chỉ tự tánh, làm gì có sai biệt giữa tự tánh của Quy Sơn
và Ngưỡng Sơn, do đó gương phải bị đập vỡ.
750.
Đỉnh núi không có người.
Động
Sơn hỏi ông tăng đến tham phỏng: