THƯ VIỆN HOA SEN
SearchEnglish Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
.
NHỮNG ĐOÁ HOA THIỀN
Dịch gỉa: Dương Đình Hỷ
Phước Quế Publications, Arlington, USA 2003
Mục Lục.
Quyển Thượng.
Quyển Trung.
Quyển Hạ.
Quyển Chung.
500  Lại Toản.
Hòa thượng Lại Toản ẩn cư trong một hang đá ở Hành Sơn. Đường Túc Tông rất ngưỡng mộ, đặc biệt phái sứ giả đến vời vào Hoàng Cung. Sứ giả đến trước hang kêu to:
- Thánh chỉ đến!
Lúc đó Lại Toản đang mải sao thuốc, không lên tiếng. Sứ giả không thấy động tịnh gì cả liền sai tiểu lại vào xem. Tiểu lại thấy hòa thượng nước mắt, nước mũi chẩy dòng dòng, mặt mũi nhem nhuốc đang sao thuốc bèn nói:
- Hòa thượng! Ngài hãy chùi mũi rồi nghênh tiếp thánh chỉ.
- Ta không rỗi hơi chùi mũi vì tục nhân.
Nói rồi lại tiếp tục sao thuốc. 
 (Hương Thủy Hải)

Câu chuyện này cho chúng ta thấy thiền sư thật tự tại, khí phách.

501  Tự tánh.
Hoàng Bá nói rằng:
- Cái tánh linh giác này từ vô thủy mà đến, thọ cùng hư không. Chưa hề sanh, chưa hề diệt, chưa hề có, chưa hề không, chưa hề bẩn, chưa hề sạch, chưa hề náo, chưa hề tĩnh, chưa hề trẻ, chưa hề già. Không ở nơi nào, không trong, không ngoài, không số lượng, không hình tướng, không sắc, không âm.
(Minh Tâm Kiến Tánh Thoại Thiền Tông)

Cái linh giác này không thể dùng cảm quan mà tiếp xúc nhưng cái mà cảm quan tiếp xúc lại không lìa linh giác. Nghĩa là tự tánh không phải là hình tượng, nhưng lại không lìa hình tượng.

502  Không thể nói.
Thiền sư Hoa Lâm trú ở một tòa miếu lớn nhưng không có đồ đệ. Một hôm tể tướng Bùi Hưu đến bái phỏng, thấy miếu lớn mà không có người giữ, ngạc nhiên hỏi Hoa Lâm:
- Thầy không có đồ đệ sao?
- Có chứ.
- Họ ở đâu vậy, sao không thấy?
- Ta có hai đồ đệ, một tên Đại Không, một tên Tiểu Không.
- Thầy có thể kêu họ cho đệ tử gập mặt không?
- Chỉ sợ không tiện.
Nhưng Bùi Hưu cứ năn nỉ mãi, Hoa Lâm đành chấp nhận, bèn gọi lớn:
- Đại Không, Tiểu Không, mau ra tiếp khách! 
Hai con hổ từ trong chạy ra. Bùi Hưu tuy là quan lớn nhưng mật nhỏ tỏ vẻ kinh sợ. Hoa Lâm bảo hai con hổ:
- Đồ đệ ngoan! Vị khách này chưa đủ khả năng đối diện các ngươi, mau vào đi!
Hai con hổ vẫy đuôi, gầm lên một tiếng rồi chạy vào sau miếu. Lúc đó, Bùi Hưu rất ngạc nhiên và hết lời tán thán, thưa với Hoa Lâm rằng:
- Sư Phụ, thầy tu theo pháp môn nào mà có thể cảm động được hai con hổ này?
Hoa Lâm nhắm mắt yên lặng, một lúc sau mở mắt ra hỏi Bùi Hưu:
- Ngươi hiểu không?
- Thầy còn chưa nói, làm sao con hiểu được?
- A! ta đã nói rồi, lại còn nói nhiều nữa, chỉ vì ngươi không hiểu mà thôi!
- Thầy thực chưa nói mà, xin thầy rủ lòng từ bi nói cho vài câu.
- A! ngươi thực là hạng độn căn, ta giảng cao siêu ngươi không hiểu nổi; thôi được! ta cứ phương tiện mà nói thôi. Hàng ngày, sau bữa ăn ta vào rừng tản bộ cho tiêu cơm. Cứ đi được bẩy bước ta lại giơ gậy lên niệm: Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, lại bước bẩy bước ta lại giơ gậy lên niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, hàng ngày ta đều niệm như vậy nên đã cảm động được hai con hổ này.
Bùi Hưu nghe rồi khen rằng:
- Thực hay quá! Thực hay quá! 
 (Sinh Hoạt Thiền)

Nhiều người đã từng niệm Phật, nhưng cũng chả thấy có cảm ứng gì, cho thấy niệm không phải là chìa khóa của vấn đề. Ở đây chính là lúc thiền sư nhắm mắt, không nói mới chính là thực tu, mới chính là Thiền. Nhưng như vậy là thế nào? Đó là cái không thể nói. Ngôn ngữ là dùng để miêu tả thế gian, nó có giới hạn, không thể miêu tả những trạng thái siêu việt thế gian, cho nên mới nói "Không thể nói.” Đức Phật trước khi nhập Niết Bàn đã từng nói " Ta đã thuyết pháp 49 năm rồi, nhưng ta chưa hề nói qua một chữ, một câu nào."

503  Vàng thật không sợ lửa.
Vân Cư (1582-1659) trụ trì Tùng Đảo Đoan Nghiêm Tự; mỗi đêm vào khoảng 12 giờ đến một hang núi ở Biện Thiên Đảo để ngồi thiền. Trong làng có một thanh niên biết chuyện này, tìm cách dọa cho ông sợ. Anh ta trèo lên ngồi trên cành của một cây to mà Vân Cư phải đi qua. Khi ông đi qua, anh ta thò tay ấn xuống đầu ông. Ông không tỏ vẻ sợ hãi, đứng yên tại chỗ. Khi anh ta rút tay lại, ông từ từ mà đi. Anh ta rất kính phục đảm lượng của ông. Ngày hôm sau, coi như không có chuyện gì xẩy ra, anh ta hỏi:
- Nghe nói hôm qua Thiên Cẩu xuất hiện (một loại yêu quái mặt đỏ, mũi dài trong truyền thuyết Nhật Bản). Không biết Hòa thượng có bị nó ấn đầu không?
- Đó chỉ là bọn trẻ trong thôn làm đó thôi!
- Sao thầy biết?
- Lại còn hỏi, tay ấn đầu ấm áp sao là tay quỷ được?
Thanh niên mắc cỡ, bèn hướng Hòa thượng xin lỗi.
 (Nhất Nhật Nhất Thiền Ngữ)

Vàng thật không sợ lửa luyện mà càng phát sáng tươi đẹp, tương tự một thiền giả có minh nhãn, dù có gập tai nạn nào cũng không biến đổi.

504  Thông Tuệ.
Thông Tuệ lúc còn là sa di, sư phụ sai đi rửa chậu. Ngẫu nhiên có một người bán cá đi qua, một con cá nhẩy vọt vào chậu, bị quậy chết. Về sau làm trụ trì, một hôm nói với đại chúng rằng:
- Hai mươi năm trước một đoạn công án, hôm nay phải gánh rồi!
Đại chúng gạn hỏi duyên cớ, thiền sư chỉ nói:
- Đợi đến trưa sẽ biết.
Nói rồi ngồi kiết già đợi.
Lúc đó Trương Tuấn thống binh tới Quan Trung, một binh sĩ cầm cung tên đến pháp đường trợn mắt nhìn thiền sư định bắn. Thiền sư cười nói:
- Lão tăng đợi ngươi đã lâu lắm rồi!
- Chưa hề gập mặt, nay mới gập, tâm không ngăn được chỉ muốn giết là tại sao?
Thiền sư kể lại câu chuyện cũ, binh sĩ bèn đọc bài kệ:
寃 寃 相 報 何 時 了
Oan oan tương báo hà thời liễu
刦 刦 相 纏 豈 偶 然
Kiếp kiếp tương triền khởi ngẫu nhiên
不 若 與 師 俱 解 釋
Bất nhược dữ sư câu giải thích
如 今 立 地 往 西 天
Như kim lập địa vãng tây thiên
Oan  oan  tương  báo  bao  giờ  dứt?
Kiếp  kiếp  ràng  buộc  chẳng  ngẫu  nhiên.
Chi  bằng  cùng  với  sư  giải  thích
Ngày  nay  lập  tức  tới  Tây  thiên.
Nói rồi đứng mà hóa. Thiền sư lấy bút viết bài kệ:
三 十 三 年 飄 蕩
Tam thập tam niên phiêu đãng
做 了 機 番 模 樣
Tố liễu cơ phiên mô dạng
誰 知 今 日 相 逢
Thùy tri kim nhật tương phùng
卻 是 在 前 變 障
Khước thị tại tiền biến chướng
Ba  mươi  ba  năm  loay  hoay
Đã  mấy  phen  làm  mẫu  mực
Đâu  biết  gập  lại  ngày  nay 
Là  do  nghiệp  làm  lúc  trước.

Viết xong bèn hóa. 
(Minh Tâm Kiến Tánh Thaoại Thiền Tông)

Từ công án trên chúng ta rút ra được mấy điều:
1- Oan oan tương báo, nhân quả tuần hoàn, định nghiệp không trốn được.
2- Buông dao đồ tể, lập tức thành Phật là có thật.
3- Người ngộ đạo không bị sanh tử trói buộc.

505  Bài tụng Ngũ Vị Quân Thần của Động Sơn.
1/ Chánh Trung Thiên:
三 更 初 夜 月 明 前
Tam canh sơ dạ nguyệt minh tiền
莫 怪 相 逢 不 相 識
Mạc quái tương phùng bất tương thức
隱 隱 猶 懷 舊 日 嫌
Ẩn ẩn do hoài cựu nhật hiềm.
Đêm  tối,  canh  ba  trăng  rọi  hiên
Lạ  chi  cùng  gặp  chẳng  cùng  biết
Ẩn  ẩn  vẫn  còn  ôm  hận  phiền.
2/ Thiên Trung Chánh:
失 曉 老 婆 逢 古 鏡
Thất hiểu lão bà phùng cổ kính
分 明 覿 面 別 無 眞
Phân minh địch diện biệt vô chân
休 更 迷 頭 猶 認 影
Hưu cánh mê đầu do nhận ảnh.
Mất  sáng  lão  bà  tìm  cổ  kính
Rõ  ràng  đối  diện  đâu  riêng  chơn
Thôi  chớ  quên  đầu  theo  nhận  bóng.
3/ Chánh Trung Lai:
無 中 有 路 隔 塵 埃
Vô trung hữu lộ cách trần ai
但 能 不 觸 當 今 諱
Đãn năng bất xúc đương kim húy
也 勝 前 朝 斷 舌 才
Dã thắng tiền triều đoạn thiệt tài.
Đường  cái  trong  không  cách  trần  ai
Chỉ  hay  chẳng  chạm  ngày  nay  kỵ
Đã  thắng  tiền  triều  cắt  lưỡi  tài.
4/ Thiên Trung Chí:
兩 刄 交 鋒 不 須 避
Lưỡng nhẫn giao phong bất tu tị
好 手 猶 如 火 裏 蓮
Hảo thủ do như hỏa lý liên
宛 然 自 有 衝 天 志
Uyển nhiên tự hữu xung thiên chí
Hai  kiếm  đua  nhau  cần  gì  tránh
     Tay  khéo  vẫn  như  lò  lửa  sen
     Nguyên  vẹn  nơi  mình  xung  thiên  chí.
5/ Kiêm Trung Đáo:
不 落 有 無 誰 敢 和
bất lạc hữu vô thùy cảm hoà
人 人 盡 欲 出 常 流
Nhân nhân tận dục xuất thường lưu
折 合 還 歸 炭 裏 坐
Chiết hiệp hoàn quy thán lý tọa

        Chẳng  rơi  không  có  ai  dám hòa
        Người  người  trọn  muốn  vượt  dòng  thường
        Tan  hiệp  trở  về  ngồi  trong  tro.
 (Thích Thanh Từ dịch)
(Minh Tâm Kiến Tánh Thoại Thiền Tông) 

1- Chánh Trung Thiên:
Đây là Thể Khởi Dụng, là cảnh tượng tưởng ngộ nhưng chưa ngộ, chưa tự tin, còn dư tập chưa chặt đứt.
2- Thiên Trung Chánh:
Đây là Dụng quay về Thể, là cảnh tượng sơ ngộ, tất cả đều tự hiện thành, ngộ là ngộ, không cần phải nghi, thâm nhập thức 
tâm.
3- Chánh Trung Lai:
Đây là có Thể không Dụng, đi vào chân không, phủ định tất cả trần cảnh, ngộ cảnh này không thể nói ra được bằng lời, chỉ có thể dùng tâm mà chứng.
4- Thiên Trung Chí:
Đây là Thể và Dụng cùng tới, là cảnh ngộ đoạn trừ tất cả phiền não, hiểu rằng Thể Dụng là một, có cảm giác siêu nhiên ngoài vật.
5- Kiêm Trung Đáo:
Đây là Thể Dụng đều tịch, là cảnh tượng Hữu và Vô đều không chấp.

506  Đạt Ma giảng tâm.
Có hành giả hỏi tổ Đạt Ma:
- Nếu không lập văn tự, lấy gì làm tâm?
- Ngươi hỏi ta, đó là tâm ngươi; ta trả lời ngươi tức là tâm ta. Nếu ta không tâm thì lấy gì trả lời ngươi? Nếu ngươi không tâm thì lấy gì hỏi ta? Hỏi ta tức là tâm ngươi, từ vô thủy đến nay bất cứ lúc nào, chỗ nào đều là bản tâm của ngươi, bản Phật của ngươi. Tâm là Phật. Ngoài tâm này không có Phật nào khác. Phật là tiếng Tây Trúc, nơi đây (Trung Hoa) gọi là giác tánh. Giác là linh giác ứng cơ tiếp vật; dương mày chớp mắt, động tay, động chân đều là tánh của linh giác. Tánh tức tâm, tâm tức Phật, Phật tức Đạo, Đạo tức Thiền. Thiền không thể dùng phàm thánh đo lường được. Thấy bản tánh là Thiền. Nếu không thấy bản tánh thì không phải là Thiền vậy. (Minh Tâm Kiến Tánh Thoại Thiền Tông)

Từ lời nói trên của tổ sư, chúng ta thấy rằng Tâm, Phật, Đạo, Thiền tuy bốn mà một. Mục đích duy nhất của Thiền là thấy bản tánh. Động, nói, nhìn, nghe, ngửi, nếm, giác, biết đều là tự tánh khởi dụng. Nhưng phàm phu bị thức tâm chi phối cho nên không thấy tự tánh. Tiểu thừa thì rơi vào không tịch, đặt chân tâm vào chỗ vô dụng. Nếu có thể sanh tâm nhưng không trụ, có thể, có dụng, không rơi vào không, hữu thì đó mới là Tâm Linh Giác vô nhiễm. Ngộ Tánh Luận nói:
- Phàm phu sanh tâm gọi là Hữu, Tiểu Thừa diệt tâm gọi là Vô. Phật và Bồ Tát chưa hề sanh tâm hay diệt tâm, nên gọi là phi hữu, phi vô tâm, là trung đạo vậy.

507  Duy Ngã ĐộcTôn.
Vân Môn có một lần kể lại: 
Thế Tôn lúc sanh ra một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, đi bẩy bước nói rằng:
" Trên trời, dưới trời chỉ có ta là hơn cả." Lúc đó, nếu ta thấy vậy liền dùng gậy đánh chết, vứt cho chó ăn thì thiên hạ được thái bình.
(Minh Tâm Kiến Tánh Thoại Thiền Tông)

Thiền tông để phá trừ tướng Phàm Thánh, mắng Phật, mắng Tổ, coi thường như ăn cơm hàng bữa. Người nói lời độc địa nhất là Vân Môn. Câu nói của Thế Tôn là chỉ Pháp Thân, tuyệt đối đãi, ngoài ngã này không có một vật nào khác, còn gọi là Đại Ngã. Nếu không hiểu nghĩa này và cho đó là tiểu ngã Tất Đạt Đa (nếu ngài có tư tưởng độc tôn này) thì ngài đã có phàm thánh phân biệt. Chỉ những thiền sư đã chứng ngộ mới hiểu được, nếu như chỉ là Thiền ngoài miệng, do thức tâm mà phát ra lời mắng chửi, thì đó là pháp sanh diệt, còn rơi vào vòng nhân quả. Thiền tông có tinh thần siêu Phật, vượt Tổ, do đó không lập Phật Điện chỉ có Pháp Đường, mọi chỗ đều biểu thị tác phong bình đẳng khiến mọi người không có lòng tự ty, không mất đi tín niệm "Tức Tâm Tức Phật"; cũng không có lòng cống cao ngã mạn khinh thị người sơ học, mạt học không thể tinh tiến. Cả hai đều là chướng ngại. Có người cho mắng Phật, mắng Tổ là ung bướu của Phật Giáo. Đó là lấy thế pháp luận xuất thế pháp. Chúng ta có thể nói những người này là không có đầu óc. Nếu một người đã đọc qua kinh sách Phật quyết không có những lời vọng ngữ này.

508  Đồng tử rót trà.
Có một vị hòa thượng dẫn một đồng tử đến thăm Thuận Đức, thưa rằng:
- Đồng tử này thường hay hỏi Phật pháp, thỉnh thiền sư khảo nghiệm.
Thiền sư bèn bảo đồng tử rót trà. Đồng tử mang trà lại, thiền sư uống xong đưa chén trà cho đồng tử. Đồng tử bước lên đón. Thiền sư rụt tay lại hỏi:
- Còn nói được không?
- Xin thầy cứ hỏi!
Hòa thượng không nhịn được, xen vào hỏi:
- Thiền sư, không biết kiến giải của đồng tử thế nào?
- Chẳng qua chỉ là một ông tăng giữ giới. 
(Thiền Cơ)

Đối với Thiền tông điều quan trọng nhất là kiến tánh. Đối với các tông giáo khác của Phật giáo thì điều quan trọng nhất là giữ giới luật. Kiến tánh và giữ giới chẳng có liên quan gì đến nhau. Khi Thiền sư hỏi "Còn nói được không?" Đồng tử trả lời "Xin thầy cứ hỏi.” Kỳ thực, bản lai diện mục lại còn cần người khác hỏi mình sao? Do đó, kết quả cuộc khảo nghiệm là "Chỉ là một ông tăng giữ giới.”

509  Quy Tông.
Giang Châu Quy Tông Khả Tuyên thiền sư sau khi ngộ đạo, trú ở Quy Tông, gập lúc Quách Công Phủ nhận chức quan thú ở Nam Xương. Hai người qua lại rất thân. Thiền sư bị quận thú sở tại áp bức, viết thư cho Quách Công Phủ:
- Đời này ta còn có duyên với ông sáu năm, nay bị quận thú áp bức, sẽ thác sinh vào nhà ông nếu ông thấy không có gì trở ngại.
Công Phủ vui vẻ gật đầu. Đêm đó phu nhân nằm mơ thấy thiền sư vào màn, thất thanh kêu lên:
-  Đây không phải là chỗ hòa thượng vào được!
Công Phủ lay tỉnh và gạn hỏi. Phu Nhân kể lại giấc mộng. Công Phủ cười lấy thư cho xem. Phu nhân sau đó quả nhiên mang thai, khi sanh đặt tên là Tuyên Lão. Lớn lên nhớ rõ chuyện cũ. Sáu năm sau không bệnh mà mất. 
(Minh Tâm Kiến Tánh Thoại Thiền Tông)

Chuyện đầu thai có được nghe, nhưng đính ước trước khi đầu thai, sau khi sanh ra lại nhớ rõ truyện trước thì thật là hiếm, chỉ trừ những bậc đạt đạo mới có thể tự do như vậy.

510  Đạo chính ở công việc bình thường hàng ngày.
Đạo Khiêm khi chưa khai ngộ, tu học với Đại Huệ ở núi Kinh Sơn thuộc tỉnh Chiết Giang. Có một lần, Đại Huệ sai Đạo Khiêm mang một phong thư đến Trường Sa ở Hồ Nam. Lúc đó, giao thông bất tiện, từ Chiết Giang đến Hồ Nam đường xá xa xôi chỉ nhờ vào đôi chân, gian khổ thấy rõ. Đạo Khiêm rầu rĩ nhưng không giám trái lệnh, chỉ than thở:
- Ta tham thiền đã 20 năm rồi mà chưa ngộ, nay lại phải bôn ba trên đường, coi bộ việc tu hành đành bỏ.
Một đạo hữu là Tông Nguyên nghe được bèn an ủi:
-  Đạo huynh đừng sợ, cứ đi đi, ta sẽ đi cùng với huynh cho có bạn.
Đạo Khiêm bất đắc dĩ phải lên đường. Đi được vài ngày không nhịn được, khóc với Tông Nguyên rằng:
- Ta một đời tham thiền, chưa thấy được gì, giờ lại phải bôn ba, làm sao ngộ đạo?
Tông Nguyên bèn nói:
- Ta đề nghị đạo huynh từ bây giờ bỏ hết những kiến thức đọc trong sách vở, những gì nghe được từ những vị thiền sư Viên Ngộ, Đại Huệ, cả những kinh nghiệm ngồi thiền trong 20 năm qua đều bỏ hết đi. Trên đường đi, có chuyện gì ta đều làm cho. 
Đạo Khiêm rất vui mừng không ngờ lại có chuyện may như thế vội đáp:
- Tốt quá! Mọi chuyện phiền huynh giúp giùm.
Tông Nguyên lại nói:
- Chỉ có 5 chuyện ta không thể giúp cho đạo huynh được, mà huynh phải tự làm đó là: mặc áo, ăn cơm, đi tiêu, đi tiểu, đi đường.
Đạo Khiêm nghe nói giản dị như vậy, bất giác khoa chân, múa tay nói:
- Chuyện lúc trước: sở học, sở tu ta không quản nữa, bây giờ chỉ như vậy tới Trường Sa.
- Tốt lắm! bây giờ sư huynh có thể tự mình đến Trường Sa, ta phải trở lại Kinh Sơn.
Nửa năm sau, Đạo Khiêm từ Trường Sa trở về Kinh Sơn, Đại Huệ trông thấy, hoan hỉ nói rằng:
- Mừng cho ngươi, chuyến này đã thay đổi cả con người.
 (Nhất Vị Thiền: Quyển Nguyệt)

Tông Nguyên dụng tâm đối bệnh cho thuốc thực là cao minh. Kỳ thực Đạo Khiêm tham thiền 20 năm mà chưa ngộ vì không bỏ được Tri Thức. Một khi bỏ được, từ những sinh hoạt bình thường hàng ngày mà thể ngộ. Dần dần, cơ duyên chín mùi chỉ cần một người chỉ cho thì ba cửa đều không, tự mình xúc duyên mà ngộ, đó không phải là chuyện khó khăn. Việc sinh hoạt phải tự mình, ngộ đạo cũng không thể do người. Điều trọng yếu là dùng tâm bình thường mà sinh hoạt, không tu mà tu.

511  Nam Tuyền bác bỏ tu sĩ và cư sĩ.
Một ông tăng trẻ đến gập Nam Tuyền nhưng không vái chào theo thường lệ. Nam Tuyền phê bình:
- Ngươi quá cư sĩ!
Ông tăng bèn chắp hai tay lại vái chào, Nam Tuyền bảo:
- Ngươi quá tu sĩ!
Ông tăng không biết sau đó phải làm sao. Một thiền sư khác khi nghe được chuyện này bèn nói:
- Nếu ta là ông tăng đó, ta sẽ buông thõng hai tay và lui ra. 
(Zen Koans)

Những người trẻ thường hay phá phách, những thiền sinh trẻ ngày xưa cũng không ngoại lệ. Ông tăng trẻ trên thử thách thầy không theo sự chào hỏi thường lệ. Ông ta nghĩ rằng ông ta có thể tự do làm bất cứ việc gì không bị trói buộc bởi luật lệ. Nhưng sự tự do khác với tự do đối với một sự gì. Con người từ khởi thủy đã tự do, chỉ vì chấp nên bị trói buộc. Nếu một người không chấp vào một cái gì cả thì không bị trói buộc. Lúc đó luật tắc không bao giờ làm phiền ông. Đến và đi, vái chào hay thối lui không có gì khác biệt đối với người tự do.

512  Giảng pháp.
Thiền sư Nghĩa Trung lên giảng đàn. Một cư sĩ bước ra rồi đi từ Đông sang Tây. Một ông tăng cũng bước ra và đi từ Tây sang Đông.
Nghĩa Trung bảo:
- Cư sĩ hiểu thiền, còn ông tăng thì không.
Cư sĩ bước lại gần thiền sư và nói:
- Con cám ơn Thầy đã chấp nhận.
Trước khi dứt lời, ông đã bị thiền sư đánh một gậy.
Ông tăng lại gần và thưa:
- Xin Thầy chỉ dạy.
Ông cũng bị thiền sư đánh một gậy.
Nghĩa Trung hỏi:
- Ai kết luận công án này?
Đại chúng không ai trả lời được. Thiền sư hỏi thêm hai lần nữa nhưng vẫn không có một câu đáp.
- Vậy, để ta.
Thiền sư ném thiền trượng xuống đất và trở về phòng. 
(Zen Koans)

Phương cách truyền pháp của Thiền tông là lấy Tâm ấn Tâm, luôn luôn giản dị và trực tiếp,mặc dầu nó có vẻ kỳ lạ và phi lý. Cư sĩ và ông tăng đều diễn tả sự hiểu biết của mình. Thiền sư bảo cư sĩ hiểu còn ông tăng thì không. Nhưng khi cư sĩ cám ơn, ông bị đánh vì chấp vào sự chấp nhận. Ông tăng lo tìm sự giác ngộ cũng bị đánh. Thiền sư không bao giờ ngần ngại nghiền nát sự chấp trước của thiền sinh vì phần lớn những rắc rối và đau khổ của cuộc đời đều do chấp trước. Chấp vào sự thuận lợi là tham, chấp vào điều nghịch là sân và nguyên nhân của chấp là si. Tham, sân, si là ba chất độc của cuộc đời.

513  Trị sự tăng.
Hưu Tĩnh là một ông tăng trị sự của Thiền viện Lạc Phổ. Một hôm ông ra lệnh:
- Chư tăng từ hàng đầu đến hàng giữa ra đồng làm việc, những hàng còn lại lên núi nhặt củi.
Viện chủ hỏi:
- Còn Văn Thù thì sao?
- Lệnh của con chỉ áp dụng cho chư tăng, còn Văn Thù không ăn nhậu gì đến chuyện này.
Về sau, Viên Ngộ phê bình đoạn đối thoại trên như sau:
- Nếu ta bị Viện chủ hỏi vậy ta sẽ trả lời: Đạo giống như cái gương, không động nhưng phản chiếu tất cả những gì tới nó. 
(Zen Koans)

Trong các Thiền đường thường có tượng hay tranh của Văn Thù hoặc Bồ Đề Đạt Ma. Khi Hưu Tĩnh phân chư tăng thành hai nhóm để làm việc cho có hiệu quả, Viện Chủ hỏi còn Văn Thù thì làm gì? Hưu Tĩnh trả lời Văn Thù làm việc của ngài, như mặt trời chiếu sáng. Là vị trị sự tăng, ông phân phối công việc cho chư tăng không liên quan gì đến Văn Thù. Mỗi người làm việc riêng của mình không vì bổn phận hay kiêu hãnh. Một cây thông mọc ở ghềnh đá phô bầy những lá xanh trong tuyết. nó không có ý định trình diễn vì lá xanh là biểu thị đời sống của  nó. Ở Nhật Bản cây Mận nở hoa vào tháng hai dù trời tuyết. Hoa mận nở dưới trời tuyết vì bản chất của nó như vậy chứ không phải là trình diễn sự bạo dạn. Như Viên Ngộ phê bình, Đạo giống như tấm gương phản chiếu. Nếu A tới thì nó phản chiếu A, nếu B tới thì nó phản chiếu B. Nó tác động khi có sự hiện diện của Nhân và Duyên. Không có tính nhân tạo hay ngã trong sự phản chiếu này. Thật tốt khi phản ánh sự vật như chính nó. Tấm gương của người ích kỷ phản ánh dục vọng và chấp trước. Vì Vậy, tấm gương phải nên phá bỏ rồi ta sẽ được 
hoàn toàn tự do.

514  Hậu tục tử.
Sau khi bị bà lão đuổi đi (Xem công án 227) ông tăng đi khất thực ba năm, sau đó lại quay về xin bà lão cho nhập thất. Ít năm sau, cô gái cũng y theo lần trước ôm lấy ông và hỏi:
- Thầy thấy thế nào?
Ông tăng đáp:
- Trời biết, đất biết, cô biết, ta biết nhưng đừng nói cho bà lão biết.
Bà lão nghe được câu nói ấy rất mừng nói với ông tăng rằng:
- Mừng thầy đã ngộ! 
(Minh Tâm Kiến Tánh Thoại Thiền Tông)

Câu nói trước của ông tăng (công án số 227) chỉ sự thanh bạch, không nhiễm bụi trần là một vị Liễu Hạ Huệ khó kiếm. Câu nói trong công án này chỉ tâm nội chứng. Trời biết, đất biết chỉ không linh giác tánh, đừng nói cho bà lão là chỉ không thể nói được.

515  Giận dữ.
Thản Sơn tính tình phóng lãng không câu nệ tiểu tiết, uống rượu, hút thuốc đều chẳng từ. Vân Thăng trái lại rất trang trọng, ít khi nói cười. Một hôm, Thản Sơn đang uống rượu trong phòng, gập lúc Vân Thăng đi qua, Thản Sơn bèn mời Vân Thăng cùng uống. Vân Thăng cự tuyệt. Thản Sơn bảo:
- Ngay rượu cũng không uống, thật chẳng giống người!
- Ngươi dám chửi người sao?
- Ta không chửi ngươi!
- Ngươi vừa nói rượu cũng không uống thật chẳng giống người, đó không phải là chửi ta sao?
- Ngươi thật chẳng giống người!
- Được, ngươi chửi ta chẳng giống người, vậy giống gì ngươi hãy nói mau!
- Giống Phật. 
 (Thiền, Sinh Hoạt Đích Vi Tiếu)

Giận dữ làm người ta mất bình tĩnh, không thể suy nghĩ, không thể đè nén mình. Do đó, các thiền sư rất coi trọng tu sửa giận dữ.

516  Củ cải Trấn Sơn nặng ba cân.
Có ông tăng hỏi Thủ Sơn:
- Thế nào là Tâm của Cổ Phật?
- Củ cải Trấn Châu nặng ba cân. 
  (Thiền Cơ)

Tâm của Cổ Phật chỉ tự tánh. Tự tánh ở đâu cũng có, Trấn Châu, củ cải, ba cân đều là tự tánh.

517  Bồn hoa sen.
Văn Ích sai một ông tăng đi lấy đất cho thêm vào bồn sen. Ông tăng lấy đất đem về. Văn Ích hỏi:
- Ngươi lấy đất ở phía Đông hay phía Tây cầu?
- Ở phía Đông.
- Là chân thật hay là hư vọng? 
(Thiền Cơ)

Nói phía Đông cầu, phía Tây cầu là có sai biệt. Ở hiện tượng giới sự sai biệt này là thực, nhưng ở bản thể giới sai biệt là hư vọng.

518  Giải thoát.
Càn Phong hỏi đại chúng:
- Phải có con mắt nào để thoát khỏi lục đạo luân hồi?
(Zen Koans)

Những chúng sanh nào chưa giác ngộ đều phải luân hồi trong sáu đường Địa Ngục (Khổ), Ngạ Quỷ (Tham), súc sanh (Si), Atula (sát), Người (sướng, khổ), Trời  (chỉ có sướng) Đường thứ bẩy là Phật giới (không còn khổ nữa). Càn Phong hỏi Đại chúng các người phải luân hồi trong lục đạo có con mắt nào? Họ không có mắt. Lòng si mù quáng làm họ sống trong tham lam và đau khổ. Thiền dạy thực tại vượt lên lý luận. Sự việc đơn giản là không có tốt hay xấu. Mỗi đường có một con mắt riêng. Thế giới Atula có con mắt hiếu sát, súc sanh có con mắt ngu si.  Con mắt của người nông phu là trồng trọt, của thương gia là buôn bán. Những con mắt này là trở ngại, phải quên đi. Tình yêu chân thật phải quên chữ tình yêu. Lửa thì nóng, nước đá thì lạnh; ta bà là niết bàn; niết bàn là ta bà (không có sự giác ngộ ngoài cuộc đời). Con mắt thiền là nhìn sự vật như chính nó, không yêu, không ghét, không có kẻ thù, không có đồng minh.

519  Chuyện khó.
Chuyện  khó  mới  thấy  tâm  trượng  phu.
Tuyết  ngưng mới  hay  tùng  bách  nhẫn.
(Hư Đường Lục)

Khi gập trường hợp khó khăn, con người mới phát huy được tiềm lực của mình cũng như sau cơn phong ba bão tuyết mới thấy được sức chịu đựng của cây tùng, cây bách.

520  Dỡn sư tử.
Dược Sơn hỏi Vân Nham:
- Nghe nói ngươi biết dỡn sư tử phải không?
- Phải.
- Dỡn mấy xuất?
- Sáu xuất.
- Ta cũng dỡn được.
- Mấy xuất?
- Một xuất.
- Một là sáu, sáu là một. 
( Thiền Cơ)

Sư tử chỉ tự tánh, sáu xuất chỉ sáu căn. Nhà có sáu cửa hay một cửa thì cũng vậy, đều ra vào được.

521  Đo nước.
Một hôm, Triệu Châu đến thăm giảng đường Thù Du. Ông cầm 
gậy thượng đường, nhìn từ Đông sang Tây rồi từ Tây sang Đông. Thù Du hỏi:
- Ngươi làm gì vậy?
- Ta đang đo nước.
- Ngay đến một giọt nước còn không có thì đo cái gì?
Triệu Châu dựng gậy vào tường và bỏ đi. 
(Zen Koans)

Triệu Châu đến thăm Thù Du để thử sự hiểu biết của ông này. Ông đo bề sâu của tâm Thù Du. Lời trách cứ của Thù Du hay, nhưng ông tỏ ra hãy còn vướng ở trong có và không. Triệu Châu ra đi tự do như khi ông tới.

522  Thường thức.
Cá nhỏ nuốt cá lớn.
 (Ngũ Đăng Hội Nguyên)

Đối với kẻ phàm phu tục tử nghe câu nói trên nhất định là ôm bụng mà cười. Lấy thường thức mà phán đoán thì chuyện này không thể nào xẩy ra được. Nhưng thiền lý thường đột phá thường thức, vượt lên thường lý để thấy ánh sáng chói lọi của thiền đạo. lật ngược thường thức có thể thấy sự tồn tại của thiền. Lớn nhỏ bất quá chỉ là sự so sánh tương đối, nếu lấy con mắt đạo mà nhìn thì to nhỏ chỉ là một, làm gì có sai biệt.

523  Trí Thông.
Một hôm, Trí Thông đang ngồi tham thiền bỗng nhiên cười ha hả. Hôm sau bạn đồng tu hỏi:
- Hôm qua sao tự nhiên lại cười lớn thế làm chúng tôi đều bị tỉnh giấc?
- Ta khai ngộ rồi!
- Ngộ cái gì?
- Ngộ rằng sư cô nguyên lai là người nữ.
Ông lại làm bài kệ: 
舉 手 攀 南 斗
Cử thủ phan nam đẩu
回 身 依 北 辰
Hồi thân y bắc thần
出 頭 天 外 看
Xuất đầu thiên ngoại khán
誰 是 我 般 人
Thùy thị ngã bàn nhân
Giơ  tay  với  Nam  Đẩu
Xoay  mình  dựa  Bắc  Thần
Ta  hạng  người  chi  đó?
Ngoài  trời  nhìn  trân  trân. 
 (Sinh Hoạt Thiền)

Bất cứ một sự việc gì cũng đều là Phật tánh lưu lộ. Trong sư cô cũng có Phật tánh chí thiện, chí mỹ.

524  Khẳng Đường Ngạn Sung.
Đời Minh, Khẳng Đường Ngạn Sung đọc công án Niêm Hoa Vi Tiếu bèn nói:
- Thế Tôn chẳng nói mà nói, Ca Diếp chẳng nghe mà nghe.
Sau đó lại làm hai câu kệ:

水 流 黄 葉 來 何 處
Thủy lưu hoàng diệp lai hà xứ
牛 帶 寒 鴉 過 遠 村
Ngưu đái hàn nha quá viễn thôn
                      Nước  chẩy  cuốn  lá  vàng  từ  đâu  tới?
                     Trâu  đưa  quạ  lạnh  về  thôn  xa. 
(Sinh Hoạt Thiền)

Không nói mà nói vì chân lý không thể diễn tả ra bằng lời, và vì tất cả đều không, dù có nghe được thì cũng là không. Vì vậy Ca Diếp chẳng nghe mà nghe. Lá vàng ở trong nước, theo dòng nước mà trôi đi, xin hỏi lá vàng từ đâu tới? Quạ thường đậu ở trên lưng trâu, khi mục đồng dẫn trâu về nhà thì cũng dẫn luôn quạ về. Lá vàng tượng trưng cho chân lý tuyệt đối. Xin hỏi chân lý tuyệt đối từ đâu lại? Vấn đề này câu kệ thứ nhì giải đáp cùng một dạng. Trâu và quạ đều chỉ chân lý tuyệt đối, từ đây dẫn về thôn xa, nói cách khác chân lý không đâu không có.

525  Tâm thủy tinh.
無 來 無 去 本 湛 然
Vô lai vô khứ bản trạm nhiên
不 居 內 外 及 中 間
Bất cư nội ngoại cấp trung gian
一 顆 水 精 絕 瑕 翳
Nhất khỏa thủy tinh tuyệt hà ế
光 明 透 出 滿 人 間
Quang minh tú xuất mãn nhân gian.
Không  đến,  không  đi  vốn   lặng yên
Chẳng  ở  trong,  ngoài,  chẳng  trung  gian.
Một  trái  thủy  tinh  không  tỳ  vết
Chiếu  soi  khắp  cả  cõi  nhân  gian.
(Xả Đắc)
(Nhất Vị Thiền, Quyển Hoa)

Câu 1 và 2 chỉ tự tánh, không đầu không cuối, không đến không đi, sung mãn khắp sơn hà đại địa, vượt lên cả không gian và thời gian.
Câu 3 và 4: Xả Đắc khuyến khích chúng ta trong cõi đời vô minh bị ngũ trọc ô nhiễm, hãy bồi dưỡng một cái tâm thủy tinh, để tự thanh lọc mình và người khiến cho tự tánh được phát sáng.
 Xả Đắc cùng Hàn Sơn, Phong Can được người đương thời gọi là Quốc Thanh Tam Ẩn (ba người ở ẩn ở Quốc Thanh Tự). 

526  Tự kỷ.
Có ông tăng hỏi Đại Tùy Pháp Chân:
- Thế nào là tự kỷ của con?
- Là tự kỷ của ta.
- Thế nào là tự kỷ của Thầy?
- Là tự kỷ của ngươi. 
(Nhất Vị Thiền: Quyển Nguyệt)

Cách trả lời của Đại Tùy trong Thiền học gọi là Trùng Phục Ấn Chứng. Đại Tùy bảo ông tăng hỏi người chẳng thà hỏi mình, cũng như mình còn đói lại phải hỏi người rồi mới xác định được là mình chưa no ư? Ông tăng hỏi "Thế nào là tự kỷ của con?" là hỏi "bản lai diện mục của con là gì?"
Hai câu trả lời của Đại Tùy "tự kỷ của ta", "Tự kỷ của ngươi " là bảo ông tăng chính cái hỏi và đáp là nó, không hai, không khác.

527  Đạo.
Có người hỏi Vân Môn:
- Thế nào là Đạo?
- Bỏ.
- Bỏ cái gì?
- Bỏ tà làm chánh. 
(Thiền Viên)

Đó chính là diễn tả câu "Vi học nhật ích, vi Đạo nhật tổn, tổn chi hựu tổn, dĩ chí ư vô.” Vô là Đạo, là Phật, là Thiền. Vô cũng vì " tổn chi hựu tổn" nhân bỏ mà được. Thiền là văn hóa hình tròn không phải văn hóa đường thẳng. Văn hóa hình tròn là đi rồi lại quay, đắc Đạo thành Phật rồi lại quay lại cứu độ chúng sanh. Văn hóa đường thẳng là đi rồi không bao giờ quay trở lại, đắc đạo thành Thần rồi liền ở mãi trên cao. 

528  Bí truyền.
Một ông tăng hỏi Ba Lăng:
- Thế nào là sự bí truyền ở Đông Độ và Tây Thổ?
- Có phải ngươi dẫn lời của Tam Tổ không?
- Không, đó là lời của Tín Tâm Minh.
- Lỗi của ta, ta thật lẩm cẩm. 
(Zen Koans)

Từ khi đức Thế Tôn nhập Niết Bàn, sự giác ngộ đã được truyền bằng cách ấn tâm từ thế hệ này sang thế hệ tiếp ở Ấn Độ (Tây Thổ) và ở Trung Hoa, Nhật Bản (Đông Độ). Thật ra sự bí truyền này là gì? Xuân tới hoa nở. Thu tới lá vàng. Mặt trời mọc ở phương Đông mỗi buổi sáng và lặn về phương Tây mỗi buổi chiều. Nước tự nhiên chẩy từ chỗ cao xuống chỗ thấp. Đây là sự bí truyền ở Đông Độ và Tây Thổ. Nó không có gì là bí mật cả. Nó là sự hiểu biết về chân lý. Nhiều học giả, nhà thần học, tăng sĩ quá chú trọng về những lời nói, lý thuyết; họ không nhìn thực tại. Ba Lăng không đãng trí hay quên, ông cố chỉ cho ông tăng thấy sự quan trọng của cái nhìn trực tiếp về cuộc đời.

529  Đọc kinh.
Một hôm, Triệu Châu hỏi một ông tăng:
- Một ngày ngươi đọc bao nhiêu kinh?
- Bẩy, tám hay mười quyển.
- Ngươi còn chưa biết đọc kinh.
- Thầy một ngày đọc bao nhiêu kinh?
- Mỗi ngày chỉ đọc một chữ.
 (Hảo Tuyết Phiến Phiến)

Thiền ở chính ngay thân mình, chẳng phải cầu bên ngoài.

530  Sư Tử Liễu Nghĩa.
Liễu Nghĩa đã ăn chay từ nhỏ, 17 tuổi nghe danh Cao Phong Nguyên Diệu bèn đến tham phỏng. Cao Phong bảo ông tham câu "Vạn pháp trở về một.” Một hôm Liễu Nghĩa thấy tuyết đọng trên cây tùng có chút tỉnh ngộ bèn làm bài kệ dâng lên Cao Phong:
大 地 山 河 一 片 雪
Đại địa sơn hà nhất phiến tuyết
太 陽 一 出 便 無 蹤
Thái dương nhất xuất tiện vô tung
自 此 不 疑 諸 佛 性
Tự thử bất nghi chư Phật tánh
更 無 南 北 與 西 東
Cánh vô Nam Bắc dữ Tây Đông
Núi  sông  phủ  tuyết  trắng  một  sắc
Mặt  trời  rọi  sáng  thảy  đều  tan
Từ  đó  Phật  tánh  hết  nghi  nan
Chẳng  còn  phân  Đông,  Nam, Tây, Bắc
(Ngộ Không dịch)

Cao Phong chẳng nói một lời, giơ gậy đánh, đánh đến nỗi Liễu Nghĩa ngã nơi sườn núi, bị trọng thương gần chết. Trải qua 7 ngày Liễu Nghĩa bỗng nhiên đại ngộ, kêu lên:
- Lão hòa thượng, hôm nay chẳng thể che dấu con được nữa.
Cao Phong bèn cấp ấn khả. 
(Hảo Tuyết phiến phiến)

Việc ngã dưới sườn núi đối với sự cầu ngộ vẫn còn sai một bước, cho thấy ngộ thiền không phải là dễ.

531  Giám, Di của Vân Môn.
Vân Môn thường nói với học nhân "Giám" khi học nhân định trả lời , Vân Môn lại nói "Di.” Người sau gọi là Cố, Giám, Di, lại có bài kệ:
相 見 不 揚 眉
Tương kiến bất dương mi
君 東 我 亦 西
Quân Đông ngã diệc Tây
紅 霞 穿 落 月
Hồng hà xuyên lạc nguyệt
白 日 繞 須 彌
Bạch nhật nhiễu tu di.
Gập  nhau  chẳng  dương  mi
Đông,  Tây  ta  người   đi
Sương  hồng  che  trăng  lặn
Bạch  nhật  nhiễu  Tu  Di.
(Minh Tâm Kiến Tánh Thoại Thiền Tông)

Cố, Giám, Di là 3 giai đoạn có tác dụng khác nhau:
1- Cố: đề tỉnh sự chú ý của học nhân, khiến học nhân chú ý lắng nghe lời chỉ thị, hàm ý pháp "chỉ.”
2- Giám: tương đương với chữ quán trong quán tâm, là bảo học nhân trực quán tự tánh. Cũng có nghĩa bảo học nhân tham cứu. Sau khi nghe chữ Giám, học nhân định trả lời, ta sẽ có hai trường hợp: một là không hiểu mở miệng hỏi, hai là nói ngộ cảnh của mình để cho Vân Môn chứng cho. Nhưng chữ Giám của Vân Môn không thể giảng được, giảng ra là xúc phạm. Vì vậy Vân Môn ngăn không cho mở miệng.
3- Di: tác dụng của chử Di là chỉ "chẳng dương mi" trong bài kệ, là chỉ không rơi vào pháp sanh diệt. Nếu có hành động (dương mi) đều là pháp sanh diệt, tức là có phân biệt Thể, Dụng là sai Đạo. Sương hồng, bạch nhật là Vân Môn chỉ tánh cách của tự tánh, chiếu sáng khắp hư không.

532  Ngộ Đạt quốc sư.
Đời Đường quốc sư Ngộ Đạt (Tri Huyền thiền sư) làm bài kệ:
花 開 滿 樹 紅
Hoa khai mãn thụ hồng
花 落 萬 枝 空
Hoa lạc vạn chi không
唯 餘 一 朵 在
Duy dư nhất đóa tại
明 日 定 隨 風
Minh nhật định tùy phong
Hoa  nở,  khắp  cây  hồng
Hoa  rụng,  vạn  cành  không
Chỉ  còn  lại  một  đóa
Ngày  mai  theo  gió  tung.
(Hảo Tuyết Phiến Phiến)

Bài kệ mô tả tánh cách vô thường của vạn vật.

533  Phó Đại Sĩ và Lương Võ Đế. (I)
Thời đại Phó Đại Sĩ tương đương với thời Đạt Ma tổ sư đến Trung Hoa. Hành vi, cử chỉ của ông rất kỳ dị, khác người. Một hôm, ông đến thăm Lương Võ Đế, đầu đội mũ đạo sĩ, mình mặc áo cà sa, chân đi dép nho sĩ. Võ Đế thấy ông ăn mặc kỳ quái bèn hỏi:
- Thầy là ông tăng sao?
Ông bèn chỉ mũ.
- Thầy là đạo sĩ sao?
Ông chỉ xuống dép.
- Vậy thầy là người tục?
Ông chỉ cà sa. 
(Hảo Tuyết Phiến Phiến)

Trong câu chuyện này Phó Đại Sĩ muốn diễn tả Thiền Tâm không phải do bên ngoài mà thấy. Thiền gồm cả Nho, Thích, Đạo. Nó có Tuệ giải của Nhà Phật, vô vi của Nhà Đạo, tinh thần nhập thế của Nhà Nho. Ăn mặc chỉ là hình thức. Thiền vượt lên mọi hình thức.

534  Phó Đại Sĩ và Lương Võ Đế. (II)
Một hôm Phó Đại Sĩ đang giảng kinh, Lương Võ Đế đến thăm. Đại chúng đều đứng dậy nghênh đón, chỉ có Phó Đại Sĩ ngồi yên không động. Cận thần của Hoàng Đế hỏi:
- Hoàng đế giá lâm vì sao thầy không đứng dậy?
- Đất pháp nếu động, tất cả đều không yên.
(Hảo Tuyết Phiến Phiến)

Dưới mắt Phó Đại Sĩ, Hoàng đế và người thường đều bình đẳng không hai. Có tâm bình đẳng thì mới coi người, trâu, cầu, nước chẩy đều là sự vật ảo hóa hà tất phải chấp trước.

535  Tô Khâm.
Tổ Khâm khi còn theo học với Kinh Sơn, có một vị đồng học là Tu thượng tọa. Tổ Khâm muốn thân cận ông nhưng không có cơ hội. Quá một năm, một hôm đang đi ở hành lang, trông thấy ông bèn lại gần hỏi:
- Năm ngoái muốn nói chuyện với ông, mà ông chỉ tránh tôi là sao?
- Người tu chân chánh, ngay cắt móng tay cũng không có thì giờ, nói gì đến cùng ngươi nói chuyện!
(Hảo Tuyết Phiến Phiến)

Câu đáp thật hay. người tu hành chân chánh ngay thời gian cắt móng tay, móng chân còn không có làm gì có thời gian nói chuyện tầm phào?

536  Vá hư không.
Có một người làm nghề may vá tên là Hồ Đính Giảo đến tham phỏng Bảo Thọ. Bảo Thọ hỏi:
- Có phải ngươi là Hồ Đính Giảo, người may vá nổi tiếng không?
- Không dám, chính là tại hạ.
- Ngươi giỏi may vá như vậy, có cách nào vá hư không chăng?
- Xin thầy cứ xé rách hư không đi, con sẽ vá lại.
Bảo Thọ không nói một lời, giơ gậy đánh, Hồ Đính Giảo bị đau kêu lên:
- Thầy chẳng muốn phá hư không sao, sao lại đánh lầm con?
Bảo Thọ giận nói:
- Bây giờ ta không nói vì sao ta đánh ngươi. Sau này gập được ông thầy lắm mồm, ông sẽ nói cho ngươi rõ.
Hồ Đính Giảo không hiểu, đành từ biệt. Về sau gập được Triệu Châu bèn kể lại chuyện bị đánh. Triệu Châu hỏi ông:
- Ngươi có biết vì sao bị đánh không?
- Con không biết sai ở chỗ nào?
- Cái hư không của ngươi đã phá nát đường may của ngươi, bị đánh là đúng rồi!
Hồ Đính Giảo nghe rồi liền ngộ.
 (Hảo Tuyết Phiến Phiến)

Bảo Thọ nhân Hồ Đính Giảo làm nghề may vá nên nói "Vá hư không" để khai thị cho ông. Khi Hồ Đính Giảo đắc ý bảo thiền sư phá hư không đi rồi mình sẽ vá lại là nhận rằng phải phá trước rồi mới sửa sau. Không ngờ thiền sư lại vác gậy đánh. Đả phá cái chấp ngoại tướng chính là đả phá hư không. Hồ Đính Giảo không hiểu nghĩa "Không", tự mình không sửa được ngã chấp làm sao sửa được hư không? May được Triệu Châu chỉ cho mà ngộ.

537  Hư Vân.
Hư Vân pháp sư có làm một bài kệ:
杯 子 撲 落 地
Bôi tử phác lạc địa
響 聲 明 瀝 瀝
Hưởng thanh minh lịch lịch
虛 空 粉 碎 也
Hư không phấn toái dã
狂 心 當 下 息
Cuồng tâm đương hạ tức
     虛 雲
     Hư Vân
Chén   nước  rơi  xuống  đất,
Tiếng  vọng  lên  rõ  ràng
Hư  không  đà  vỡ  nát
Cuồng  tâm  lập  tức  ngưng.
(Ngộ Không dịch)
 (Nhất Vị Thiền: Quyển Hoa)

Các thiền sư thường dùng hét, đánh để khai ngộ cho thiền sinh. 
Họ đã quan sát và thấu hiểu trình độ của thiền sinh tới đâu, còn chấp trước hoặc thiếu sót điều gì, cũng như lời của Khổng Minh nói với Chu Du trong trận Xích Bích "Muôn việc đủ cả, chỉ thiếu gió đông.” Điều trọng yếu là thiền sinh đã sẵn sàng chưa; nếu chưa thì dù thiền sư có giúp đỡ đánh, hét trăm lần, ném vỡ chén ngàn lần cũng vô ích thôi.

538  Cỗ cúng của Vân Môn.
Một hôm, trong buổi giảng pháp Vân Môn hỏi đại chúng:
- Các ngươi có muốn gập chư tổ không?
Trước khi mọi người kịp trả lời, ông giơ gậy lên trên đầu họ và nói:
- Chư tổ ở trên đầu các ngươi.
Lại hỏi tiếp:
- Các ngươi có muốn nhìn thẳng vào mặt họ không?
Ông chỉ xuống đất và nói:
- Họ đều ở dưới chân các ngươi.
Sau một lúc ông nói:
- Ta sửa lễ cúng họ, nhưng bọn quỷ đói chẳng bao giờ thỏa mãn. 
(Zen Koans)

Vân Môn là một vị thiền sư lớn, sáng tổ của dòng thiền Vân Môn, là thầy của hơn 90 vị thiền sư, là một thiền sư trí tuệ và có tài nói năng lưu loát. Ở đây, ông khuyên chúng ta nếu muốn biết tinh tủy của Thiền thì đừng tìm kiếm ở Ấn Độ, hay ở thời xưa. Hãy nhìn đây, ngay ở trên đầu chúng ta. Giác ngộ, niết bàn ở ngay dưới chân ta. Vân Môn làm cỗ cúng nhưng cô hồn chẳng bao giờ thỏa mãn vì họ không ăn được. Chúng ta nào khác gì lũ qủy đói, tìm kiếm Niết Bàn khi chúng ta đang ở trong đó.

539  Chân Hòa Thượng không thể dối.
Triệu Châu lúc còn nhỏ, theo học Nam Tuyền, có một lần dẫn câu nói của Nam Tuyền "Đạo không lìa vật, lìa vật không phải là Đạo"  đem hỏi Nam Tuyền:
- Cái Đạo siêu việt đó là gì?
Nam Tuyền giơ gậy đánh, Triệu Châu nắm lấy gậy nói:
-Về sau thầy nên cẩn thận, đừng đánh lầm người!
Nam Tuyền bèn khen Triệu Châu rằng:
- Rồng, rắn dễ phân biệt, chân hòa thượng không thể dối.
(Nhất Vị Thiền: Quyển Nguyệt)

Kiến thức và đảm thức của Triệu Châu đều hơn người, chân hòa thượng không thể dối, chân thiền sư cũng không thể dối người.

540  Đánh Rắm.
Có một lần Tô Đông Pha, thi sĩ trứ danh đời Tống làm một bài thi tán Phật như sau:
稽 首 天 中 天
Khể thủ thiên trung thiên
毫 光 照 大 千
Hào quang chiếu đại thiên
八 風 吹 不 動
Bát phong xuy bất động
端 坐 紫 金 蓮
Đoan tọa tố kim liên.
Ta  nay  đảnh  lễ  trước  tòa  sen
Hào  quang  Phật  tổ  chiếu  khắp  miền
Tám  gió  dù  hung  tâm  chẳng  động
Phật  vẫn  ngồi  yên  giữa  thực,  mộng.
(Ngộ Không dịch)

Ý nói: ta lễ Phật tổ, hào quang của ngài có thể chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới. Tám gió thổi không động. (tám gió là: lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc) Phật ngồi ở trên liên hoa tòa, khám phá mưa gió ở thế gian. Tô Đông Pha viết xong bài thơ, rất tự hào, bèn sai thơ đồng đem qua sông cho Phật Ấn coi. Phật Ấn xem xong không nói một tiếng chỉ viết hai chữ "Đánh rắm" vào đằng sau bài thơ, bảo thơ đồng đem về cho Tô Đông Pha. Tô Đông Pha xem rồi, tức giận chịu không nổi, đang đêm đi thuyền qua sông kiếm Phật Ấn. Phật Ấn biết Tô Đông Pha không phải là người 8 gió thổi không động, nên viết vào mảnh giấy một hàng chữ dán ngoài cửa:
八 風 吹 不 動
Bát phong xuy bất động
一 屁 打 過 江
Nhất thí đả quá giang
Tám  gió  dù  hung,  tâm  chẳng  động
Chỉ  vì  phát  rắm  phải  qua  sông.
(Ngộ Không dịch)
Tô Đông Pha đến cửa Phương Trượng, chính mắt trông thấy, không dám gõ cửa, lại lên thuyền trở về.
(Sinh Hoạt Thiền)

Câu chuyện này cho chúng ta thấy phải buông bỏ 8 gió thì mới mong giải thoát được.
Thiền giả khi xử sự mọi việc phải giữ gìn không để cho hoàn cảnh dẫn dắt, không bị tham dục làm mê hoặc định tâm, không bị mạo phạm làm mất đi sự bình tĩnh. Đó mới gọi là Thiền Định.

541  Một nụ cười trong đời.
Mặc Nguyên không bao giờ mỉm cười cho đến chót đời. Khi sắp mất ông triệu tập đồ đệ lại và bảo:
- Các ngươi đã học với ta trên mười năm, hãy nói cho ta biết các ngươi hiểu Thiền như thế nào? Ai diễn tả được rõ ràng sẽ kế vị ta và được truyền y bát.
Mọi người nhìn bộ mặt khó đăm đăm của Mặc Nguyên nhưng không ai trả lời. Diên Trường, một đệ tử lâu năm bước đến gần và đẩy bát thuốc trên bàn cạnh giường về phía trước vài phân. Mặc Nguyên nghiêm mặt hỏi:
- Đó là tất cả sự hiểu biết của ngươi sao?
Diên Trường lại đẩy bát thuốc về chỗ cũ.
Mặc Nguyên mỉm cười rạng rở:
- Tên vô lại, ngươi đã học với ta trên mười năm mà chưa thực biết ta. Hãy nhận lấy y bát.
(Zen Koans)

Diên Trường đẩy bát thuốc về phía thầy biểu thị trong giây phút cuối cùng của thầy, ông không thể bàn về Thiền, ông chỉ muốn thầy sống. Khi nghe thầy hỏi, ông dời bát thuốc về chỗ cũ có ý nói "Nếu thầy cố nài con sẽ lấy lại thuốc, dù thầy có mất, xin đừng lo, con sẽ trông nom tự viện.”
Mặc Nguyên mỉm cười vì đã yên tâm về người kế vị.

542  Thần Tú.
Thần Tú từ nhỏ đã xem nhiều sách vở, sau quyết chí xuất gia, theo Ngũ tổ tu học, được Ngũ tổ rất trọng. Ngũ tổ có lần nói với ông:
- Ta đã độ cho nhiều người, nhưng có thể thông đạt, viên mãn quán chiếu thì không có ai sánh bằng ngươi.

Thần Tú tuy không được truyền y bát, nhưng vẫn phụng sự thầy cho đến khi Ngũ tổ mất. Về sau, ông về trú ở Giang Lăng Đương Dương Sơn. Danh tiếng truyền khắp thiên hạ. Nữ Hoàng đế Võ Tắc Thiên nghe danh, hạ chiếu vời vào cung. Khi kiệu ông vào tới cung, Võ Tắc Thiên hoàng đế quỳ ngay xuống đất nghênh đón, lại sai thiết lập đạo trường ở trong cung để cung dưỡng và thường đến hỏi đạo. Về sau, ông muốn trở lại Đương Dương Sơn, Võ Tắc Thiên lại sai lập chùa cho ông. Theo sách vở chép lại, các vương công đại thần và thứ dân hàng ngày đến tham học với ông cả vạn người. Ông có lưu lại bài kệ: 
一 切 佛 法
Nhất thiết Phật pháp
自 心 本 有
Tự tâm bản hữu
將 心 外 求
Tương tâm ngoại cầu
捨 父 逃 走
Xả phụ đào tẩu
Phật  pháp do  tâm
Tất  cả  đều  vậy
Tưởng  tìm  ngoài  tâm
Bỏ  cha  mà  chạy.

Năm 705, Võ Tắc Thiên và Trung Tông hạ chiếu vời Huệ Năng vào kinh thuyết pháp. Trong chiếu nói là do Thần Tú và Huệ An suy cử. Sự kiện này cho thấy Thần Tú là một người cởi mở, hoạt bát, không hề hận Huệ Năng mà còn kính phục nữa. Vào lúc vãn niên, danh vọng của Huệ Năng ở phương Nam lên cao, một đệ tử của Thần Tú là Thích Nghị xuống phương Nam tìm Huệ Năng để tranh biện lại còn nói:
- Huệ Năng một chữ cũng không biết thì có kiến thức gì?
Thần Tú nghe được chuyện này, bảo đồ đệ rằng:
- Huệ Năng được vô sư trí, thân ngộ thượng thừa ta chẳng bằng được. Vì vậy, thầy ta là Ngũ tổ mới thân truyền y pháp đâu để uổng phí? Ta hận vì thọ quốc ân, lại ở xa quá không thể thân cận mà học hỏi được!
(Hảo Tuyết Phiến Phiến)

Lời nói của Thần Tú khiến chúng ta cảm động. Từ ngàn năm qua, rất nhiều sách Thiền coi nhẹ và nói xấu Thần Tú. Thực ra, ông là một người đáng kính phục. So sánh hai bài kệ trình Ngũ tổ (xem công án 264) thì bài kệ của Thần Tú cho thấy ông ngừng lại ở "Hữu.” Ông nhận rằng Thiền có mục đích, có thể đạt được. Kỳ thực, lau chùi bụi bặm của tâm linh chỉ là quá trình không phải là mục đích. Mặc dầu muốn tâm linh an tịnh phải trải qua giai đoạn lau chùi, nhưng muốn được Bát Nhã, thì không thể chỉ dựa vào lau chùi mà được.
Bài kệ của Huệ Năng cao hơn Thần Tú vì ông giảng thật tướng của Bát Nhã, cho chúng ta biết Bát Nhã không thể gọi thành một danh tướng. Không thể nói là đài gương sáng, cây bồ đề hoặc nói là cái này, cái kia, hoặc bất cứ cái gì. Bát Nhã là tuyệt đối không tánh. Nếu muốn tìm Bát Nhã bằng cách lau chùi thì Bát Nhã không ở đó. Bởi vì tự tánh thanh tịnh khiến bụi trần không thể bám vào, vì vậy việc gì phải lau chùi?
Đốn pháp của Huệ Năng trở thành dòng Thiền chính khiến Tiệm pháp của Thần Tú bị im tiếng. Mặc dầu vậy, nhân cách và phong cách của ông khiến chúng ta phải ngưỡng mộ.

543  Châu Quang.
Thủy tổ của Trà Đạo Nhật Bản là Châu Quang. Ông là đệ tử của Nhất Hưu, thường hay bị ngủ gục, cảm thấy bất an bèn xin thầy thuốc chữa trị. Thầy thuốc khuyên ông nên uống trà, có thể trị được ác tập buồn ngủ. Ông nhận thấy uống trà phải có quy củ, do đó trà đạo được phát sinh.
Khi quy củ trà đạo đã hoàn thành rồi, Nhất Hưu hỏi ông:
- Ngươi lấy tâm cảnh nào khi uống trà?
- Lấy tâm cảnh uống trà lợi cho sức khỏe, mô phỏng Vĩnh Tây thiền sư trong tác phẩm "Uống trà dưỡng sinh ký.”
- Một ông tăng hỏi Triệu Châu "Đại ý của Phật pháp là gì?.” Triệu Châu đáp "Uống trà đi.” Đối với câu trả lời này ngươi thấy sao?
Châu Quang im lặng không đáp. Nhất Hưu sai thị giả bưng một chén trà lại cho Châu Quang. Khi Châu Quang cầm lấy chén trà, Nhất Hưu hét lên một tiếng và lấy tay hất chén trà trong tay Châu Quang rơi xuống đất. Nhưng Châu Quang vẫn đứng yên, sau đó hành lễ và cáo lui. Khi ông ra đến cửa Nhất Hưu gọi:
- Châu Quang!
- Dạ!
- Vừa rồi ta hỏi ngươi tâm đắc khi uống trà, nếu như không nói tâm đắc mà lấy vô tâm uống trà thì sao?
- Liễu lục, hoa hồng.
Nhất Hưu bèn thôi. 
(Thiền Tông Tọa Thạch Minh)

Từ đó Châu Quang cải biến tâm cảnh uống trà, hoàn thành trà đạo bao hàm thiền cơ trong đó. Không phải vì hứng thú, sức khỏe, khảo cứu trà đạo mà là thâm ngộ thiền diệu thú "Uống trà đi.” Câu nói đó bao hàm toàn bộ kinh nghiệm nhân sinh.

544  Sau bức mành giấy.
Thiền sư Tiệm Nguyên ngồi đằng sau một bức mành giấy. Một ông tăng vào độc tham phải nhấc mành lên để chào thầy; ông nhận xét:
- Lạ thật!
Thiền sư nhìn ông im lặng sau đó hỏi:
- Ngươi hiểu không?
- Con không hiểu.
- Trước khi chư Phật xuất hiện, thế giới cũng như lúc này sao ngươi không hiểu?
Về sau, ông tăng đem chuyện này đi hỏi Thạch Sương. Thạch Sương khen ngợi Tiệm Nguyên:
- Tiệm Nguyên giống như một vị thầy dậy bắn cung, ông không bao giờ buông tên mà không trúng đích. 
(Zen Koans)

Phương pháp giảng dạy của Thiền là trực giác và không lời. Tiệm Nguyên im lặng và sau đó hỏi ông tăng có hiểu không. Ông tăng này phải là một ông tăng mới vào nghiệp lâm (?) vì ông không hiểu câu hỏi. Tiệm Nguyên có giải thích cho ông nói rằng ngay từ ban sơ vạn vật đã tự như. Khi Thạch Sương nghe được chuyện này ông nhận xét rằng Tiệm Nguyên đã chỉ pháp một cách trực tiếp nhưng ông tăng không hiểu. Đáng thương cho ông tăng, ông không thể thấy sự việc ở ngay trước mắt mặc dầu đã được thiền sư chỉ điểm. 

545  Cành cây.
Đời Đường, thiền sư Tuyết Phong một hôm ngắm một cành cây thấy rất đẹp bèn nhặt về dâng sư phụ là Đạo An, trên đề mấy chữ "Vốn tự nhiên, không đẽo gọt." Đạo An nhận được lễ vật, vừa thưởng thức, vừa khen đồ đệ:
- Bản sắc của người ở núi là không dùng đao búa.
(Thiền Sinh Mạng Đích Vi Tiếu)

Người sinh hoạt trong chân không diệu hữu không tạo tác, không tham lam, không hư ngụy đó là tông chỉ tu hành lý "không" của nhà Phật.

546  Lương Khoan.
Lương Khoan cả đời tu Thiền, thành tựu rất cao. Khi trở về già, một hôm nhận được thư nhà cho biết cháu ngoại chẳng chịu làm ăn gì cả chỉ lo ăn uống chơi bời, không chóng thì chầy sẽ khuynh gia bại sản. Người nhà hy vọng ông trở về khuyên bảo cháu. Do đó, Lương Khoan từ ngoài ngàn dậm trở về quê. Đứa cháu ngoại cũng rất vui được gập ông cậu, và giữ ông ở lại nhà một đêm. Đêm đó, Lương Khoan cũng không hề dạy dỗ hay mắng mỏ gì cháu. Sáng hôm sau khi sắp đi Lương Khoan bảo cháu:
- Cậu đã già rồi, hai tay đều run rẩy, cháu có thể giúp cậu xỏ dép vào chân không?
Đứa cháu vui vẻ giúp cậu; lúc đó Lương Khoan mới nói:
- Cám ơn cháu, đấy cháu xem người già mỗi ngày mỗi yếu, cháu nên bảo trọng cho mình, lúc còn trẻ nên làm người tốt, làm tốt sự nghiệp.
 Lương Khoan nói rồi bỏ đi, một lời trách cũng không; vậy mà từ đó người cháu không còn tiêu pha xa xỉ nữa.
(Thiền Sinh Mạng Đích Vi Tiếu)

Cái công phu của Lương Khoan đó là lòng khoan dung, chỉ cần hai ba câu là có thể cảm động đối phương, tạo nên kết quả tốt đẹp nhất.

547  Pháp Nhãn. 
Đời Đường, Pháp Nhãn Văn Ích là một vị thiền sư rất trọng sự tích cực thực tiễn. Một hôm có ông tăng hỏi:
- Thế nào là đạo làm người?
- Thứ nhất là dạy ngươi làm, thứ hai cũng kêu ngươi làm. 
(Thiền Sinh Mạng Đích Vi Tiếu)

Mỗi người phải có lòng tích cực mới có thể đạt được hạnh phúc chân chính. Một câu ngạn ngữ nói "Phú quý chẳng quá ba đời.” Câu nói này không phải là hoàn toàn tuyệt đối nhưng thường chúng ta thấy các nhà khá giả thiếu xót sự dậy dỗ con cái tinh thần tinh tiến. Một người tinh tiến trước hết phải đặt mục đ