THƯ VIỆN HOA SEN
SearchEnglish Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 

 
.
NHỮNG ĐOÁ HOA THIỀN
Dịch gỉa: Dương Đình Hỷ
Phước Quế Publications, Arlington, USA 2003
Mục Lục.
Quyển Thượng.
Quyển Trung.
Quyển Hạ.
Quyển Chung.
300.  Cái hồ của Dược Sơn.
Dược Sơn hỏi một ông tăng mới đến:
- Người từ đâu lại?
- Từ Nam Hồ lại.
- Hồ có đầy không?
- Chưa.
- Sao mưa nhiều như vậy mà hồ vẫn chưa đầy?
 Ông tăng lặng yên không đáp. 
 (Zen Koans)
Khi một ông tăng tới thiền viện, câu đầu tiên ông bị hỏi thường là từ đâu tới, có nghĩa là ngươi học thiền với ai. Ở đây hồ không chỉ cái cái hồ địa lý mà chỉ tâm ông tăng. Câu trả lời của ông tăng cho thấy ông quá đơn giản (ít hiểu thiền). Dược Sơn dồn ông: Sao mưa nhiều như thế mà hồ vẫn chưa đầy? Hàng ngày chúng ta được thấm nhuần mưa pháp, sao hồ vẫn chưa đầy?

301.  Sống một mình trên đỉnh núi.
Một ông tăng hỏi Vân Cư:
- Có thể lánh cư trên đỉnh núi không?
- Sao ngươi lại bỏ tọa thiền ở thung lũng mà trèo lên đỉnh núi 
   vậy? 
 (Zen Koans)

Công án này thích hợp cho chư tăng cũng như cho người trong xã hội hiện tại. Nếu tôi lánh cư thì sẽ thế nào? Sẽ không có ai làm phiền tôi, mọi sự sẽ êm ả và thanh tịnh. Nhiều người muốn trốn chạy. Vân Cư trả lời rằng vấn đề là ở tâm ngươi bất an. Thiền ở thung lũng tức là thiền ở đỉnh núi. Nhiều người nghĩ rằng thiên đường hay hạnh phúc là ở một nơi nào đó. Nhiều người nghĩ rằng tập thiền là một phương cách có một đời sống khác với cuộc sống hiện tại. Nhưng trở thành tốt không có nghĩa là dẹp bỏ những điều xấu đi, mà là những điều xấu đã trở thành tốt. Khó nhọc và khó khăn làm chúng ta nhận chân được giá trị của cuộc đời. Càng nhiều nước đá thì có nhiều nước; càng nhiều khó khăn thì đời càng đáng sống. Nhưng người ta vẫn còn nghĩ rằng nơi chốn và hoàn cảnh là nguyên nhân của khó khăn. Nếu có tâm và thái độ như thế thì bất cứ đi đâu cũng sẽ gập khó khăn.

302.  Sen xanh.
Một ông tăng hỏi Phổ Nguyện:
- Phải chăng sen xanh không theo gió lửa mà tiêu tán chăng?
- Không có gió lửa, chẳng theo cái gì? 
(Thiền Cơ)

Sen xanh chỉ tự tánh, Nhà Phật nói thân thể con người do tứ đại (đất, nước, gió, lửa) mà thành. Ông tăng hỏi có phải tự tánh không theo thân thể mà tiêu tán chăng? Thiền sư hỏi ngược lại, ám chỉ ông tăng phải vứt bỏ thân thể thì sen xanh tự nhiên dõng hiện.

303.  Chúa động.
Khi đi chơi núi, thấy tảng đá một ông tăng hỏi Động Sơn :
- Tảng đá này có chủ nhân không?
- Có
- Là ai?
- Ngươi ở trong tam gia thôn tìm gì?
- Vậy sao! Thế nào là chúa động?
- Ngươi gấp làm gì? 
 (Thiền Cơ) 

Chúa động chỉ tự tánh.

304.  Báu trong nang.
Một ông tăng hỏi Triệu Châu:
- Thế nào là báu trong túi?
- Vừa miệng 
 (Thiền Cơ)

Báu trong túi chỉ tự tánh; tự tánh ai cũng có như người ta ai cũng có một cái mồm.

305.  Bửa củi.
Đạo Khuông hỏi một ông tăng:
- Ngươi vừa ở đâu lại?
- Vừa bửa củi xong.
- Còn có củi chưa bửa không?
- Có.
- Củi chưa bửa là gì?
Ông tăng không đáp được. Thiền sư nói:
- Nếu ngươi không nói được hãy hỏi ta, ta sẽ đáp cho.
- Củi chưa bửa là gì?
- Thật biết lừa giết người! 
 (Thiền Cơ)

Củi chưa bửa chỉ tự tánh.

306.  Giáo lý tối thượng.
Tuyết Phong hỏi Đức Sơn:
- Con có thể chia sẻ giáo lý tối thượng mà chư tổ đã đạt được không?
Đức Sơn đánh cho một gậy mà rằng:
- Ngươi nói cái gì?
 Tuyết Phong không hiểu, ngày hôm sau lại lặp lại câu hỏi. Đức Sơn nói:
- Thiền không có lời, cũng không có gì để cho.
Nham Đầu nghe được chuyện này bèn nói:
- Đức Sơn có xương sống bằng sắt, nhưng đã làm hỏng thiền bằng những lời nói mềm.
(Zen Koans)

Tuyết Phong là pháp tử của Đức Sơn. Đối thoại này xẩy ra khi Tuyết Phong hãy còn là một ông tăng trẻ. Cũng như những người khác ông nghĩ Niết Bàn, giáo lý tối thượng là một cái gì đó; do đó Đức Sơn đánh ông một gậy, nhưng ông vẫn chưa hiểu. Ngày hôm sau, ông hỏi lại. Đức Sơn đáp "Thiền không có lời" , Bồ Đề Đạt Ma " Ta không biết", Huệ Khả "không nắm được.” Thiền là đời sống, nếu dùng khái niệm thì nó chết. Khi Nham Đầu phê bình Đức Sơn làm hỏng thiền với những lời giảng giải, thì chính lời phê bình này cũng đã làm hỏng thiền vì lắm lời. Thiền phải tự thực chứng. Có phải công án này dễ hiểu không? Nếu đúng vậy thì chỉ là trí thức.

307.  Cà sa trùm đầu.
Một ông tăng vào phòng Triệu Châu  để tham vấn. Và thấy Triệu Châu lấy cà sa trùm đầu: ông tăng vội lui ra. Triệu Châu 
gọi lại:
- Đừng nói ta không tiếp ngươi. 
 (Zen Koans)

Khi một thiền sinh vào phòng thầy để nhận sự hướng dẫn gọi là độc tham. Đối với thiền sinh đây quả là một sự đụng độ gay cấn và thường được đón chờ với hy vọng, sợ hãi hay tuyệt vọng. Trong công án này, ông tăng ngạc nhiên thấy thầy mình trùm đầu. Thầy bị lạnh? hay đang ngủ? Chấp vào sự mong đợi của mình, ông tăng thối lui. Nhưng Triệu Châu không ngủ. Mặc dầu một ngọn núi bị che bởi mây, nhưng ngọn núi vẫn ở đấy dù bị che hay không.

308.  Cử động Thiền.
Một nhân viên thư viện thấy một ông tăng ngồi thiền trong thư viện rất lâu. Cuối cùng, người ấy hỏi ông tăng:
- Sao thầy không đọc kinh?
- Ta không biết đọc.
- Sao thầy không hỏi người nào biết?
Ông tăng đứng dậy, chắp hai tay vào ngực theo tư thế thiền, cúi thấp mình xuống và lễ phép hỏi:
- Thế này là gì?
Nhân viên thư viện không trả lời được. 
 (Zen Koans)

Nhân viên thư viện chấp vào ý tưởng và thường lệ: Kinh để đọc và thư viện là nơi để đọc, không phải để thiền. Nhưng đời sống không đơn giản như thế. Đức Phật để 6 năm để tìm giác ngộ. Triệu Châu để 6 năm để tìm ý nghĩa của chữ "Vô.” Lời thật không thể hỏi. Ông tăng làm một cử động thiền và hỏi "Thế này là gì?.” Nhân viên thư viện không trả lời được vì ông ta không hiểu Phật pháp không nhất thiết ở trong kinh điển.

309.   Không thể nghĩ bàn.
Có ông tăng hỏi Duy Khoan:
- Con chó nhỏ có Phật Tánh không?
- Có
- Thầy có không?
- Ta không có.
- Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tại sao riêng thầy lại không có?
- Ta không phải là tất cả chúng sanh.
- Nếu không phải là chúng sanh thì là Phật sao?
- Ta không phải là Phật.
- Vậy thực ra là gì?
- Cũng không phải là vật gì.
- Có thể thấy, có thể nghĩ bàn không?
- Không thể nghĩ bàn. 
 (Thiền Cơ)

Phật tánh là cảnh giới tuyệt đối, không thể cảm giác, nắm bắt, nghĩ bàn; không là chúng sinh, không là Phật, không là vật.

310.  Mời vào.
Cam Chí thấy Tuyết Phong tới vội đóng cửa lại và nói:
- Mời vào!
Tuyết Phong đứng ngoài dậu tre giơ tay phất cà sa một cái, Cam Chí lập tức mở cửa, vái lạy. 
 (Thiền Cơ)

Cam Chí đóng cửa là có tâm phân biệt trong, ngoài. Tuyết Phong phất tay áo là chỉ đã vào trong. Cam Chí hiểu được điều này nên vội mở cửa vái lạy.

311.  Lưỡi rơi xuống đất.
Một ông tăng hỏi Nghiêu Sơn :
- Thế nào là ý tổ sư từ Tây sang?
- Tiết trọng Đông trời rất lạnh.
- Thế nào là chỗ thăm thẳm của thiền sư?
- Đợi lưỡi ngươi rơi xuống đất ta sẽ bảo cho biết. 
 (Thiền Cơ)

Đừng đi hỏi người ngoài, ý tổ sư, chỗ thăm thẳm đều chỉ tự tánh, phải tự mình thể hội.

312.  Kim tre, dây gai.
Một ông tăng hỏi Pháp Thường:
- Thế nào là đại ý của Phật pháp?
- Kim tre, dây gai. 
 (Thiền Cơ)

Phật pháp ở đâu cũng có, tất cả đều hiện thành.

313.  Nước không gân cốt.
Bàng cư sĩ hỏi Đạo Nhất:
- Nước không gân cốt sao mang được thuyền lớn?
- Nơi đây không có nước, cũng không có thuyền nói gì đến gân cốt? 
  (Thiền Cơ)

Nước chỉ bản thể giới, thuyền chỉ hiện tượng. Câu nói của Đạo Nhất không chấp cả bản thể lẫn hiện tượng.

314.  Chẳng nghĩ.
Dược Sơn nhắm mắt ngồi thiền, một ông tăng hỏi:
- Thầy nghĩ gì vậy?
- Nghĩ cái không thể nghĩ.
- Làm sao nghĩ được cái không thể nghĩ?
- Chẳng nghĩ. 
 (Thiền Cơ)

Có nghĩ là có phân biệt vì vậy Dược Sơn mới nói chẳng nghĩ để đả phá cái chấp này cho ông tăng.

315.  Vạn dậm không mây.
Một ông tăng hỏi Thọ Chiểu:
- Khi vạn dậm không mây thì làm sao?
- Trời xanh cũng phải ăn gậy.
- Sao lại trách trời?
- Vì khi chúng ta cần mưa thì trời lại không mưa, và khi chúng ta cần trời đẹp thì trời lại xấu. 
 (Zen Koans)

Ông tăng chấp vào trạng thái tâm mà ông đạt được, có lẽ trong sáng như bầu trời không mây. Nhưng thiền sư đánh vào bất cứ gì cần phải đánh để thức tỉnh chân lý: tăng, sư, Phật, trời, vũ trụ. Nếu chấp vào trời đẹp, trời xấu liền tạo ra vấn đề.

316.  Thiên Long trốn nơi nao?
Một hôm Quan Sơn ở Diệu Tâm Tự đến Thiên Long Tự bái phỏng Mộng Song quốc sư, hỏi rằng:
- Kim Sí điểu vương đang ở trên trời, không biết Thiên Long trốn nơi nao?
- Ái chà! đáng sợ, đáng sợ!
Mộng Song kêu lên rồi chúi đầu vào áo cà sa và đi ra sau bình phong. Quan Sơn lạy tạ rồi lui.Tăng Phó khen rằng:
- Hai sư có lễ tiết thực khác người vậy. 
(Nhất Nhật Nhất Thiền Ngữ)

Theo kinh điển Kim Sí là loài chim ăn thịt rồng. Nhưng lấy cà sa che đầu thì Kim Sí không ăn được.

317.  Tay không về quê.
Đạo Nguyên (1200-1253) một vị thiền sư Nhật Bản du học Trung Quốc khi về mang theo một câu pháp ngữ:
- Sư núi này kinh lịch Nghiệp lâm không nhiều, ngẫu nhiên ở Thiên Đồng Sơn gập được Như Tĩnh thiền sư (1163-1228) chỉ điểm đạo lý "mắt ngang, mũi dọc" không còn bị người đời lừa dối nữa, do đó tay không về quê; không có một chút Phật pháp gì. Chỉ ngày ngày xem mặt trời mọc ở phương Đông; đêm đêm xem trăng lặn ở phương Tây; canh năm nghe gà gáy sáng, 3 năm lại có một năm nhuận. 
 (Nhất Nhật Nhất Thiền Ngữ)

Do Thiên Đồng chỉ dạy Đạo Nguyên đã thấy được "như" , do đó không bị người đời lừa dối nữa.

318.  Đốn cây.
Tuyết Phong cùng đồ đệ vào rừng đốn cây, ông nói với đồ đệ:
- Đừng ngưng rìu cho tới khi chặt tới tâm điểm.
- Con đã chặt.
- Chư tổ truyền pháp cho đệ tử bằng cách ấn tâm, còn ngươi thì sao?
Ông tăng ném cái rìu xuống đất và nói:
- Truyền!
Tuyết Phong vớ lấy gậy và đánh ông. 
 (Zen Koans)

Thiền sinh học thiền không phải chỉ ở lúc ngồi thiền hay nghe giảng pháp mà ở cả trong khi làm công việc hàng ngày. Khi Tuyết Phong nói 'tới tâm điểm' không những chỉ tâm cây mà còn ám chỉ tâm người. Thiền sư chưa nói dứt lời, đồ đệ đã cắt ngang 'con đã chặt'. Tuyết Phong đổi đề tài và hỏi đồ đệ đã được truyền tâm ấn chưa? Ông tăng cần lời cảnh giới của Tuyết Phong vì ông hãy còn chấp vào 'truyền'. Nếu ông có thể ném được khái niệm truyền tâm như đã ném cái rìu thì hay biết bao! Cây có thể dùng rìu để chặt, nhưng tâm phải chặt bằng tâm, vì vậy ông tăng mới bị đánh.

319.  Nhìn dưới chân.
Một đêm nọ, Pháp Diễn cùng đồ đệ vào chùa; đèn cầm trong tay bỗng bị gió thổi tắt. Pháp Diễn bảo các đồ đệ mỗi người nói một chuyển ngữ. Phật Quả Viên Ngộ nói:
- Nhìn dưới chân!
Câu nói này được Pháp Diễn tán thưởng. 
 (Thiền Đích Trí Tuệ Tinh Hoa)

Chuyển ngữ là lời nói biểu hiện ngộ tâm. Ý Pháp Diễn là "Đi trong đêm tối phải nhờ đèn, nay đèn tắt, các ngươi nói phải làm sao đi, nói mau!"  "Nhìn dưới chân" là một câu nói bình thường, nhưng khi đèn tắt thì có chuyện gì quan trọng hơn là nhìn dưới chân? Quan sát kỹ rồi mới bước thì khỏi ngã. Thiền học chỉ ta phải tự quán sát đừng để đi ra ngoài Phật đạo, dù hoàn cảnh tối tăm cũng không làm tắt ngọn đèn tự tâm.

320.  Cây và dây leo.
Có ông tăng hỏi Quy Sơn:
- Nghe nói thầy thường dạy học trò tham cứu câu nói " hữu cú, vô cú như cây và dây leo" có phải không?
- Phải.
- Con có thể hỏi thêm không?
- Đương nhiên, ngươi cứ việc hỏi.
- Khi cây ngã, dây leo khô thì "cú" đi về đâu?
Lúc dó Quy Sơn đang dùng bay trát tường bèn ném bay xuống đất, cười ha hả mà đi về phòng.
 (Sinh Hoạt Thiền)

"Hữu cú, vô cú" là chỉ lưỡng biên. "Hữu" sở dĩ có là vì có "Vô"; "Vô" sở dĩ có là vì có "Hữu.” Có những cây phải có dây leo bám vào thì mới sống được; cây và dây leo cộng sinh. Nếu đã đạt tới cảnh giới 'không' tuyệt đối thì lưỡng biên phải gạt bỏ. Đó là cảnh giới "Nhất thiết giai không" của kinh Kim Cương vậy.

321.  Ta kêu viện chủ.
Một hôm Quy Sơn sai thị giả đi kêu viện chủ đến. Khi viện chủ đến, Quy Sơn nói:
- Ta kêu viện chủ, ngươi lại làm gì?
Viện chủ không trả lời được.
Quy Sơn lại sai thị giả đi kêu đệ nhất tọa đến. Khi đệ nhất tọa đến, Quy Sơn nói:
- Ta kêu đệ nhất tọa, ngươi lại làm gì?
Đệ nhất tọa cũng không trả lời được. 
 (Thiền Cơ)

Quy Sơn phá cái chấp danh tướng cho Viện chủ và Đệ nhất tọa. Có người giảng Viện chủ và Đệ nhất tọa chỉ làm công việc của mình một cách máy móc, không tỉnh thức trong công việc vì vậy đã không thể hỏi ngược lại Quy Sơn "Thầy không biết con là Viện chủ sao?"

322.  Lồng đèn lớn.
Ngưỡng Sơn hỏi Quy Sơn:
- Thế nào là ý tổ sư từ Tây sang?
- Lồng đèn lớn.
- Chỉ cái đó thôi sao?
- Cái đó là cái gì?
- Lồng đèn lớn.
- Quả nhiên ngươi chưa biết. 
 (Thiền Cơ)

Ngưỡng Sơn hỏi tự tánh, Quy Sơn tùy tiện đáp "lồng đèn lớn.” Ngưỡng Sơn liền bị chấp vào lồng đèn nên bị Quy Sơn  mắng.

323.  Tốt ở chỗ nào?
Một hôm trời mưa, một ông tăng nói:
- Mưa tốt.
Ngưỡng Sơn hỏi:
- Tốt chỗ nào?
Ông tăng không đáp được.
Ngưỡng Sơn nói:
- Ta biết.
- Tốt chỗ nào?
Ngưỡng Sơn chỉ mưa. 
 (Thiền Cơ)

Ông tăng nói mưa tốt là chỉ cảm giác. Ngưỡng Sơn chỉ mưa là ám chỉ tốt ở bản thân của mưa (tự tánh).

324. Tiếc thay một chén trà.
Đầu Tử đang uống trà nói:
- Sâm la vạn tượng đều ở trong chén trà này.
Trì Châu hòa thượng lật ngược chén trà:
- Sâm la vạn tượng ở đâu?
Đầu Tử than:
- Tiếc thay một chén trà! 
(Thiền Cơ)

Chén trà chỉ tự tánh.

325.  Hồ Hán đều ẩn.
Tuyết Phong thượng đường nói rằng:
- Các ngươi nên hiểu chuyện này: như đài gương sáng Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán.
Huyền Sa hỏi:
- Bỗng nhiên gương vỡ thì sao?
- Hồ, Hán đều ẩn! 
 (Thiền Cơ)

Gương chỉ tự tánh, Hồ, Hán chỉ ngoại trần, ngoại cảnh.

326.  Trương Chuyết.
Trương Chuyết đến tham phỏng Thạch Sương, Thạch Sương hỏi tên, Trương Chuyết đáp:
- Trương Chuyết.
- Tìm cái khéo còn chẳng được, cái vụng từ đâu lại?
Trương Chuyết có chỗ tỉnh ngộ bèn làm bài kệ:
光 明 寂 照 徧 河 沙
Quang minh tịch chiếu biến hà sa
凡 聖 含 靈 共 我 家
Phàm thánh hàm linh cộng ngã gia
一 念 不 生 全 體 現
Nhất niệm bất sinh toàn thể hiện
六 根 纔 動 被 雲 遮
Lục căn tài động bị vân già.
斷 除 煩 惱 重 増 病
Đoạn trừ phiền não trọng tăng bệnh
趣 向 眞 如 總 是 邪
Thú hướng chân như tổng thị tà
隨 順 眾 緣 無 罣 礙
Tùy thuận chúng duyên vô quái ngại
涅 槃 生 死 等 空 花
Niết bàn sinh tử đẳng không hoa.
Quang  minh  lặng  chiếu  khắp  hà  sa
  Phàm  thánh  hàm  linh  vốn  chung  nhà
Một  niệm  chẳng  sanh  toàn  thể  hiện.
Sáu  căn  vừa  động  bị  che  lòa.
Phá  trừ  phiền  não  càng  thêm  bệnh.
Tìm  đến  chân  như  âu  cũng  là
Tùy  thuận  các  duyên  không  chướng  ngại
Niết  Bàn  sanh  tử  thẩy  không  hoa. 
(Thích Thanh Từ dịch)
 (Minh Tâm Kiến Tánh Thoại Thiền Tông)

Câu trả lời của Thạch Sương là lối chơi chữ. Chuyết có nghĩa là vụng về. Thạch Sương nhân tên của Trương Chuyết mà giảng tự tánh phải vượt lên đối đãi (khéo, vụng). Đọc bài kệ chúng ta có thể biết thế nào là tự tánh và làm thế nào để ngộ. Nếu ta cứ để tùy duyên không chấp không, hữu có thể đạt tới một niệm chẳng sanh, thì tự tánh tự nhiên hiển lộ. Nếu một niệm trụ cảnh thì là do thức tâm điều khiển rơi vào thế đế. Thiền vốn siêu việt. Các vị thiền sư để tiếp dẫn người học có lúc dùng khẳng định, có lúc dùng phủ định, có lúc dùng cả khẳng định và phủ định hoặc đều không dùng là vì sợ người học chấp không, chấp có. Như kinh Đại Niết Bàn đề cập đến 20 loại không như: thắng nghĩa không, vô vi không, vô tánh tự tánh không... đều là siêu việt phủ định; Dư không là siêu việt khẳng định; không không là siêu việt khẳng định và phủ định. 
Tinh thần của nhà Thiền là như vậy, giống như một đám mây trong không, thiên biến vạn hóa, không thể nắm bắt được. 

327.  Đại nhân duyên.
Có ông tăng hỏi Tiếu Nham Đức Bảo thiền sư:
- Nghe nói chư Phật xuất hiện vì một đại nhân duyên, xin hỏi đại sư nhân duyên đó là gì?
- Mặc áo, ăn cơm, đại tiện, tiểu tiện.
Ông tăng không chịu, chẳng lạy mà ra. Thiền sư kêu lại đọc cho bài kệ:
諸 佛 出 於 世
Chư Phật xuất ư thế
唯 爲 大 因 緣
Duy vi đại nhân duyên
屙 屎 並 放 尿
A thỉ tịnh phóng niệu
飢 餐 困 打 眠
Cơ xan khốn đả miên
目 前 緊 急 事
Mục tiền khẩn cấp sự
人 只 欲 上 天
Nhân chỉ dục thượng thiên
談 玄 共 說 妙
Đàm huyền cộng thuyết diệu
遭 罪 復 輸 錢
Tao tội phục thâu tiền
Chư  Phật  xuống  trần  thế 
Chỉ  vì  đại  nhân  duyên
Đại  tiện  và  tiểu  tiện
Đói  ăn,  mệt  ngủ  liền.
Là  chuyện  gấp  trước  mắt
Người  chỉ  muốn  lên  trời
Nói  huyền  và  nói  diệu 
Làm  tội  lại  thâu  lời.
Ông tăng mắc cỡ, lạy tạ rồi lui. 
(Minh Tâm Kiến Tánh Thoại Thiền Tông).

Mục đích của Thiền là được tâm bình thường. Mặc áo, ăn cơm, đại tiện, tiểu tiện, ngủ nghê đều là những sinh hoạt cơ bản của chúng sanh, cứ tùy duyên mà làm đừng cưỡng cầu thì được tâm bình thường, khế hợp với Đạo.

328.  Thiền sàng.
Hòa An Thông thiền sư nói với Ngưỡng Sơn:
- Mang thiền sàng lại đây!
Ngưỡng Sơn mang thiền sàng lại.
- Mang về chỗ cũ.
Ngưỡng Sơn lại mang về chỗ cũ.
- Thiền sàng bên đó là vật gì?
- Không vật.
- Ngưỡng Sơn.
- Dạ!
- Đi ra! 
 (Thiền Cơ)

Bên này, bên kia đều là biên kiến phải bỏ. Khi Ngưỡng Sơn dạ là rơi vào giữa, nhưng ở giữa cũng phải bỏ nên thiền sư bảo " Đi ra.”

329.  Trăng như vành cung.
Buổi tham tối xong, đại chúng sửa soạn giải tán. Khả Quán nói:
- Đại chúng!
Đại chúng quay đầu lại.
- Ngắm trăng!
Đại chúng ngắm trăng.
- Trăng giống vành cung; ít mưa, nhiều gió.
Đại chúng không đáp được. 
 (Thiền Cơ)

Khả Quán ám thị đại chúng tham ngắm trăng trên trời, đánh mất ngọc quý trong tay.

330.  Xem tên.
Thạch Củng thường lắp tên, trương cung tiếp đãi các ông tăng. Một hôm có Nghĩa Trung tới:
- Xem tên!
Nghĩa Trung liền cởi áo bầy ngực ra.
- 30 năm ta lắp tên, trương cung, chỉ bắn trúng được một nửa người. 
(Thiền Cơ)

Mũi tên chỉ tự tánh.

331.  Nửa đêm bàn chuyện.
Tây Mục bỗng nhiên gọi:
- Thị giả!
- Dạ!
- Đợi đến nửa đêm sẽ bàn chuyện với ngươi! 
(Thiền Cơ)
Câu nói của Tây Mục ám chỉ hiện tại ngươi tự bàn chuyện.

332.  Bát sứ Định Châu.
Có một ni cô đem đến một cái bát sứ. Như Mẫn nâng bát lên hỏi:
- Cái bát này làm ở đâu?
- Đây là bát sứ Định Châu.
Như Mẫn liền đập bát vỡ tan. 
(Thiền Cơ)

Bát sứ Định Châu là thuộc lãnh vực trí thức, muốn đạt được bản lai diện mục (tự tánh) thì phải đập vỡ đi.

333.  Chỗ trú của Triệu Châu.
Triệu Châu đến thăm Vân Cư, Vân Cư hỏi:
- Lão đại hán, sao không tìm chỗ trụ trì lúc tuổi già rồi?
- Có thể ở đâu được?
- Trên núi có một chùa cổ.
- Tốt nhất ngươi tự mình ở!
Vân Cư không trả lời. Sau đó Triệu Châu lại đến thăm Ngạc Châu, Ngạc Châu cũng hỏi:
- Lão đại hán, sao không tìm chỗ trụ trì?
- Có thể ở đâu được?
- Lão đại hán, ngay chỗ cư trú cũng không biết sao?
- Ta từng cưỡi ngựa 30 năm, nay bị ngã từ lưng lừa. 
 (Zen Koans)

Triệu Châu bắt đầu đi tham học vào tuổi 61 (sau khi Nam Tuyền mất) Đến năm 80 ông trụ trì ở Quán Âm Viện, Triệu Châu. Ông thọ 120 tuổi và nổi tiếng trong các cuộc tranh luận với các thiền sư khi đi thăm viếng các thiền viện. Ông để lại nhiều công án hơn bất cứ một vị thiền sư nào. Khi Vân Cư đề nghị ông ngưng thăm viếng và trụ trì ở một chỗ nhất định; ông đã biết chỗ ở của mình rồi và không lúc nào rời nó. Vì vậy câu trả lời "Có thể ở đâu được" là một câu nói móc. Còn như Vân Cư đề nghị Triệu Châu ở ngôi chùa cổ, Triệu Châu bảo ông hãy tự mình ở vì đối với Triệu Châu thiền không có nghỉ hưu; thiền sư tự do làm gì mình muốn làm. Khi Triệu Châu viếng thăm Ngạc Châu cũng bị hỏi cùng câu hỏi và cũng đưa ra cùng câu trả lời. Nhưng Ngạc Châu lại coi câu trả lời ở bề mặt nên nói:
- Thật xấu hổ cho ngươi, ở tuổi ngươi ngươi phải biết chỗ trụ trì của mình ngay dưới chân chứ.
Để trả lời, Triệu Châu nói ông thường quen đối phó với ngựa chứ không với lừa. Lâm Tế nổi tiếng với tiếng hét, Đức Sơn với cây gậy và Triệu Châu với lời nói đúng lúc.

334  Biển khổ sóng lớn.
Một ông tăng hỏi Đại Diên:
- Biển khổ sóng lớn, dùng thứ gì để kết bè?
- Dùng trúc.
- Như vậy là có thể qua biển sao?
- Người mù theo người mù đi trước; người câm theo người câm đi trước. 
(Thiền Cơ)

Dùng trúc kết bè là phụ thuộc vào ngoại vật, cũng như người mù, câm phải theo người đi trước, sao bằng tự độ?

335  Người trong làng.
Có ông tăng hỏi Linh Thụy:
- Phật là gì?
- Ngươi là người trong làng.
- Thế nào là ý tổ sư từ Tây sang?
- 10 vạn 8 ngàn dậm. 
 (Thiền Cơ)

Người trong làng là chỉ Phật trong người. Còn hỏi ý tổ sư từ Tây sang là còn mong cầu thì hãy còn xa làng đến 10 vạn 8 ngàn  dậm vậy!

336  Cái nón.
Viên Trí cầm nón định đi ra, Vân Nham hỏi:
- Để làm gì?
- Có chỗ dùng.
- Gió, mưa đến phải làm sao đây?
- Đội lên.
- Nó còn bị đội sao? 
 (Thiền Cơ)

Nó chỉ tự tánh; gió, mưa chỉ ngoại duyên, ngoại trần.

337.  Phật ở trong nhà.
Dương Phủ từ biệt cha mẹ đến Tứ Xuyên bái phỏng Vô Tế bồ tát. Trên đường đi, gập một vị hòa thượng già, vị này hỏi:
- Ngươi đi đâu?
Dương Phủ nói ý định đi học với bồ tát Vô Tế. Vị hòa thượng già nói:
- Tìm bồ tát chẳng thà tìm Phật còn hơn.
- Phật ở đâu mà tìm?
- Ngươi cứ về nhà thấy người nào khoác chăn, đi dép ngược ra đón ngươi thì người đó chính là Phật. 
Dương Phủ y lời về nhà. Lúc đó đã nửa đêm, mẹ ông nghe tiếng con mình gọi cửa, mừng rỡ không kịp mặc áo, khoác vội cái chăn, xỏ lộn dép chạy vội ra mở cửa. Dương Phủ nhìn thấy, lập tức đại ngộ. Từ đó về sau chuyên tâm phụng dưỡng bố mẹ, lại còn viết sách chú thích hiếu kinh.
 (Minh Tâm Kiến Tánh Thoại Thiền Tông)

Nhà Phật coi luân lý rất trọng, không dạy người ta điều gì ngoài luân lý. Bất cứ người nào nếu không được cha mẹ cho phép đều không được xuất gia.

338   Khẩu đầu Thiền.
Có ông tăng ở trong điện Phật, ngồi xoay lưng lại tượng Phật. Một ông tăng khác nói:
- Người tu chẳng xoay lưng lại Phật.
Ông tăng kia đáp:
- Phật thân ở khắp Pháp giới, ngồi vào hướng nào đây?
Lại có một ông tăng ngủ ở trong điện Phật. Một ông tăng khác nói:
- Sao lại ngủ ở trước mặt Phật?
Ông kia đáp:
- Ngươi chỉ cho ta chỗ nào ngủ mà không có Phật. 
 (Minh Tâm Kiến Tánh Thoại Thiền Tông)

Đây chỉ là Thiền ngoài miệng, chưa thực vượt lên hình tượng.

339  Cái ghế.
Quế Sâm đến tham Huyền Sa, Huyền Sa hỏi:
- Ba giới duy tâm, ngươi hiểu thế nào?
Quế Sâm chỉ cái ghế hỏi ngược lại:
- Hòa thượng gọi cái này là gì?
- Cái ghế.
- Hòa thượng không hiểu ba giới duy tâm.
Huyền Sa nói:
- Ta gọi nó là gỗ, ngươi gọi nó là gì?
- Quế Sâm cũng gọi nó là gỗ.
Huyền Sa thừa nhận là đúng. 
 (Minh Tâm Kiến Tánh Thoại Thiền Tông)

Cái ghế là do gỗ làm thành. Gọi là ghế là do hình tượng của nó. Gọi là gỗ là không bị hình tượng trói buộc.

340  Thiện Tĩnh.
Thiện Tĩnh khi ở với Phổ Dược trông nom việc làm vườn. Có ông tăng từ biệt Phổ Dược, Phổ Dược hỏi:
- Bốn mặt đều là núi, xà lê đi đâu?
Ông tăng không đáp được, kể cho Thiện Tĩnh nghe, Thiện Tĩnh đáp hộ ông:
- Tre rậm không ngăn nước chẩy, núi cao chẳng cản mây bay.
Ông tăng bạch lại với Phổ Dược. Phổ Dược nói:
- Đây tất không phải là lời ngươi nói!
Ông tăng thưa đó là lời của Thiên Tĩnh dạy ông nói.
Phổ Dược thượng đường bảo đại chúng rằng:
- Các ngươi đừng coi thường viên đầu, ngày sau ông sẽ làm thầy của 500 người.
Về sau quả nhiên như lời. 
(Minh Tâm Kiến Tán Thoại Thiền Tông)

Bốn mặt là núi là chỉ những chướng ngại, nghịch duyên; ông tăng vì chấp tướng núi nên không đáp được. Nếu được cái tâm lớn không ngoài, nhỏ không trong, không quái ngại thì chỗ nào mà không qua được.

341  Ăn trái cây.
Huyền Sa và Vi Giám Quân cùng ăn trái cây. Vi Giám Quân hỏi:
- Thế nào là dùng hàng ngày mà không biết?
Huyền Sa đưa trái cây cho Vi Giám Quân:
- Ăn đi!
Vi Giám Quân ăn xong lại nhắc lại câu hỏi, Huyền Sa nói:
- Đó là dùng hàng ngày mà không biết. 
 (Thiền Cơ)

Ở đây, trái cây chỉ tự tánh.

342  Đánh trống vì ba quân.
Minh Giáo thượng đường, giơ phất trần trong tay lên, nói:
- Cái này tiếp trung, hạ nhân.
Có ông tăng hỏi:
- Thượng thượng nhân đến làm sao tiếp?
- Đánh trống vì ba quân! 
 (Thiền Cơ)

Đánh trống vì ba quân có nghĩa thượng thượng nhân tự tiếp.

343  Hột đào ngàn năm.
Tàng Dụng lên pháp đường hỏi:
- Người ngu nói vàng là đất, còn người trí thì nói sao?
Có ông tăng bước ra vái lạy rồi lui lại đứng yên.
- Là ý gì vậy?
- Thỉnh thầy minh giám.
- Hột đào ngàn năm. 
 (Thiền Cơ)

Vàng chỉ tự tánh, người ngu dùng mắt thịt nên không thấy, câu hột đào ngàn năm chỉ ông tăng đã siêu phàm, nhập thánh.

344  Ngưỡng Sơn vẽ một vạch.
Quy Sơn bảo Ngưỡng Sơn:
- Ta và ngươi cả ngày nói chuyện Thiền mà có được gì?
Ngưỡng Sơn dùng ngón tay vẽ một vạch trong không, Quy Sơn nói:
- Rất may là ngươi thương lượng với ta, kẻ khác có lẽ đã bị ngươi lừa dối rồi. 
(Zen Koans)

Đây là Quy Sơn khảo nghiệm Ngưỡng Sơn. Nếu Ngưỡng Sơn đáp không được gì thì cả hai thầy trò đã bị phí thời giờ. Nếu đáp có được gì thì lại rơi vào sự chấp trước. Ngưỡng Sơn đã tránh được cái bẫy đó bằng cách vẽ một vạch trong không. Đó là thực tại, nhưng không có dấu vết gì. Mọi sự việc trong thế giới này đến rồi đi, xuất hiện và biến mất. Nhưng đối với  những thiền sinh chưa có kinh nghiệm thì có thể lầm  ngón tay 
và mặt trăng.

345  Vô Nghiệp.
Quốc sư Vô Nghiệp nói:
- Nếu một người còn thích Thánh, ghét phàm, thì dù sự chấp này nhỏ như một sợi chỉ, nó cũng đủ mạnh để kéo hắn vào nẻo súc sanh. 
  (Zen Koans)

Quốc sư là thầy của Hoàng Đế, Vô Nghiệp là tên mà Hoàng Đế ban tặng ông. Vô Nghiệp là không còn nghiệp nữa. Ông phải thật sự là một người tự do, vì nghiệp là cái trói buộc chúng ta. Chỉ có một cách thoát khỏi nghiệp là trở thành một với nó. Lời cảnh cáo của Vô Nghiệp là: Nếu chúng ta có một ý niệm dù rất nhỏ về chấp trước khôn, ngu, tốt xấu, đúng sai, sanh tử, vô minh giác ngộ, chúng ta sẽ bị kéo xuống nẻo súc sanh. Thế giới súc sanh do tham sân si ngự trị, trái với Phật giới. Nếu chúng ta hoan hỷ ý tưởng đó chúng ta đã đi lệch ra khỏi Phật đạo. Dù chấp vào Thiền cũng sẽ đưa ta tới nẻo súc sanh. Phải phá chấp bằng cách đi tới tận gốc rễ của nó.

346  Ngắm trăng.
Một tối Thiện Đạo và Ngưỡng Sơn cùng ngắm trăng. Ngưỡng Sơn hỏi:
- Trăng khi khuyết thì tướng đầy đi đâu, khi đầy thì tướng khuyết đi đâu?
Thiện Đạo đáp:
- Khi khuyết, tướng đầy ẩn; khi đầy tướng khuyết ở.
Về sau Vân Nham đáp:
- Khi khuyết tướng đầy ở; khi đầy tướng khuyết không.
Đạo Ngô đáp:
- Khi khuyết cũng không khuyết; khi đầy cũng không đầy.
 (Minh Tâm Kiến Tánh Thoại Thiền Tông)

Câu đáp của Thiện Đạo chỉ là tri kiến: khi khuyết chỉ thấy tướng khuyết, khi đầy thì tướng khuyết ở trong đó. Lời của Vân Nham cũng là tri kiến vì khi khuyết không thấy tướng đầy, nhưng tướng đầy không mất. Khi đầy thì tướng khuyết chưa hình thành. Tuy hai người giải thích khác nhau nhưng đều chấp hình tượng, chỉ có lời của Đạo Ngô mới thực là vượt lên hình tượng vì tướng đầy, khuyết do tương đãi mà có. Khi khuyết trong tâm không có tướng đầy tương đãi làm sao biết là khuyết? Khi đầy trong tâm không có tướng khuyết tương đãi làm sao biết là tướng đầy? Khuyết, đầy đều không có tự tánh. Lìa tướng đãi thì khuyết không có tướng khuyết, đầy không có tướng đầy. Nếu ngộ được lý này thì mới vượt ra ngoài hình tượng vậy.

347  Rắn nuốt ếch.
Một ông tăng hỏi Động Sơn:
- Thấy rắn nuốt ếch, nên cứu hay không?
- Cứu thì nhắm mắt lại, không cứu thì mở mắt ra. 
(Thiền Cơ)

Rắn nuốt ếch là những sự việc trong hiện tượng giới. Nhắm mắt lại là vào bản thể giới; ở đó rắn và ếch chẳng có gì sai biệt thì đâu cần cứu.

348  Xác ve.
Một ông tăng theo Cảm Ôn đi chơi núi, thấy ở trên cây có một cái xác ve bèn hỏi:
- Xác ở đây, còn ve đã bay đi đâu rồi?
Cảm Ôn nhặt xác ve lên để gần tai ông tăng, đưa qua đưa lại, miệng giả tiếng ve kêu. Ông tăng tức thời khai ngộ. 
 (Thiền Cơ)

Xác ve chỉ thân người, ve chỉ tự tánh. Cử động của Cảm Ôn là chỉ tự tánh không đi đâu cả.

349  Xuẩn động.
Huệ Lãng hỏi Thạch Đầu:
- Phật là gì?
- Ngươi không có Phật tánh.
- Loài xuẩn động thì sao?
- Loài xuẩn động có Phật tánh.
- Vậy, tại sao con lại không có?
- Vì ngươi không chịu gánh vác. 
(Thiền Cơ)

Trong nhà có báu vật không tin, không chịu gánh vác, chỉ lo tìm kiếm bên ngoài. Vì có tâm hướng ngoại nên càng ngày càng rời xa tự tánh.

350  Ngậm miệng nói.
Đại Điên hỏi Thạch Đầu:
- Cổ nhân nói có, nói không, thỉnh thầy giải trừ.
- Một vật cũng không, giải trừ cái gì? 
Rồi sau đó, Thạch Đầu hỏi ngược lại:
- Ngươi ngậm miệng nói thử coi.
- Làm gì có chuyện ấy!
- Nếu là vậy, ngươi đã vào cửa Đạo. 
 (Thiền Cơ)

 “Có” chỉ phàm, “không” chỉ thánh; một vật cũng không của Thạch Đầu và làm gì có chuyện đó của Đại Điên là chỉ phàm, thánh đều không chấp.  Do đó, Thạch Đầu xác nhận Đại Điên đã vào cửa Đạo.

351  Không thể trộm mặt trăng.
Một buổi chiều, một tên trộm bò vào căn lều trên núi của 
Lương Khoan, nhưng chẳng có gì để trộm. Lương Khoan trở về và bắt gập.
- Ngươi từ xa đến, chẳng thể về tay không. Hãy lấy quần áo ta, coi như đồ tặng.
Tên trộm ngơ ngác, mang quần áo đi. Lương Khoan mình trần ngồi ngắm trăng và nói:
- Thật là một gã đáng thương, ước gì ta có thể cho gã mặt trăng đẹp này. 
 (Zen Koans)

Lương Khoan rất nổi tiếng ở Nhật Bản. Ông là một thiền sư thi sĩ, sống đơn giản, tốt bụng, không màng đến của cải vật chất và thế sự. Ông cũng rất thích trẻ con. Đối với Lương Khoan không có trộm, không có xấu xa, giận dữ. Theo truyền tụng, một mụt măng mọc dưới sàn lều của ông, ông đục một lỗ hổng để cây có thể mọc lên và khi cây tre trạm nóc lều ông lại đục một lỗ nữa.

352  Người cho phải cám ơn.
Thành Chuyết khi trụ trì ở chùa Viên Giác, có một vị phú thương quyên 500 lạng vàng để xây một khu tự viện. Vị phú thương này mang vàng trao tận tay cho thiền sư. Thành Chuyết nói:
- Được rồi! Ta nhận.
Vị phú thương bất mãn, ông ám thị:
- Trong túi này là 500 lạng vàng.
- Thí chủ đã nói ta biết rồi!
- Mặc dù con giầu có, nhưng 500 lạng vàng cũng là một số tiền lớn!
- Thí chủ muốn ta cám ơn sao?
- Thầy nghĩ không đáng sao?
- Tại sao ta phải cám ơn? Thí chủ mới chính là người phải cám ơn. 
 (Zen Koans)

Bố thí là hạnh đầu tiên trong lục độ. Bố thí không mong chờ báo đáp hay cám ơn. Ngày nay sự tặng cúng thường là sự bị bắt buộc hoặc vì cảm tình thương hại ít khi vì hoan hỷ. Những sự tặng cúng ấy mong chờ sự cám ơn. Thực ra, sự cám ơn của người cho cao quý hơn sự cám ơn của người nhận. Thương và có thể thương thì giầu có hơn là được thương. Đức Phật bảo chư tăng khất thực hàng ngày là dạy chư tăng sự khiêm tốn và dạy mọi người hạnh bố thí.

353  Tam Tạng của Động Sơn.
Động Sơn nói:
- Tam tạng giáo điển có thể diễn tả bằng một chữ!
Một vị thiền sư khác diễn ý của Động Sơn bằng một bài kệ:
Mỗi  nét  đều  rõ  ràng,  dù  khó  đọc.
Thầy  Cồ  Đàm  đã  thử  viết  nhiều  lần.
Sao  không  giao  cho  lão Vương?
Không  chừng  lão  ta  làm  được. 
(Zen Koans)

Tam tạng là kinh, luật, luận. Động Sơn nói tất cả giáo lý có thể diễn tả trong một chữ. Nhưng chân lý đơn giản và cụ thể luôn thay đổi theo điều kiện và thời gian đặc biệt. Cái không thay đổi là khái niệm, tĩnh và không có sức sống. Do đó, chữ viết dù nghệ thuật đến đâu, ngay cả do một nghệ nhân tài giỏi như Vương lão, chân lý cũng không thể viết, đọc hay nói được chỉ có thể thể hội bằng cách sống.

354  Đệ nhất nghĩa đế.
Người ta nhờ Hồng Châu đại sư viết bốn chữ Đệ Nhất Nghĩa Đế để khắc vào tấm bảng treo trên cổng của Hoàng Bá Tự. Đệ tử của Hồng Châu sửa soạn một số lượng giấy, mực. Hồng Châu viết rất cẩn thận. Người đệ tử thường ít khi phê bình, nói:
- Không đẹp!
Hồng Châu viết lại.
- Cái này thì sao?
- Dở.
Hồng Châu viết lại nữa.
- Lại còn tệ hơn trước!
Hồng Châu viết đi viết lại đến 84 lần mà không lần nào được đệ tử chấp nhận. Sau đó, người đệ tử có việc phải ra ngoài một lát. Hồng Châu nghĩ đây là cơ hội thoát được cặp mắt sắc bén của đệ tử bèn nhanh tay viết lẹ bốn chữ;"Đệ Nhất Nghĩa Đế.” Khi người đệ tử trở lại, trông thấy bèn kêu lên:
- A! Thật là tuyệt phẩm! 
 (Zen Koans)

Cái đẹp phải tự nhiên. Vô ngã là tinh túy của nghệ thuật tự nhiên.

 355  Niết Bàn Diệu Tâm
Đây là câu nói của đức Phật khi truyền pháp cho Ca Diếp:
- Ta có chánh pháp nhãn tạng, thực tướng vô tướng, niết bàn diệu tâm, ngoài giáo truyền riêng, nay giao phó cho ông. 
 (Thiền Đích Trí Tuệ Tinh Hoa)

Niết Bàn là trạng thái của tâm khi đã diệt trừ hết phiền não, trở thành thanh tịnh. Trạng thái đó là sự khai ngộ, vì không dùng lời nói để tả ra được nên gọi là diệu tâm. Niết Bàn diệu tâm không phải là Niết Bàn và Diệu Tâm mà là Tâm Niết Bàn là Diệu Tâm, cũng là Thiền tâm. Đức Phật giao phó tâm này cho Ca Diếp. Ngài không bí mật trao truyền cho Ca Diếp cái gì, cái tâm khai ngộ này có sẵn trong tâm Ca Diếp, do tâm Ca Diếp bạo phát mà giác tỉnh, thành nội tâm ấn chứng. Thiền sư Đạo Nguyên đã hình dung Niết Bàn diệu tâm bằng 2 câu sau:
Cố  hương,  hoa  bốn  mùa
Xuân  đi,  hoa  vẫn  thơm.
Bốn mùa là chỉ thời gian; cố hương là chỉ căn nguyên của tâm không vì làm thiện, làm ác mà bị nhiễm thiện, ác. Cái diệu tâm này không vì hoàn cảnh biến đổi. Vì vậy mới nói "Xuân đi hoa vẫn thơm.”

356  Trong không có châu.
Một ông tăng hỏi Phổ Nguyện:
- Trong không có châu làm sao lấy được?
- Đốn tre làm thang, bắc lên mà lấy.
- Làm sao bắc thang vào không?
- Vậy sao? Ngươi tính làm sao lấy? 
(Thiền Cơ)

Châu chỉ tự tánh.

357  Sâm la vạn tượng.
Một ông tăng hỏi Văn Ích:
- Thế nào là tháng thứ hai?
- Sâm la vạn tượng.
- Thế nào là tháng thứ nhất?
- Vạn tượng sâm la. 
 (Thiền Cơ)
Tháng 1 chỉ bản thể, tháng 2 chỉ hiện tượng.

358  Đừng hiểu sai ý.
Một ông tăng hỏi Sơn Hồng:
- Đạo là gì?
- Vốn không một vật.
Ông tăng lạy, thiền sư nói:
- Đừng hiểu sai ý. 
 (Thiền Cơ)

Ông tăng hỏi tự tánh, thiền sư dùng câu kệ của Lục tổ để trả lời, ông tăng lạy tạ. Thiền sư nói 'Đừng hiểu sai ý" ám chỉ ông tăng đừng chấp Pháp. 

359  Tu Di và hạt cải.
Một ông tăng hỏi Thiệu Tu:
- Tu Di đựng hạt cải, hạt cải đựng Tu Di, Tu Di là gì?
- Xuyên phá tâm ngươi.
- Hạt cải là gì?
- Nhắm mắt ngươi lại.
- Thế nào là đựng?
- Mang Tu Di và hạt cải ra đây. 
(Thiền Cơ)

Tu Di chỉ cái lớn, hạt cải chỉ cái nhỏ. Các câu trả lời của thiền sư "Xuyên phá tâm ngươi" và "Nhắm mắt ngươi lại" ám chỉ ông tăng đừng lấy những thường thức, nghĩa lý ở hiện tượng giới mà phân tích, phán đoán thì sẽ hiểu được hạt cải đựng Tu Di vì ở bản thể giới không có phân biệt to, nhỏ.

360  Người ở trong.
Một ông tăng hỏi Đại Điên:
- Người ở trong đến tương kiến thì thế nào?
- Đã không phải là ở trong rồi.
- Vậy sao? Ở trong là gì?
- Đừng hỏi vậy! 
 (Thiền Cơ)

Người ở trong chỉ tự tánh. Câu hỏi của ông tăng cho thấy ông chưa kiến tánh vì có tới tức có đi, tương kiến là còn chủ khách. "Đừng hỏi vậy " vì đó là dư thừa, chẳng bằng tự hỏi.

361  Chân Như Bát Nhã.
Lý Cao hỏi Sùng Tín:
- Thế nào là Chân Như Bát Nhã?
- Ta không có chân như bát nhã.
- May mắn gập được thầy!
- Hãy còn là lời nói bên ngoài. 
 (Thiền Cơ)

Chân Như Bát Nhã chỉ tự tánh. Câu đáp "Ta không có chân như bát nhã" ám chỉ ngươi đừng hỏi ta, hãy tự hỏi mình. Lý Cao hiểu nên nói "May gập được thầy.” Câu nói của Sùng Tín "Hãy còn là lời nói bên ngoài." là chỉ lấy tâm ấn tâm tức thời mặc khế, nói ra một lời cũng là dư.

362  Từ đâu tới?
Tuyết Phong hỏi Minh Chân:
- Từ đâu tới?
- Từ Giang Tây.
- Thấy Đạt Ma tổ sư ở đâu?
- Đã nói với thầy rồi mà.
- Nói cái gì?
- Từ đâu tới.! 
 (Thiền Cơ)
Thấy Đạt Ma tổ sư chỉ kiến tánh; câu đáp cuối của Minh Chân nhắc lại câu hỏi đầu tiên của Tuyết Phong ngụ ý mình đã kiến tánh.

363  Sư tử ngu.
Ma Cốc gọi Lương Trục:
- Lương Trục.
- Dạ!
Ba lần gọi, ba lần dạ. Ma Cốc bèn nói:
- Cái con sư tử ngu này!
Lương Trục lập tức lãnh ngộ. 
 (Thiền Cơ)

Thiền sư ba lần gọi tên ông tăng là ba lần gọi tự tánh.

364  Một triệu vật.
Ngưỡng Sơn hỏi Quy Sơn:
- Khi có cả triệu vật tới thì phải làm sao?
- Xanh thì chưa vàng, dài thì không ngắn; mỗi vật đều có số mạng, tại sao ta phải xía vào?
Ngưỡng Sơn bèn lạy tạ. 
 (Zen Koans)

Câu hỏi của Ngưỡng Sơn rất thực tế và thích hợp. Chúng ta sống trong một xã hội phức tạp, có cả triệu sự vật cần chúng ta để ý đến. Làm sao chúng ta có thể thanh tịnh trong một sinh môi như thế? Quy Sơn cho một câu trả lời rất hay và cũng thực tế: hãy đối diện sự vật lần lượt từng việc một. Người ta thường lo lắng nhiều chuyện, nhưng Quy Sơn bảo hãy giải quyết từng việc, nhìn sự vật rõ ràng như tự thân của nó.

365  Đã mắc bệnh lại trúng độc.
Một ông tăng thưa với Sư Kiền:
- Đệ tử đã mắc bệnh, lại trúng độc thỉnh thầy trị cho.
- Lấy kim châm vào đỉnh đầu rồi đổ đề hồ vào.
- Vậy sao, tạ ơn thầy trị bệnh!
Sư Kiền bèn quơ gậy đánh.
 (Thiền Cơ)

Mắc bệnh, trúng độc là chỉ hiện tượng. Lấy kim châm vào đỉnh đầu ám chỉ cởi bỏ những trói buộc của hiện tượng giới. Ở bản thể giới không có gì gọi là mắc bệnh và trúng độc.

366  Một nhà giáo dục.
Bàn Khuê đang giảng thuyết trong một buổi thiền hội, bỗng nhiên một ông tăng bị bắt quả tang đang ăn cắp tiền.
- Lại bắt được ngươi ăn cắp tiền rồi!
- Xin tha cho hắn!
- Không được, hắn đã phạm tội nhiều lần rồi, lần này không thể tha thứ được nữa.
- Nếu thầy không khai trừ hắn, thì chúng con sẽ cùng bỏ thiền hội.
- Các ngươi đều là sư huynh sáng suốt biết phân biệt phải, trái; còn hắn ngay phải, trái cũng không rõ. Nếu ta không răn dạy hắn thì ai sẽ dạy hắn đây? Ta muốn giữ hắn lại đây, dù tất cả các ngươi đều bỏ đi.
Nghe lời nói này, ông tăng ăn cắp bèn quỳ xuống đất, mặt đầm đìa nước mắt, từ đó đã ngộ ra thiện, ác. 
 (Thiền thuyết)

Một đàn dê có 100 con, một con đi lạc. Người chăn chẳng lập tức bỏ 99 con ở nơi đồng cỏ mà đi tìm con dê bị lạc hay sao? Phải giúp cho người cần được giúp trước.

367  Một đêm giác ngộ.
Vĩnh Gia đến gập Lục tổ, đi nhiễu quanh thiền sàng 3 vòng, chống trượng mà đứng. Lục tổ bảo:
- Phàm sa môn có 3 ngàn uy nghi 8 vạn tế hạnh, đại đức ở đâu tới sao ngã mạn vậy?
- Sanh tử là việc lớn, vô thường đến chóng.
- Sao không nắm lấy vô sanh, dứt được không chóng?
- Thể vốn không sanh, nên không chóng.
- Như vậy! như vậy!
Vĩnh Gia lúc đó mới dùng đủ oai nghi mà lạy rồi xin cáo từ. Tổ hỏi:
- Sao về chóng vậy?
- Vốn không động, làm sao có chóng?
- Ai biết không động?
- Nhân giả tự sanh phân biệt.
- Ngươi đã được cái ý vô sanh.
- Vô sanh lại có ý sao?
- Không ý thì lấy gì phân biệt?
- Phân biệt cũng không phải là ý.
- Lành thay! Hãy lưu lại một đêm.
Người sau gọi đêm lưu lại của Vĩnh Gia là một đêm giác ngộ.
 (Minh Tâm Kiến Tánh Thoại Thiền Tông)

Câu của Vĩnh Gia ý nói việc sanh tử quan trọng mà vô thường thì không biết đến lúc nào, nên không có thời gian để ý đến lễ nghi nhỏ nhặt. Lục tổ bảo hãy nắm lấy cái vô sanh thì còn gì sanh tử. Vĩnh Gia đáp thể vốn vô sanh nên không có mau chóng. Sanh tử là vấn đề có, không; thuộc về không gian và thời gian. Không sanh tử thì không còn mau, chậm, siêu việt không thời gian. Khi Lục tổ hỏi: "Ai biết không động?"  Vĩnh Gia đáp: "Nhân giả tự sanh phân biệt.” Lục tổ muốn trắc nghiệm lại Vĩnh Gia, không ngờ Vĩnh Gia dùng câu nói tương tự câu "Nhân giả tâm động" của mình để trả lời. (Xem công án 95) Thực là xảo diệu vô cùng.

368  Thiền Định và phiền não.
Trần Tú Ngọc hỏi Vạn Tùng:
- Tại sao Di Lặc bồ tát không tu thiền định, không đoạn phiền não?
- Chân tâm vốn tĩnh vì vậy không tu thiền định, vọng tưởng vốn không nên không đoạn phiền não.
Hỏi Đại Nhuận, Đại Nhuận trả lời:
- Thiền tâm đã không, chẳng tu mà tu; cắt đứt hết phiền não, chẳng tu mà đoạn.
Hỏi Hải thiền sư, thiền sư đáp:
- Vốn vô thiền định, phiền não!
Trần Tú Ngọc vui mừng: 
- Nghe thật sướng tai! 
(Minh Tâm Kiến Tánh Thoại Thiền Tông)

Có thiền, có phiền não đều là chấp tướng. Tu và đoạn đều là chấp tướng. Tất cả đều không thì mới khiển được tướng.

369  Nói một vật tức không trúng.
Khi Nam Nhạc đến tham học Huệ Năng, Huệ Năng hỏi:
- Ngươi từ đâu tới?
- Từ Tung Sơn tới.
- Vật gì tới?
Nam Nhạc không đáp được ngay lúc đó. Ở lại tu học với Lục tổ một thời gian dài mới ngộ và trình Lục tổ câu đáp:
- Nói một vật là không trúng.
- Có thể tu chứng không?
- Tu chứng tức phi vô, nhiễm trược tức không được.
- Chỉ có sự chẳng nhiễm trược ấy là chỗ hộ niệm của chư Phật vậy. Ngươi đã như thế, ta cũng như thế. 
 (Phật Dữ Thiền)

Nếu chấp có tu, có chứng thì không đạt được vô. Nhiễm trược tức là tu chứng, khi đạt được cái ấy, được mà không được thì đó chính là bản lai diện mục. Nếu chúng ta ngoài bị cảnh mê, trong bị 'không' mê, ngay lúc đó lìa được biên kiến khiến trong ngoài đều không bị hạn chế thì đó là khai ngộ vậy.

370  Buông dao đồ tể.
昨 日 夜 叉 心
Tạc nhật dạ xoa tâm
今 朝 菩 薩 面
Kim triêu bồ tát diện
菩 薩 與 夜 叉
Bồ tát dữ dạ xoa
不 隔 一 條 線
Bất cách nhất điều tuyến.
Hôm  qua  tâm  dạ  xoa
Sáng  nay  mặt  bồ  tát. 
Bồ  tát  và  dạ  xoa
Chẳng  có  gì  sai  khác.
Đây là bài kệ của Văn Thù Tư Nghiệp thiền sư làm lúc xuất gia. Ông là người đời Tống, lúc chưa xuất gia làm nghề đồ tể. Một hôm, lúc đang làm thịt heo, bỗng nhiên sinh lòng bi mẫn, liền bỏ sát nghiệp.
 (Hương Thủy Hải)

Đứng trên quan điểm Phật giáo, đồ tể là ác nghiệp, xa lìa chánh đạo. Nhưng Tư Nghiệp thiền sư ở trong ác nghiệp mà khởi tâm đại bi, thậm chí khai ngộ, thì đối với ông ác nghiệp đã có công năng giáo dục ông. Như vậy chúng ta thấy rằng nghiệp có thiện ác, nhưng Phật tánh thì không thiện, ác. Phật pháp là thuốc, vì chúng sanh bị bệnh nên có. Chúng sanh bị bệnh nên mới cần thuốc trị, nếu vốn không bệnh thì đâu cần thuốc chữa. 

371  Bôi cứt lên đầu.
Vân Môn nói với đại chúng rằng:
- Giả như ta có thể nói một câu mà khiến cho các ngươi được ngộ, thì cũng tỉ như bôi cứt lên đầu các ngươi thôi! 
(Minh Tâm Kiến Tánh Thoại Thiền Tông) 

Ngôn ngữ là từ thức tâm bất tịnh mà ra, dĩ nhiên là ô uế, không thể dùng để chỉ tự tánh thanh tịnh, vô nhiễm được. Tuy nhiên dùng ngôn ngữ đề thị học nhân khiến học nhân tham cứu mà ngộ. Nhưng ngộ là tâm, không phải là ngôn ngữ. Lấy ngón tay trỏ mặt trăng, nếu chỉ thấy ngón tay thì không thấy mặt trăng. Đạo không thể nói, có thể nói thì không là Đạo; nhưng vì truyền Đạo không thể không nói.

372  Thiên hạ sẽ cười ta.
Có ông tăng hỏi Hi Thiên:
- Thế nào là ý tổ sư từ Tây sang?
Hi Thiên vớ lấy gậy đánh và nói:
- Nếu ta không đánh ngươi, về sau thiên hạ sẽ cười ta. 
(Minh Tâm Kiến Tánh Thoại Thiền Tông)

Công án trên cho thấy Thiền sư đánh người là việc bất đắc dĩ; đồng thời cho thấy việc không mở miệng được coi trọng thế nào! 

373  Quan tiền.
Có ông tăng hỏi Linh Tuân: