150.
Bọn ăn hèm.
Hoàng
Bá nói với tăng chúng rằng :
-
Tất cả bọn ngươi chỉ là đồ ăn bã rượu, hành cước
thế ấy, bao giờ mới xong? Các ngươi có biết trong đại
đường quốc không có thiền sư không?
Có
một ông tăng bước ra thưa :
-
Chỉ biết ở khắp nơi đều có người lãnh chúng vậy là
sao?
Hoàng
Bá đáp:
-
Không nói không thiền mà chỉ không thầy.
(Bích
Nham Lục)
Người
học thiền nếu cứ chấp vào thầy thì chẳng khác gì nhai
lại những gì mà thầy đã nhai, phải có quyết tâm "không
Phật, không thầy, chỉ cần chân lý" thì mới có thể ngộ,
tự mình thưởng thức chính phẩm chứ không phải nhai bã.
(Viên
Thông)
151.
Đối nhất thuyết.
Có
ông tăng hỏi Vân Môn:
-
Thế nào là một đời thuyết pháp?
-
Đối nhất thuyết.
(Bích
Nham Lục)
Câu
hỏi của ông tăng có nghĩa là cách giảng pháp của đức
Phật như thế nào?
Cứ
như truyền thuyết thì cả đời đức Phật giảng dậy 8 vạn,
4 ngàn pháp môn ghi chép trong 1420 bộ kinh; tuy nói nhiều như
vậy nhưng không ngoài mục tiêu chỉ cho chúng sinh con đường
giải thoát.
Câu
đáp của Vân Môn có nghĩa là đối diện thuyết pháp hay tùy
bệnh mà cho thuốc.
(Viên
Thông)
152.
Con rắn mũi rùa.
Tuyết
Phong nói với chúng đệ tử:
-
Nam Sơn có một con rắn mũi rùa, các ngươi phải nhìn cho kỹ.
Trường
Khánh (859-932) nói:
-
Hôm nay trong nhà có người chôn thân, mất mạng.
Có
ông tăng nghe rồi hỏi đồng môn Huyền Sa (835-908) :
-
Ý của Tuyết Phong là sao?
Huyền
Sa nói:
- Chỉ có Lăng huynh (chỉ Trường Khánh) mới trả lời thế
được,
còn ta thì khác.
Ông
tăng lại hỏi:
-
Còn hoà thượng thì thế nào?
Huyền
Sa đáp :
-
Dùng Nam Sơn làm gì?
Vân
Môn ném cây gậy xuống trước mặt Tuyết Phong làm ra vẻ
sợ hãi.
(Bích
Nham Lục)
Tuyết
Phong trú ở Nam Sơn, nơi đó có truyền thuyết có một con
rắn mũi rùa có thể ăn người. Tuyết Phong dùng tích này
ám chỉ phải cố gắng tu hành. Trường Khánh hiểu ý này
nên câu nói của ông có nghĩa là: đệ tử đang cố gắng
tu tập. Một ông tăng nghe đối thoại này chẳng hiểu bèn
đi hỏi Huyền Sa. Câu đáp của Huyền Sa có nghĩa là ngươi
cứ bỏ mặc họ muốn nói gì thì nói. Cử chỉ của Vân Môn
có ý rằng dùng lời vô ích, phải tự mình quán sát mới
được.
(Viên
Thông)
153.
Diệu Phong Đỉnh của Bảo Phúc.
Bảo
Phúc và Trường Khánh đi tản bộ trong núi, bỗng giơ tay chỉ
mặt đất nói:
-
Nơi đây chính là Diệu Phong Đỉnh.
Trường
Khánh nói:
-
Phải thì phải, nhưng thật đáng tiếc.
Sau
có ông tăng thuật lại cho Cảnh Thanh nghe.
Cảnh
Thanh nói:
-
Nếu chẳng phải là Trường Khánh, liền thấy đầu lâu đầy
đất.
(Bích
Nham Lục)
Bảo
Phúc nói Diệu Phong Đỉnh là chỉ sự lãnh ngộ; sự lãnh
ngộ không phải tìm ở nơi xa xôi nào. Câu nói của Trường
Khánh có nghĩa là "Đúng vậy! nhưng nếu ngươi định nghĩa
sự lãnh ngộ có phải là đã bị trói buộc rồi không?"
Câu
của Cảnh Thanh có nghĩa là nếu cứ tin vào lời Trường Khánh
thì cứ ở mãi mức độ đó không tiến lên được.
(Viên
Thông)
154.
Thân bầy gió vàng.
Có
ông tăng hỏi Vân Môn:
-
Khi cây rụng lá thì thế nào?
-
Thân bầy gió vàng.
(Bích
Nham Lục)
Lá
chỉ phiền não, khi lá rụng hết chỉ đã trừ hết phiền
não, là người khai ngộ.
Gió
vàng là gió mùa thu, ở đây ám chỉ đã vào được cảnh
giới vô tâm.
(Viên
Thông)
155.
Thuốc, bệnh trị nhau.
Vân
Môn nói với chúng đệ tử rằng:
-
Thuốc, bệnh trị nhau, tất cả đại địa đều là thuốc,
cái nào là chính mình?
(Bích
Nham Lục)
Khi
có bệnh thì dùng thuốc để trị, khi bệnh khỏi rồi thì
không cần dùng thuốc nữa. Lúc đó đối với người vừa
khỏi bệnh, thuốc không còn là thuốc nữa. Do đó ta thấy
thuốc, bệnh cùng tồn tại và cùng hoại diệt. Trong Thiền
học, bệnh chỉ mê; thuốc chỉ ngộ. Vì mê nên mới có ngộ,
nếu như không có mê thì đâu có ngộ.
Cả
đại địa đều là thuốc là chỉ không còn mê, toàn là ngộ,
toàn là không làm gì còn tự ngã.
(Viên
Thông)
156.
Thùng cơm của Kim Ngưu.
Hòa
thượng Kim Ngưu mỗi khi đến giờ ăn đều ôm thùng cơm đến
trước tăng đường vừa múa vừa cười lớn ha hả, nói rằng:
-
Con bồ tát, lại ăn cơm!
(Về
sau Tuyết Đậu bình rằng tuy là vậy, nhưng Kim Ngưu chẳng
phải là có lòng tốt gì.)
Một
ông tăng hỏi Trường Khánh:
-
Người xưa nói "Con bồ tát, lại ăn cơm", ý chỉ là gì?
Trường
Khánh đáp:
-
Có gì đâu, giống như tụng kinh trước khi thọ trai vậy.
(Bích
Nham Lục)
Những
người cho hành động của Kim Ngưu có thâm ý ảo diệu là
bị cử động quái lạ của ông trói buộc. Thực ra, ông chỉ
tùy ý hành động, không có mục đích gì đặc biệt.
(Viên
Thông)
157.
Nông nô.
Một
ông tăng hỏi Triệu Châu:
-
Đạt đạo không khó, chỉ hiềm chọn lựa, không chọn lựa
thì thế nào?
-
Trên trời, dưới trời, chỉ có ta là hơn cả?
-
Vậy là còn chọn lựa.
-
Tên nông nô này, chọn lựa ở chỗ nào?
(Bích
Nham Lục)
Chọn
lựa là bị trói buộc, chân chính không chọn lựa là chọn
lựa nhưng không bị trói buộc. Đó chính là cảnh giới vô
tâm trong Thiền học
(Viên
Thông)
158.
Vân Môn dang hai tay.
Vân
Môn hỏi một ông tăng mới đến:
-
Vừa rời chỗ nào?
-
Tây Thiền ở Tô Châu.
-
Tây Thiền gần đây có lời nói nào?
Ông
tăng dang hai tay ra. Vân Môn thấy vậy bèn tát ông một cái.
-
Thoại đầu của con còn mà.
Lúc
đó Vân Môn lại dang hai tay ra. Ông tăng im. Vân Môn lại tát
ông một cái nữa.
(Bích
Nham Lục)
Ông
tăng dang hai tay ra chỉ Tây Thiền giảng dậy vô tâm không
thể dùng lời mà tỏ ra được. Vân Môn tát ông một cái,
nhận rằng ông có khả năng có thể dậy dỗ được, đồng
thời muốn xem ông phản ứng ra sao. Đáng tiếc trình độ
ông tăng chỉ đến thế, tưởng dùng lời nói để biện bạch.
Vân
Môn lại dang hai tay ra ý nói "Sư phụ ngươi dậy Không
Vô Nhất vật, ta cũng không vô nhất vật, ngươi biện bạch
ra sao?
(Viên
Thông)
159.
Tuyết Phong là gì?
Có
hai ông tăng đến Tuyết Phong cầu học. Hòa thượng thấy
hai ông tăng đến gần am, bèn mở cửa chạy ra khỏi am nói:
-
Là cái gì?
Hai
ông tăng cùng đáp:
-
Là cái gì?
Tuyết
Phong cúi đầu trở về am. Sau hai ông tăng đến Nham Đầu
(828-887).
Nham
Đầu hỏi:
-
Từ đâu đến?
-
Từ Lãnh Nam.
-
Có đến Tuyết Phong không?
-
Có.
-
Tuyết Phong có câu gì không?
Hai
ông tăng kể lại.
-
Ta tiếc lúc trước không nói cho hắn câu nói sau cùng, nếu
có thì thiên hạ đâu làm gì được lão Tuyết!
Đến
cuối hạ hai ông tăng lại hỏi Nham Đầu:
-
Thế nào là câu nói sau cùng?
-
Sao không hỏi sớm?
Hai
ông tăng thưa:
-
Chưa dám.
-
Tuyết Phong tuy cùng ta cùng điều sanh nhưng chẳng cùng ta đồng
điều tử, muốn biết câu nói sau cùng chỉ là vậy.
(Bích
Nham Lục)
Tuyết
Phong chạy ra khỏi am hỏi 2 ông tăng là để xem 2 ông tăng
phản ứng ra sao khi không phòng bị. 2 ông tăng lập lại câu
hỏi chẳng khác gì con vẹt.
Câu
nói sau cùng là câu nói trước khi mất. Trong Thiền học đó
là lúc đã nghiên cứu đến tận gốc rễ vấn đề, mà nói
ra. Tuyết Phong và Nham Đầu là bạn học nên nói "cùng điều
sanh", nhưng lại nói chẳng "cùng điều tử" hàm ý sự lãnh
ngộ và biểu hiện khác nhau.
(Viên
Thông)
160.
Bánh Hồ.
Có
ông tăng hỏi Vân Môn:
-
Thế nào là siêu Phật , vượt tổ?
-
Bánh Hồ.
(Bích
Nham Lục)
Câu
hỏi của ông tăng có nghĩa là có pháp nào trên pháp Phật
không? Câu đáp của Vân Môn có nghĩa là nếu ngươi có thời
giờ nhàn rỗi để hỏi chuyện không thể có thì tốt hơn
là ngươi đi làm bánh hồ, ăn cho no rồi có thể đạp chân
trên đất mà tu hành.
(Viên
Thông)
161.
Trẻ sơ sinh.
Có
một ông tăng hỏi Triệu Châu:
-
Trẻ sơ sinh có đủ lục thức chăng?
Triệu
Châu đáp:
-
Đánh cầu trên nước chẩy nhanh.
Về
sau ông tăng đi hỏi Đầu Tử:
-
Đánh cầu trên nước chẩy nhanh là ý gì?
Đầu
Tử đáp:
-
Niệm niệm chẳng dừng.
(Bích Nham Lục)
Trẻ
mới sanh gọi là Tân sanh nhi, cho đến một tuổi gọi là nhũ
nhi, đến 6 tuổi gọi là ấu nhi. Cầu là chỉ tâm, nước
chẩy nhanh chỉ 6 thức, trẻ con tuy đủ lục thức nhưng không
bị 6 thức trói buộc như đối với người lớn. Vì vậy
cổ nhân thường ví tâm trẻ con là tâm Phật. Câu đáp của
Triệu Châu là "không bị 6 thức trói buộc.”
(Viên
Thông)
162.
Kiếp hỏa.
Có
ông tăng hỏi Đại Tùy ( - 919):
-
Kiếp hỏa cháy rực. Cả đại thiên thế giới đều bị hủy
hoại, không biết cái này có bị hủy hoại không?
-
Hoại.
-
Vậy theo nó đi?
-
Theo nó đi.
(Bích
Nham Lục)
Ông
tăng nghĩ người tu khi lãnh ngộ hợp với vũ trụ thành một
thể, nhưng khi vũ trụ bị kiếp hỏa hủy diệt thì Phật
pháp ra sao? Có bị hủy diệt không? Ông tăng vì thiếu lòng
tin nên bị nghi vấn này trói buộc. Câu trả lời của Đại
Tùy là để phá chấp này cho ông.
(Viên Thông)
163.
Còn Pháp nào chưa nói không?
Nam
Tuyền (748-834) đại ngộ rồi đến bái phỏng Bách Trượng.
Bách
Trượng hỏi:
-
Từ trước chư thánh còn có pháp nào chưa nói không?
-
Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật.
-
Đã nói rồi mà!
-
Đệ chỉ biết vậy, còn sư huynh thì sao?
-
Ta chẳng phải đại thiện tri thức đâu biết đã nói, chưa
nói.
Nam
Tuyền thưa:
-
Đệ không hiểu.
-
Ta đã vì ngươi nói rồi!
(Bích
Nham Lục)
Lúc
trước Mã Tổ nói “tức tâm, tức Phật.” Tâm đã là Phật
rồi, còn đi tìm Phật ở đâu nữa. Nhưng nói vậy có vẻ
tự cao, tự đại nên lại nói "phi tâm, phi Phật, phi vật.”
Câu
Bách Trượng nói "Ta chẳng phải thiện tri thức đâu biết
đã nói, chưa nói" là chấp nhận câu trả lời của Nam Tuyền.
Nam
Tuyền nói "Đệ chẳng hiểu" là cố tình truy vấn.
Câu
đáp của Bách Trượng "Ta đã vì ngươi nói rồi!" là chỉ
ta đã mượn mồm ông mà biện giải rồi còn gì!
(Viên
Thông)
164.
Ba chuyển ngữ của Triệu Châu.
Triệu
Châu nói với chúng đệ tử:
-
Phật bùn không độ nước, Phật vàng không độ lò, Phật
gỗ không độ lửa, Phật thật ngồi trong nhà.
(Bích
Nham Lục)
Đừng
tìm kiếm Phật ở bên ngoài, Phật thật chính ở trong tâm
chúng ta.
(Viên
Thông)
165.
Hươu trong hươu.
Có
ông tăng hỏi Dược Sơn:
-
Ruộng bằng, cỏ ít, hươu tụ thành bầy, làm sao bắn hươu
trong
hươu?
-
Xem tên!
Ông
tăng bèn ngã ngay xuống đất.
-
Thị giả! Lôi gã chết rồi này ra!
Ông
tăng nhỏm dậy, đi ra.
Dược
Sơn nói:
-
Những kẻ vầy đất, nào có hạn.
(Bích
Nham Lục)
Câu
hỏi của ông tăng có nghĩa là làm sao nhận ra người đệ
tử xuất sắc nhất của Dược Sơn? Khi Dược Sơn nói "Xem
tên", ông tăng bèn ngã xuống đất là nhận rằng mình là
người đó. Để sửa tánh tự cao, tự đại của ông tăng,
Dược Sư mới nói "Lôi gã chết rồi này đi.” Ông tăng nhỏm
dậy bỏ đi, tỏ rằng mình vẫn sống nhăn.
(Viên
Thông)
166.
Ngũ Lão Phong.
Ngưỡng
Sơn (807-8833) hỏi ông tăng mới đến:
-
Vừa rời chốn nào?
-
Lư Sơn.
-
Có đi chơi Ngũ lão phong không?
-
Không.
-
Xà lê không biết đi chơi núi.
(Bích
Nham Lục)
Lư
Sơn có Ngũ Lão phong là một ngọn núi có hình giống 5 ông
già. Ngưỡng Sơn dùng Ngũ Lão Phong để chỉ:
5
cảm, 5 dục, 5 cảnh, 5 quan, 5 uẩn
5
cảm : tham, sân, si, trí, mạn, nghi.
5
dục : tài, sắc, thực, danh, miên
5
cảnh : sắc, thanh, hương, vị, xúc.
5
quan : nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân.
5
uẩn : sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Ngưỡng
Sơn hỏi ông tăng có đi chơi Ngũ Lão phong là muốn xem trình
độ tu tập của ông ở Lư Sơn như thế nào. Ông tăng không
hiểu tưởng là câu hỏi thông thường nên mới đáp là không.
Ngưỡng
Sơn nói "Xà lê không biết đi chơi núi." là chỉ ông tăng
tu tập còn chưa đủ.
(Viên
Thông)
167.
Một cành hoa.
Đại
Phu Lục Hoàn trong lúc nói chuyện với Nam Tuyền thưa
rằng:
-
Triệu pháp sư (374-414) có nói ta cùng gốc với trời đất,
cùng thể với vạn vật, thật là kỳ quái!
Nam
Tuyền chỉ hoa trước sân nói:
-
Người nay thấy cành hoa này giống như trong mộng.
(Bích
Nham Lục)
Câu
nói của Nam Tuyền có nghĩa là; nếu lấy tâm "hữu ngã" mà
xem hoa thì còn ở trong thế giới nhị nguyên đối đãi. Nếu
lấy tâm "vô ngã" mà xem hoa thì giữa hoa và người không có
giới hạn, hợp thành một thể của thế giới vô ngã.
168.
Vòng tròn của Tư Phúc.
Thượng
thư Trần Tháo, một hôm đến viện Tư Phúc bái phỏng Trí
Viễn. Trí Viễn thấy Trần Tháo đến bèn vẽ một vòng tròn
trong không trung. Trần Tháo nói:
-
Đệ tử đã từng đến đây, sớm đã không chấp không tướng,
còn vẽ vòng làm gì?
Thiền
sư nghe rồi, bền bỏ về phòng, đóng cửa lại.
(Bích
Nham Lục)
Vẽ
vòng tròn là bắt đầu từ Đam Nguyên. Vòng tròn bao hàm trời,
đất, vũ trụ, sum la địa võng, tâm cảnh, ngộ cảnh, Phật.
Tư
Phúc biết Trần Tháo thâm cứu Thiền học, nên vẽ vòng tròn
để xem Trần Tháo giải thích thế nào, tiếc thay sự hiểu
biết của Trần Tháo về vòng tròn hãy còn hạn chế, vì vậy
nếu có vấn đáp cũng chỉ làm phí thời giờ, vì vậy Tư
Phúc mới bỏ về phòng.
(Viên
Thông)
169.
Ma Cốc hai lần dộng tích trượng.
Ma
Cốc tay cầm tích trượng đến bái phỏng Chương Kính hòa
thượng. Gập lúc Chương Kính đương ngồi thiền. Ma Cốc
đi vòng quanh thiền sàng 3 vòng, dộng tích trượng xuống,
đứng ngay trước mặt Chương Kính.
Chuơng
Kính nói:
-
Phải! Phải!
Sau
đó Ma Cốc lại đến Nam Tuyền, lại đi quanh thiền sàng 3
vòng, dộng tích trượng đứng trước mặt Nam Tuyền.
Nam
Tuyền nói:
-
Không phải! Không phải!
Ma
Cốc liền hỏi:
-
Chương Kính nói phải, sao hòa thượng lại nói không phải?
Nam
Tuyền nói:
-
Chương Kính phải, còn ngươi không phải, đây là bị sức
gió chuyển, sau bị bại hoại.
(Bích
Nham Lục)
Đi
vòng 3 vòng là tỏ ý kính trọng. Tích trượng tượng trưng
sự khai ngộ. Ma Cốc đã ngộ, đến thăm Chương Kính lấy
hành động để biểu thị tâm cảnh. Hòa thượng nhìn biết
ngay là ông đã ngộ nên nói phải.
Ma
Cốc lại đến thăm sư huynh là Nam Tuyền để tỏ cho biết
mình đã ngộ. Nam Tuyền nói không phải để thử Ma Cốc.
Đối với người đã khai ngộ thì phải và không phải có
khác biệt gì? Ma Cốc còn bị "không phải" làm cho thắc mắc
là chưa hoàn toàn thoát tục. Ma Cốc được Nam Tuyền chỉ
điểm, linh cơ liền chuyển khiến cho ngộ cảnh càng thâm
sâu.
(Viên
Thông)
170.
Thiết Ngưu cỏ của Phong Huyệt.
Có
một lần, hòa thượng Phong Huyệt (896-973) được mời đến
Nha Môn, Vĩnh Châu giảng pháp.
Hòa
thượng thượng đường nói:
-
Tâm ấn của tổ sư giống như máy trâu sắt. Dời đi thì
ấn hiện, ở yên thì ấn không hiện, chẳng dời, chẳng yên,
ấn phải hay chẳng ấn phải.
Lúc
ấy có Trưởng lão Lô Pha nói:
-
Tôi có máy trâu sắt, thỉnh thầy đừng ấn.
Phong
Huyệt nói:
-
Ta quen bắt cá kình ở biển lớn, nay lại gập ếch nhỏ nhẩy
trong cát bùn.
Trưởng
lão muốn phản kích nhưng lúc đó không nghĩ ra được câu
trả lời thích hợp. Hòa thượng hét:
-
Trưởng lão sao không nói?
Trưởng
lão mở miệng định nói, Phong Huyệt bèn dùng gậy đánh và
hỏi:
-
Còn nhớ thoại đầu không?
Trưởng
lão định mở miệng, hòa thượng lại đánh.
Lúc
đó Châu mục bèn nói:
-
Phật pháp và vương pháp cùng loại.
Phong
Huyệt hỏi:
-
Ngươi thấy đạo lý gì?
-
Đương đoạn chẳng đoạn, trở lại chuốc loạn.
Phong
Huyệt nghe rồi bèn xuống tòa giảng.
(Bích
Nham Lục)
Tâm
ấn là sư phụ truyền pháp cho đệ tử.
Máy
trâu sắt để ngăn dòng nước chẩy, còn tự nó chẳng có
công dụng gì, giống như Phật pháp chẳng thể tự ngộ mà
chỉ giúp cho thiền sinh ngộ, vì vậy giống như tâm ấn.
Dời
đi thì ấn hiện: không chấp tâm ấn, thì mới có thể lãnh
ngộ.
Ở
yên thì ấn không hiện: ngược lại, lãnh ngộ rồi thì không
bị tâm ấn trói buộc.
Phong
Huyệt muốn phá chấp "tâm ấn" của trưởng lão, nhưng tiếc
thay vị này không có tuệ căn. Câu nói của Châu mục có ý
là mê chính là khởi thủy của ngộ, do đó cứ mặc ông ta
mê, đến khi cơ duyên đã chín mùi thì sẽ lãnh ngộ, đó
chính là biểu minh công năng của tâm ấn. Hòa thượng thấu
rõ thiền cơ của Châu Mục nên cắt đứt vấn đáp mà
xuống tòa giảng.
(Viên
Thông)
171.
Đảo nhất thuyết.
Có
ông tăng hỏi Vân Môn:
-
Chẳng phải cơ trước mắt, cũng chẳng phải sự trước mắt,
lúc đó thì sao?
-
Đảo nhất thuyết.
(Bích
Nham Lục)
Đảo
nhất thuyết: nói ngược lại.
Nếu
cứ chấp vào thường thức, hoặc vào lời giải của cổ
nhân, thiếu sự suy tư của chính mình thì không thể giải
quyết được vấn đề. Chỉ có một cách duy nhất là phủ
định tất cả, đó là ý nghĩa của "Đảo nhất thuyết.”
(Viên
Thông)
172.
Tháp Vô Phùng.
Đường
triều, Túc Tông hoàng đế hỏi Huệ Trung quốc sư (? - 775):
-
Quốc sư trăm năm rồi có cần gì không?
-
Làm cho lão tăng Tháp vô phùng.
Hoàng
đế lại hỏi:
-
Xin thầy cho kiểu tháp.
Quốc
sư im lặng một lúc rồi hỏi:
-
Bệ hạ hiểu không?
-
Trẫm chẳng hiểu.
-
Lão tăng có đệ tử phó pháp là Đam Nguyên hiểu chuyện này,
xin mời đến hỏi.
Không
lâu quốc sư viên tịch. Túc Tông vời Đam Nguyên đến hỏi
ý của quớc sư là sao.
Đam
Nguyên đáp:
-
Phương Nam sông Tương, phương Bắc hồ, ở trong có vàng đầy
cả nước, thuyền đậu dưới cây không bóng, trên điện
lưu ly không tri thức.
(Bích
Nham Lục)
Vàng
chỉ tự tánh. Cây không bóng: chỉ đã hết mê. Nhân loại
mê nên có phiền não, thống khổ. Dùng thuyền chở chúng sinh
từ bến mê qua bờ giác. Điện lưu ly là chỉ chỗ vua ở,
cả câu ám chỉ vua không có thầy giỏi.
Ý
của Đam Nguyên giải thích câu nói của quốc sư là "Phải
lìa mê để được khai ngộ."
(Viên
Thông)
173.
Gậy cau của Liên Hoa Phong.
Trú
ở Thiên Đài Sơn, Liên Hoa Phong Thiệu quốc sư thường giơ
gậy hỏi ông tăng đến hỏi đạo và nói:
-
Cổ nhân đến đây, vì sao không chịu ở?
Không
ai trả lời được.
Về
sau Thiệu quốc sư đề thị câu trả lời cho chúng đệ tử:
-
Vì đường sá không đắc lực.
Sau
đó lại hỏi:
-
Là ý gì?
Thiệu
quốc sư lại tự đáp:
-
Gậy cau lật ngang, chẳng đoái hoài người, đi thẳng vào
ngàn vạn núi.
(Bích
Nham Lục)
Lấy
ngọn cau đẽo thành thiền trượng, thiền trượng tượng
trưng cho "ngộ cơ.”
Câu
hỏi của Thiệu quốc sư có nghĩa là "người tu hành nỗ lực
tu tập để đạt ngộ, nhưng ngộ rồi vì sao lại lìa bỏ
ngộ cơ?"
Câu
trả lời "Vì tu hành chưa đủ.”
Ngàn
vạn núi chỉ sự biến hóa. Một người chân chính ngộ đạo
không bị tình thức ngoại duyên làm biến đổi.
(Viên
Thông)
174.
Vương Thái Truyền nấu trà.
Vương
Thái Truyền vào chùa Chiêu Khánh nấu trà. Lúc đó thượng
tọa Huệ Lãng bưng bình trà đến trước mặt Minh Chiêu hòa
thượng, sơ ý làm bình trà lộn ngược. Thái Truyền trông
thấy hỏi rằng:
-
Dưới lò trà là cái gì?
Huệ
Lãng đáp:
-
Thần bưng lò.
Thái
Truyền lại hỏi:
-
Đã có thần bưng lò, vì sao bình trà lại bị đổ?
-
Sĩ quan ngủ ngày bị mất một buổi.
Thái
Huyền nghe rồi, phất tay áo mà đi.
Minh
Chiêu hòa thượng nói:
-
Thượng tọa Lãng ăn cơm Chiêu Khánh xong đi ra ngoài sông đánh
vào gốc cây khô.
Huệ
Lãng hỏi:
-
Ý hòa thượng là sao?
-
Phi nhân được cơ hội thuận tiện mà vào!
(Bích
Nham Lục)
Câu
hỏi của Thái Truyền "Đã có thần bưng lò, sao bình trà còn
bị đổ?' có nghĩa là Thượng tọa Huệ Lãng có phải nhân
ngộ mà lật ngược bình trà không?
Không
ngờ Huệ Lãng vì vô ý mà làm đổ bình trà, vì vậy câu
trả lời không có thiền tâm. Do đó, Thái Truyền thất vọng
mà bỏ đi.
Trong
câu nói của Minh Chiêu, "phi nhân" là chỉ thần bưng trà, lại
căn cứ trên câu nói trong kinh "nhàn lạc phách thời, thần
dã thừa hư nhi nhập", ý nói Huệ Lãng đã bị thần bưng
lò trói buộc.
(Viên
Thông)
175.
Thiên Bình hai lần sai.
Thiên
Bình khi đi hành cước, có đến Tây Viện, thường mắng các
ông tăng:
-
Đừng nói hiểu Phật pháp, muốn tìm người nói thoại cũng
chẳng có.
Một
hôm Tây Viện từ xa thấy ông bèn gọi:
-
Tòng Ỷ!
Thiên
Bình ngẩng đầu lên. Tây Viện nói "Sai.”
Thiên
Bình bước hai ba bước, Tây Viện lại nói "Sai!"
Thiên
Bình đến trước mặt Tây Viện. Tây Viện hỏi:
-
Vừa rồi hai cái sai đó là Tây Viện sai hay hòa thượng sai?
Thiên
Bình đáp:
-
Tòng Ỷ sai.
Nào
ngờ Tây Viện lại nói "Sai!"
Sau
đó Thiên Bình Tòng Ỷ không tìm người vấn đáp nữa và
muốn đi. Tây Viện lưu lại:
-
Hãy lưu lại qua hạ, ta sẽ thương lượng với ông về hai
lần sai này.
Lúc
đó Thiên Bình không ở lại, nghe rồi bèn bỏ đi.
Sau
Thiên Bình làm trụ trì bảo đại chúng rằng:
-
Ta khi trước đi hành cước tham học, bị gió nghiệp thổi
đến chỗ Tây Viện Tư Minh, thiền sư liên tiếp nói hai lần
sai, lại muốn giữ ta lại qua hạ để nói về hai cái sai
này. Lúc đó ta chẳng nhận là mình sai, khi hành cước về
Nam ta đã biết mình sai rồi!
(Bích
Nham Lục)
Thế
giới của thiền là bình đẳng, Thiên Bình thường tìm người
vấn đáp để tìm lỗi của họ. Ông đã ở trong thế giới
không sai biệt mà tìm sai biệt là sai.
Tây
Viện muốn sửa ông nên gọi tên ông, cái tên này chính là
nguyên nhân gây ra sai biệt. Nhưng Thiên Bình không hiểu còn
ngẩng đầu lên để trả lời là cái sai thứ nhất. Sau đó
đáng nhẽ phải nói ra một thiền ngữ để diễn tả thiền
tâm thì Thiên Bình lại chẳng làm gì cả đó là cái sai thứ
hai. Khi Tây Viện nói "Là Tây Viện sai hay thượng tọa sai"
là chỉ cho ông thấy sự sai biệt. Nhưng Thiên Bình vẫn chưa
hiểu nên đáp "là Tòng Ỷ sai" đó là cái sai thứ ba.
(Viên
Thông)
176.
Thổi lông trên kiếm.
Một
ông tăng hỏi Ba Lăng:
-
Thế nào là thổi lông trên kiếm?
-
San hô từng cành chống dưới trăng.
(Bích
Nham Lục)
Để
lông trên lưỡi kiếm mà thổi, nếu kiếm sắc lông sẽ bị
đứt.
Kiếm
chỉ trí huệ, lông chỉ phiền não, mê vọng; phải dùng trí
huệ mà cắt bỏ mọi mê vọng.
San
hô chỉ vạn tượng, từng cành thấm nhuần ánh trăng; ý nói
mọi sự việc không nên bị bất cứ một yếu tố nào trói
buộc, trực tiếp thọ nhận sẽ không bị mê vọng.
(Viên
Thông)
177.
Mười thân Điều Ngự.
Hoàng
đế Túc Tông hỏi quốc sư Huệ Trung:
-
Thế nào là mười thân điều ngự?
-
Đàn việt đạp lên đầu Tỳ Lô mà đi.
-
Quả nhân không hiểu.
-
Đừng nhận mình là thanh tịnh pháp thân!
(Bích
Nham Lục)
Túc
Tông quy y Phật giáo, rất quan tâm học Thiền, ông lập chí
thành Phật để trị thiên hạ. Câu hỏi của ông là còn chấp
Phật, câu đáp của quốc sư là: còn chấp Phật thì không
thể ngộ được.
(Viên
Thông)
178.
Cây quạt tê ngưu của Diêm Quan.
Diêm
Quan (? - 842) một hôm gọi thị giả lại:
-
Mang cây quạt Tê Ngưu ra đây cho ta.
-
Quạt bị rách rồi!
-
Quạt bị rách thì mang Tê Ngưu ra cho ta!
Thị
giả không lời nào đáp lại.
Về
sau Đầu Tử lấy thân phận thị giả đáp:
-
Không phải không mang ra, chỉ sợ đầu sừng không đủ.
(Tuyết
Đậu bình "Ta muốn đầu sừng không đủ")
Thạch
Sương đáp:
-
Nếu trả hòa thượng thì không còn gì!
(Tuyết
Đậu bình: Con Tê Ngư vẫn còn!)
Tư
Phúc vẽ một vòng tròn, trong đó đề chữ ngưu
(Tuyết
Đậu bình:Vừa rồi sao không đem ra?)
Bảo
Phúc đáp:
-
Hòa thượng tuổi cao, mời người khác thì tốt.
(Tuyết
Đậu bình: Nhọc sức mà không công cán gì.)
(Bích Nham Lục)
Diêm
Quan muốn khai thị cho thị giả, nhưng ông tăng này còn bị
quạt và Tê Ngưu trói buộc.
Câu
nói của Đầu Tử có nghĩa là: "Làm sao bảo ta dùng lời mà
diễn tả ngộ cảnh được?
Câu
của Thạch Sương: "Ngộ cảnh phải tự mình lãnh ngộ, không
phải do ai cho mình được."
Tư
Phúc thì bảo "Cái muốn đạt đến chẳng phải ở đây sao?'
Bảo
Phúc lại có ý: "Hắn đã ngộ rồi, đâu cần cơ duyên của
hòa thượng."
(Viên
Thông)
179.
Đức Phật giảng Pháp.
Một
hôm, đức Phật đăng tòa, bồ tát Văn Thù gõ chùy 3 lần
nói:
-
Quán pháp đấng pháp vương, pháp đấng pháp vương như thế.
Thế
Tôn nghe rồi, không nói một tiếng, xuống tòa.
(Bích
Nham Lục)
Đây
là để đả phá thường thức thuyết pháp là phải nói ra
lời, đó là một sự trói buộc. Thế Tôn đã thể hiện chân
lý, không cần dùng lời để nói ra. Đi, đứng, nằm, ngồi
đều là thuyết pháp, chỉ cần Thế Tôn tại trường là nói
pháp rồi. Văn Thù không để cho Thế Tôn thuyết pháp là để
chỉ "Thiền không cần lời nói.”
(Viên
Thông)
180.
Lăng Nghiêm chẳng thấy.
Kinh
Lăng Nghiêm có một đoạn chép:"Khi ta chẳng thấy, sao chẳng
thấy chổ chẳng thấy của ta. Nếu thấy cái chẳng thấy,
tự nhiên chẳng phải tướng chẳng thấy. Nếu chẳng thấy
chỗ ta chẳng thấy tự nhiên chẳng phải vật, sao nói chẳng
phải ngươi?"
(Bích
Nham Lục)
Đây
là lời đức Phật dậy A Nan. A Nan muốn biết thế nào là
khai ngộ. Khai ngộ là cảnh giới Thế Tôn đã chứng nghiệm.
Nếu ta thấy được cảnh giới đó tức là ta được khai
ngộ. Thế Tôn giảng cho ông "Ta chẳng thấy" là phải
bỏ hết mê vọng. "Sao chẳng thấy chỗ chẳng thấy của ta"
phải lìa bỏ tự ngã, không bị một cái gì trói buộc, tất
cả đều không đó là ngộ.
(Viên
Thông)
181.
Khai Sĩ đi tắm.
Cổ
Ấn Độ có 16 người cầu đạo, một lần đi tắm, nhân xối
nước mà ngộ bèn nói:
-
Diệu xúc tuyên minh, thành Phật tử trụ, cũng phải xuyên
7, 8 lần mới thủng!
(Bích
Nham Lục)
“Diệu
xúc tuyên minh, thành Phật tử trụ” có nghĩa là do xúc giác
mà ngộ, được trụ ở đất Phật.
Mới
đầu Bạt Đà Bà La chạm nước mà ngộ sau 15 người kia cũng
ngộ luôn. Do xúc giác mà khai ngộ, ở đây là thủy nhân,
ngoài ra có người thấy hoa mà ngộ là do "sắc nhân", ngửi
mùi mà ngộ là "hương nhân", nếm mà ngộ là "vị nhân", nghe
tiếng mà ngộ là "âm nhân.”
(Viên
Thông)
182.
Cây gậy của Ô Cữu.
Có
ông tăng từ Định Châu hòa thượng (718-800) đến Ô Cữu
hòa thượng. Ô Cữu hỏi:
-
Định Châu nói pháp thế nào?
-
Không khác.
-
Nếu không khác thì về bên ấy!
Nói
xong bèn dùng gậy đánh. Ông tăng nói:
-
Đầu gậy có mắt, đừng đánh người bừa bãi.
-
Hôm nay đánh được một người.
Nói
rồi lại đánh ông tăng 3 cái. Ông tăng muốn đi, Ô Cữu nói:
-
Gậy có người ăn.
Ông
tăng nghe rồi quay lại nói:
-
Vì cán gậy trong tay hòa thượng.
-
Nếu ngươi muốn, sư núi giao cho ngươi.
Do
đó ông tăng chạy lại đoạt lấy thiền trượng đánh hòa
thượng ba cái.
Ô
Cữu nói:
-
Gậy! Gậy!
Ông
tăng:
-
Có người ăn!
Ô
Cữu:
-
Đánh bừa gã này!
Ông
tăng nghe rồi lạy hòa thượng.
Ô
Cữu :
-
Hòa thượng lại đi thế ấy!
Ông
tăng cười lớn bỏ đi.
Ô
Cữu:
-
Tiêu được gì! Tiêu được gì!
(Bích
Nham Lục)
Ô
Cữu bảo ông tăng nếu đã không khác thì đi nơi khác làm
gì? Ông tăng trả lời đi quanh quẩn là hy vọng thầy thấy
rõ là để học thiền. Hòa thượng đánh, ông tăng định
đi đều là muốn xem đối phương phản ứng ra sao. Hòa thượng
dùng lời lưu ông lại. Ông tăng bị hấp dẫn mà hồi đáp.
Hai người đều lấy vô tâm mà đối đáp nên nếu tiếp tục
thì dài vô tận không bao giờ ngưng.
(Viên
Thông)
183.
Đơn Hà đã ăn cơm chưa.
Hòa
thượng Đơn Hà (739-824) hỏi một ông tăng mới đến:
-
Từ đâu lại?
-
Từ dưới núi.
-
Đã ăn cơm chưa?
-
Ăn rồi.
-
Kẻ cho ngươi ăn chỉ có một mắt?
Ông
tăng kinh ngạc, không lời đối lại.
Về
sau Trường Khánh nghe câu chuyện này bèn hỏi Bảo Phúc:
-
Đem cơm cho người ăn có phần đền ơn, vì sao chỉ có một
mắt?
Bảo
Phúc bảo:
-
Kẻ cho người nhận đều là đồ mù!
Trường
Khánh nói:
-
Cơ đến lại thành mù sao?
Bảo
Phúc đáp:
-
Bảo ta mù sao?
(Bích
Nham Lục)
"Ăn
cơm chưa?" là hỏi đã chịu sự giáo huấn của sư phụ chưa?
"Kẻ
mang cơm cho ngươi ăn chỉ có một mắt?" là hỏi sư phụ ngươi
có phải đã ngộ rồi không? Mắt ở đây không chỉ mắt
thịt mà là tâm nhãn. Ông tăng đương nhiên nhận là sư phụ
mình có tâm nhãn nên yên lặng không đáp.
"Kẻ
cho người nhận đều là đồ mù" chỉ cả 2 đều ngộ.
"Cơ
đến lại thành mù sao?" chỉ cần vô tâm học tập thì có
thể ngộ.
184.
Trường Khánh hai loại lời.
Có
một lần Trường Khánh nói:
-
Thà nói A La Hán có 3 độc, chẳng nói Như Lai có 2 loại lời.
Bảo
Phúc hỏi:
-
Thế nào là lời Như Lai?
-
Kẻ điếc làm sao nghe!
-
Đã rõ ông nói 2 đầu.
-
Thế nào là lời Như Lai?
-
Uống trà đi!
(Bích
Nham Lục)
Ba
độc là "tham, sân, si.”
A
La Hán là bậc đã thoát ly tất cả phiền não cho nên không
thể có 3 độc.
Như
Lai có 2 loại lời là chỉ phương tiện và chân thật thuyết
pháp. Do đó Trường Khánh nói: "Phật pháp chỉ có chân thật,
sao nói chân thật và phương tiện thuyết pháp là 2 loại.
"Người
điếc chẳng nghe.” Dù nói Phật pháp thế nào nếu không
tự mình thể ngộ thì cũng chẳng hiểu.
"Nói
2 đầu" là trách Trường Khánh phân 2 loại người có và không
có kinh nghiệm.
Cuối
cùng thế nào là lời chân thật: quy nạp sự chân thật của
Phật. Đó chính là "Uống trà đi!" Chân lý vốn không hạn
định ở đâu, vũ trụ bao la không đâu là không có chân lý,
vấn đề là có tuệ nhãn hay không.
(Viên
Thông)
185.
Tay, mắt Đại Bi.
Vân
Nham hỏi sư huynh Đạo Ngô:
-
Đại Bi bồ tát dùng nhiều tay, mắt để làm gì?
-
Như người nửa đêm, thò tay ra sau lưng sờ gối.
-
Đệ hiểu rồi!
-
Ngươi hiểu thế nào?
-
Quanh thân đều là tay, mắt.
-
Nói cho cùng chỉ đúng 8 phần.
-
Còn sư huynh thì sao?
-
Suốt thân là tay mắt.
(Bích
Nham Lục)
Quán
âm thiên thủ, thiên nhãn: có nhiều tay, nhiều mắt, chỉ pháp
lực vô biên có thể cứu giúp chúng sanh.
Vân
Nham căn cứ trên bản thân Quán âm, Đạo Ngô hòa nhập năng
lực của Quán âm và vũ trụ thành một nên cao hơn Vân Nham
một bực.
(Viên
Thông)
186.
Cửa kho.
Vân
Môn nói với chúng đệ tử:
-
Mọi người có ánh sáng, khi nhìn không thấy tối ám. Thế
nào là ánh sáng của mọi người?
Đại
chúng không ai đáp được; do đó Vân Môn tự đáp "Cửa kho
" lại nói "Việc tốt chẳng bằng không.”
(Bích
Nham Lục)
"Mọi
người đều có ánh sáng": ai cũng có tự tánh.
"Việc
tốt chẳng bằng không ": biết mình có tự tánh có thể thành
Phật là một việc tốt, nhưng đừng bị ý tưởng này trói
buộc khiến thành tự cao, tự đại.
(Viên
Thông)
187.
Tiếng cọp của Đồng Phong.
Một
ông tăng đến am chủ Đồng Phong hỏi:
-
Nơi đây, bỗng nhiên có cọp thời phải làm sao?
Đồng
Phong giả tiếng cọp kêu, ông tăng làm vẻ sợ hãi khiến
am chủ ha hả cười lớn. Ông tăng nói: "Ngươi bậy thật!"
Am
chủ đáp: "Vì ngươi bắt buộc ta.”
Ông
tăng yên lặng bỏ đi.
Về
sau Tuyết Đậu bình vấn đáp này "chỉ là bịt tai trộm chuông.”
(Bích
Nham Lục)
Gập
hổ chỉ có nước chết. Trong Thiền học, ngộ được coi
như chết đi sống lại; vì vậy câu nói của ông tăng có
nghĩa là làm sao để ngộ. Am chủ giả tiếng hổ ý nói "Ngươi
hiện bị chết ở đây!" Do đó ông tăng bèn chết. Nhưng đó
chỉ là giả thử, không phải chết thật. Cái phải chết
là tự ngã. Am chủ cười ý nói "Ngươi hãy còn ngã!" Ông
tăng phản kích "Ngươi bậy thật!" Am chủ trả lời "Vì ngươi
bắt buộc ta" ý nói ngươi hãy về tự soi gương mà xem.
Câu
nói của Tuyết Đậu là dẫn từ sự tích: trong một làng
nọ bỗng có một con cọp xuất hiện, vồ người ăn thịt.
Dân làng họp bàn cách đối phó. Một người đưa ra cách
treo một cái chuông vào cổ cọp, khi nó đến mọi người
nghe tiếng chuông liền biết ngay. Nhưng làm sao treo chuông vào
cổ của cọp mà không bị nó ăn thịt? Người ấy lại nói:
"Chỉ cần bịt tai nó lại.”
Câu
chuyện này ngụ ý nói không sai, nhưng cần đào sâu hơn nữa.
(Viên
Thông)
188.
Triệu Châu bối rối.
Có
ông tăng hỏi Triệu Châu:
-
Đại đạo không khó, chỉ hiềm chọn lựa thôi, có phải
là sào huyệt của thời nhân không?
-
Đã có người hỏi ta, mà 5 năm rồi ta vẫn còn bối rối!"
(Bích
Nham Lục)
Ý
của ông tăng là "Thầy từng dậy đừng chọn lựa, nhưng
khi nói ra thì đã là chọn lựa rồi phải không?" Câu đáp
của Triệu Châu là "Thực ra ta cũng vì việc khó trả
lời này mà mắc cỡ trong lòng…"
Câu
trả lời không phân biện, chỉ tâm cảnh không chọn lựa
của Triệu Châu.
(Viên
Thông)
189.
Chỉ là Chí Đạo Vô Nan.
Có
ông tăng hỏi Triệu Châu:
-
Đại đạo không khó, chỉ hiềm chọn lựa, có nói là có
chọn lựa, hòa thượng vì người thế nào?
-
Sao không dẫn hết lời này?
-
Con chỉ nhớ đến đấy!
-
Đại đạo không khó chỉ hiềm chọn lựa.
(Bích
Nham Lục)
"Sao
không dẫn hết lời này?": nếu chỉ lấy một phần của lời
nói tức là có chọn lựa rồi. Triệu Châu nhắc lại câu
"Đại đạo không khó chỉ hiềm chọn lựa" ý là đừng để
bất cứ một cái gì trói buộc, cứ thuận theo tự nhiên.
(Viên
Thông)
190.
Một mũi tên phá ba cổng.
Thiền
khách Lương Toại hỏi Khâm Sơn (thời Mạt Đường):
-
Lúc một mũi tên phá ba cổng thì thế nào?
-
Mang chủ ra coi.
-
Biết lỗi tất sửa.
-
Đợi đến lúc nào?
-
Tên tốt bắn chẳng trúng.
Nói
rồi quay mình đi. Hòa thượng ngăn lại nói:
-
Xà lê lại đây.
Lương
Toại quay đầu lại. Hoà thượng nắm lấy cơ hội nói:
-
Một mũi tên phá ba cổng hãy gác lại, thử bắn tên cho Khâm
Sơn coi.
Lương
Toại không nói. Hòa thượng dùng gậy đánh và nói:
-
Để cho gã này nghi 30 năm.
(Bích
Nham Lục)
"Một
mũi tên phá ba cổng" ý nói: Ta có thể đồng thời giải đáp
ba vấn đề.
"Mang
chủ ra coi": dĩ nhiên ngươi có đột phá, nhưng nói thử một
câu xem sao"Biết lỗi tất sửa": vạn sự đều không, làm
sao ta có thể nói ra được?
Hòa
thượng không tha "Đợi đến lúc nào?": dù vạn sự đều
không ít nhất ngươi cũng nói ra một câu chứ.
Lương
Toại chỉ còn cách bỏ chạy.
Hòa
thượng lại nói "Giả như một mũi tên không phá ba cửa hãy
nói một câu coi."
Lương
Toại không nói. Hòa thượng nói "Vừa rồi ngươi nói hay lắm
mà sao không tiếp tục?" ý nói nếu ngươi có thể nghiệm
chân chính thì bất luận trong tình huống nào cũng có thể
thích ứng tự như.
(Viên
Thông)
191.
Đại Quang múa.
I.
Công Án.
Có
một ông tăng hỏi Đại Quang:
-
Trường Khánh nói nhân thọ trai mà tán thán là có ý gì?
Đại
Quang nghe rồi liền múa. Ông tăng bèn lạy.
Đại
Quang hỏi:
-
Ngươi hiểu gì mà lạy ta?
Ông
tăng bèn múa.
-
Đồ chồn hoang này!
II.
Phật quả viên ngộ bình.
Thiền
tông Ấn Độ truyền được 28 vị tổ. Thiền tông Trung Hoa
do Đạt Ma đưa tới, truyền đến Lục tổ, đều lấy tâm
ấn tâm.
Các
ngươi có hiểu chỉ thú của công án này không? nếu các ngươi
không hiểu thì các ngươi chỉ là là đồ chồn hoang mà thôi.
Có
kẻ nói đây chỉ là lừa dối người, nếu quả như vậy
thì còn đạo lý gì?
Đại
Quang giỏi tiếp dẫn người, trong lời nói của ông có chỗ
xoay mình mà ra, không hổ là bậc thiện tri thức có tài nhổ
đinh, tháo chốt, giải tỏa những dính mắc của người.
Đại
Quang múa, ông tăng lạy, rồi sau đó cũng múa. Đại Quang nói
"Đồ chồn hoang này" vì ông tăng không thực hiểu chỉ
biết múa, nếu để vậy không biết còn múa đến khi nào
mới ngưng. Câu nói của Đại Quang làm đứt đoạn khiến
ông ta tham "câu sống" chứ không tham "câu chết.”
Tuyết
Đậu rất thích câu mắng "Đồ chồn hoang này.” Các ngươi
thấy câu trên và câu "Đầu Hải trắng, đầu Tạng đen" là
giống hay khác? Ngươi có biết "Chỗ chỗ đều gập va " là
ý gì không?
III.
Bài kệ của Tuyết Đậu:
前
箭 猶 輕 後 箭 深
Tiền
tiễn do khinh hậu tiễn thâm
誰
云 黃 葉 是 黃 金
Thùy
vân hoàng diệp thị hoàng kim
曹
溪 波 浪 如 相 似
Tào
khê ba lãng như tương tự
無
限 平 人 被 陸 沈
Vô
hạn bình nhân bị lục trầm.
Mũi
tên trước còn nhẹ
Mũi
tên sau vào sâu
Ai
nói lá vàng là vàng.
Giọt
nước Tào Khê nếu giống như
vậy
Vô
số người bị chết chìm trên
cạn.
IV.
Phật quả viên ngộ bình.
câu
1: Đại Quang múa là mũi tên trước, câu đồ chồn hoang này
là mũi tên sau.
câu
2: Ngưỡng Sơn Huệ Tịch khai thị đại chúng "Các ngươi từ
vô lượng kiếp quay lưng lại sáng đưa đầu vào tối, vọng
tưởng căn thâm, khó mà bỗng nhiên trừ khử đi được. Cho
nên chư Phật, tổ sư mới dùng nhiều loại pháp môn mà phá
trừ nghiệp thức thô trọng như dùng lá vàng dỗ con nít khóc,
dùng quả ngọt thế mướp đắng. Chư Phật, tổ sư quyền
nghi phương tiện dậy người lìa khổ được vui như trẻ
con khóc có thể dùng lá vàng mà dỗ vậy; Thế Tôn cả đời
thuyết pháp cũng tương tự. Câu nói của Đại Quang là để
chuyển hóa nghiệp thức của ông tăng, trong đó có quyền,
có thực, có chiếu, có dụng. Nếu ngươi hiểu được thì
như hổ mọc cánh.
câu
3: Nếu như người học Thiền ở 4 phương, 8 hướng đều
múa như vậy thì
câu
4: Nhiều người đi trên đất bằng mà chết chìm, như vậy
thì còn thuốc nào cứu được nữa.
(Bích
Nham Lục)
(Dịch
từ bản Bạch Thoại của Hứa Văn Cung)
192.
Hề Trọng làm xe.
Hòa
thượng Nguyệt Am hỏi một ông tăng:
-
Hề Trọng làm một cái xe, bánh có 100 nan; bỏ hai bánh xe và
trục đi thì thành cái gì?
(Vô
Môn Quan)
Hề
Trọng là người làm xe nổi tiếng thời cổ. Lúc trước bánh
xe chỉ có 30 nan, Hề Trọng làm bánh xe có 100 nan.
Xe
(chỉ Phật pháp) chỉ do bánh, trục kết hợp mà thành. Nếu
tháo bỏ bánh, trục đi, xe không còn là xe nữa.
Con
người ta cũng vậy xương thịt (Địa), máu (Thủy), hô hấp
(Phong), thể nhiệt (Hỏa) kết hợp mà thành người, tan ra
thì trở về với 4 đại. Đây là thuyết minh lý "vô ngã.”
193.
Phật Đại Thông Trí Thắng.
Một
ông tăng hỏi Hưng Dương Nhượng:
-
Phật Đại Thông Trí Thắng mười kiếp tọa đạo trường,
Phật pháp chẳng hiển hiện, cũng chẳng hoàn thành Phật đạo
là sao?
-
Hỏi đúng lắm!
-
Sao ngồi lâu vậy mà không thành Phật?
-
Vì không thành Phật!
(Vô
Môn Quan)
Hưng
Dương Nhượng là pháp tử của Ba Tiêu. Ba Tiêu là đồ tôn
của Ngưỡng Sơn. Công án này xưng tán thiền phong của tông
Quy Ngưỡng.
Phật
Đại Thông Trí Thắng dẫn từ phẩm Hóa Thành Dụ trong kinh
Pháp Hoa.
Câu
trả lời của Hưng Dương Nhượng có nghĩa là "Vốn là
Phật, thì cần gì thành Phật."
(Thánh
Tham)
194.
Thanh Thoát Cô Bần.
Thanh
Thoát hỏi Tào Sơn:
-
Thanh thoát, lẻ loi và nghèo khó, xin thầy cứu giúp.
-
Thoát xà lê!
-
Dạ!
-
Ngươi đã uống 3 chén rượu Thanh Nguyên rồi, còn nói chưa
nhấp môi!
(Vô
Môn Quan)
Tào
Sơn là một trong 5 cao đồ của Động Sơn.
Nghèo
chỉ phiền não, nếu được trợ giúp thì hết nghèo, hết
phiền não.
Lời
nói của Thanh Thoát là diễn tả cảnh giới giác ngộ vô,
hữu, là lời trình cơ.
Câu
đáp của Tào Sơn là đã rõ cơ ý.
(Thánh
Tham)
195.
Triệu Châu khám phá Am Chủ.
Triệu
Châu đến thăm một am chủ, hỏi:
-
Có chăng! Có chăng?
Am
chủ giơ nắm tay lên.
Châu
nói: "Nước cạn, chẳng phải chỗ neo thuyền", bèn đi.
Lại
đến một am chủ khác hỏi:
-
Có chăng? Có chăng?
Am
chủ giơ nắm tay lên.
Châu
nói: "Có thể nắm, có thể buông, có thể giết, có thể cứu!"
bèn vái mà lui.
(Vô
Môn Quan)
Câu
hỏi của Triệu Châu có nghĩa là có thường tỉnh thức không?
Hai am chủ đều nhận mình luôn tỉnh thức.
Câu
nói của Triệu Châu với am chủ 1: nhận mình thô thiển (nước
cạn) là căn bản của sự tiến bộ trong tọa thiền.
Câu
nói của Triệu Châu với am chủ 2: diễn tả sự tự do hoàn
toàn vì luôn luôn tỉnh thức.
(Sekida)
196.
Đức Sơn bưng bát.
Một
hôm Đức Sơn bưng bát xuống thiền đường, Tuyết Phong trông
thấy bèn hỏi:
-
Ông già! Chuông chưa gõ, trống chưa đánh, bưng bát đi đâu
vậy?
Đức
Sơn bèn trở về phương trượng. Tuyết Phong kể lại với
Nham Đầu.
Nham
Đầu nói: "Đức Sơn chưa hiểu câu sau cùng.”
Đức
Sơn nghe được bèn truyền thị giả kêu Nham Đầu lại hỏi:
-
Ngươi chẳng đồng ý với lão tăng sao?
Nham
Đầu bèn trình mật ý, Sơn cho lui.
Hôm
sau, thăng đường có vẻ khác thường.
Nham
Đầu đến trước thiền đường vỗ tay cười lớn mà rằng:
-
Mừng cho ông già đã hiểu được "câu nói sau cùng", về sau
thiên hạ không ai làm phiền ông nữa.
(Vô
Môn Quan)
Tuyết
Phong và Nham Đầu là hai đồ đệ của Đức Sơn Tuyên Giám.
Trong Truyền Đăng Lục có chép một hôm cơm dọn trễ, Đức
Sơn đói bụng bèn bưng bát xuống phòng ăn. Điển tọa Tuyết
Phong trông thấy mới hỏi và sau đó kể lại cho Nham Đầu
nghe. Nham Đầu thấy đây là cơ hội giúp Tuyết Phong khởi
nghi tình nên mới nói Đức Sơn không hiểu "câu nói sau cùng.”
Đức Sơn nghe được không hiểu ý của Nham Đầu là sao, bèn
gọi vào hỏi. Nham Đầu trình ý kiến của mình là để giúp
Tuyết Phong. Đức Sơn thuận. Do đó, cử động của Nham Đầu
ngày hôm sau chỉ là diễn trò. Đáng tiếc, cho đến lúc này
Tuyết Phong vẫn chưa khai ngộ.
(Thánh
Tham)
197.
Nghe tiếng chuông mặc áo cà sa.
Vân
Môn nói: "Thế giới rộng rãi bao la, vì sao nghe tiếng chuông
lại mặc áo thất điều?"
(Vô
Môn Quan)
Thế
giới bao la chỉ cảnh giới Tuyệt đối, hoàn toàn tự do,
nghe tiếng chuông lại mặc áo thất điều là bị hạn chế.
Một người giác ngộ mặc dầu sống ở trong thế giới giới
hạn vì những đòi hỏi của cuộc sống hàng ngày. Nhưng nếu
mọi hoạt động đều ở trong định thì vẫn hoàn toàn tự
do.
(Sekida)
198.
Ba lần gọi của Quốc Sư Huệ Trung.
Một
hôm, quốc sư Huệ Trung gọi thị giả 3 lần, thị giả đều
dạ.
Quốc
sư Huệ trung bèn nói:
-
Tưởng ta cô phụ ngươi, không ngờ ngươi cô phụ ta!
(Vô Môn Quan)
Quốc
sư Huệ Trung không biết sanh năm nào, mất năm 775, tục truyền
sống hơn 100 tuổi, được Lục tổ Huệ Năng truyền tâm ấn.
Ông sống trên núi hơn 40 năm không đi đâu cả, nhưng danh
tiếng vang vọng đến triều đình. Vua triệu ông về kinh để
học hỏi.
Công
án này có 2 giải thích trái ngược. Chúng tôi ghi lại cả
hai để độc giả tham khảo:
1.
Quốc sư gọi 3 lần thị giả đều dạ, nhưng không nhận
ra cái tánh nghe của mình, nên mới bị trách.
(Thích
Thanh Từ).
2.
Giữa gọi và dạ không có một cái gì cả. Sự nhận thức
thuần túy chỉ thực sự xẩy ra trong trạng thái định.
"Tưởng
ta cô phụ ngươi": sợ rằng những chỉ dậy kém cỏi của
ta đã không làm ngươi tiến bộ.
"Không
ngờ ngươi cô phụ ta": nhưng sự thực là ngươi đã đi ngược
lại lời dậy của ta. Đây là lời chấp nhận của quốc
sư vì trong thiền học người ta hy vọng trò phải tiến vượt
thầy.
(Sekida)
199.
Que cứt khô.
Có
ông tăng hỏi Vân Môn:
-
Phật là gì?
-
Que cứt khô.
(Vô
môn Quan)
Mọi
thiền sinh đều cố gắng tu tập để đạt giác ngộ và trở
thành Phật. Họ coi Phật như một lý tưởng thanh tịnh, hoàn
hảo, đáng kính nhất, cao cả nhất. Họ cố gắng vượt qua
những ác độc, tội lỗi, chết chóc, nhân loại, tầm thường
để trở thành một vị Phật như thế.
Vân
Môn đã cố gắng phá hủy những khái niệm về Phật này
bằng cách so sánh Phật với que cứt khô, là vật dụng như
giấy vệ sinh ngày nay. Đức Phật không phải là Thượng Đế,
ngài là một người giác ngộ.
(Kubose)
200.
Lìa ngôn ngữ.
Một
ông tăng hỏi Phong Huyệt:
-
Nói hay im đều là ly, vi, làm sao thông mà không phạm?
-
Ta vẫn nhớ là ở Giang Nam vào tháng ba, chim chá cô hót trong
muôn hoa.
(Vô
Môn Quan)
Ly
là chủ quan, là tâm hướng nội là im.
Vi
là khách quan, là tâm hướng ngoại là nói.
Nói
hay im, chủ quan hay khách quan đều sai vì ở bản thể giới
làm gì có chủ và khách.
Giang
Nam là nơi nổi tiếng về trồng hoa. Hoa không lời nhưng cho
hương thơm, chim vô tâm mà hót lảnh lót. Đó là cảnh hoa
hương, điểu ngữ của Giang Nam, còn nói gì là thông là phạm
nữa?
(Thánh
Tham)
201.
Ba gậy của Động Sơn.
Động
Sơn đến tham học, Vân Môn hỏi:
-
Vừa từ đâu lại?
-
Tra Độ.
-
Kiết hạ ở đâu?
-
Chùa Báo Từ ở Hồ Nam.
-
Rời chỗ đó lúc nào?
-
Ngày 25 tháng 8.
-
Tha cho ngươi ba gậy.
Hôm
sau Động Sơn thưa:
-
Đội ơn hòa thượng tha ba gậy, nhưng không biết con sai chỗ
nào?
-
Đồ giá áo túi cơm, Giang Tây, Hồ Nam đi đâu chẳng được!
Động
Sơn do đó đại ngộ.
(Vô
Môn Quan)
Động
Sơn trong công án này không phải là Động Sơn của dòng thiền
Tào Động.
Những
câu hỏi của Vân Môn đều là hỏi ngộ cảnh của Động
Sơn. Động Sơn không hiểu thâm ý nên chỉ trả lời theo nghĩa
thông thường. Do câu nói của Vân Môn, Động Sơn mới hiểu
rằng không cần phải đi đâu xa, chân lý ở ngay trước mắt.
(Thánh
Tham)
202.
Một được, một mất.
Tại
Thanh Lương Tự, khi chư tăng tụ họp lại để nghe pháp trước
bữa ngọ trai, Pháp Nhãn không nói, giơ tay chỉ vào bức mành
tre. Hai ông tăng cùng đến cuốn mành lên.
Pháp
Nhãn nói: "Một được, một mất.”
(Vô Môn Quan)
Mỗi
sự việc đều có hai mặt, một tốt, một xấu; một
được, một mất. Hai ông tăng cuốn mành là được, vì tỏ
ra hiểu ý thầy, nhưng đồng thời cũng là mất vì ra vẻ
ta đây là điều cấm kỵ trong thiền học.
(Sekida)
203.
Đệ tam tọa nói Pháp.
Ngưỡng
Sơn nằm mộng thấy đến trời Đâu Xuất của Phật Di Lặc,
ngồi vào hàng thứ ba. Có một vị tôn giả nói:
-
Hôm nay người ở hàng thứ ba nói pháp.
Sơn
bèn đứng dậy dộng gậy xuống mà rằng:
-
Nghe cho kỹ! Nghe cho kỹ! Giáo pháp của Đại thừa là ly tứ
cú, tuyệt bách phi.
(Vô
Môn Quan)
Ngưỡng
Sơn là học trò của Quy Sơn. Hai thầy trò là sáng tổ của
dòng Quy Ngưỡng.
Đây
chỉ là một giấc mộng, nhưng trời đất lại chẳng phải
là mộng sao?
Ngưỡng
Sơn toàn thân là tâm bồ đề, ngay trong mộng cũng còn nói
pháp.
(Thánh
Tham)
204.
Trên đường gập người đạt Đạo.
Ngũ
tổ Pháp Diễn nói:
"Trên
đường gập người đạt đạo, không nói cũng không im, làm
sao cho phải?"
(Vô
Môn Quan)
Đạo
là đạo, nếu đã đạt Đạo thì không chỗ nào không là
Đạo, không cần phải hỏi Đạo.
(Thánh
Tham)
205.
Thiếu nữ xuất định.
Ngày
xưa, thuở đức Thế Tôn còn tại thế, bồ tát Văn Thù đến
hội trường của