THƯ VIỆN HOA SEN
SearchEnglish Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
.
NHỮNG ĐOÁ HOA THIỀN
Dịch gỉa: Dương Đình Hỷ
Phước Quế Publications, Arlington, USA 2003
Mục Lục.
Quyển Thượng.
Quyển Trung.
Quyển Hạ.
Quyển Chung.
1.  Đệ tử đến tay không.
Một lần, có một vị khách đến tham phỏng Triệu Châu. Vị khách không mang theo lễ vật, cảm thấy bất an, nên nói:
- Đệ tử đến tay không. 
Triệu Châu đáp:
- Bỏ xuống đi! 
Vị khách không hiểu hỏi:
- Đệ tử không mang gì đến, làm sao bỏ xuống được? 
- Vậy ngươi hãy mang đi!
(Thiền Viên)
Ý của Triệu Châu là: ngươi không mang theo lễ vật có gì là quan trọng đâu! Hãy buông bỏ cái tâm chấp trước của ngươi đi. Bỏ tất cả, vượt lên tất cả chấp trước là có thể thành Phật.

2.  Lão tăng hiếu sát.
Có ông tăng theo Triệu Châu ra vườn rau, thấy một con thỏ hoảng sợ chạy trốn.
Ông tăng hỏi:
- Thiền sư là người tu, vì sao con thỏ trông thấy lại sợ? 
- Vì lão tăng hiếu sát. 
 (Thiền Cơ)
Ông Tăng thấy thỏ hoảng sợ bỏ chạy là lạc vào hiện tượng giới mà không tự biết. Câu đáp của Triệu Châu có ý bảo ông  phải cắt đứt mọi trói buộc.

3.  Cây cờ.
Trong thiền viện có một cây cờ bị gió thổi gẫy. Một ông tăng hỏi Triệu Châu:
- Cây cờ đi về phàm hay đi về thánh? 
- Không phàm, không thánh.
- Vậy đi về đâu? 
- Rơi xuống đất. 
(Thiền Cơ)
Câu hỏi của ông tăng còn phân phàm thánh là còn có sai biệt, vì vậy Triệu Châu bảo không phàm, không thánh.

4.  Con lừa kêu.
Duy Chính nhân có việc phải đến kinh thành, trên đường gập một viên quan lại. Ông này mời thiền sư thọ trai. Bỗng nhiên một con lừa hí lên, viên quan lại kêu "Thiền sư.” Duy Chính ngẩng đầu lên, viên quan lại bèn chỉ con lừa. Thiền sư bèn chỉ viên quan lại. 
   (Thiền Cơ)
Ở hiện tượng giới, con lừa, thiền sư, viên quan lại có sai biệt, nhưng ở bản thể giới thì chỉ là một

5.  Chín chín tám mốt.
Một ông tăng hỏi Ba Tiêu:
- Ẩn thân ở Bắc Đẩu là ý gì? 
- Chín chín tám mốt.
Ngưng lại một lát, Ba Tiêu lại hỏi:
- Ngươi hiểu không? 
- Không hiểu. 
- Một, hai, ba, bốn, năm...
(Thiền Cơ)
Ẩn thân ở Bắc Đẩu chỉ trụ ở bản thể giới. 81 là chung điểm của 9x9.
1, 2, 3, 4, 5...  sẽ dẫn đến vô cực.

6.  Hét, đánh.
Có ông tăng hỏi Thủ Sơn:
- Lâm Tế hét, Đức Sơn đánh, cứu cánh là ý nghĩa gì?
- Ngươi thử làm coi.
Ông tăng bèn hét một tiếng. 
- Đồ mù! 
Ông tăng lại hét một tiếng nữa. 
- Đồ mù hỗn, còn ra thể thống gì?
 Ông tăng nghe rồi bèn hướng Thủ Sơn hành lễ. Thủ Sơn đánh ông một gậy. 
(Thiền Viên)
Đánh và hét đã làm nhiều thiền sinh khai ngộ là do áp dụng đúng thời cơ; nhưng cái cơ duyên đó nhìn không thấy, cảm không được, nếu ta cứ đánh hét một cách máy móc thì chẳng khác gì nói chuyện với người câm, điếc.

7.  Nhất tự quan.
 Có ông tăng hỏi Đầu Tử :
- Thế nào là Phật? 
- Phật. 
- Thế nào là Đạo? 
- Đạo. 
- Thế nào là Thiền?
- Thiền. 
 (Thiền Viên)
Nhất Tự Quan là loại công án mà lời đáp chỉ bằng một tiếng. Những câu trả lời của Đầu Tử dường như là không trả lời, nhưng xét kỹ lại thì đó lại là những câu trả lời hoàn toàn nhất.

8.  Trăng lặn hướng Tây.
Một ông tăng hỏi Như Mẫn:
- Thiền sư bao nhiêu tuổi rồi? 
- Ngày nay sanh, ngày mai mất. 
- Vậy sao? Sanh ở đâu vậy?
- Mặt trời mọc phương Đông, mặt trăng lặn phương Tây. 
                              (Thiền Cơ)
Ở hiện tượng giới có sai biệt về thời gian (nay, mai) về không gian (Đông, Tây) nhưng ở bản thể giới chỉ là một.

9.   Muốn ngủ thì ngủ.
Một ông tăng hỏi Chiêu Hiền:
- Thế nào là tâm bình thường? 
- Muốn ngủ thì ngủ, muốn ngồi thì ngồi.
- Đệ tử không hiểu. 
- Nóng thì tìm chỗ mát, lạnh thì lại gần lửa.
                                                                                (Thiền Cơ)
Tâm bình thường là chỉ cảnh giới an nhiên, tự tại.

10.  Làm lừa, làm ngựa.
Một ông tăng hỏi Chiêu Hiền (đệ tử của Nam Tuyền):
- Nam Tuyền mất rồi đi đâu? 
- Đến nhà phía Đông làm lừa, hoặc đến nhà phía Tây làm ngựa.
- Nghĩa là sao? 
- Muốn cưỡi thì nhẩy lên, không muốn thì nhẩy xuống.
                                                              (Thiền Cơ)
Lừa, ngựa chỉ hiện tượng giới; cưỡi hay không cưỡi chỉ phàm, thánh là một.

11.  Ngươi thiếu gì?
Một ông tăng hỏi Linh Mặc:
- Thiền sư không có pháp nào tiếp dẫn người sao?
- Đợi ngươi thỉnh cầu, ta sẽ tiếp dẫn. 
- Thỉnh thiền sư tiếp dẫn. 
- Ngươi thiếu gì? 
(Thiền Cơ)
Tự tánh ai cũng có, việc gì  phải cầu xin ở bên ngoài?

12.  Cửa thiên đường.
Một vị tướng quân hỏi Bạch Ẩn:
- Có thật là có Thiên Đường và Địa Ngục không?
- Ngươi làm gì? 
- Thưa, là một vị danh tướng. 
- Ha! Ha! Đồ ngu ngốc nào mời ngươi làm tướng, trông ngươi giống như một tên đồ tể!
Vị tướng quân gầm lên: “Nói cái gì? “và rút phắt kiếm ra. 
Bạch Ẩn nói:
- Cửa địa ngục đã mở ra rồi đấy!
Vị tướng quân bừng tỉnh, vội đút kiếm vào vỏ và tạ tội. 
- Đó! Cửa thiên đường đã mở rồi! 
 (Thiền Thuyết)
Địa ngục và thiên đường không phải sau khi chết rồi mới có, mà ngay trong hiện tại, ngay trong một niệm, tùy thiện hay ác mà cửa mở.

13.  Gà vàng chưa gáy.
Một ông tăng hỏi Đầu Tử:
- Gà vàng chưa gáy thì sao?
- Không có tiếng. 
- Gáy rồi thì sao? 
- Mọi người tự biết thời khắc.
(Thiền Cơ)
Gà vàng chỉ tự tánh, chưa gáy chỉ chưa ngộ, gáy rồi chỉ đã ngộ. "Mọi người tự biết thời khắc" chỉ tự tánh phải tự mình thể hội.

14.  Người đắc đạo.
Một ông tăng hỏi Như Nột:
- Thế nào là người đắc đạo?
- Đi không lưu dấu chân, đứng ngồi không người biết. 
                                                              (Thiền Cơ)
Câu đáp mô tả cảnh giới kiến tánh.

15.  Dao Giang Tây.
Tư Minh thưa :
- Đệ tử không mang đến lễ vật gì tốt, chỉ tại Hà Nam mua một con dao Giang Tây để tặng thiền sư!
Bảo Ứng đáp :
- Ngươi từ Hà Nam lại, mua dao ở đâu?
Tư Minh nắm lấy tay Bảo Ứng bóp một cái.
Thiền sư nói :
- Thị giả! Mau nhận lấy dao. 
 (Thiền Cơ)
Giang Tây chỉ dòng thiền của Nam Nhạc Hoài Nhượng. Hà Nam chỉ dòng thiền của Thanh Nguyên Hành Tư. Dao chỉ phương cách kiến tánh. Câu hỏi của Bảo Ứng  "Ngươi từ Hà Nam lại, mua dao ở đâu?" là hỏi Tư Minh giác ngộ do phương pháp của Hoài Nhượng, Hành Tư hoặc từ phái khác? Tư Minh bóp tay thiền sư biểu thị không phải do phái ngoài. Do đó, thiền sư gật đầu kêu thị giả nhận dao.

16.  Sanh tử trật tự.
Có một vị phú ông nhờ Tiên Nhai viết chữ. 
Tiên Nhai viết:"Cha chết, con chết, cháu chết.”
Phú ông nổi giận :
- Đệ tử nhờ thầy ban cho những lời tốt lành, sao lại giỡn cợt như vậy? 
- Đây là những lời tốt lành đó nha! Nếu như con ông chết trước ông, có phải là ông đau khổ không? Lại nữa nếu cháu ông chết trước con ông thì hai cha con ông đau khổ biết chừng nào? Nếu gia đình ông cứ theo như lời ta viết thì có phải là thực sự hưng vượng không nào?
(Thiền Thuyết)
Sống gửi, thác về; chết ví như kẻ du tử về nhà. Nếu cứ theo trật tự mà chết chẳng phải là có phúc sao!

17.   Đại Thừa,  Tiểu Thừa.
Có một lần Hoàng Bá lên chơi Ngũ Đài Sơn, trên đường gập một vị quái tăng. Hai người vừa đi vừa chuyện vãn, tâm đầu ý hợp. Gập một con suối, sức nước rất mạnh. Vị tăng bảo Hoàng Bá:
- Chúng ta qua bờ bên kia đi! 
Hoàng Bá nói:
- Ngươi muốn qua thì cứ tự mình qua đi.
Vị tăng không nói một lời vén quần chạy qua suối như chạy trên đường lộ, còn quay đầu lại kêu Hoàng Bá:
- Lại mau! Lại mau!
Hoàng Bá đáp :
- Nếu ta biết ngươi như vậy ta đã chặt chân ngươi rồi!
Vị tăng nghe rồi tán thán rằng: “Ngươi thật là một vị đại thừa pháp khí, ta thật không bằng!”, nói rồi biến mất. 
(Thiền Viên)
Tiểu thừa là tự độ; Đại thừa là tự độ rồi độ tha. Do đó vị quái tăng biểu thị cho tiểu thừa phải biến mất.

18.   Không rửa mặt.
Một ông tăng hỏi Đạo Hạnh:
- Thế nào là đường tu chánh?
- Sau niết bàn sẽ có.
- Sau niết bàn sẽ có là ý gì?
- Không rửa mặt
- Đệ tử không hiểu!
- Không mặt để rửa! 
(Thiền Cơ)
Mặt chỉ tự tánh, vì tự tánh không bẩn, không sạch nên không cần rửa.

19.  Nơi sanh.
Một ông tăng hỏi Huệ Hải :
- Thiền sư có biết nơi mình sẽ sanh không?
- Chưa chết làm sao biết nơi sanh? 
                             (Thiền Cơ)
Chết chỉ ngộ, sanh chỉ tự tánh.

20.  Nước vẩy không tới.
Một ông Tăng hỏi Đạo Khuông:
- Một trận mưa pháp, có nơi nào không thấm nhuần không?
- Có
- Là nơi nào vậy?
- Nước vẩy không tới! 
(Thiền Cơ)
Câu trả lời của Đạo Khuông có nghĩa là tự tánh phải tự mình tự chứng. 

21.  Văn Thù.
Văn Hỷ có lần lên Ngũ Đài Sơn, trên đường gập một ông lão. 
Văn Hỷ hỏi ông lão: 
- Nơi đây, Phật pháp như thế nào? 
- Rồng rắn hỗn tạp, phàm thánh giao tham.
- Có bao nhiêu người?
- Trước 33, sau 33.
Tới hôm sau không thấy ông lão đâu nữa, chỉ thấy bồ tát Văn Thù cưỡi sư tử hiện trên không. Sau Văn Hỷ tu tập ở Ngưỡng Sơn mà ngộ, làm việc ở nhà bếp. Một hôm, nhân mở vung nồi cơm, trong hơi nóng bốc ra lại thấy Văn Thù hiện ra. Văn Hỷ vơ lấy đồ vụt Văn Thù và nói: "Văn Thù tự Văn Thù, Văn Hỷ tự Văn Hỷ, hôm nay không thể cảm hoặc ta được đâu!"
                                                                (Thiền Viên)
Người tu Thiền thấy cảnh lạ: Phật, Thánh sinh lòng sợ hãi hoặc kính ngưỡng đó là vì tâm chưa thanh tịnh. Ngộ rồi, thì đó chỉ là hiện tướng, là mê hoặc mà thôi.

22.  Giả Thiền.
Trong đám đệ tử của Bạch Ẩn có một ông tăng có vẻ đã khai ngộ. Ông không lễ Phật, không dâng hương, thậm chí còn xé kinh Đại Niết Bàn làm giấy đi cầu, nói rằng: “Ta chính là Phật, kinh văn là ghi lại những lời Phật nói. Đã có Phật ở đây rồi, thì kinh văn chỉ là mớ giấy lộn làm việc vệ sinh lại chẳng đuợc sao?”
Bạch Ẩn biết chuyện, gọi ông tăng lại bảo rằng: “Nghe nói ngươi đã thành Phật! Đáng mừng! Đáng mừng! Nhưng mà đít Phật cũng đáng tôn quý, dùng giấy lộn làm vệ sinh thì không xứng chút nào, sau này ngươi nên dùng giấy trắng thanh khiết thì hơn.”
 (Thiền Viên)
Ông tăng nghe Bạch Ẩn nói "đít Phật cũng đáng tôn quý" mà không có phản ứng gì, đủ biết đó là giả ngộ. Sau ông tăng đó hướng Bạch Ẩn mà sám hối.

23.  Không cho mọc rễ.
Dược Sơn thấy một ông tăng đang trồng rau, bèn chạy lại nói:
- Trồng thì cứ trồng nhưng đừng cho nó mọc rễ.
- Nếu không cho nó mọc rễ thì đại chúng ăn cái gì?
Dược Sơn hỏi:
- Ngươi còn dùng miệng sao?
Ông tăng không trả lời được. 
 (Thiền Cơ)
"Rễ" trong câu nói của Dược Sơn là chỉ căn trần không phải là rễ cây.

24.  Quay đầu.
Linh Mặc vào phòng phương trượng thấy Thạch Đầu đang ngồi thiền bèn hỏi:
- Nếu nói một câu khế hợp, thì ta ở lại, bằng không thì ta đi!
Thạch Đầu ngồi yên không nói. Linh Mặc bèn đi ra. Thạch Đầu theo ra đến ngoài cửa hét:  "Hòa thượng!"
Linh Mặc quay đầu lại. 
Thạch Đầu nói:
- Từ sanh đến tử, chỉ là cái đó, quay đầu lại làm gì? 
 (Thiền Cơ)
Cái đó chỉ tự tánh, quay đầu chỉ sự hướng ngoại.

25.  Địa Tạng gập trộm.
Lý Sùng nhân đi tuần phương Nam, vào thăm thiền viện Văn Thù thấy tượng bồ tát Địa Tạng bèn hỏi:
- Vì sao Địa Tạng giơ tay?
Viên Minh đáp:
- Hạt châu trong tay bị trộm lấy mất.
- Đã là Địa Tạng sao còn gập trộm?
- Hôm nay bắt được rồi. 
(Thiền Cơ)
Châu chỉ tự tánh, trộm chỉ trần ai.

26.  Một đám mây trong không.
Đường Túc Tông hỏi Huệ Trung đã đắc pháp Phật nào?
- Bệ Hạ có thấy đám mây trong không?
- Thấy.
- Lấy đinh sắt mà đóng nó lại. 
 (Thiền Cơ)
Phật pháp lưu động như mây, cố định một chỗ là không phải.

27.  Phí công khoác cà sa.
Một ông tăng nói :
- Dộng chuông rồi, thỉnh thiền sư thượng đường.
Dược Sơn bảo:
- Ngươi mang giúp ta y bát.
- Thiền sư không có tay bao lâu rồi?
- Uổng cho ngươi khoác áo cà sa! 
                                                                                   (Thiền Cơ)
Ông tăng còn phân biệt ta, người nên bị Dược Sơn mắng.

28.  Cho ta một đồng.
Tòng Thần thấy một ông tăng đang đếm tiền bèn nói:
- Cho ta một đồng.
- Thiền sư vì sao tới nước này?
- Ta tới nước này!
- Nếu đã tới nước này, cầm lấy một đồng.
- Ngươi vì sao tới nước này? 
(Thiền Cơ)
Tiền là vật ngoài thân. Thiền sư muốn ám chỉ phải quay vào trong để ngộ tự tánh; ông tăng không hiểu tưởng thiền sư nghèo quá nên phải xin tiền thật.

29.  Rau sống, rau chín.
Triệu Châu hỏi ông tăng coi vườn rau:
- Hôm nay ăn rau sống hay rau chín?
Ông tăng lấy một nắm rau đưa cho thiền sư. 
Triệu Châu nói:
- Ngươi biết ơn ít, ngươi phụ ơn nhiều! 
                                                                                  (Thiền Cơ)
Muốn biết rau sống hay chín, phải tự mình ăn mới biết, đưa cho thiền sư làm gì?

30.  Tới số.
Nhất Hưu từ nhỏ đã rất thông minh. Sư phụ ông có một cái tách để uống trà là một đồ cổ rất hiếm quý. Một hôm ông vô ý đánh vỡ, trong lòng cảm thấy khốn đốn. Ngay lúc đó ông nghe tiếng bước chân sư phụ đến nơi ông liền hỏi:
- Sư phụ! Con người vì sao phải chết?
Sư phụ ông đáp:
-  Đó là chuyện tự nhiên, ở trên thế gian này, tất cả mọi sự vật có sanh thì có tử!
 Lúc đó Nhất Hưu đưa mảnh tách vỡ ra và nói:
- Tách trà của sư phụ đã tới số rồi!
                                                                       (Thiền Thuyết)
Nếu đã hiểu được sanh tử của con người thì cũng hiểu được sự thành hoại của sự vật.

31.   Không biết gã này.
Khế Xung là một vị đại sư ở thời Minh Trị, trụ trì Đông Phúc Tự nhiều năm. Một hôm đại tướng quân Bắc Viên là Tổng Đốc Kinh Đô đến thăm viếng. Thị giả đưa danh thiếp có mấy chữ  "Tổng Đốc Kinh Đô Bắc Viên" trình lên.
Thiền sư nói:
- Ta chẳng có quan hệ gì với gã Tổng đốc này, bảo gã hãy đi đi.
Thị giả đưa trả danh thiếp.
Bắc Viên ngỏ lời xin lỗi : 
- Đó là lỗi của ta, (bèn lấy bút xóa bốn chữ Tổng Đốc Kinh Đô), phiền thầy trao lại.
Thiền sư đọc danh thiếp nói:
- A, thì ra là Bắc Viên, ta tiếp gã này. 
(Thiền Thuyết)
Danh lợi, địa vị, của cải, thành tựu thường làm che mất chân ngã, làm chúng ta mê man như du tử lạc lối về nhà.

32.  Đại ý Phật Pháp.
Có ông tăng hỏi Thạch Sương:
- Đại ý Phật pháp là thế nào?
- Ngày xuân, gà gáy.
- Đệ tử không hiểu.
- Trung thu, chó sủa. 
(Thiền Viên)
Đạo là do tham cứu những sự vật tầm thường mà ngộ.

33.  Con lừa.
Quang Dũng là truyền thừa của Ngưỡng Sơn, một hôm về thăm Ngưỡng Sơn.
 Ngưỡng Sơn hỏi:
- Đến làm gì?
- Đến tham bái hòa thượng. 
- Còn thấy lão tăng không?
- Thấy!
Ngưỡng Sơn lại hỏi:
- Thấy lão tăng giống con lừa không?
- Lão tăng cũng không giống Phật.
- Vậy giống cái gì?
- Nếu giống cái gì thì đối với con lừa có gì là khác biệt đâu?
Ngưỡng Sơn nghe rồi khen rằng:
- Ta dùng câu này 20 năm rồi để khảo nghiệm mà chỉ có con là đáp được, thật là phàm thánh tận tình hộ trì! 
(Thiền Viên)
Câu đáp của Quang Dũng chỉ rằng ông đã thể hội Tánh, Tướng là một.

34.  Trời đất cùng cười.
Một tối, Dược Sơn lên núi kinh hành, đột nhiên mây tan, lộ vầng trăng sáng, thiền sư bỗng phá lên cười. Kết quả là dân dưới núi trong vòng 10 dậm đều nghe thấy tiếng cười, không biết ở đâu tới. Ngày hôm sau, mọi người đều hỏi nhau, tin tức lan truyền tới núi, chúng đệ tử nói rằng:"Đó chính là sư phụ chúng tôi đêm qua tại đỉnh núi cười đó."
                                    (Cảnh Đức Truyền Đăng Lục)
Dược Sơn đã vong ngã, hòa cùng trời đất thành một thể mà cười lớn vậy. Lý Cao có làm một bài thơ tặng Dược Sơn nói về chuyện này:

選 得 幽 居 合 野 情
Tuyển đắc u cư hiệp dã tình
終 年 無 送 亦 無 迎
Chung niên vô tống diệc vô nghinh
有 時 直 上 孤 鋒 頂
Hữu thời trực thượng cô phong đỉnh
月 下 披 雲 叫 一 聲
Nguyệt hạ phi vân khiếu nhất thanh
Chọn  chốn  cô  liêu  thỏa  dạ  quê
Quanh  năm  nào  biết  đón  đưa  gì
Có  khi  lên  tận  đầu  non  vắng
Điểm  nguyệt  khơi  mây  lớn  giọng kỳ.
 (Tuệ Sĩ dịch) 
Hòa Sơn cũng đã từng nói qua  "Lạ thật! Lạ thật! Giả như ta cười thì trời cũng cười, đất cũng cười!"

35.  Tạp dịch.
Một hôm Tây Viên đun nước để tắm, một ông tăng thấy nói rằng:
- Những việc tạp dịch này, thiền sư để các chú tiểu lo được rồi!
Tây Viên không nói, chỉ phủi tay.
 (Thiền Viên)
Thiền phải do tự mình thể hội, không thể nhờ kẻ khác.

36.  Hai rồng tranh châu.
Một ông tăng hỏi Thủ Sơn :
- Hai rồng tranh châu, con nào được?
- Con được, thua.
- Con không được, thì sao?
- Châu ở đâu?
(Thiền Cơ) 
Châu chỉ tự tánh; được, thua chỉ sai biệt là hiện tượng giới. Không thể tìm tự tánh trong sự sai biệt.

37.   Mới vào cửa Thiền.
Ông tăng hỏi :
- Đệ tử mới vào cửa Thiền, xin thiền sư chỉ dậy. 
Trần Tôn Túc đáp:
- Ngươi không biết cách hỏi.
- Vậy sao, ý của thiền sư là gì?
- Tha cho ngươi 30 gậy, hãy tự mang đi. 
                                                                                 (Thiền Cơ)
Đừng hỏi người, hãy tự hỏi mình.

38.  Thế nào là giải thoát.
Một ông tăng hỏi Thạch Đầu:
- Thế nào là giải thoát?
- Ai trói ngươi?
- Thế nào là Tịnh Độ?
- Ai làm bẩn ngươi?
- Thế nào là Niết Bàn?
- Ai làm ngươi, sống, chết? 
(Cảnh Đức Truyền Đăng Lục)
Câu trả lời của Thạch Đầu chỉ mình tự trói, tự ô uế, tự gây ra sanh, tử.
(Thiền Cơ)

39.  Gà mẹ ấp trứng.
Một ông tăng hỏi Đầu Tử:
- Đệ tử hỏi một câu, thiền sư liền đáp ngay; nếu bỗng nhiên hỏi ngàn vạn câu thì thiền sư làm sao? 
- Giống gà mẹ ấp trứng. 
       (Thiền Cơ)
Phương pháp có nhiều nhưng không ngoài mục đích kiến tánh.

40.  Ta có thể đánh trống.
Có ông tăng hỏi Hòa Sơn:
- Thế nào là chân quá?
- Ta có thể đánh trống!
- Thế nào là chân đế?
- Ta có thể đánh trống!
- Tức tâm tức Phật không thể hỏi, nhưng phi tâm phi Phật là sao?
- Ta có thể đánh trống!
- Đối với bậc thượng nhân, làm sao mà giáo hóa?
- Ta có thể đánh trống!
 (Thiền Viên)
Chân là chân thật, quá là độ quá; chân quá nghĩa là đã giác ngộ. Trong Phật học, tu tập học vấn gọi là văn; học tận học vấn gọi là  "lân" đã tiếp cận đạo, là hàng xóm của Phật. Đã thông quá "Văn" và "Lân" là đạt tới cảnh giới tối cao gọi là "Chân Quá.” Ngôn ngữ không truyền đạt được sự thật, nếu bị lời nói làm cho khốn quẫn thì càng ngày càng đi sâu vào mê lộ, không tìm ra được chân lý. 

41.  Mắt thấy như cục đất.
Một ông tăng hỏi Lệnh Siêu:
- Hai rồng tranh châu con nào được?
- Châu ở khắp nơi, mắt thấy như cục đất.
(Thiền Cơ)
Châu chỉ tự tánh.

42.  Một đám mây trắng.
Một ông tăng hỏi Nguyên An:
- Kinh Phật nói cúng dường cho trăm ngàn vị Phật chẳng bằng cho một người phàm tục ăn cơm, không biết trăm ngàn vị Phật có tội lỗi gì, còn người phàm tục có công đức gì?
- Một đám mây trắng ngang cửa hang, biết bao chim lạc lối về tổ. 
                      (Thiền Cơ)
Mây trắng chỉ sự chấp Phật, càng chấp càng xa lìa tự tánh.

43.  Thế nào là siêu Phật, vượt Tổ?
Có ông tăng hỏi Vân Môn:
- Thế nào là siêu Phật, vượt Tổ?
- Ma Hoàng Bồ Châu, Phụ Tử Ích Châu! 
(Vân Môn Lục)
Câu hỏi hãy còn chấp Phật, pháp; Câu đáp đả phá mọi trói buộc để tiến tới cảnh giới tối cao.
 (Long Mãn)

44.  Không nói.
Đạo Ngô dẫn đệ tử Tiệm Nguyên đến tang gia phúng điếu. Tiệm Nguyên vỗ quan tài mà nói:
- Sống ư? chết ư?
Đạo Ngô nói:
- Ta không nói sống, cũng không nói chết.
- Tại sao không nói?
- Không nói! Không nói!
Khi về tự viện, Tiệm Nguyên nói:
- Lão sư nói mau, nếu không con sẽ đánh.
- Muốn đánh, cứ đánh, ta không nói.
Tiệm Nguyên bèn đánh sư phụ. Khi Đạo Ngô mất Tiệm Nguyên đến Thạch Sương và kể lại câu truyện trên. Thạch Sương nói:
- Ta không nói sống, cũng không nói chết!
- Tại sao không nói?
- Không nói, không nói.
Tiệm Nguyên nghe rồi liền ngộ. Một hôm, tại pháp đường Tiệm Nguyên vác cuốc đi từ Đông sang Tây. Thạch Sương hỏi:
- Ngươi làm gì đó?
- Tìm linh cốt của tiên sư.
- Ngươi chẳng thấy nước lớn mênh mông, sóng bạc ngập trời, tìm linh cốt tiên sư cái gì?
- Vậy, con đã phí công rồi! 
(Cảnh Đức Truyền Đăng Lục)
Đạo Ngô và Thạch Sương không nói sống, không nói chết vì sống chết là những ý niệm đối đãi, còn ở trong hiện tượng giới. Câu của Thạch Sương "ngươi chẳng thấy nước lớn mênh mông, sóng bạc ngập trời" chỉ Phật tánh sung mãn khắp trời đất. Câu đáp của Tiệm Nguyên hàm ý "Đúng vậy! Đó là điều con muốn nói!" 
(Long Mãn)

45. Người có Nam, Bắc; Phật Tánh vốn không Bắc, Nam.
Huệ Năng lúc mới đến gập Ngũ tổ Hoàng Nhẫn, Hoằng Nhẫn hỏi:
- Ngươi là người ở đâu, đến đây cầu việc gì?
- Đệ tử người Lãnh Nam đến vái sư phụ, chỉ cầu làm Phật, không cần gì khác.
- Người Lãnh Nam còn dã man sao thành Phật được?
- Người có Nam, Bắc, Phật tánh vốn không Bắc, Nam
                          (Pháp Bảo Đàn Kinh)
Phật tánh ai cũng có, làm gì có phân biệt!

46.  Làm trâu.
Phổ Nguyện lúc sắp mất, một ông tăng hỏi:
- Thiền sư mất rồi đi đâu?
- Xuống núi làm trâu. 
(Thiền Cơ)
Tự tánh ở khắp mọi nơi, không vì sanh tử mà tăng hay giảm.

47.  Xanh, vàng, đỏ, trắng.
Một ông tăng hỏi Huệ Chân:
- Thế nào là tùy sắc ma ni châu?
Ngộ Chân đáp:
- Xanh, vàng đỏ, trắng.
- Thế nào là không tùy sắc ma ni châu?
- Xanh, vàng, đỏ, trắng. 
(Thiền Cơ)
Tùy sắc ma ni châu chỉ tướng; không tùy sắc ma ni châu chỉ thể. Câu đáp của Ngộ Chân chỉ thể tướng là một.

48.  Lão Tăng đau lưng.
Một ông tăng thưa với Đầu Tử:
- Đệ tử từ ngàn dậm lại, thỉnh cầu thiền sư tiếp dẫn.
- Hôm nay lão tăng đau lưng. 
(Thiền Cơ)
Câu đáp của Đầu Tử ám chỉ ông tăng tự tiếp.

49.  Dụng tâm liền sai.
Một ông tăng hỏi Thủy Lục:
- Đệ tử dụng tâm chỗ nào?
- Dụng tâm liền sai.
- Khi không khởi một niệm thì sao?
- Là một gã vô dụng. 
(Thiền Cơ)
Dụng tâm là có sai biệt, là còn ở trong hiện tượng giới; không khởi một niệm là bước vào bản thể giới, "là một gã vô dụng" là lại quay về hiện tượng giới.

50. Xá  Lợi.
Một hôm Đơn Hà đến Huệ Lâm Tự ở Lạc Dương. Hôm đó trời rất lạnh. Đơn Hà bèn lên điện Phật lấy tượng Phật bằng gỗ xuống, đốt để sưởi ấm. Chính lúc đó viện 
chủ tới, bèn hét lên:
- Sao ngươi lại đốt tượng Phật vậy?
Đơn Hà lấy gậy bới trong đống tro mà đáp:
- Ta tính đốt tượng Phật này để tìm xá lợi.
Viện chủ kinh ngạc hỏi:
- Phật gỗ làm sao có xá lợi?
- Không có sao? Vậy ta xin thỉnh hai vị nữa, đốt để sưởi ấm được không? 
(Thiền Thuyết)
Đạo nhân vô tâm, nên mọi hành động đều tự do, tự tại không bị hình thức trói buộc.

51.  Ngươi tên chi?
Tam Thánh là đồ đệ của Lâm Tế đến gập Ngưỡng Sơn. Ngưỡng Sơn hỏi:
- Ngươi tên chi?
- Huệ Tịch.
- Huệ Tịch là tên của lão nạp.
- A! Đúng rồi, đệ tử là Huệ Nhiên.
Ngưỡng Sơn ha hả cười lớn. 
                                                                              (Bích Nham Lục)
Khi vượt lên khỏi cá thể thì Huệ Tịch tức là Huệ Nhiên, Huệ Nhiên tức là Huệ Tịch.

52.  Thùng nước thủng đáy.
Ni cô Như Đại mới đầu theo Tổ Nguyên học thiền, sau lại theo Thánh Nhất quốc sư, phụ trách bửa củi, gánh nước. Một hôm, ni cô đội thùng nước trên đầu mà đi, bỗng đáy thùng rơi ra. Ni cô do đó tỉnh ngộ, bèn làm bài kệ:
頂 頭 桶 底
Đính đầu dõng để
忽 脫 落 
Hốt thoát lạc 
水 已 不 留
Thủy dĩ bất lưu
月 不 宿 
Nguyệt bất túc. 
Trên  đầu  đội  thùng  nước
Đáy  thùng  bỗng  vỡ  tung
Không  còn  nước  trong  thùng
Không  còn  trăng  trong  nước! 
(Nhất Nhật Nhất Thiền Ngữ)
Bài kệ cho thấy Ni cô đã đạt được tâm cảnh chân không vô tướng.

53.  Chết đứng.
Có một lần Ẩn Phong đi đường gập hai đoàn quân đang giao chiến chưa phân thắng bại. Thiền sư lấy tích trượng ném lên không. Hai đạo quân đang đánh nhau, bỗng thấy một vị hòa thượng bay qua bèn ngưng đánh nhau mà xem sự kiện lạ lùng ấy. Ẩn Phong hiển lộ thần thông rồi, sợ người nói mình thi hành yêu thuật hoặc chúng bèn về Ngũ Đài Sơn mà nhập diệt. Ẩn Phong hỏi chư tăng:
- Ngoài chết ngồi, chết nằm, có ai chết đứng chưa?
Mọi người đáp có.  Lại hỏi:
- Có chết đứng rồi, nhưng có lộn ngược đầu mà chết chưa?
Chư tăng đáp:
- Chưa thấy qua.
Ẩn Phong bèn lộn ngược đầu mà hóa. Chúng tăng rất phục, muốn đem đi hóa nhưng đẩy thế nào cũng không được. Thiền sư có một em gái là Tỳ khưu ni, nghe vậy chạy đến nói rằng:
- Sư huynh sống tác quái, chết rồi còn tác quái!
Nói rồi đẩy một cái, thây liền ngã. 
 (Thiền Viên)
Thiền có chỗ không thể nghĩ bàn, đây chính là một trong những truyền kỳ của Thiền vậy.

54.  Chẳng đi đêm.
Triệu Châu hỏi Đầu Tử:
- Kinh nghiệm của người tu Thiền “chết đi sống lại” như thế nào?
- Đêm tối chẳng đi, đợi trời sáng hãy đi.
 (Nhất Nhật Nhất Thiền)
Người tu Thiền tham công án đến mức hòa với công án là một, lúc đó là đạt tới mức Chân Không Vô Tướng, từ cái không đó lại tạo ra cái có (Chân Không Diệu Hữu). Đó là từ u ám (đêm) mà dẫn tới sáng (trời sáng) vậy.

55.  Bán một cân thịt thượng hạng.
Có một lần Bàn Sơn đi đường, thấy một người khách mua thịt heo, nói với người bán thịt rằng:
- Bán cho ta một cân thịt thượng hạng.
Người bán thịt bỏ dao xuống, khoanh tay trước ngực, nói rằng:
- Thớt thịt này chẳng phải toàn là thượng hạng sao?
Bàn Sơn nghe câu nói đó bỗng nhiên tỉnh ngộ. 
 (Chánh Pháp Nhãn Tạng)
Bàn Sơn vì vấn đề thiện ác đối lập làm cho phiền não, nghe được câu nói của người bán thịt rồi liền nhập vào cảnh giới Bình Đẳng Vô Sai Biệt, không còn ác cũng không còn thiện. 
 (Long Mãn)

56.  Hành cước tăng.
Có một ông tăng tới tham kiến, Trần Tôn Túc hỏi:
- Ngươi là một vị hành cước tăng phải không?
- Phải.
- Lễ Phật chưa?
- Lễ Phật đất đó làm gì?
Ngươi hãy tự mình mang đi!
(Thiền Cơ)
Đã biết Phật đất, vậy hãy tự mang Phật thật đi.

57.  Tường Đông đánh tường Tây.
Một ông tăng hỏi Lũng Chân:
- Thế nào là ý của Tổ sư từ Tây sang?
- Tường Đông đánh tường Tây. 
(Thiền Cơ)
Phải phá bỏ sai biệt (Đông, Tây) mới thấy được tự tánh.

58.  Đinh một tấc.
Một ông tăng hỏi Thẩm Triết:
- Thế nào là chỗ thăm thẳm?
- Lấy đinh một tấc đóng vào gỗ, tám con trâu kéo chẳng ra! 
                             (Thiền Cơ)
Chỗ thăm thẳm chỉ tự tánh.

59.  Thả trâu.
Một hôm Tuệ Tạng đang làm việc ở nhà bếp. Mã Tổ hỏi:
- Làm gì vậy?
- Thả trâu.
- Thả làm sao?
- Khi trâu vào bụi cỏ, buông liềm, kéo mũi lôi ra.
- Ngươi thực biết thả trâu!
                      (Thiền Cơ)
Trâu chỉ tự tánh.

60.  Chỉ có ta thôi.
Một ông tăng hỏi Đầu Tử:
- Trên trời, dưới trời chỉ có ta là hơn cả, cái ta đó là gì?
- Đẩy ngã lão Hồ đó!
      (Thiền Cơ)
Lão Hồ chỉ Phật Thích Ca; câu đáp của Đầu Tử là để phá cái chấp Phật của ông tăng.

61.  Ngón tay trỏ mặt trăng.
Ni cô Vô Tận Tạng thưa với Huệ Năng rằng:
- Con tụng kinh Niết Bàn đã nhiều năm nhưng vẫn còn nhiều chỗ chưa hiểu, nhờ thầy chỉ dậy.
- Ta không biết chữ, ngươi cứ tụng đi ta sẽ giải nghĩa cho.
- Chữ thầy còn chẳng đọc được thì làm sao giảng chân lý?
- Chân lý và chữ viết có liên quan gì với nhau đâu! Chân lý ví như mặt trăng ở trên trời, chữ viết ví như ngón tay. Ngón tay có thể chỉ cho biết mặt trăng ở chỗ nào, nhưng ngón tay không phải là mặt trăng, muốn ngắm trăng đâu cần thiết phải nhờ ngón tay.
(Thiền Thuyết)
Lời nói, chữ viết chỉ là công cụ để diễn tả chân lý; tưởng lầm lời nói, chữ viết là chân lý cũng như tưởng lầm ngón tay là mặt trăng vậy.

62.  Kẻ cướp giác ngộ.
Một buổi chiều Thất Lý đang tụng kinh, bỗng có một tên cướp xông vào dí dao vào người Thất Lý:
- Đưa tiền ra đây, nếu không ta sẽ lấy cái mạng già của ngươi.
- Tiền ở trong ngăn kéo, ngươi tự tiện mà lấy nhưng để lại một ít để ta mua thực phẩm.
Nói rồi lại tiếp tục đọc kinh. Tên cướp lấy tiền rồi định đi, Thất Lý nói:
- Lấy tiền của người ta mà không nói một tiếng cám ơn sao?
Tên cướp bèn nói "Cám ơn" rồi bỏ đi. Về sau tên cướp còn cướp giật nhiều nơi, nhiều người nữa và cuối cùng bị bắt. Thất Lý được kêu ra làm chứng. Thất Lý nói:
- Người này không phải là cướp, như ta biết, ta cho hắn tiền và hắn còn cám ơn ta nữa.
Tên cướp vẫn bị phán có tội và bị giam vào ngục. Hết hạn tù gã tìm ngay đến Thất Lý và xin được làm đệ tử. 
 (Thiền Thuyết)
Câu nói "Buông dao đồ tể, lập tức thành Phật" thật khó làm được. Cái động lực khiến cho phải "buông dao đồ tể" chính là lòng từ bi vậy. 

63.  Số mạng trong tay mình.
Một vị võ tướng Nhật Bản tên là Tín Trưởng, một lần ông quyết tâm đánh bại địch thủ có số quân nhiều gấp mười lần quân số của ông. Ông rất tin tưởng là mình sẽ thắng nhưng bộ hạ của ông thì lại tỏ vẻ nghi ngờ. Khi dẫn quân đi ngang một tòa miếu, ông dừng lại bảo bộ hạ rằng:
- Ta muốn vào để bói một quẻ xem sao. Nếu mặt chính ở trên, chúng ta sẽ thắng, bằng ngược lại chúng ta sẽ thua, vận mạng của chúng ta nằm trong tay thần vậy!
Tín Trưởng vào trong miếu, yên lặng cầu nguyện một lúc. Sau dó quay mình ra trước mặt ba quân, tung đồng tiền lên. Kết quả mặt chính ở trên. Do đó, bộ hạ ông đều đòi đi đánh trận ngay. Đánh thắng trận rồi, một bộ hạ nói:
- Ai cũng không thể cải biến được số mạng.
Tín Trưởng không nói giơ đồng tiền ra: hai mặt đều là mặt chính cả. 
(Thiền Thuyết)
Trời đất chẳng tư vị ai, phải tự mình cứu mình.

64.  Vô Ngôn Đồng Tử Kinh.
Quy Sơn hỏi một ông tăng:
- Xem kinh gì vậy?
- Vô Ngôn Đồng Tử Kinh
- Có mấy cuốn?
- Hai cuốn.
- Đã vô ngôn sao lại chỉ có hai cuốn 
Ông tăng không trả lời được.
   (Thiền Cơ)
Vô ngôn tức có thể là 1 cuốn, 2 cuốn, vạn cuốn?

65.  Đánh vào đầu.
Tòng Triển thấy một ông tăng chạy lại, bèn giơ thiền trượng đánh vào đầu, ông tăng kêu đau. Tòng Triển nói: 
- Cái đó vì sao không đau? 
 (Thiên Cơ)
Cái đó chỉ tự tánh.

66.  Giết trâu.
Có người hỏi Huệ Giác:
- Tôi thường thích giết trâu, có tội không?
- Không tội.
- Vì sao không tội?
- Giết một, trả một. 
 (Thiền Cơ)
Có và không là sai biệt vì vậy thiền sư bảo phải bình đẳng.

67.  Gia phong của La Hán.
Một ông tăng hỏi La Hán:
- Gia phong của La Hán là gì?
- Không nói với ngươi.
- Tại sao không nói?
- Đó là gia phong của ta. 
(Thiền Cơ)
Gia phong chỉ tự tánh.

68.  Rùa đá nói rồi
Một ông tăng hỏi Cư Độn:
- Thế nào là ý của tổ sư từ Tây sang?
- Đợi rùa đá nói, ta sẽ bảo!
- Rùa đá nói rồi!
- Nói gì với ngươi vậy? 
 (Thiền Cơ)
Tự tánh không thể dùng lời để diễn tả được

69.  Trời, trăng chưa sáng.
Một ông tăng hỏi Đầu Tử:
- Trời, trăng chưa sáng, Phật và chúng sanh ở đâu?
- Thấy lão tăng giận nói giận, thấy lão tăng vui nói vui.
 (Thiền Cơ)
Ông tăng còn phân biệt Phật và chúng sanh là còn sai biệt, Đầu Tử phàm thánh vô ngại, thấy giận nói giận, thấy vui nói vui, tùy duyên mà điểm hóa đại chúng.

70.  Thiền lý của tách trà.
Nam Ẩn là một thiền sư Nhật Bản sống dưới thời Minh Trị (1868-1912). Một hôm, có một vị giáo sư đại học đến hỏi thiền. Thiền sư lấy trà ra đãi khách. Ông rót nước trà vào tách của khách cho đến khi tách đầy mà vẫn tiếp tục rót. Vị giáo sư trợn mắt trừng trừng, nhìn nước trà tràn khỏi tách cho đến khi không giữ yên lặng được nữa, thưa rằng:
- Tách đã tràn rồi, xin đừng rót nữa.
 Nam Ẩn trả lời:
- Ông cũng giống như tách trà này. Trong óc ông đầy những tư tưởng, nếu ông không đổ hết tách trà của ông đi thì tôi làm sao mà nói chuyện Thiền cho ông nghe được. 
(Thiền Thuyết)
Nếu đã có thành kiến thì khó lòng chấp nhận ý kiến của người khác.

71.  Ta chẳng vào địa ngục thì ai vào?
Có người hỏi Triệu Châu:
- Thiền sư mất rồi đi đâu?
- Làm lừa, làm ngựa.
- Sau đó thì sao?
- Ta vào địa ngục.
- Có thể nào một vị thánh tăng như sư phụ sa địa ngục?
- Chính ta là người đầu tiên đi vào!
- Một vị đại thiện tri thức sao vào địa ngục được?
- Nếu ta không vào thì làm sao gập mà cứu con được?
      (Thiền Thuyết)
Nếu chỉ cúng Phật ở chỗ thanh khiết, vậy ở nơi ô uế không có Phật sao? Phật không đâu không có: thiên đường dĩ nhiên là có Phật, nhưng địa ngục lại chẳng là nơi cần Phật hơn sao?

72.  Trên trời, dưới trời chỉ có ta là đáng tôn quý.
Theo truyền thuyết Phật giáo, đức Phật khi được sanh ra, liền bước đi bẩy bước, tay phải chỉ lên trời, tay trái chỉ xuống đất nói rằng: "Trên trời, dưới trời chỉ có ta là đáng tôn quý.”
 (Nhất Nhật Nhất Thiền Ngữ)
Cái ta ở đây là chỉ tự tánh.

73.  Gà lạnh lên cây, vịt lạnh xuống nước.
Có ông tăng hỏi Ba Lăng:
- Tổ ý và giáo lý là cùng hay là khác?
- Gà lạnh lên cây, vịt lạnh xuống nước. 
 (Nhất Nhật  Nhất Thiền Ngữ)
Gà vịt đều tìm cách trốn lạnh, nhưng phương pháp thì khác.

74.  Cầu đá Triệu Châu.
Có ông tăng hỏi Triệu Châu:
- Từng nghe tiếng Cầu Đá Triệu Châu, tới nơi nhìn mới thấy nguyên lai chỉ là cầu gỗ.
- Ngươi chỉ mới thấy cầu gỗ chứ chưa thấy Cầu đá Triệu Châu.
- Cầu đó như thế nào?
- Lừa, ngựa đều qua được. 
(Cảnh Đức Truyền Đăng Lục)
Cầu gỗ hữu hình, chỉ độ người một thời, cầu đá vô hình do lòng từ bi của bồ tát độ tất cả chúng sanh.
 (Thái Chí Trung).

75.  Bạch Cư Dị và Điểu Sào Thiền Sư.
Thiền sư Đạo Lâm trú trên cây tùng, do đó người đời gọi là Điểu 
Sào thiền sư. Một hôm thi sĩ Bạch Cư Dị hướng Đạo Lâm  thỉnh giáo:
- Thế nào là đại ý Phật pháp?
- Không làm các điều ác, nguyện làm mọi điều lành.
Bạch Cư Dị nghe rồi bảo thiền sư rằng:
- Nói vậy thì đứa trẻ lên ba cũng biết.
- Tuy là đứa trẻ lên ba cũng biết, nhưng ông lão tám mươi cũng chưa làm được!
 (Thiền Thuyết)
Chúng ta đều biết câu "biết khó, làm dễ" nhưng quên mất câu "biết dễ, làm khó"; làm được như thế phỏng được mấy người?

76.  Tiếng mưa.
Cảnh Thanh hỏi:
- Có tiếng gì ngoài cửa?
Một ông tăng đáp:
- Tiếng mưa rơi!
- Chúng sanh điên đảo mê chạy theo vật. 
   (Thiền Cơ)
Câu nói của Cảnh Thanh chỉ: chớ chạy theo ngoại vật, ngoại cảnh, ngoại duyên, ngoại trần.

77.  Sừng trái, sừng phải.
Thường Quán hỏi một ông tăng:
- Ngươi thấy trâu không?
- Có thấy.
- Thấy sừng trái hay sừng phải?
Ông tăng không đáp được. Thường Quán nói:
- Thấy không phân phải, trái. 
 (Thiền Cơ)
Trâu chỉ tự tánh, phải thấy cả con trâu chứ không thể chỉ thấy sừng trái hay sừng phải.

78.  Cây gậy hóa rồng.
Vân Môn cầm cây gậy hướng về các đệ tử, nói rằng:
 - Cây gậy này biến thành rồng, nuốt cả càn khôn, sơn hà đại địa làm sao mà có đây? 
 (Bích Nham Lục)
Gậy chỉ tâm, rồng chỉ sự giác ngộ. Khi ngộ rồi thì thấy thân tâm và vũ trụ đều cùng một thể.
(Long Mãn)

79.  Tuyết rơi về đâu?
Bàng cư sĩ đến bái phỏng Dược Sơn, lúc cáo từ Dược Sơn sai mười thiền khách tiễn ra cửa. Bàng cư sĩ chỉ tuyết trong không trung mà nói:
- Tuyết đẹp thay! Từng bông, từng bông rơi tới chỗ.
Lúc đó có một vị thiền khách tên là Tố Toàn hỏi rằng:
- Vậy sao! Rơi về đâu vậy?
Bàng cư sĩ bèn tát ông một cái. Tố Toàn hỏi:
- Sao lại ra tay đánh người?
- Ngươi như vậy mà cũng dám xưng là thiền khách, thiệt Diêm Vương cũng không dám cứu.
Tố Toàn hỏi:
- Vậy còn cư sĩ thì sao?
Cư sĩ lại tát Tố Toàn một cái nữa, nói rằng:
- Có mắt như mù, có lời như câm.
Tuyết Đậu bình rằng:
- Như quả là ta, thì khi Bàng cư sĩ hỏi, ta lấy một nắm tuyết ném vào người cư sĩ nói rằng:
- Rơi xuống chỗ này! 
(Bích Nham Lục)
Thiên hạ vạn vật chẳng kể to nhỏ, quý tiện đều có công dụng, chỗ đứng của nó. 
                      (Thái Chí Trung)

80.  Quan lớn ngốc.
Hai thiền sư Đại Ngu và Ngu Đường được một vị quan to mời đến tiếp kiến. Đến nơi, Ngu Đường nói với vị quan to rằng:
- Ngài vốn thông mẫn có thể học thiền được!
Đại Ngu mắng:
- Nói bậy! Tên quan ngốc này tuy có địa vị cao nhưng biết quái gì về thiền!
Kết quả, viên quan này xây tự viện cho Đại Ngu và theo ông học thiền.
(Thiền Thuyết)
Đại Ngu không bị ngoại cảnh mê hoặc, trong tâm không phân biệt thiện ác, nên tiếp cận với Thiền.

81.  Ngay trước mắt.
Nam Tuyền đang giẫy cỏ trên núi, có vị du tăng muốn đến tham phỏng Nam Tuyền bèn hướng về Nam Tuyền hỏi đường:
- Xin hỏi muốn đến Nam Tuyền thì đi đường nào?
- Cái liềm này ta mua 30 đồng đấy!
- Ta không hỏi cái liềm của lão mà muốn biết đường đến Nam Tuyền.
- Cắt cỏ vừa nhanh vừa sắc. 
                                                                                     (Thiền Viên)
Chuyện đời thường giống như vậy, có lúc người mình muốn gập ở ngay trước mắt mà mình không biết. Câu đáp một của Nam Tuyền chỉ thể, câu 2 chỉ dụng.

82.  Chủ nhân ông.
Thụy Nham mỗi ngày đều tự gọi "Chủ nhân" và tự trả lời "Dạ" rồi lại nói "Hãy tỉnh thức" và tự đáp  "Dạ!"   "Đừng bao giờ để kẻ khác lừa dối!"  "Dạ!" 
 (Thiền Thuyết)
Con người thường bị hoàn cảnh chi phối, vì vậy phải tỉnh thức để làm chủ lấy mình.

83.  Ngồi lâu sanh mệt.
Có ông tăng hỏi Hương Lâm:
- Ý của tổ sư từ Tây sang là gì?
- Ngồi lâu sanh mệt.
 (Bích Nham Lục)
Khi ngồi thì biết là mình ngồi, khi mệt thì biết là mình mệt. Đó là sự tỉnh thức trong mọi quán niệm.
 (Long Mãn)
84.  Cây Hoàng Dương.
Đại Tuệ, một bữa cơm chiều, mải tham công án tới mức vong ngã, cầm đũa mà quên cả ăn.
Viên Ngộ nói:
- Người này đã tham được Hoàng Dương Mộc Thiền.
 (Nhất Nhật Nhất Thiền Ngữ)
Cây hoàng dương là cây cứng nhưng không mọc cao, theo truyền thuyết thì càng mọc cao gỗ càng kém nên tỷ dụ cho thiền cảnh "chết đi nhưng chưa sống lại.”

85.  Tre cao,  tre thấp.
Thanh Bình hỏi Thúy Vi:
- Thế nào là ý tổ sư từ Tây sang?
- Đợi lúc không người ta sẽ nói cho ngươi biết. 
Đợi một lúc Thanh Bình nói:
- Không có ai rồi, mời thầy nói.
Thúy Vi xuống thiền sàng, dẫn Thanh Bình ra vườn tre và nói:
- Ngươi xem chỗ này tre cao, chỗ kia tre thấp.
 (Thiền Thuyết)
Người có trí, ngu; tre có cao, thấp. Trí, ngu, cao, thấp không tuyệt đối tốt hay xấu. Cao có cái tốt của cao, thấp có cái khéo của thấp.

86.  Tre đen, tre đỏ.
Có người nhờ một họa sĩ vẽ một bức tranh Tre. Tranh vẽ xong, ông ngắm nghía bức tranh và nói:
- Đẹp lắm! Đẹp lắm! Nhưng dùng mầu không đúng, tre sao lại vẽ đỏ?
- Vậy phải dùng mầu gì?
- Đương nhiên là mầu đen.
Họa sĩ hỏi lại: