CHƯƠNG
SÁU
MỘT
SỐ ĐIỂM NÓI THÊM
A/
Phật giáo và văn học Trung Quốc
Phật
giáo là một trong ba tôn giáo lớn của thế giới, lịch sử
rất lâu dài, hơn 2.500 năm nay.
Phật
giáo từ Đông Hán truyền vào Trung Quốc, về sau, suốt hơn
một ngàn năm là tín ngưỡng chủ yếu của nhân dân Trung
Quốc. Trải qua nhiều đời, các vị cao tăng đại đức hoằng
dương, từ vua quan đến nhân dân đều được thấm nhuần
pháp nhũ, ăn sâu vào mọi tầng lớp xã hội. Tín ngưỡng
Phật giáo đã thâm nhập dân gian “Nhà nhà A Di Đà, hộ hộ
Quán Thế Âm”, đã phản ánh một cách trung thực tinh thần
Phật giáo đối với nhân gian. Triết lý của Phật giáo cùng
với Nho, Đạo kết hợp, cùng dung hội, về sau hội nhập
vào trong biển lớn của văn hóa Trung Hoa, làm cho ánh sáng
của văn hóa Trung Hoa chiếu rọi rực rỡ.
Nội
dung của văn hóa cực kỳ rộng lớn, hạng mục cũng rất
nhiều, phàm hết thảy mọi thành tích của loài người từ
dã man tiến hóa đến văn minh đều có thể gọi là văn hóa.
Nhân đó, tôi chỉ muốn nêu lên một mục “văn học” trong
văn hóa ấy, dùng lời của các vị tiền bối như Lương Khải
Siêu, Hồ Thích… để thuyết minh sự du nhập của Phật giáo,
có ảnh hưởng và cống hiến đối với văn học Trung Quốc.
I-
Lương Khải Siêu cho rằng Phật giáo đối với văn học Trung
Quốc có năm loại ảnh hưởng :
1-
Sự mở rộng thực chất của quốc ngữ : Do phiên dịch sách
Phật mà chữ viết của Trung Quốc tăng thêm hơn ba vạn năm
ngàn chữ.
2-
Sự thay đổi ngữ pháp và văn thể : Cái học khoa phán sớ
sao của sách Phật, là tổ chức văn thể phân tích xuất hiện
ở Trung Quốc. Mà ngữ lục của Thiền tông chính là một
cuộc đại cách mạng của văn học Trung Quốc.
3/
Sự phát triển thú vị của văn học : Văn học đơn thuần
của Trung Quốc gần đây, như tiểu thuyết, ca nhạc v.v…
đều có quan hệ mật thiết với sự phiên dịch của sách
Phật. “Khổng Tước Đông Nam Phi, Mộc Lan Từ v.v…” thuộc
loại Trường thiên tự sự thi, đại khái là chịu ảnh hưởng
của “Phật Bổn Hành Tán” của Mã Minh do Đàm Vô Sấm thời
Đông Tấn dịch. Lại kinh điển Đại thừa, diễn dịch giáo
lý rất vi diệu, tăng thêm sức tưởng tượng của người
Trung Quốc, cách tân cách viết của người Trung Quốc. Từ
Tống Nguyên về sau tiểu thuyết chương hồi chịu ảnh hưởng
của kinh điển không ít.
4-
Sự truyền nhập của ca vũ kịch : Ca vũ kịch - vở kịch
Bát đầu, có sớm nhất của Trung Quốc, kịch này theo người
đời nay khảo chứng thì từ nước Bạt Đậu gần Nam Thiên
Trúc truyền sang.
5-
Phỏng tạo chữ cái : Phật giáo du nhập, Phạn văn cũng theo
đến. Các vị cao tăng Trung Quốc phỏng tạo ra chữ cái
để ứng dụng, nên mới có “Kiến Khê Quần Nghi” của
Thủ Ôn đời Đường chế tác 36 chữ cái.
II-
Hồ Thích cho rằng sự du nhập của Phật giáo đối với Trung
quốc có ba ảnh hưởng lớn như sau :
1-
Các vị Đại sư dịch kinh của Phật giáo dùng văn thể bạch
thoại chân chất bình dị để phiên dịch kinh Phật, chỉ
cần dễ hiểu, không cần trau chuốt đã tạo thành một loại
văn thể bạch thoại phổ thông. Thiền môn trở thành nơi
phát nguồn trọng yếu của văn bạch thoại và thi bạch thoại.
2-
Văn học Phật giáo rất giàu sức tưởng tượng, đối với
văn học Trung Quốc thì lại rất ít sức tưởng tượng, nên
đã có tác dụng giải phóng rất lớn. Tác phẩm lãng mạn
chủ nghĩa của Trung Quốc, như tiểu thuyết Tây Du Ký… là
sản phẩm ảnh hưởng văn học Ấn Độ.
3-
Văn học Ấn Độ rất chú trọng bố cục và kết cấu về
mặt hình thức. “Phổ Diệu Kinh”, “Phật Sở Hành Tán”,
“Phật Bản Hạnh Kinh” v.v… đều là sự tích trường thiên
vĩ đại. Loại “Tu Lại Kinh” là tác phẩm theo thể tiểu
thuyết, “Duy Ma Cật Kinh”, “Tư Ích Phạn Thiên Sở Vấn
Kinh” là tác phẩm nửa tiểu thuyết, nửa hý kịch. Sự du
nhập của một số kinh Phật này đối với sự phát đạt
sau này của Đàn từ (Hát nói), Bình thoại, tiểu thuyết,
hý kịch đều có sự cống hiến trực tiếp hoặc gián tiếp.
Lại tản văn và thể văn Kệ của kinh Phật dùng xen lẫn
nhau, đối với thể tài văn học sau này của Trung Quốc cũng
có ảnh hưởng hoặc quan hệ.
Chỉ
xét về một loại “văn học”, đã có biết bao nhiêu là
sách vở có liên quan với Phật giáo. Phật giáo tuyệt không
phải là tôn giáo thông thường, dù nhìn ở góc độ nào của
cuộc sống, Phật giáo đều có quan hệ mật thiết đối với
chúng ta, đặc biệt đối với văn hóa Trung Quốc có sự cống
hiến rất to lớn.
B/
Giải thích sơ lược về Đức Phật
1/
Phật là gì ?
Phật
là tiếng gọi tắt của “Phật đà”, mà Phật đà là dịch
âm của Phạn ngữ Buddha.
2/
Định nghĩa chữ Phật
Muốn
định nghĩa chữ Phật không phải là dễ. Nói một cách đơn
giản, Phật là “giác giả”, một người đã “giác ngộ”.
Nói một cách rõ hơn, Phật là một người đã giác ngộ thấu
triệt được đạo lý căn bản của nhân sinh vũ trụ.
Còn
có một định nghĩa đơn giản rõ ràng, phổ biến được
người ta tiếp thu, Phật là một người tự giác, giác tha,
giác hạnh viên mãn. Nói một cách khác, Phật chính là người
đã trải qua sự giác ngộ rồi, còn giúp cho người khác cũng
được giác ngộ, đó là công tác tự giác (giác) và giác
tha (hạnh), đồng thời cũng là người đã đạt đến cảnh
giới viên mãn rốt ráo.
3/
Phật là ai ?
Muốn
trả lời vấn đề này, cần phải từ nghĩa rộng và nghĩa
hẹp mà xét.
a/
Nghĩa hẹp : Phật là chỉ cho Đức Thích Ca Mâu Ni sinh tại
Ấn Độ hơn 2000 năm về trước.
b/
Nghĩa rộng : Đạo Phật chủ trương hết thảy chúng sinh đều
có đủ bản tính thành Phật, do đó đều có hy vọng tu hành
thành Phật. Cho nên Phật không phải là tên gọi nhất định
của Đức Thích Ca Mâu Ni, mà là tên gọi chung của những
người giác ngộ trong vũ trụ.
Giống
như từ “thầy giáo” không hạn định nơi Khổng Tử tiên
sư chí thánh, mà là chỉ chung cho những người “truyền đạo,
truyền nghề”.
Sau
khi định nghĩa Phật rõ ràng rồi, chúng ta có thể hiểu Phật
giáo là tôn giáo y theo ngôn hạnh giáo hóa của Đức Thích
Ca Mâu Ni làm trung tâm sáng lập.
Nói
một cách đơn giản, “những lời dạy bảo và khai thị của
Phật” gọi là Phật giáo.
Hết
thảy đạo lý mà Phật giáo giảng dạy chúng ta bình thường
gọi là “Phật học”. Phật học bao gồm ba tạng mười
hai bộ, tám vạn bốn ngàn pháp môn tu hành. Là một môn học
vấn tinh thâm, phong phú.
C/
Phật giáo và Phật học
Phật
học và Phật giáo trên thực tế là hai mặt một thể, hai
thứ này hỗ tương nhau mà thành. Phật giáo cần phải lấy
Phật học làm nội dung, nếu không có Phật học bổ sung thì
cũng như tôn giáo thông thường chỉ trọng hình thức và nghi
thức. Ngược lại Phật học còn cần đến sự tuyên dương
và thực hành của Phật giáo, nếu không Phật học dùng để
làm gì ? Không những đối với sinh hoạt của nhân loại không
có lợi ích, mà còn không giúp gì cho nhân quần xã hội.
Phật
giáo thường lấy “tín, giải, hành, chứng” làm bốn biện
pháp tu hành, (“giải” là cần phải nghiên cứu Phật học,
“hành” là nỗ lực thực hành). Chủ trương hành giải đều
xem trọng, cũng ý là tri hành hợp nhất.
Mối
quan hệ hữu quan giữa “Phật học và Phật giáo” xin mời
các bạn học hãy xem “Lý luận và thực tiễn của Phật
học”, một bản thảo diễn giảng của tôi lúc còn học
Đại học, ít nhiều cũng giúp cho các bạn học hiểu được
sự trọng yếu của “tri hành hợp nhất”.
Lý
luận và thực tiễn của Phật học
Phàm
người có đôi chút nghiên cứu đối với Phật học đều
phải thừa nhận : Phật học có hệ thống tư tưởng nghiêm
cẩn, có phương pháp suy lý tỉ mỉ chu đáo. Tôn Trung Sơn
tiên sinh có nói : “Phật học là mẹ của triết học, nghiên
cứu Phật học có thể bổ khuyết cho khoa học”. Điều này
thuyết minh đầy đủ cơ sở lý luận Phật học là kiến
lập ở trên nguyên lý khoa học. Lương Khải Siêu tiên sinh
cũng cho rằng : “Phật học là trí tín, chẳng phải là mê
tín”. Điều này cũng cùng một kiến giải với Tôn Trung
Sơn.
Chúng
ta đều biết, tam tạng mười hai bộ Kinh của Phật học,
bao quát tám vạn bốn ngàn pháp môn trong ấy, nói có nói không,
nói Hiển nói Mật, nói Giáo nói Thiền, không ngoài Chân đế
và Tục đế, chính là hai bộ môn lớn của thế gian pháp
và xuất thế gian pháp. Từ thành trụ hoại không của tự
nhiên giới, nói đến sinh lão bệnh tử của hiện tượng
sinh mạng nhân loại. Từ pháp Tiểu thừa “độc thiện kỳ
thân”, nói đến pháp Đại thừa “kiêm thiện thiên hạ”.
Từ hình hình sắc sắc của thế giới khách quan, nói đến
vọng niệm vô minh nội tại tâm linh chúng ta. Về phương diện
thời gian thì xuyên suốt quá khứ, hiện tại và vị lai; về
phương diện không gian thì tận cùng tam thiên đại thiên thế
giới.
Hệ
thống lý luận toàn mỹ này, đối với tư tưởng giới xưa
nay, có thể nói là độc nhất vô nhị, do đó những bậc
trí thức đều nhất trí tán thán. Song người năng hoằng
đạo, chứ chẳng phải đạo hoằng người. Công tác hoằng
pháp lợi thế không phải dễ dàng, nghiệp nhà Như Lai cũng
không phải người thường có thể đảm trách. Ngũ giới Thập
thiện của nhân thiên thừa vốn không dễ giữ gìn, Lục độ
vạn hạnh của Bồ tát thừa càng không phải dễ tu. Không
phải một bước mà có thể lên trời, trong nháy mắt mà có
thể công hiệu, phải trải qua tu hành ba đại a tăng kỳ kiếp
mới có thể viên chứng thành Phật. Có một số người nghiên
cứu Phật học, chỉ chú trọng ở giai đoạn nghiên cứu mà
không chịu đi vào thực tiễn, thực chứng, sự thiên lệch
này cần phải tu chỉnh lại.
Xem
trọng lý luận mà không xem trọng thực tiễn, kết quả là
sản sinh ra bao nhiêu tệ nạn. Như lão sư Khưu Nam trong cuốn
“Ngôn Hy Ngũ Luân” của ông có nói : “Bi kịch của tri
thức là chỉ dừng ở một khía cạnh bác học, mà không quan
tâm đến công phu thực hành, việc học như thế sẽ là một
khối tri thức băng giá, thiếu ánh sáng và hơi ấm”. Chúng
ta nên biết bác học chính là nghiên cứu lý luận, mà thực
hành chính là công phu thực tiễn. Nếu chúng ta đối với
Phật học chỉ dừng ở chỗ nghiên cứu lý luận về phương
diện bác học, mà không quan tâm đến công phu thực hành,
thì Phật học sẽ mất đi ý nghĩa và tinh thần của nó, mà
trở thành một khối tri thức băng giá.
Xem
trọng lý luận, không xem trọng thực hành, đó là một trong
những nguyên nhân chủ yếu đưa đến việc suy vi của Phật
giáo Trung Quốc cận đại. Phật học nếu biến thành huyền
học chỉ có lý luận thâm áo, mà không ứng dụng vào sinh
hoạt nhân loại, há không phải là cất lâu đài ở không
trung, khiến cho người ta không biết đâu mà dự đoán thì
làm thế nào có thể phát sinh tác dụng chỉ đạo nhân sinh
? Đó chẳng phải là sự bất hạnh của Phật giáo sao ?
Quý
vị đều hiểu Phật giáo là tôn giáo xem trọng thực chứng,
chú trọng công phu thể nghiệm tự ngã, cái gọi là “như
người uống nước, nóng lạnh tự biết”, chính là ý nghĩa
này. Đồng thời hết thảy lý luận của Phật học đều
dựa theo nhu yếu của việc học Phật mà sản sinh, trái lại
“nói ăn mà không ăn” thì không có ích gì. Chúng tôi có
thể đưa ra một thí dụ để thuyết minh. Ví như hiện nay
chúng ta muốn đến Cao Hùng, lý luận của Phật học giống
như một bản đồ, nó chỉ cho chúng ta phương hướng đến
Cao Hùng, có thể đi máy bay, tàu hỏa, tàu thủy, cũng có thể
đi bộ hoặc cưỡi ngựa. Phương hướng tuy rất nhiều, tất
cả đều có sẵn rồi, song có một sự thật mà chúng ta không
thể phủ nhận là : Nếu chúng ta không chịu cất bước đi,
nhắm về hướng Cao Hùng mà cứ nói tiến tới thì vĩnh viễn
chúng ta không bao giờ tới Cao Hùng được cả.
Nói
đi rồi nói lại, Phật học là hợp nhất lý luận và thực
tiễn, tương bổ tương thành. Nếu không có lý luận làm cơ
sở, thì không thể thu hút được sự tín ngưỡng của quảng
đại quần chúng. Cũng thế, Phật học nếu không trải qua
công phu thực tiễn, sẽ vĩnh viễn không phát huy được hiệu
dụng cứu dân độ thế, cũng không đạt đến mục đích
tu hành chứng quả. Do đó hôm nay, chúng tôi muốn đề xuất
khẩu hiệu “Lấy thực hành để ấn chứng lý luận, lấy
lý luận để chỉ đạo thực hành”, đem lý luận và thực
hành hòa tan làm một thể. Vẫn biết phiền não của thế
tục là vô tận, chúng ta cần phải hạ quyết tâm diệt trừ
nó. Vẫn biết chúng sinh trong biển khổ là vô biên, bao nhiêu
người đang rên xiết trong nước sôi lửa bỏng, biết bao
người bị đói rét hành hạ khóc than thảm thiết, vì thế
chúng ta phải học tập tinh thần lợi tha của đức Quán Thế
Âm Bồ tát chèo thuyền từ tầm thinh cứu khổ. Noi theo tâm
lớn nguyện lớn của đức Địa Tạng Vương Bồ tát, thay
chúng sinh chịu hết thảy khổ “chúng sinh độ tận, mới
chứng Bồ đề, địa ngục chưa hết, thề không thành Phật”,
dù thịt nát xương tan, nước sôi lửa bỏng cũng không hối
tiếc. Chúng ta đã biết Đức Phật là bậc đại trí đại
giác Vô thượng Chính đẳng Chính giác, thì không thể sợ
khó mà không tiến tới, nhất định phải dũng mãnh tinh tiến,
hướng về chân trời chân lý mà tiến tới.
Từ
trong sự nghiên cứu lý luận Phật học, chúng ta biết rằng
Đại thừa Phật pháp mới là bản ý của Như Lai. Mục đích
thực tiễn của chúng ta cũng phải lấy tinh thần Đại thừa
làm y cứ, không lấy làm tự mãn nơi Tiểu thừa. Chúng ta
không những độc thiện kỳ thân, mà còn phải kiêm thiện
thiên hạ. Đem hết nghị lực của chúng ta, quán triệt quyết
tâm của chúng ta, nỗ lực làm người bậc nhất trong thế
gian, làm sự việc bậc nhất trong vũ trụ. Đó chính là công
việc thiêng liêng tự lợi lợi tha, tự độ độ tha, hoằng
pháp lợi sinh của người Phật tử.
Sau
cùng, tôi mong trách nhiệm “Hoằng dương Phật pháp Đại
thừa, phục hưng Phật giáo Trung Quốc” được các vị sư
trưởng và các bạn đồng học quan tâm hơn nữa.
D/
Thần vì sao sinh ra ?
Các
nhà tâm lý học và tôn giáo học cận đại cho chúng ta biết
rằng : Thần là do người sáng tạo ra.
Người
ta vì sao lại phải sáng tạo ra thần ? Phân tích một cách
đơn giản là :
Đời
xưa khoa học chưa tiến bộ, người ta không thể hiểu được
đối với đại tự nhiên, họ không thể kháng cự lại với
thiên tai động đất của đại tự nhiên, bèn sinh ra lo sợ
và cho rằng nhất định có một “thứ” gì đó tạo ra và
gọi đó là “Thần”.
Họ
thấy chớp xẹt sấm nổ làm tổn thương đến người và
súc vật, dẫn đến hỏa tai bèn cho rằng có “Ông Sấm”
“Bà Chớp”; thấy hồng thủy trào dâng mặt đất bèn cho
là có thần sông.
Căn
cứ vào sự khảo cứu của các học giả chuyên gia thì thần
mà người ta sùng bái, “bịa đặt ra” rất nhiều, có đến
ba ức ba ngàn vạn vị, các bạn thấy có kinh khiếp không
?
Đa
số những thần ấy đại biểu cho sự vô tri và lo sợ của
loài người đối với đại tự nhiên. Thế nhưng sau này do
sự tiến bộ của khoa học, tất cả những hiện tượng của
vũ trụ đều được giải thích một cách rõ ràng.
Sau
khi đã biết rõ hiện tượng của sấm chớp, sét đánh rồi
ai lại còn tin có thần sấm chớp nữa ? Sau khi đã hiểu việc
khai thông sông ngòi có thể phòng ngự được hồng thủy,
thì thần sông coi như tiêu vong.
Sự
tiêu vong của một số thần này đại biểu cho điều gì ?
Đó là đại biểu cho sự tỉnh giác của lý trí loài người.
Loài người đã vận dụng trí lực của bản thân mình, có
thể đấu tranh với đại tự nhiên. Quan niệm “nhân định
thắng thiên” đã thâm nhập vào trong tâm của họ. Người
ta không còn phải là con cừu non đáng thương hại van xin ơn
thần ban bố phước lành nữa.
Thần
là do loài người không hiểu rõ vũ trụ nhân sinh nên đã
ảo tưởng ra. Khoa học của loài người ngày càng tiến bộ,
lý trí của loài người ngày càng sáng suốt, người ta sẽ
không còn tin thần nữa.
Bạn
biết không ? Thần là trừu tượng, không thể nắm bắt được.
Thần trên thực thể vốn không thể cầu được. Bởi vì
lúc loài người lấy hình tướng của mình để tạo ra thần
thì thần ấy vốn không phải thực thể (cũng không có pháp
tạo). Thần mà loài người tạo ra chỉ là thần tâm lý, thần
quan niệm mà thôi.