CHƯƠNG
NĂM
LỢI
ÍCH TỐT ĐẸP CỦA VIỆC TÍN NGƯỠNG PHẬT GIÁO
Sự
trọng yếu của tôn giáo đối với nhân sinh, trong đó đạo
lý là rõ ràng dễ thấy nhất, nó là một khâu rất trọng
yếu trong sinh hoạt tinh thần của nhân loại, đã cổ lệ
và làm phấn chấn con người có được sức mạnh không thể
sánh. Đồng thời tôn giáo có thể an định xã hội, tịnh
hóa lòng người, khiến cho người ta có đầy đủ tín tâm
và hy vọng ở tương lai, giúp cho người ta có được sinh
hoạt hợp lý, cao thượng.
Nói
chung, tôn giáo đối với người bi quan, có tác dụng an ủi
vỗ về; đối với người làm càn làm bậy, có hiệu lực
cảnh cáo răn đe; đối với người tốt lành cũng có thể
giúp họ hăng hái làm điều thiện.
Điều
mà chương này cần thảo luận là lợi ích tốt đẹp của
việc tín ngưỡng Phật giáo, nói thế không phải chê bai tín
ngưỡng tôn giáo khác là không có lợi ích tốt đẹp. Tiến
sĩ Trương Trừng Cơ trong cuốn “Thế nào là Phật pháp”
có nói : “Phật pháp không chê bai tôn giáo khác, Phật pháp
cho rằng căn khí chúng sinh khác nhau thì phương pháp dạy đạo
cũng không thể chấp nhất”. Nhân đấy các tôn giáo và triết
học đều có những giá trị và công dụng của nó. Các tôn
giáo, ở trong khoảng một thời gian không gian nào đó, đối
với một loại chúng sinh nào đó, có tác dụng giáo hóa và
lợi ích thiết thực.
Song
giữa các tôn giáo, do trí tuệ và hoài bão của vị giáo chủ
khác nhau, giáo lý nói ra sâu cạn cũng bất đồng, phương
thức, tinh thần giáo dục cũng có khác. Nhân đó mỗi một
tôn giáo, tuy nhiều ít đều có thể đem lại cho người tín
ngưỡng những điều lợi ích tốt đẹp, nhưng chỗ rốt ráo
thì không giống nhau. Tiểu học và Đại học tuy đều là
trường học, đều dạy đạo lý liên quan đến làm người,
làm việc, và ngày sau có kỹ năng đứng vững trong xã hội,
song vào Tiểu học và vào Đại học sở học và sở đắc
có giống nhau không ?
Dưới
đây là thuyết minh điều lợi ích tốt đẹp của việc tín
ngưỡng Phật giáo.
1/
Phật giáo có thể khiến cho người ta đạt được nhân
sinh quan chính xác
Phật
giáo phân tích rõ ràng vấn đề vũ trụ nhân sinh, mục đích
ở chỗ giúp cho người ta đối với nhân sinh có được nhận
thức chính xác.
Thông
thường, người ta có cái nhìn đối với đời sống không
ngoài hai loại bi quan và lạc quan :
1-
Bi quan : Cho rằng đời người ngắn ngủi tạm bợ, sinh mạng
giả dối, người ta sống chỉ đợi một ngày nào đó sẽ
chết, do đó mà cả ngày vẻ mặt u sầu, ủ rũ.
2-
Lạc quan : Loại người này không phải cả ngày tươi vui thật
sự, bởi vì sinh hoạt của họ không có mục đích và ý nghĩa.
Họ chỉ ôm ấp quan niệm “vui chơi theo thời”, cuồng nhiệt
vui thú theo dục lạc, nhằm thỏa mãn cảm giác của mình.
Ý nghĩa sinh mạng và mục đích đời sống là gì, họ không
cần quan tâm, họ cũng không cần biết đến.
Mà
nhân sinh quan Phật giáo khẳng định không thuộc ở bi quan
và cũng không thuộc ở lạc quan, chúng ta có thể miễn cưỡng
gọi là “trung quan”.
Thế
nào là “trung quan” ? Tức là không phải buồn than khóc lóc
đời sống, cũng không phải buông thả sinh mạng một cách
ngớ ngẩn. Trung quan chính là dùng con mắt trí tuệ, quét sạch
hết thảy mọi nghi ngờ, sầu muộn và hiểu lầm về nhân
sinh. Nhận thức một cách chính xác thực tướng của nhân
sinh, nắm chắc phương hướng của nhân sinh.
Có
người hoài nghi cho Phật giáo là bi quan, bởi vì đã đề
xướng “khổ, không, vô ngã”. Cho rằng nhân sinh đầy dẫy
khổ não, cho rằng thế giới trước mắt đều là nhân duyên
tạm thời tụ hội mà thành, không có một thứ gì là chân
thật, vĩnh hằng cả.
Thật
ra Phật giáo chỉ là không “giấu bệnh tránh thuốc” mà
thôi, chẳng qua là nói thật chứ không phải là bi quan. Bạn
nhìn thử xem nhân sinh chẳng phải là đầy dẫy khổ não sao
? Bạn hãy xem kỹ thế giới này có chân thật, vĩnh hằng
hay không ?
Phật
giáo không phải là một loại tôn giáo không có tinh thần
trách nhiệm. Đầu tiên Phật giáo muốn chúng ta nhận thức
nhân sinh ấy là thứ nhân sinh khổ não. Sau đó tiến thêm
một bước, phân tích những thứ khổ não ấy của nhân sinh,
đều là do vô tri tham dục của chính bản thân con người
gây ra và mọi người đều có thể tự mình khắc phục những
thứ khổ não ấy. Sau cùng chỉ ra con đường hạnh phúc của
nhân sinh, mong muốn chúng ta phải tiết chế dục vọng của
mình, vì người khác mà phục vụ. Phật giáo tin chắc rằng
: Mình muốn an lạc thì nhất định không thể thiết lập
sự an lạc đó trên đau khổ của kẻ khác. Chỉ khi nào toàn
thể chúng sinh đều được hạnh phúc an lạc, cá nhân mình
mới có hạnh phúc, an lạc chân chính.
Phật
giáo cho rằng công danh lợi lộc chỉ là mây khói bay qua mắt,
vì sinh ra không đem gì theo, chết rồi cũng không mang gì đi.
Do đó khuyên người ta không nên tham luyến quá mức, mong cầu
quá mức. Ngược lại còn khuyên người phải biết bố thí,
tu phước tu huệ, tránh xa danh lợi. Nhiều của cải cũng không
thể tiêu biểu cho sự tốt đẹp về tinh thần của một cá
nhân, chỉ có tu dưỡng phẩm chất đạo đức, tịnh hóa tâm
linh, mới có thể giúp cho cuộc sống được an vui hạnh phúc.
2/
Phật giáo có thể khiến cho người ta tích cực hướng thượng
Sau
khi Phật giáo “phủ định” tất cả, khiến cho người ta
không còn tham luyến, truy cầu một cách mê muội nữa. Có
như thế mới có thể “tích cực” vì nhân quần mà phục
vụ, lại còn khẳng định giá trị của cuộc sống và ý
nghĩa của sinh mạng.
Phật
giáo nói thân thể của con người là “không”, “giả’,
mục đích ở chỗ khuyên người không nên “nơi nơi vì ta”,
mà phải “ta vì mọi người”. Bởi vì “ta” đã là “không”
là “giả” thì công danh lợi lộc có gì là thật đâu ?
Phật
giáo lại cho rằng chúng sinh là một thể, vui buồn có nhau,
tiểu ngã sinh hoạt trong đại ngã. Do đó cần phải hy sinh
tiểu ngã, hoàn thành đại ngã, chẳng những không nên tự
tư tự lợi, ngược lại còn phải có tinh thần từ bi giúp
người.
Phật
giáo không đồng ý về việc vận mạng thao túng trong tay của
thần hoặc người khác, tự mình làm tự mình gánh chịu.
Do đó mọi người phải chịu đựng nhẫn nại, nỗ lực phấn
đấu, muốn ngày mai tươi sáng thì ngày nay phải cống hiến.
Nếu không chịu cày cấy khổ nhọc thì làm sao thu hoạch kết
quả tốt cho được ?
Phật
giáo khuyên người nên “thiểu dục tri túc”, mà không muốn
người ta phải trốn tránh trách nhiệm. Phật giáo muốn người
ta “vai thép gánh đạo nghĩa” chứ không nên chỉ lo cho bản
thân mình. Cái gọi là “chúng sinh vô biên thệ nguyện độ”,
“ta không vào địa ngục, thì ai vào ?” đã chứng minh sự
tốt đẹp nhất tinh thần cứu nhân độ thế của Phật giáo.
Giới
luật của Phật giáo, đối với hành vi của con người không
phải là trói buộc cứng nhắc, mà là cổ vũ sinh động. Về
phương diện tiêu cực có thể dừng ác phòng ngừa tội lỗi,
về phương diện tích cực có thể khuyến khích cứu nhân
độ thế. Chẳng hạn như giới “không sát sinh”, mục đích
và tinh thần chân chính của nó, không phải ở chỗ bản thân
mình không giết mà còn phải khuyên người khác giữ giới
sát nữa. Một người lập chí học Bồ tát đạo, tự mình
sát sinh vốn là phá giới, nếu thấy người sắp chết mà
không cứu cũng phạm giới. Những giới luật khác cũng như
vậy, không phải chỉ tự mình không nên “trộm cắp”, “nói
dối” mà còn phải khuyên người không nên trộm cắp, nói
dối, hết lòng khuyên bảo người cải tà quy chính.
Như
thế, tâm lý tự tư “mỗi người tự quét dọn tuyết ở
trước nhà mình” sẽ không còn chỗ đứng. Mọi người đều
sốt sắng việc công, chăm lo việc nghĩa, tốt đạo đẹp
đời, “thực hành đại đạo, thiên hạ là việc công”.
Có như thế mới xứng đáng là người tràn đầy nhân ái,
luôn tích cực hướng thiện, hướng thượng.
3/
Phật giáo có thể tịnh hóa xã hội lòng người
Trong
xã hội loài người vẫn thường xảy ra những chuyện trộm
cướp, giết người, hiếp dâm, gian dối v.v… thật khủng
khiếp. Ai lại không đau buồn lo lắng ?
Một
tín đồ Phật giáo tối thiểu phải nghiêm túc giữ gìn năm
điều giới luật cơ bản dưới đây :
1-
Không sát sinh : Không tàn hại sinh linh.
2/
Không trộm cắp : Không lấy, không cướp đoạt tài sản của
người khác.
3-
Không tà dâm : Là quan hệ vợ chồng chính đáng, không ngoại
tình hoặc xúc phạm tiết hạnh người khác phái.
4-
Không vọng ngữ : Nói lời chân thật, không hư dối, không
nói láo.
5-
Không uống rượu : Rượu có thể làm loạn tính, khiến cho
người ta mất hết lý trí, do đó cần phải cấm tuyệt (chỉ
khi có bệnh cần rượu pha thuốc thì mới tạm thời được
uống).
Các
bạn học hãy suy nghĩ thử xem, năm giới này có trùng khớp
với nhân, nghĩa, lễ, trí, tín của Nho gia đề xướng không
? Như nhân (không sát sinh), nghĩa (không trộm cắp), lễ (không
tà dâm), trí (không uống rượu), tín (không nói dối).
Nghiêm
thủ năm giới là căn bản của việc làm người, vi phạm
năm giới đối với xã hội cũng không thể có chỗ đứng,
đồng thời còn bị pháp luật trừng trị, giam cầm tù đày
nữa. Phật giáo cho rằng muốn làm “người” thì không thể
không giữ ngũ giới, nếu vi phạm thì đời sau không thể
được thân người trở lại, mà còn phải đọa vào ba đường
ác : Địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh (ba loại báo ứng của
chúng sinh đó đều là thống khổ không chịu được, do đó
gọi là đường ác).
Chúng
ta không cần phải để ý đến đời sau như thế nào, chỉ
xem việc trước mắt cũng đủ. Người ta không sát sinh thì
xã hội sẽ không có án giết người; không trộm cắp thì
sẽ không có ăn cắp vặt, cướp đoạt của người; không
tà dâm thì không có chuyện ngoại tình, phá hoại luân lý
gia đình; không vọng ngữ thì không có việc dối trá lẫn
nhau; không uống rượu, thì thân tâm an ổn, đầu óc sáng
suốt, không phải vì một lúc say sưa mà hại cả mình lẫn
người.
Một
xã hội như thế không phải là xã hội yên tĩnh, an lạc sao
? Do đó tôi cho rằng Phật giáo có công dụng tịnh hóa xã
hội lòng người.
4/
Phật giáo có thể khiến cho người ta đạt được an lạc
chân chính
Người
ta muốn có được an lạc chân chính, đại khái cần phải
có đầy đủ các yêu cầu dưới đây :
1-
Tâm hồn bình tĩnh, không sinh phiền não.
2-
Đối với khổ nạn trước mắt, tùy hoàn cảnh mà giải quyết,
không oán trời trách người.
3-
Đối với các vấn đề vũ trụ, nhân sinh, có thể giải đáp
một cách hợp lý.
4-
Đối với vị lai, có thể được đáp án thỏa đáng.
5-
Tiền đồ, vận mạng, chỗ về của mình, cho đến thành bại,
khổ vui không phải bị thao túng trong tay kẻ khác.
Tôi
nghĩ Phật giáo có thể đáp ứng hoàn toàn yêu cầu ấy của
nhân loại vì :
a-
Phật giáo khuyên người nên biết đủ thường vui, phải học
tập thiền định, lạc quan tiến thủ, tâm ý tự nhiên bình
tĩnh thì sẽ không sinh phiền não.
b-
Phật giáo cho rằng sự việc nhãn tiền không như ý, đều
là kết quả của nhân mà mình đã làm trước đây, cho nên
cần phải dũng mãnh nhẫn nại, dám làm dám chịu, không nên
oán trời trách người.
c-
Kinh điển của Phật giáo không phải ở chỗ ca ngợi quyền
uy và tài năng của Phật, mà là hoàn toàn giải thích triệt
để vấn đề cơ bản của vũ trụ nhân sinh, có thể giúp
cho người ta đạt được giải đáp hợp lý. Cho nên La Tố,
nhà triết học Anh quốc đã nói : “Tôn giáo trên thế giới
mà tôi tán thành nhất chính là Phật giáo”. Tôn Trung Sơn
nói : “Phật học là mẹ của triết học, nghiên cứu Phật
học có thể bổ khuyết cho khoa học”. Khương Hữu Vi nói
: “Phật học rộng lớn tinh vi… tuy có triết học của bậc
thánh cũng không ứng phó kịp. Giáo lý ấy hàm nghĩa rất
sâu xa”. Chương Thái Viêm nói : “Lý luận của Phật giáo
khiến cho người thượng trí không thể không tin”. Lương
Khải Siêu nói : “Tín ngưỡng Phật giáo là trí tín chứ
không phải là mê tín”.
d-
Trong kinh Phật có nói : “Phật vì một nhân duyên lớn xuất
hiện ở nơi đời”. “Nhân duyên” lớn ấy (tức là mục
đích của Phật đến thế gian) là gì ? Chính là vì giúp chúng
sinh chuyển mê thành ngộ, từ trong khổ nạn mà giải thoát,
hưởng sự an vui và tự do mãi mãi.
e-
Phật giáo cho rằng con người chính là loài hiên ngang khí
phách, trên con người không có thần nào có thể thao túng
sự sống chết, thành bại, họa phước của chúng ta. Con người
là chủ nhân của chính mình, chủ tể của chính mình, chỉ
cần tự mình phấn đấu nỗ lực, nhất định sẽ có ngày
vinh quang tươi sáng.
Do
đó tôi cho rằng tín ngưỡng Phật giáo có thể đạt đến
an lạc chân chính.
5/
Phật là bậc Đạo sư rất hiền từ của nhân loại
Đức
Thích Ca Mâu Ni sinh tại nhân gian, là thái tử con vua Tịnh
Phạn, đã lìa bỏ công danh phú quý, là một người có đầy
đủ lòng từ bi và trí tuệ rộng lớn. Vì nhân loại chưa
giải thoát được sinh lão bệnh tử, nên Ngài ăn không ngon,
ngủ không yên, phải xuất gia tìm đạo. Sau khi đắc đạo,
Ngài thuyết pháp 49 năm, sớm tối truyền bá không mệt mỏi,
lưu lại rất nhiều chân lý và lời dạy quý báu, là một
ngọn đèn sáng bất diệt của nhân sinh tăm tối, là chiếc
thuyền từ không chìm trong biển khổ mênh mông đầy sóng
gió. Ai có thể bi tâm như Phật với lời thệ nguyện : “Ta
không vào địa ngục thì ai vào ?”.
Phật
không bao giờ nổi giận, hoặc xử phạt đệ tử, tuyệt đối
không tìm đâu thấy Phật tức giận dùng tai họa, tật dịch
để xử phạt loài người.
Phật
đối với đệ tử lúc nào cũng hòa ái tươi vui, tha thiết
dạy bảo, dù già, trẻ, giàu, nghèo, quý, tiện, cho đến tất
cả chúng sinh trong vũ trụ Ngài đều rủ lòng thương chỉ
giáo. Tùy theo căn cơ của chúng sinh mà Ngài nói pháp cho họ
nghe.
Phật
bình thường giáo hóa chúng sinh, lúc giải đáp nghi vấn cho
đệ tử, Ngài áp dụng bốn loại phương pháp như sau : 1/
Vấn đề nào cần phải phúc đáp thẳng thắn, 2/ Vấn đề
nào nên dùng phương pháp giải đáp phân tích, 3/ Lại có vấn
đề nên lấy phản vấn làm phúc đáp, 4/ Cuối cùng, có một
loại vấn đề cần phải gác lại. (Tức là tạm thời chưa
giải đáp, bởi vì đối phương chưa có thể hiểu được
đạo lý ấy, nói ra sẽ làm tăng thêm hoang mang và nghi hoặc
cho họ. Như học sinh Tiểu học ngay cả đến số học cũng
không hiểu mà hỏi về vi tích phân (toán học) thì thầy giáo
làm sao có thể giải đáp cho chúng hiểu được ?).
Phương
thức giải đáp vấn đề như thế đó, chính là ứng cơ thuyết
pháp.
Phật
luôn luôn dùng tâm ái và tâm nhẫn để chỉ dạy đệ tử.
Ngài không cho rằng có người ngu đần đến nỗi không thể
giáo dục, có người hung ác đến nỗi không thể hối ngộ.
Một
đời của Phật cống hiến trí tuệ và từ ái của mình,
nói ra những chân lý vĩ đại, dạy đạo vô số chúng sinh,
nhưng Ngài không tự xưng mình là “giáo chủ” hoặc “chúa
tể”. Ngài cho rằng mình đến nhân gian, chỉ là trách nhiệm
thừa tiếp người trước, hướng dẫn kẻ sau - phát dương
chân lý mà các Đức Phật thời quá khứ đã phát hiện, chỉ
dạy cho người biết sau, giác sau.
Bản
thân Ngài là Phật, mà Phật tin chắc rằng chúng sinh ở trong
vũ trụ, xuyên qua sự nỗ lực và ma sát của bản thân họ,
sẽ đạt đến nhân cách vĩ đại, trí tuệ sáng suốt giống
như bản thân Ngài.
Ngày
nay các bạn đồng học vẫn đọc sách cầu học, nhân đó
gọi là học sinh, là chúng sinh biết sau giác sau. Song chỉ
cần nỗ lực, một ngày nào đó các bạn cũng có thể học
được các tri thức và kỹ năng, cũng ngang bằng với các
thầy dạy của các bạn hiện nay, có thể trở thành thầy
giáo của người, kế tục sự nghiệp giáo dục, cống
hiến cả cuộc đời của mình cho hậu sinh.
Phật
với chúng sinh là bình đẳng, mỗi một chúng sinh là Phật
ở vị lai. Giữa Phật và chúng sinh không phải là mối quan
hệ “chủ nhân và nô lệ”, mà chỉ là một loại quan hệ
“thầy trò” tạm thời mà thôi.
Các
bạn học thân mến ! Lúc mê là chúng sinh, một khi đã khai
ngộ thì là Phật với đầy đủ tri kiến chân chính.
Nản
lòng, nhụt chí cũng như căn nhà tối tăm đã trải qua thời
gian mười năm, chỉ cần đốt lên một ngọn đèn thì có
thể xua đuổi bóng tối hàng chục năm, đem lại ánh sáng
đầy nhà.
Các
bạn đọc thân mến ! Hãy mau thắp lên ngọn đèn bất diệt
ở trong tâm của bạn, ánh sáng sẽ ở chung quanh bạn, hạnh
phúc sẽ ở bên thân của bạn.
Những
đạo lý này chính là do Đức Phật cao quý nói với chúng
ta, Ngài không phải là một vị thầy hiền từ nhân ái sao
?
6/
Phật giáo có thể bồi dưỡng nhân cách tự tôn tự tin
và độc lập tự chủ
Từ
lúc tu hành đến khi thành chính quả, Đức Phật phải ra sức
nỗ lực bằng chính bản thân mình, không ai có thể thay thế
giúp sức cho Ngài cả.
Phật
giáo khẳng định mỗi cá nhân đều là chủ nhân của chính
mình, không phải là nô bộc của người khác, không cần phải
cầu xin thần hoặc Phật, chỉ cần nỗ lực thực hành theo
đạo lý Ngài đã dạy thì có thể thành Phật. Điều này
đã cổ vũ lòng tự tin và tự tôn của chúng ta.
Phật
giáo cho rằng mỗi người đều có đầy đủ bản tính thành
Phật, “trên trời dưới trời chỉ có ta là cao quý”, không
ai có thể điều khiển loài người, có thể nô dịch loài
người, sự thành bại hạnh phúc của con người hoàn toàn
ở bản thân họ. Mà việc tu hành chứng quả là do tự ta
hoàn thành nhân cách vĩ đại - thành Phật. Đó là nỗ lực
của chính bản thân nhân loại, không phải do ân điển của
thần, cũng không phải sự cứu bạt của Phật (mà là chúng
sinh tự cứu lấy mình).
Phật
giáo cho rằng, con người là vì “mình” mà sống, vì “hết
thảy chúng sinh” mà sống (làm cho chúng sinh trong vũ trụ
đều được hạnh phúc, an lạc). Đồng thời thành quả của
mọi nỗ lực là do tự mình phấn đấu mà có, vinh quang quy
về bản thân nhân loại, nếu thất bại đó là nỗ lực của
mình không đủ, cần phải cố gắng thêm nữa, nhắm thẳng
mục tiêu mà tiến tới.
Tư
tưởng này của Phật giáo, nhắc nhở loài người đối với
hành vi của mình phải tự mình gánh lấy trách nhiệm không
thể quy tội cho trời hoặc oán trách người khác.
Vì
thế người ta mới có quyền quyết định vận mạng và tiền
đồ của mình, người ta mới có nhân cách độc lập tự
chủ (không phải bị lệ thuộc nơi thần, bị thần thao túng,
khống chế). Có nhân cách độc lập tự chủ rồi, mới có
thể nói đến tự tôn và tự tin.