CHƯƠNG
BỐN
MỘT
SỐ GIÁO LÝ PHẬT GIÁO GIẢN YẾU
Tác
giả học sơ tài cạn, không đủ khả năng đảm đang giới
thiệu Phật lý. Nói thế không phải tôi cố ý khiêm tốn,
mà vì Phật pháp bao la, người xưa cũng đã than rằng “Phật
pháp vô biên”, không có một người nào dám tự xưng mình
hoàn toàn hiểu biết rốt ráo (thực ra hiểu biết cũng vẫn
chưa đủ bởi vì mục đích của Phật pháp, không hoàn toàn
là ở chỗ hiểu biết, mà muốn người ta phải nương theo
đó tu hành, thân chứng). Mặc dù vậy tôi cũng không nệ tài
sơ giới thiệu phần giáo lý giản yếu này, chỉ mong sau khi
quý vị xem qua, nếu có điều gì chưa thấu suốt, xin trực
tiếp hoặc viết thư hỏi.
Phật
học bao la vạn tượng, sách vở quá nhiều, những điều giới
thiệu dưới đây chỉ là một hạt muối trong biển cả mà
thôi.
1/
Thập thiện
Trong
chương Sáu của sách này, tôi sẽ giới thiệu tóm tắt về
“Ngũ giới”. Bây giờ tôi trình bày trước về “Thập
thiện”, cũng chính là muốn nói với các bạn đồng học
trong việc làm hằng ngày của chúng ta, mười điều đó coi
như là việc làm thiện, làm được “mười điều thiện”
này, bạn sẽ có được cuộc sống an lạc cho hiện tại và
tương lai.
Phật
giáo cho rằng hành vi tạo tác của một người, đều do ba
phương diện biểu hiện mà ra :
1/
Thân - Có ba điều xấu do thân thể chúng ta tạo tác là :
Sát sinh, trộm cắp, tà dâm.
2/
Khẩu - Có bốn điều xấu do miệng chúng ta tạo tác là :
Nói dối, nói xảo quyệt, nói ác, nói hai lưỡi (nói đâm
thọc).
3/
Ý - Có ba ý niệm xấu do tâm chúng ta gây ra : Tham dục, sân
hận, tà kiến.
Tổng
hợp những việc xấu do ba nghiệp tạo tác gọi là thập ác,
nếu không vi phạm thì gọi là thập thiện.
Nay
đem mười điều thiện ấy để trình bày như sau :
1/
Không sát sinh : Không làm tổn hại đến sinh mạng động vật.
2/
Không trộm cắp : Không cướp giật đồ vật của người.
3/
Không tà dâm : Không trái với đạo đức, pháp luật đối
với nữ sắc.
4/
Không vọng ngữ : Không nói dối.
5/
Không ác khẩu : Không dùng lời nói ác độc, thóa mạ, chửi
rủa người.
6/
Không nói hai lưỡi : Không nói khích bác để ly gián, không
đâm bị thóc chọc bị gạo, phá hoại tình cảm giữa người
với người.
7/
Không ỷ ngữ : Không nói lời dâm đãng, ô uế bất chính.
8/
Không tham dục : Không nên tham đắm quá mức, không biết chán.
Nên ít muốn biết đủ.
9/
Không sân hận : Tâm bình tĩnh không bực tức, không giận
dữ.
10/
Không tà kiến : Là hiểu rõ phải trái chánh tà. Phàm một
việc gì cũng nên lấy trí tuệ để quán sát, nhờ vào lý
trí suy xét kỹ, sẽ không thể sinh tà kiến và hiểu lầm.
Bốn
điều trước của thập thiện (1 - 4) thêm vào không uống
rượu là Ngũ giới. Các bạn đồng học có thể xem phần
“Phật giáo có thể tịnh hóa xã hội lòng người” ở điểm
3 chương 6. Còn phần liên quan đến khẩu nghiệp (từ 4 - 7)
sẽ giới thiệu kỹ ở phần “Chánh ngữ’ của “Bát chánh
đạo”. Các bạn cũng nên lưu ý.
2/
Tứ đế
Tứ
đế là tổng cương của Phật giáo Nguyên thủy, cũng là tư
tưởng trung tâm của Phật pháp. Sau khi Đức Phật Thích Ca
Mâu Ni thành đạo, lần thuyết pháp đầu tiên tại vườn
Lộc Uyển, chính là nói về đạo lý “Tứ đế” này.
Đế
ý là chân lý, bao hàm ý nghĩa “chân thật, sự thật, thật
tướng”. Tứ đế là bốn đạo lý : Khổ, Tập, Diệt, Đạo.
1/
Khổ đế - quả mê
2/
Tập đế - nhân mê
Lưu
chuyển thế gian
3/
Diệt đế - quả ngộ
4/
Đạo đế - nhân ngộ
Giải
thoát xuất thế
Hết
thảy “Khổ” nạn của nhân sinh là do sự khởi hoặc tạo
nghiệp (không hiểu phải trái, làm điều càn bậy) của chính
mình, tự hành chiêu “Tập” mà ra. Nếu muốn “Diệt”
sạch
những thứ khổ nạn này, thì phải tu hành chính “Đạo”.
Một
số thống khổ của nhân sinh là gì ? Tối thiểu gồm có :
Khổ não lúc sinh ra (sinh khổ), khổ não về già suy (lão khổ),
khổ não về bệnh tật (bệnh khổ), khổ não về sự chết
(tử khổ), khổ não vì người mình yêu mến phải xa lìa (ái
biệt ly khổ), khổ não vì những điều mình mong muốn mà
không toại nguyện (cầu bất đắc khổ) v.v…
Tóm
lại, phàm yếu tố tinh thần, vật chất cấu thành sự tồn
tại của con người đều là khổ não. (Phần này đáng lẽ
tác giả phải nói về đạo lý Ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng,
hành, thức) nhưng vì không dễ dàng trình bày rõ ràng được,
cho nên tác giả tạm thời không nói).
Phật
giáo cho rằng những khổ não ấy, không phải là di truyền
của “tội tổ tông”, cũng không phải ai giáng xuống chúng
ta, mà là tự mình không rõ phải trái, mê muội, tham luyến,
tự tạo tác rồi chiêu tập lấy khổ quả.
Làm
người, ai cũng đều mong muốn có thể khắc phục, tiêu trừ
những thứ khổ não ấy và được sự an lạc chân chính,
vĩnh hằng. Vậy thì làm thế nào để đạt được sự giải
thoát ấy ?
Phương
pháp của Phật giáo là thực hành Bát chánh đạo, gồm có
:
1/
Chánh kiến : Hiểu biết chân chính.
2/
Chánh tư duy : Suy nghĩ chân chính.
3/
Chánh ngữ : Nói lời chân chính.
4/
Chánh nghiệp : Việc làm chân chính.
5/
Chánh mạng : Nghề nghiệp chân chính.
6/
Chánh tinh tiến : Nỗ lực chân chính.
7/
Chánh niệm : Nhớ nghĩ chân chính.
8/
Chánh định : Thiền định chân chính.
Nếu
người ta có thể thực hành đúng tám điều này thì sẽ thoát
ly dần khổ não, đạt đến an vui chân thật.
Để
hiểu rõ hơn, tôi xin phép được giải thích như sau :
1/
Chánh kiến : Là hiểu biết chân chính đối với sự vật.
Nói chung, người ta thường quan sát sự vật không triệt để,
chỉ hiểu phiến diện hoặc một phần của sự thật. Ví
như người mù rờ voi, mỗi người chỉ tiếp xúc một phần
của con voi, bèn cho rằng mình đã hiểu biết toàn bộ con
voi, thật là buồn cười, đáng thương.
Nhân
đấy chánh kiến chính là muốn người ta phân tích sự vật
một cách thật chính xác, hiểu biết rõ ràng, không thể chỉ
qua loa rồi thôi, hiểu biết đôi chút bèn tự cho là đã hiểu
rõ, điều đó dễ rơi vào thiên kiến và hiểu lầm.
Tứ
đế chính là giải thích rõ chân tướng của hết thảy sự
vật, cho nên hiểu được đạo lý Tứ đế thì có thể coi
như một loại Chánh kiến. Bởi vì nó có thể đem lại cho
chúng ta giải thoát và an lạc chân chính.
Chánh
kiến chữ Anh dịch là “Right Understanding” tức là hiểu
biết chính xác; cũng có người dịch là “Right Knowledge”,
tức là tri thức chính xác.
2/
Chánh tư duy : Chánh tư duy là dùng lý trí để quyết định
mục tiêu mà chúng ta truy cầu, xem nó chính đáng hay không
chính đáng. Nếu không chính đáng chúng ta cần nên xả bỏ,
nếu chính đáng chúng ta dũng mãnh tiến tới dù chết cũng
không thay đổi.
Mục
tiêu chính đáng hay không chính đáng mà chúng ta quyết định,
cần phải dùng lý trí để suy nghĩ kỹ. Mục tiêu chính đáng
là phải yêu thương hết thảy chúng sinh, xả thân vì người,
không dùng bạo lực.
Nếu
mục tiêu mà chúng ta nỗ lực chỉ là thỏa mãn dục vọng
của bản thân mình, chỉ vì đạt đến mục đích tự lợi,
không dám hy sinh đối với người, lại còn bức hại người,
mục tiêu như thế cần phải nên xả bỏ.
Chánh
tư duy chữ Anh dịch là “Right Aim”, tức là “mục tiêu
chính đáng”, cũng có người dịch là “Right Aspiration”,
tức là “ý chí chân chính”.
3/
Chánh ngữ : Chánh ngữ là lời nói chân chính bao gồm :
1-
Không nói dối
2-
Không bịa đặt tin nhảm sinh điều thị phi, không xúi dục
để ly gián nhau.
3-
Không nói lời thô lỗ vô lễ, phê bình, thóa mạ người.
4-
Không nói lời vô nghĩa, vô ích.
Chánh
ngữ chữ Anh dịch là “Right Speech”, tức là lời nói phải
cẩn thận, chính đáng.
4/
Chánh nghiệp : Chánh nghiệp là hành vi hợp với đạo lý,
vinh dự và hòa bình.
Ngũ
giới của Phật giáo chính là khiến cho người ta có thể
đạt đến mục tiêu ấy. (Ngũ giới là 1- Không sát sinh, 2-
Không trộm cắp, 3- Không tà dâm, 4- không vọng ngữ, 5- Không
uống rượu).
Chánh
nghiệp chữ Anh dịch là “Right Behavior”, “Right Action”,
tức là hành vi chân chính.
5/
Chánh mạng : Chánh mạng tức là nghề nghiệp chân chính. Nói
một cách khác là nghề nghiệp mình làm không thể trái với
đạo đức pháp luật; không thể vì an lạc, hạnh phúc của
cá nhân mình mà làm tổn hại đến nhiều người. Như buôn
bán ma túy, bán độc dược, bán nô bộc v.v…
Chánh
mạng chữ Anh dịch là “Right Livelihood”, tức là sinh kế
chân chính.
6/
Chánh tinh tiến : Tinh tiến là ý chí kiên định, nỗ lực
vươn tới không chán nản, nếu không đạt đến thành công
quyết không dừng lại.
Phật
lấy con bò để làm thí dụ : “Con bò chở nặng đi trong
bùn lầy, tuy mệt nhọc hết sức, nhưng cặp mắt vẫn kiên
định hướng về phía trước. Nó không dám giải đãi cho
đến khi ra khỏi bùn lầy mới thôi”.
Chánh
tinh tiến chữ Anh dịch là “Right Effort”, tức là nỗ lực
đúng lúc. Vì sao gọi là nỗ lực đúng lúc ? Tức là đạt
đến mục đích tu hành chắc chắn, không nên gấp rút quá,
bởi vì “dục tốc thì bất đạt”.
Cho
nên Chánh tinh tiến khuyên chúng ta làm việc nếu muốn thành
công ngoài việc nỗ lực liên tục ra còn phải nỗ lực đúng
lúc, không giải đãi, cũng không quá hấp tấp. Thiết tưởng
“một ngày nóng mà mười ngày lạnh” có thể thành công
được không ? (Chánh tinh tiến tức là cần phải tu theo “Tứ
chánh cần”, phần này xin không bàn).
7/
Chánh niệm : Chánh niệm là phải giữ gìn tâm ý thanh tịnh
sáng suốt, hiểu biết thật rõ ràng tâm niệm và hành vi của
bản thân mình, cho đến sự việc bên ngoài khi tiếp xúc.
Phật
dạy chúng ta rằng : “Tất cả mọi người đều do tâm niệm
của chính mình tạo thành”. (Câu đầu trong Kinh Pháp Cú).
Cho nên người ta cần phải có tâm niệm chính xác. Vậy làm
thế nào mới có thể đạt được tâm niệm chính xác ? Đó
là đối với tất cả sự vật cần phải cảnh giác luôn
luôn và quán sát thật kỹ càng, cho đến khi đạt được
nhận thức chính xác. Phật giáo đề ra “Tứ niệm xứ”
để làm phương pháp tu hành cho chúng ta.
1-
Quán thân bất tịnh : Thân thể của chúng ta có những thứ
ô uế như đàm, mồ hôi, máu mủ, phân… Những thứ đẹp
đẽ, sạch sẽ bên ngoài chỉ là tạm thời, khi già lão hoặc
lúc bệnh đến thì không còn tươi đẹp nữa. Ba ngày không
tắm rửa thì không còn sạch sẽ nữa. Do đó không nên mê
hoặc nơi sự đẹp đẽ và sạch sẽ bên ngoài, mà cần phải
nỗ lực tu dưỡng tâm tính của mình. Chỉ có “Phật tính”
của chúng ta tuy ở trong bùn mà không nhiễm bùn. (chữ “Quán”
có nghĩa là quán sát, hiểu rõ).
2-
Quán thọ là khổ : Thọ tức là cảm giác khổ vui. Những
khoái lạc của thế gian đều là tạm thời, khổ và vui là
anh em sinh đôi như bóng theo hình. Một cặp vợ chồng làm
lễ kết hôn, họ rất vui tươi khi được mọi người đến
chúc mừng hạnh phúc, thế nhưng sự tương phùng của ngày
hôm nay đã chú định cho sự biệt ly của ngày mai (chính là
ái biệt ly khổ). Bóng dáng của thần chết bao trùm khắp
tất cả, họ vĩnh viễn không có cách gì trốn tránh được.
Càng yêu nhiều thì thống khổ lại càng nhiều. Hẹn non thề
biển ngày hôm nay, chính là đau lòng đứt ruột, biệt ly của
ngày mai thì có một chút gì là chắc thật đâu ?
Sự
khoái lạc ở trên đời này là do nhân duyên sinh ra. Cái gọi
là “hạnh phúc của gia đình” tất phải kiến lập trên
sức khỏe và sự hợp tác của mỗi thành phần trong gia đình.
Nếu có người bất ngờ chết hoặc hư hỏng, thì hạnh phúc
của gia đình ấy cũng theo đó mà tiêu mất, đau khổ cũng
sẽ kéo đến.
Cái
gọi là “hạnh phúc của làm quan” cũng là không thực, một
ngày nào đó không làm quan nữa thì áo não, thống khổ cũng
từ đó mà đến. Do đó chúng ta không cần phải truy cầu
hư danh giả tạm, nên tu dưỡng phẩm chất đạo đức, tịnh
hóa tâm linh. Chỉ có “Niết Bàn” giải thoát vượt trên
khổ vui, mới là hạnh phúc vĩnh hằng. (Bởi vì khổ và vui
là tướng đối đãi, cho nên cần phải siêu việt khổ và
vui).
3-
Quán tâm vô thường : Tâm của chúng ta thường bị lôi kéo
bởi ngoại cảnh, tìm kiếm những thứ đẹp đẽ, ưa thích
âm thanh du dương, ham ăn đồ ngon béo, đam mê những cảm thọ
êm ái v.v… Hễ “thấy lạ là động tâm”, không thể khống
chế được. Cho nên nói “tâm như ngựa chạy đất bằng,
dễ thả khó bắt”. Nó buông lung phóng túng, ưa làm điều
càn bậy, gây cho ta những phiền não và khổ sở, vì thế
chúng ta phải nên cẩn thận lưu ý.
Cho
nên người ta cần phải “tu tâm”, “minh tâm”, phải khống
chế, khắc phục tâm, không để cho tâm xúi giục chúng ta
làm càn, lôi kéo chúng ta làm điều sái quấy. Đó chính là
“Quán tâm vô thường” (“Vô thường” ý là không thể
tin cậy, tùy theo lúc mà thay đổi).
4-
Quán pháp vô ngã : Vạn sự vạn vật (gọi là pháp) ở trong
vũ trụ đều tùy theo nhân duyên mà sinh diệt. Nhân duyên hợp
thì sinh (như Hydro và Oxy hóa hợp thành nước), nhân duyên
tán thì diệt (nước có thể điện giải thành Hydro, Oxy).
Do đó bản thân sự vật không có “bản thể” thường hằng,
không thay đổi (cũng tức là không có tính tự chủ tự tại).
Lấy
người để làm thí dụ. Con người là do tứ đại giả hợp
(bốn loại nguyên tố đất, nước, lửa, gió). Bốn đại
không điều hòa thì sinh bệnh, bốn đại ly tán thì chết.
Người ta không ai có thể nói là mình không sinh bệnh, không
chết, đối với bản thân cũng chưa có thể tự chủ được,
đó chính là đạo lý “Quán pháp vô ngã”.
Chánh
niệm chữ Anh dịch là “Right Mindfulness” tức là ý thức
chân chính, cũng có người dịch là “Right Concentration” tức
là nghĩ nhớ chân chính.
8/
Chánh định : Chánh định là do trải qua thiền định chân
chính mà đạt đến cảnh giới giác ngộ thân tâm giải thoát.
Tâm
thức con người thông thường cũng giống như chiếc máy ảnh
chưa điều chỉnh tiêu cự đúng, thì không có cách nào hình
ảnh đạt được chính xác và rõ ràng đối với thực tại
và chân lý. Chánh định giúp chúng ta “điều chỉnh” tiêu
điểm ấy, giúp chúng ta nhận thức một cách rõ ràng thế
giới này.
Hơn
2500 năm trước, Đức Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới cây Bồ đề
nhờ “Chánh định” mà được giác ngộ. Từ đó Ngài tuy
sinh hoạt giống với mọi người, nhưng Ngài đã nhập vào
cảnh giới an lạc, thanh tịnh, bình đẳng, giải thoát. Cảnh
giới này không thể dùng ngôn ngữ, văn tự hình dung được,
ngoại trừ tự thân người chứng ngộ, thể hội ra, mọi
giải thích đều bằng thừa (ví như người uống nước nóng
lạnh tự biết).
Chánh
định chữ Anh dịch là “Right Absorption” hoặc “Right Meditation”,
ý là thiền định chân chính, khác với cái gọi là nhập
định, xuất thần, xuất du của các tôn giáo khác.
Chúng
ta muốn đạt đến sự an lạc vĩnh hằng, chân thật thì phải
tu theo Bát chánh đạo như đã nêu trên.
3/
Thập nhị nhân duyên
“Thập
nhị nhân duyên” là đạo lý giải thích vì sao con người
phải luân hồi trong biển khổ sinh tử. Nó bao gồm 12 thứ
như sau :
Giải
thích một cách đơn giản là : Một người do vô tri ngu muội,
không rõ thiện ác, phải trái (vô minh) ở đời quá khứ,
kết quả là làm nhiều việc xấu (hành); đã có nhân xấu
ấy rồi khi qua đời phải đi đầu thai thọ sinh (thức); ở
trong thai thân tâm dần dần hình thành (danh sắc); đến lúc
ra khỏi thai mẹ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đầy đủ (lục
nhập); sau khi ra đời, tiếp xúc với ngoại giới, mắt thấy,
tai nghe, mũi ngửi v.v… (xúc); khoảng 6, 7 tuổi đối với
những khổ, vui của ngoại giới có sự cảm thọ (thọ); đến
khoảng 14, 15 tuổi đối với sự vật tốt đẹp khởi tâm
tham ái (ái); đã có tâm tham ái rồi bèn mong muốn theo đuổi
nắm giữ (thủ); mê muội theo đuổi chính là tự mình gieo
nhân xấu trong đời vị lai (hữu); đã có nhân xấu rồi,
thì phải đầu thai thọ sinh ở đời sau (sinh); đã sinh ra
thì phải có hiện tượng già suy, bệnh chết (lão tử).
Mười
hai nhân duyên xem qua thì từ vô minh đến lão tử, cứ theo
thứ tự mà suy, thế nhưng nó không phải là sợi chỉ thẳng,
mà là móc xích vòng tròn.
Sinh
mạng là bắt đầu mà cũng là kết cục, kết cục mà lại
bắt đầu, lưu chuyển, luân hồi không dứt. Giống như : …
Gà - trứng - gà - trứng - gà…
Vậy,
đạo lý Thập nhị nhân duyên chỉ bày cho chúng ta cái gì
?
Chúng
ta có già suy, bệnh chết là vì có “sinh”, có sinh cho nên
mới phải có tử. Mà chúng ta sở dĩ phải đầu thai nơi nhân
gian là vì ở quá khứ chúng ta vô tri, không rõ thị phi, làm
điều càn quấy. Do vậy, đời này chúng ta phải nỗ lực
hành thiện, cắt đứt hết thảy nhân xấu, có vậy sau này
mới tránh khỏi bị luân hồi khổ báo nữa.
Mười
hai nhân duyên nói cho chúng ta biết nguyên nhân của sinh tử,
nhắc nhở chúng ta phải tiến thêm một bước nghiên cứu,
làm thế nào để thoát khỏi sự uy hiếp của sinh tử; bằng
không thì cứ phải sống say chết mộng, khổ nạn vĩnh viễn
khó dừng nghỉ.
Mười
hai nhân duyên, từ triết học mà giảng là có hệ thống lý
luận của nó, tức là từ “vô minh”, “hành” của hình
nhi thượng học, mà phát triển thành “thức”, “danh sắc”
của nhận thức luận, rồi lại phát triển thành thế giới
hiện thực của kinh nghiệm luận (từ “xúc” đến “lão
tử” sau khi đã xuất thai). Song vì bạn đồng học chưa hiểu
rõ về triết học, cho nên chúng tôi không thể thảo luận
kỹ về phương diện này.
4/
Lục độ
Thế
nào gọi là Lục độ ? “Độ” chữ Phạn là “Ba la mật
đa”, tức là “đáo bỉ ngạn”.
Cũng
có nghĩa là : Khéo độ qua biển khổ sinh tử, đến bờ an
lạc bên kia. Cho nên Lục độ là sáu phương pháp giúp cho
người ta vượt qua biển khổ sinh tử.
Sáu
phương pháp ấy là : 1/ Bố thí, 2/ Trì giới, 3/ Nhẫn nhục,
4/ Tinh tấn, 5/ Thiền định, 6/ Trí tuệ.
1-
Bố thí : Bố thí là đem phước lợi ân huệ ban bố cho người
khác. Kinh Vô Lượng Thọ có nói : “Bố ân thí huệ” gọi
là bố thí. Bố thí có thể chia làm ba loại :
a-
Tài vật thí : Là đem tiền của vật chất bố thí cho người.
b-
Pháp thí : Đem giáo pháp nói cho người khác nghe, giải thích
cho người ta hiểu, khiến cho người ta biết được phương
pháp làm người xử thế chính xác.
c-
Vô úy thí : Giải cứu nguy nan cho người, khiến cho người
ta khỏi lo sợ và bất an. Người gặp phải điều bất hạnh,
chúng ta dùng lời nói khéo để an ủi. Trên đường gặp điều
bất bình, đem sức mình ra để trợ giúp. Người ta gặp việc
buồn khổ, nản chí chúng ta cổ vũ dũng khí và niềm tin của
họ, đó là vô úy thí.
Nói
chung, người bố thí thường chia làm chủ động và bị động,
cũng tức là có sự đối lập giữa người thí và người
thọ thí, do đó mà người bố thí dễ sinh cảm nghĩ mình
hơn người. Đạo Phật chủ trương đả phá quan niệm này.
Trong Kinh Kim Cang có nói : “Không nên trụ vào chỗ nào để
bố thí”, chính là nói không nên hy vọng người khác báo
đáp, hoặc có cảm nghĩ mình giàu có hơn người, hoặc vì
một mục đích nào đó mà bố thí.
Chắc
các bạn học sinh đã nghe được câu chuyện này rồi chứ
? Một năm nọ nước Tề bị nạn đói, nhiều người có tiền
đã chuẩn bị đầy đủ rượu cơm thức ăn trong nhà, hễ
gặp người đói đi ngoài đường liền gọi “Ê, vào đây
ăn cơm”. Do thái độ không chân thành, lời nói có vẻ ngạo
mạn khinh người, nên một số người có chí khí tâm tự
tôn rất cao, tuy đói rã ruột nhưng cũng không chịu nhận
của bố thí đó, thà chịu chết đói còn hơn.
Cho
nên lúc chúng ta bố thí cho người, chúng ta nên nhớ câu “cách
cho hơn của cho”.
2-
Trì giới : Trì giới tức là phải tuân thủ giới luật, khiến
cho hành vi không vượt qua phép tắc.
Phàm
là người thì không phải là Thánh Hiền, thường thường
có rất nhiều nhược điểm, lại thêm có rất nhiều thứ
bên ngoài dẫn dụ nên rất dễ làm những việc xấu, nhỏ
thì cá nhân mình thân bại danh liệt, lớn thì làm tổn hại
đến người khác. Do đó Phật giáo chế định rất nhiều
giới luật để giúp chúng ta khắc chế những tư dục và
xung động của bản thân, làm trong sạch thân tâm.
Ở
trong sách này tôi có nói, giới chỉ là một loại phòng ngừa
tiêu cực, thế nhưng tinh thần của nó thì lại tích cực.
Chẳng hạn như giới không sát sinh, chẳng những tự mình
không sát sinh, mà còn cứu chúng sinh, thấy chết mà không
cứu là phạm giới. Do đó trì giới có thể giữ gìn được
phong tục tốt đẹp, giữ gìn được đạo đức luân lý,
khuyến khích người người hành thiện, đạt đến lý tưởng
thiên hạ cùng một nhà.
Có
người hiểu lầm nói rằng : “Không tin Phật giáo tự do
vô cùng, đã tin Phật giáo rồi, không dám làm việc gì cả”.
Thật ra đó chỉ là kết quả của việc không chịu dùng tâm
suy nghĩ kỹ. Chưa tin Phật giáo mà làm điều xấu, vẫn phải
bị nhân quả báo ứng, cũng giống như người không hiểu
pháp luật mà phạm pháp vẫn phải ngồi tù như thường. Chớ
nên hiểu lầm câu tục ngữ “không biết thì không có tội”.
Cho
nên trì giới là rất trọng yếu. Làm một người dân tốt
thì phải tuân thủ rất nhiều pháp luật, huống chi muốn
tu hành thành Phật, thoát ly biển khổ sinh tử, há lại không
giữ gìn giới luật hay sao ?
Giới
gồm có bốn cấp : Ngũ giới, Bát giới, Thập giới, Cụ túc
giới. Tên gọi và điều chương rất nhiều không dễ gì kể
rõ ở đây. Trong đó Ngũ giới ở chương trước đã luận
bàn đến tức là 1/ Không sát sinh, 2/ Không trộm cắp, 3/ Không
tà dâm, 4/ Không vọng ngữ, 5/ Không uống rượu.
Một
vị sư xuất gia thọ Tỳ kheo phải giữ 250 giới, Tỳ kheo
ni phải giữ 348 giới, đủ chứng tỏ xuất gia không phải
là việc dễ.
3-
Nhẫn nhục : Bị người khác làm nhục mà mình không sinh tâm
sân hận gọi là nhẫn nhục.
Nhẫn
nhục đối với việc tu dưỡng của một cá nhân là việc
rất quan trọng. Có thể biến can qua thành ngọc lụa, biến
tàn ác hung bạo thành hòa bình, lại có thể tăng thêm hạnh
phúc và trí tuệ.
Nhẫn
nhục của Phật giáo là một loại nhẫn trong cương ngoài
nhu, không phải nhu nhược run sợ, càng không phải là nhát
gan. Nhẫn nhục của nhà Phật chính là đạt đến lý tưởng
hy sinh tiểu ngã, hoàn thành đại ngã, chính là vì hoàn thành
chí nguyện phổ độ chúng sinh của mình, mà biểu hiện đầy
đủ tinh thần không chịu khuất phục.
Vì
sao người học Phật nhất định phải nhẫn nhục ? Bởi vì
con đường tu hành cực kỳ gian nan, nếu không có công phu
nhẫn nhục thì không dễ gì quán triệt được, giữa đường
dễ bị thối tâm. Đồng thời lúc tu hành, cần phải có người
cố ý chê cười, hủy báng bạn; về sau lúc muốn phổ độ
chúng sinh (tức là giảng giải đạo lý Phật giáo cho người
khác nghe, khiến cho người ta có thể thấu hiểu và lập chí
cầu đạo), cũng có người không đồng tình, cố ý chế giễu,
châm biếm bạn. Song dù thế nào đi nữa, bạn cũng không nên
giận tức, cũng không nên báo thù. Muốn đạt được tâm
bình khí tĩnh, chỉ có nhờ vào công phu nhẫn nhục mà thôi.
4-
Tinh tấn : Tinh tấn ý là nỗ lực hướng thượng không mệt
mỏi.
Chúng
ta làm một việc gì muốn đạt được thành công, nhất định
phải nỗ lực chuyên tâm, mới có thể đạt được mục đích.
Các
bạn học ngày nay ở trường cầu học, muốn tương lai được
thành tựu, nhất định phải nỗ lực không giải đãi, mới
có thể học được tri thức và kỹ năng cao sâu. Huống chi
con đường thành Phật đã xa xôi lại khó khăn, công tác cứu
tế chúng sinh đã trầm trọng mà lại nặng nề, nếu không
nỗ lực tinh tấn thì không có cách nào hoàn thành nhiệm vụ
“trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sinh” cho được.
5/
Thiền định : Thiền định ý là “tĩnh lự”. Mạnh Tử
thì nói là “tâm không động”, tức là chuyên tâm nhất
chí, tinh thần không tán loạn.
Vì
sao Phật giáo tu hành phải chú trọng đến Thiền định ?
Bởi vì một người nếu không trải qua tĩnh lự và chuyên
tâm nhất chí, tinh thần không tán loạn, thì không thể có
được trí tuệ và ý chí kiên quyết để mà khắc phục sự
cám dỗ và phá hoại của ngoại cảnh. Gặp gian nan nguy hiểm
tâm ý sẽ tán loạn, không đủ sức trấn tĩnh, không đủ
sáng suốt để ứng phó. Cho nên Thiền định rất là quan
trọng vậy.
Song
bạn đồng học nếu có ý chí tập thiền, nhất định phải
tìm thầy chỉ dẫn. Nếu tu mù luyện quáng, cái lợi chưa
thấy có thể còn tai hại nữa. Các bạn nên cẩn thận.
6/
Bát nhã (trí tuệ) : Bát nhã là tiếng Phạn, Trung Hoa miễn
cưỡng dịch là trí tuệ.
Bát
nhã và trí tuệ có khác nhau không ? Nói chung, trí tuệ mà
chúng ta nói, dùng nó để hiểu sự lý thì không thể thấu
triệt được, vả lại thường thường dễ hình thành “thiên
kiến” và “vọng kiến” (kiến giải sai lầm). Nhưng Bát
nhã có thể làm cho sự lý rõ ràng thấu triệt hơn mà không
bị sai lệch.
Lấy
ánh sáng làm ví dụ. Ánh sáng thông thường giống như trí
tuệ, gặp tường vách liền bị cản trở, thế nhưng Bát
nhã giống như X quang, nó có thể xuyên qua những trở ngại
đó (chỉ cho sự hiểu rõ sự lý).
Trong
Tâm Kinh nói : “Ba đời chư Phật, y theo Bát nhã Ba la mật
đa, mà được A nậu Đa la Tam miệu Tam Bồ đề”. Ý là nói
tất cả chư Phật đều nhờ vào loại “Bát nhã” này mà
triệt ngộ và đạt đến Phật quả (A nậu Đa la Tam miệu
Tam Bồ đề là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, ý là giác ngộ một cách thấu triệt, chân
thật, chỉ cho Phật quả).
Từ
câu văn trên chúng ta có thể hiểu, Phật giáo không phải
đơn giản dựa vào tín ngưỡng mà có thể “được cứu
rỗi”. Phật giáo không cho rằng tội ác và khổ nạn của
bản thân mình có thể do người khác thay thế chuộc tội.
Cho nên không ỷ lại vào người nào đến cứu. Tội ác và
khổ nạn của loài người, chỉ có chính con người mới có
thể làm cho mình trong sạch và giải thoát. Mỗi người phải
tự cứu lấy mình, mình không cứu mình thì đợi ai đến
cứu mình ? Mà phương pháp tự cứu mình, phải nương nhờ
vào “trí tuệ” (Bát nhã) của mình, trước là hiểu rõ
nguyên nhân của khổ nạn, sau tiến đến tìm phương pháp
(tức đạo lý Tứ đế) để giải thoát.
Cho
nên Phật giáo chủ trương mọi người cần phải nỗ lực
“tu tuệ”, mà trí tuệ (Bát nhã) không phải do học, hoặc
do thuộc lòng mà có, chính là từ chỗ quán sát sự lý, sau
khi tu tập thâm nhập thấu triệt mà được. Thiếu trí tuệ
(Bát nhã) thì không thể giác ngộ, cũng không thể ngộ đạo
được.
Phần
giới thiệu khái quát trên chính là sáu loại phương pháp
thoát ly biển khổ sinh tử, cần phải tuân theo học tập,
không nên xao lãng.
Lục
độ có đủ sáu loại tác dụng như sau :
1/
Bố thí có thể đối trị tâm tham (tham lam, bỏn sẻn) của
chúng ta, bồi dưỡng tâm nhân ái của chúng ta.
2/
Trì giới có thể khiến cho chúng ta noi theo quy củ, không làm
việc trái luật, không bị phạm tội.
3/
Nhẫn nhục có thể bồi dưỡng đức tính khiêm nhường, khoan
dung quảng đại của chúng ta.
4/
Tinh tấn có thể ngăn ngừa tâm giải đãi ỷ lại của chúng
ta.
5/
Thiền định có thể làm trong sáng đầu óc chúng ta, khiến
cho tinh thần tập trung dễ dàng.
6/
Bát nhã có thể giúp cho người ta thông minh và có trí tuệ,
không mù quáng, mê tín, mà lại có sức phán đoán mẫn nhuệ,
chính xác.