CHƯƠNG
BA
XÓA
TAN MỘT SỐ HIỂU LẦM VỀ GIÁO PHÁP
Phật
giáo phát nguồn từ Ấn Độ, cho đến nay đã gần 3.000 năm,
truyền bá khắp cả thế giới. Do sự dài lâu của thời gian
và rộng lớn của khu vực khó có thể tránh khỏi hoặc nhiều
hoặc ít biến đổi bộ mặt vốn có của nó. Sự thay đổi
bộ mặt như thế là vì thích ứng với việc sinh tồn và
phát triển của bản thân mà hình thành một cách tự nhiên.
Phật giáo sau khi truyền vào Trung Quốc đã dung hợp quán thông
với tư tưởng Nho đạo; như việc khai sáng Thiền tông, phát
huy tông phong Đại thừa v.v… đều có đầy đủ sắc thái
và tinh thần riêng biệt của Trung Quốc. Vì người đời sau
không hiểu biết một cách rõ ràng, nghe người ta nói sao thì
tin vậy, tự mình đeo vào cặp kính màu sặc sỡ, cho nên nhìn
sự vật không đúng đắn.
Điều
mà chương này cần thảo luận, chính là giúp độc giả tháo
gỡ cặp kính màu đã đeo ấy ra, hy vọng có thể nhìn thấy
sự vật trước mắt một cách chính xác hơn. Nếu có thể
nhờ đó mà tiến thêm một bước nhận thức Phật giáo, hiểu
rõ Phật giáo, xóa tan đi những hiểu lầm về Phật giáo mà
bạn đã nghe thấy, thì đó là điều rất vui sướng của
tác giả.
Thông
thường người ta có những hiểu lầm về Phật giáo mà tôi
có thể quy nạp làm tám điều như sau để thuyết minh :
1/
Phật giáo là trí tín chẳng phải mê tín
Trước
khi đi sâu vào vấn đề tôi xin được định nghĩa về “trí
tín” và “mê tín”.
Nói
một cách đơn giản : Nếu chưa trải qua sự quan sát rõ ràng,
suy nghĩ thật thận trọng mà mù quáng tin theo, đó gọi là
“mê tín”. Ngược lại nếu trải qua công phu “suy nghĩ
thận trọng” “tư duy chính xác” mới tin tưởng gọi là
“trí tín”.
Hiện
nay một số người chỉ trích Phật giáo là “mê tín”, họ
chỉ nhìn thấy một vài biểu hiện mặt ngoài cạn cợt của
Phật giáo, hoặc nghe một vài tin đồn nhảm nhí của kẻ
ngoại đạo, rồi một mực cho rằng Phật giáo là “mê tín”.
Thật ra trong óc của chính họ cũng còn đôi chút trí tuệ
và tư tưởng chứ ! Nếu không tham cứu sâu xa, trải qua sự
quan sát rõ ràng, mà mù quáng nghe lời người khác, thì chính
bản thân người nghe cũng là “mê tín” rồi, vì đã mê
tín nghe theo lời nói bừa của kẻ khác.
Đức
Thích Ca Mâu Ni chưa từng cưỡng bách các đệ tử mù quáng
tín ngưỡng Ngài, mà còn khuyến khích thắc mắc thưa hỏi.
Phần này đã nói rất rõ trong mục thứ 10 “Phật giáo là
dân chủ và tự do” ở chương 2 rồi, xin mời các bạn đọc
xem lại.
Kinh
điển của Phật giáo và kinh điển của các tôn giáo có chỗ
khác nhau rất lớn. Đó chính là chỗ mà kinh Phật cho phép
hoài nghi, nghiên cứu; còn kinh điển của các tôn giáo khác
thì là chân lý tuyệt đối, không được quyền bài bác, trái
lại là phạm tội bất kính đối với thần.
Đức
Phật thường dạy các đệ tử rằng : Sự hoài nghi của các
ngươi là chính đáng, bởi vì đối với một sự việc khả
nghi thì nên khởi nghi.
Phật
cho rằng một người có chú tâm thì không thể bị chi phối
bởi truyền thuyết, lời nói vu vơ, cũng không nên y cứ vào
kinh điển của tôn giáo, không nên chỉ dựa vào luận lý
hoặc suy lường, không nên vì sự việc nào đó chưa rõ ràng
mà tin cho là thật.
Tư
tưởng vĩ đại của Phật giáo vẫn không dừng ở đó. Phật
cho rằng một người không thể vì “Vị ấy là Thầy của
chúng tôi”, mà đối với lời của vị Thầy nói ra tin sâu
không chút nghi ngờ, mà còn mong các đệ tử cần phải : “Chính
bản thân các ngươi phải hiểu biết chính xác lời dạy đó
là tốt đẹp, thiện lương, lúc ấy các ngươi hãy tín thọ
phụng hành”.
Phật
giáo không cho rằng hoài nghi là tội ác hoặc ngu xuẩn, ngược
lại còn cho rằng hoài nghi là con đường tắt đạt đến
giác ngộ. “Nghi lớn ngộ lớn, nghi nhỏ ngộ nhỏ, không
nghi không ngộ”.
2/
Phật pháp là khoa học mà chẳng phải phản khoa học
Tôn
Trung Sơn nói : “Phật học là mẹ của triết học, nghiên
cứu Phật học có thể bổ khuyết cho khoa học”.
Nói
cách khác, Phật học không những hợp với khoa học, mà còn
bổ sung những khiếm khuyết, cải chính những hiểu lầm mà
khoa học nghiên cứu.
Tôi
sẽ đưa ra một vài ví dụ để cho quý vị hiểu, nhằm chứng
minh khoa học và Phật học không xung đột nhau. Bởi vì mục
tiêu của Phật học và khoa học đều truy cầu “chân tướng”
và “sự thật” của nhân sinh vũ trụ.
1-
Vũ trụ quan của Phật giáo : Từ những nhà thiên văn học
trước đây có người giả định vũ trụ là có tận cùng,
có biên giới, thế nhưng giả định này đã bị các nhà thiên
văn học ngày nay đánh đổ vì những phát hiện mới ngày
càng nhiều.
Căn
cứ học thuyết của Thác Lặc Mật (Ptolematis System) trước
đây : Địa cầu là trung tâm của vũ trụ, là yên lặng bất
động, mặt trời xoay quanh địa cầu. Đương thời cũng được
triều đình La Mã giáo cho là chân lý không thể hoài nghi.
Về sau Ca Bạch Ni (Kopernik) và Gia Lợi Luợc (Galilei) đều
bài xích thuyết này, vì thế mà họ chút nữa bị đem thân
mạng chôn vùi. Song quyền thế của La Mã cuối cùng vẫn không
ngăn cản được chứng cứ của khoa học. Hiện nay một học
sinh cũng biết địa cầu chẳng qua chỉ là một vai trò nhỏ
trong vô số tinh cầu của vũ trụ mà thôi, vả lại nó không
những tự chuyển, lại còn xoay quanh mặt trời.
Bây
giờ chúng ta hãy xem tổ chức vĩ đại của vũ trụ mà Phật
giáo đã miêu tả, so với sự tự thuật của khoa học hiện
đại, cách xa nhau mà lại rất phù hợp với nhau.
Phật
giáo lấy 1000 thái dương hệ làm một “tiểu thiên thế giới”,
lấy 1000 tiểu thiên thế giới làm một “trung thiên thế
giới”, rồi lấy 1000 trung thiên thế giới làm một “đại
thiên thế giới”. Mỗi đại thiên thế giới là một “quốc
độ Phật” (khu vực mà Phật giáo hóa). Vậy một quốc độ
Phật gồm có bao nhiêu thái dương hệ ? Gồm một tỷ thái
dương hệ, tương đương với một tòa tinh vân trong thiên
văn học (một hằng tinh do một quần thể hành tinh, vệ tinh
vây quanh tạo thành một hệ thống gọi là thái dương hệ.
Như mặt trời của chúng ta, xung quanh có địa cầu, Thủy
tinh, Kim tinh, Hỏa tinh, Thổ tinh, Mộc tinh, Thiên vương tinh,
Hải vương tinh, Minh vương tinh, tất cả 9 đại hành tinh,
27 vệ tinh và hơn 1100 tiểu hành tinh).
Cho
nên Đức Thích Ca Mâu Ni nói “Mười phương hư không không
cùng tận, quốc độ thế giới không thể hạn lượng”.
(Mười phương hư không với “thái không” mà chúng tôi nói
ý nghĩa giống nhau).
Câu
nói ấy chính là nói với chúng ta rằng ở trong hư không tinh
cầu vẫn không tính đếm hết, hư không là không có biên
giới.
Từ
Văn nghệ Phục Hưng Châu Âu về sau, Galilei đã dùng kính vọng
viễn để quan sát quần tinh của thiên không, thiên văn học
mới dần dần tiến bộ, mãi cho đến ngày nay chúng ta mới
hiểu biết đôi chút về sự rộng lớn vô biên của bầu
trời, mới hiểu địa cầu của chúng ta chẳng qua chỉ là
một tiểu hành tinh trong Thái dương hệ mà thôi. Hơn nữa
Thái dương hệ trong hư không không thể nào tính đếm, có
hàng ngàn vạn thái dương.
Thế
mà, hơn hai ngàn năm trăm năm trước, Thích Ca Mâu Ni không
có kính nhìn xa đã nói với chúng ta hư không là vô biên vô
tế, và tinh cầu trong hư không là không thể tính đếm (Phật
lấy “Bất khả tư nghị” để hình dung, nghĩa là không
những không thể tính đếm được hết, mà còn dứt khoát
cũng không có cách nào tưởng tượng suy lường được).
Nếu
không phải là bậc tiên tri tiên giác đầy đủ trí tuệ rộng
lớn, sâu xa, thì làm sao có thể miêu tả vũ trụ vĩ đại,
bí ẩn và bao la như thế được.
2-
Trong một ly nước có tám vạn bốn ngàn chúng sinh : Lúc Phật
nói pháp, thường nói với chúng ta một cách rõ ràng, chúng
sinh trong vũ trụ là không thể tính đếm, là không thể tưởng
tượng. Ngoài địa cầu chúng ta đang ở có chúng sinh ra, vô
số tinh cầu trong vũ trụ cũng có chúng sinh tồn tại. Ngoài
chúng sinh mà chúng ta dùng mắt thường để thấy ra, vẫn
còn rất nhiều chúng sinh mà mắt thịt của chúng ta không
thể thấy được. Ngài chỉ vào một ly nước và nói rằng
trong ly nước ấy có tám vạn bốn ngàn chúng sinh. (Trong kinh
Phật dùng tám vạn bốn ngàn là ý biểu thị số lượng rất
nhiều).
Ngày
nay theo sự tiến bộ của khoa học, các nhà khoa học vẫn
không dám phủ định trong tinh cầu khác của vũ trụ có thể
có chúng sinh tồn tại. Thế nhưng tôi tin rằng một ngày nào
đó các nhà khoa học lại một lần nữa chứng minh giả thiết
của Phật giáo là chính xác. (Trong vũ trụ vẫn có vô số
chúng sinh tồn tại).
Ngày
nay dưới kính hiển vi, những vi sinh vật trong ly nước đâu
chỉ có ngàn vạn ! Hơn hai ngàn năm trăm năm trước, Thích
Ca Mâu Ni không dùng kính hiển vi để quan sát mà có thể nói
đúng với khoa học ngày nay. Điều đó đủ để cho chúng
ta phải cúi đầu khâm phục rồi.
3-
Sắc tức là không, không tức là sắc : Căn cứ theo vật lý
học xưa, có hai định luật trọng yếu : Một là “định
luật vật chất không diệt”, một là “định luật năng
lực không diệt”. Các nhà vật lý học trước đây cho rằng
vật chất và năng lực là không tương quan với nhau, không
thể trao đổi với nhau, mà hai thứ đều là thường trụ
bất diệt.
Vật
chất ở trong kinh Phật gọi là “Sắc”, mà Phật giáo cho
rằng “sắc” tức là “không”, điều này với khoa học
có xung đột. Hơn nữa căn cứ theo sự giải thích của Phật
pháp thì hết thảy sự vật trong vũ trụ đều là vô thường,
bản thể là không, không có dạng “bất diệt”, điều này
với khoa học cũng không hợp.
Thế
nhưng, từ lúc Einstein phát biểu “công thức đẳng lượng
năng lực vật chất biến thiên”, chứng minh lúc mỗi một
pound vật chất hủy diệt, có thể biến thành hàng loạt năng
lực kinh người (E = MC2); lại đến lúc thử nghiệm bom nguyên
tử thành công, mới có thể chứng minh vật chất biến thành
năng lực. Bản thể của vật chất (sắc) đó chẳng phải
là “không” sao ?
Cho
nên định luật vật lý học xưa kia đã bị phủ định. Phật
học một lần nữa từ trong sự tôi luyện của khoa học mà
vẫn đứng vững chắc không gì lay chuyển.
Để
cho dễ hiểu hơn chúng tôi xin trình bày thêm như sau :
1-
Sắc tức là không : Vật chất (sắc), là từ tổ chức của
nguyên tử, mà trong nguyên tử có hạt nhân nguyên tử và điện
tử, trong hạt nhân nguyên tử lại có chất tử và trung tử,
chất tử và trung tử lại có thể đả phá mà biến thành
năng lực (không). (Các nhà vật lý học trước đây cho rằng
nguyên tử không thể phân chia, đó là điều sai lầm).
2-
Không tức là sắc : Năng lực (không) có thể biến thành vật
chất (sắc), cũng đã được giới khoa học nhất trí thừa
nhận.
3-
Cuối cùng tôi xin nêu một ví dụ trong “Thuyết tương đối”
của Einstein : Thời gian là tùy theo tốc độ mà thay đổi.
Người ta ngồi trên hỏa tiễn đi với tốc độ bằng vận
tốc ánh sáng để đến một tinh cầu nào đó, sáng ăn cơm
ở địa cầu này, trưa ăn cơm ở tinh cầu khác, buổi tối
lại chuẩn bị trở về địa cầu ăn tối. Thế nhưng khi
người ấy trở về thì địa cầu đã trải qua hàng trăm
năm rồi, thân hữu của họ đã chết gần hết.
Các
nhà khoa học hiện nay chưa có người nào dám phủ định tính
có thể có của ví dụ nêu trên. Thế nhưng xin mời quý vị
hãy xem trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa của Phật giáo, Đức Phật
nói với những người nghe pháp rằng : Các ông nghe ta nói
pháp giảng kinh, trải qua thời gian không lâu, thế nhưng thế
giới bên ngoài đã trải qua hàng ngàn ức năm. Lý luận “thời
gian tương đối” của Einstein, Đức Phật đã nói trước
đây gần 3000 năm rồi.
Do
đó Tôn Trung Sơn mới nói : “Nghiên cứu Phật học có thể
bổ khuyết cho khoa học”. Bởi vì Phật học lúc nào cũng
đi trước khoa học.
3/
Phật giáo là từ bi không sát sinh
Ai
cũng đều biết “không sát sinh” là giới cấm căn bản
của Phật giáo. Phật giáo chủ trương chúng sinh bình đẳng,
coi sinh mạng của các động vật khác cũng như sinh mạng của
mình.
Phật
giáo chủ trương học thuyết luân hồi, hễ chúng sinh chưa
đạt đến “giác ngộ”, đều phải bị luân hồi mãi mãi
trong biển khổ sinh tử. Do đó, ngoài đời này ra, người
ta vẫn còn có nhiều đời khác ở quá khứ. Nói một cách
khác ở trong đời quá khứ, chúng ta thường có biết bao cha
mẹ, anh em, chị em, bạn bè, sư trưởng song do chúng ta chưa
đạt đến giác ngộ chân chính, chưa có trí tuệ hiểu rõ
vấn đề này mà thôi. Nếu ngày nay chúng ta tùy tiện sát
hại động vật, có thể là chúng ta đã sát hại thân bằng
quyến thuộc đời trước của mình. Cho nên, Phật giáo không
sát sinh. (Đây cũng là một lý do mà Phật giáo ăn chay).
Đương
nhiên sẽ có những bạn học hỏi ngược lại là : “Làm
sao ông biết điều đó ? Ông có thể chứng minh được không
?”.
Để
trả lời câu hỏi này, trước tiên tôi xin mời bạn hãy xem
đoạn văn đối thoại sau :
A :
Xin hỏi có gió hay không ?
B :
Đương nhiên là có.
A :
Vậy thì, xin bạn dùng màu sắc, hình dáng để chỉ gió ấy
cho tôi xem được không ?
B :
Đó là việc không thể được.
A :
Nếu ông không thể chỉ gió cho tôi xem, vậy cũng chính là
nói không có gió phải không ?
B :
Không, gió tuy dùng tay nắm không được, rờ không thấy, nhưng
gió vẫn là gió, chẳng qua tôi không thể chỉ gió cho bạn
xem mà thôi.
Ở
trong vũ trụ có rất nhiều sự thật, tuy chúng ta không thể
chỉ ra được trực tiếp những chứng cứ để chứng minh,
thế nhưng chúng ta cũng không thể phủ định sự tồn tại
của nó. Hơn nữa, khoa học ngày nay vẫn còn bị hạn chế,
vẫn không thể giải đáp được hiện tượng của vũ trụ
là bao nhiêu. Mà nhân sinh vũ trụ sum la vạn tượng, chằng
chịt lẫn nhau, con người không dễ dàng hiểu biết hết được.
Đức
Thích Ca Mâu Ni đã sớm thấy rõ được đạo lý ấy, cho nên
Ngài đã nói với đệ tử rằng : “Ta là người nói đúng
sự thật, không nói dối”. Ngài mong muốn đệ tử của mình
ra sức nghiên cứu để hiểu rõ hơn, nếu điều nào chưa
hiểu thì hãy tạm thời để đó. Bởi vì có một số đạo
lý không thể dùng ngôn ngữ, văn tự để giải thích rõ ràng
được. Cho nên trong kinh Phật mới có câu “Như người uống
nước, nóng lạnh tự biết”. Có thể hiểu biết chính xác
và rõ ràng tình trạng đời quá khứ, trong Phật pháp gọi
là “túc mạng thông”. Loại năng lực (thần thông) này phải
trải qua nỗ lực tu hành mới có thể đạt được.
Đối
với một người mù mà nói thế giới này có biết bao đào
thắm liễu xanh, người ấy có hiểu được không ? Đối với
người ngớ ngẩn mà nói người nào đó là con của người
em cha của hắn, tức là em họ của hắn, hắn ta có hiểu
được không ?
Rõ
ràng Phật giáo chủ trương giới sát, ăn chay. Do đó những
người hay sát sinh, dùng gà, vịt, heo để cúng bái là chưa
hiểu biết Phật giáo.
4/
Phật giáo là tích cực lạc quan
Nói
chung người ta thường phê bình Phật giáo là bi quan, rất
tiêu cực.
Vì
sao người ta lại hiểu lầm như thế ? Tôi nghĩ là vì : Phật
giáo nêu lên đời người có những thống khổ như sinh, lão,
bệnh, tử v.v… lại nói “đời người vô thường”. Cho
rằng vạn sự vạn vật trên thế giới này đều là nhân
duyên tạm có, đều là đổi thay chớp nhoáng. Cái gọi là
danh, lợi, tài, sắc chỉ là hư ảo, do đó mà khuyên người
ta không nên “chấp trước” thái quá, tức là luyến ái
không chịu buông xả.
Phật
giáo cũng cho rằng “đa dục là khổ”, dục vọng quá nhiều
thường là căn bản của thống khổ và phiền não. Nhân đó
mà khuyên người ta nên biết đủ ít muốn. Mỗi cá nhân đều
phải lượng tài sức của mình để quyết định nhiều hay
ít dục vọng. Tài sức của mình không đủ, nhưng cả ngày
cứ mơ tưởng không đâu, há không phải là tự mình chuốc
lấy phiền não hay sao ?
Thế
nhưng, xin bạn nên nhớ, Phật không có buộc chúng ta “tuyệt
dục”, mà chỉ nói “ít dục biết đủ”. Tiết kiệm quá
đáng, đến nỗi làm tổn hại đến thân thể của mình Phật
cũng phê phán. Chính Ngài năm 29 tuổi xuất gia, đã từng noi
theo phương pháp tu khổ hạnh của ngoại đạo đương thời,
mỗi ngày chỉ ăn một hạt gạo một hạt mè. Thân thể tiều
tụy như cây khô, thể lực suy yếu, kết quả vẫn không đạt
được giác ngộ như Ngài mong muốn. Cuối cùng Phật mới
hiểu rằng ngược đãi thân thể của mình, hoàn toàn không
phải là phương pháp đạt đến con đường giải thoát. Thân
thể tuy không phải là chân thật, một ngày nào đó cũng phải
tử vong, thế nhưng tu hành cũng phải nhờ đến thân thể.
Thân thể không khỏe mạnh thì tâm không an ổn, thân cũng
không thể ngồi thiền được.
“Ít
muốn biết đủ” chính là “Con đường trung dung”. Trong
Kinh 42 Chương có chép như vầy : Phật hỏi một vị sư trước
khi xuất gia ưa thích đàn Cầm rằng :
- Dây
đàn chùng quá thì âm thanh như thế nào ?
- Bạch
Thế Tôn, không nghe được.
- Dây
đàn căng quá thì sao ?
- Bạch
Thế Tôn, dây sẽ đứt.
- Nếu
điều chỉnh vừa đủ (không căng quá, không chùng quá) thì
sao ?
- Bạch
Thế Tôn, có thể gảy được những thứ âm nhạc tuyệt diệu.
Cho
nên Phật giáo không phải là chủ nghĩa túng dục “ngày nay
có rượu ngày nay say”, cũng không phải chủ nghĩa ngược
đãi tự ngã bỏ đói chịu lạnh. “Ít muốn biết đủ”
của Phật giáo chính là chủ nghĩa “Trung đạo” đạt đến
hạnh phúc an lạc.
Thôi,
bây giờ chúng ta lại nói tiếp vấn đề Phật giáo không
phải là tiêu cực và bi quan.
Phật
giáo khuyên người ta phải hiểu rõ đạo lý nhân sinh vô thường,
sinh mạng ngắn ngủi tạm thời, không nên để uổng phí tuổi
xuân trôi qua. Có như thế mới yêu tiếc thời gian, nỗ lực
làm các công việc tự lợi, lợi tha có ích cho thế đạo
nhân tâm.
Phật
giáo cho rằng “tứ đại giai không”. Tứ đại là chỉ cho
đất, nước, gió, lửa, bốn loại nguyên tố mà tất cả
thế giới và con người nhờ đó mà thành lập, cho nên gọi
là tứ đại.
Đất
là thể rắn của vật chất, nước là thể lỏng của vật
chất, lửa là tính ấm của vật chất, gió là tính động
của vật chất.
Trong
thân thể người ta thì da, thịt, gân, cốt là thuộc về địa
đại; tinh huyết đàm dãi thuộc về thủy đại; hơi ấm là
hỏa đại; hô hấp vận động là phong đại. Thân thể người
ta là do nguyên tố tổ hợp của “tứ đại” này mà thành,
cũng lại do sự tan rã của “tứ đại” này mà tiêu diệt.
Người ta vốn không có một thứ bản thể chân thật tồn
tại, cho nên nói “tứ đại giai không”.
Vì
“tứ đại giai không” cho nên nói “vô ngã”. Có một số
độc giả nói rằng, rõ ràng tôi có đây, thế mà lại nói
“vô ngã” là sao ? Xin thưa “ngã” chẳng qua chỉ là thể
tụ hội tạm thời của bốn loại nguyên tố đất nước
gió lửa đã nói ở trên mà thôi. Tế bào trong thân thể con
người thay đổi từng giây, từng phút. Vậy thì một giây
trước là ta ? Hay là một giây sau là ta ? (Thời gian giống
như thác nước không thể tìm thấy một điểm “hiện tại”).
Có
người nói “tư tưởng” mới là “Ta”, thế nhưng tư tưởng
con người là sát na sinh diệt, trôi chảy không dừng. Lại
giống như sóng biển, sóng trước lặn sóng sau lên, niệm
trước chưa diệt niệm sau lại sinh khởi, niệm niệm không
dừng, vậy thì niệm trước là “ta” hay niệm sau là “ta”
? (Cho nên quan niệm của con người luôn luôn cải biến, tư
tưởng vẫn luôn dời đổi, hôm qua cho là đúng là tốt, nhưng
hôm nay lại cho là sai là không tốt).
Nhân
đấy, từ trong thân thể và tư tưởng vốn tìm không được
hình bóng của “ngã”, cho nên nói là “vô ngã”.
Phật
giáo giảng “vô ngã”, không phải muốn người ta hủy hoại
mình. Lại có người cho rằng “ngã” đã không có thì làm
điều xằng bậy đâu có liên quan gì ! Ngã là giả thì cố
gắng để làm gì ?
Quan
niệm theo kiểu này thì thật là lầm to. Phật giáo giảng
đạo lý vô ngã chính là mong muốn người ta hiểu rõ ngã
chỉ là giả tướng tụ hội tạm thời của tứ đại, một
ngày nào đó tứ đại tan rã thì sẽ suy bệnh mà mất. Do
đó không nên mải mê tìm cầu danh lợi, không cần phải so
đo từng li từng tí với người, mà cần phải khoan nhượng
chịu đựng để đối nhân xử thế. Chỉ có nhận thức được
vô ngã, mới có thể hy sinh tiểu ngã, hoàn thành đại ngã,
mới dám xông vào chỗ nước sôi lửa bỏng để thực hiện
lý tưởng cứu nhân độ thế.
Một
người có thể thực hiện được vô ngã, thì mới không làm
tổn hại người để lợi mình, không lấy của công làm của
riêng, mới có thể ngẩng cao đầu đem nhiệt huyết của mình
làm đại sự nghiệp cứu nước cứu dân.
Cho
nên Phật giáo lấy “vô ngã” “hiểu rõ tất cả” làm
công cụ để đạt đến mục đích tạo phước cho mọi người,
phục vụ xã hội. Vì có như vậy mới không bị trói buộc
trong vòng danh lợi, mới có thể đạt được tự do, tự tại
thực sự, lại không còn phải phiền não về việc được
thua gì cả.
5/
Phật giáo không phải là trốn tránh hiện thực
Có
người thấy một vị sư mai danh ẩn tích khổ tu trong chốn
sơn lâm cùng cốc, tợ hồ như không còn một chút trách nhiệm
gì đối với xã hội, bèn chỉ trích Phật giáo là trốn tránh
hiện thực.
Thật
ra luận điệu ấy tợ hồ như phải mà lại trái.
Phật
giáo chủ trương “Bi trí song tu”. Nếu chỉ có “bi” tâm
cứu nhân cứu thế, mà không có “trí” tuệ chân tài thực
học, vẫn là không có chỗ dùng. (Có lòng cứu người chết
đuối, nhưng lại không biết bơi thì có tác dụng gì !).
Nhân
đấy, người tu hành Đại thừa chân chính (thừa ý là thuyền,
thuyền lớn nhỏ quyết định chở được nhiều hay ít người.
Đại thừa lấy “kiêm thiện thiên hạ” làm mục tiêu, Tiểu
thừa lấy “độc thiện kỳ thân” làm mục đích). Ở ẩn
tịnh tu chỉ là công việc chuẩn bị cho tương lai hoằng dương
Phật pháp, rộng độ chúng sinh mà thôi. (Cũng giống như những
nhà khoa học, suốt ngày ở trong phòng, để hết tâm trí thực
nghiệm tìm tòi những điều mới lạ nhằm phục vụ cho nhân
loại).
Kỳ
thật không những người xuất gia như thế, mà người cư
sĩ tu hành tại gia cũng phải “phước huệ song tu”. Không
chỉ là “hạnh phúc” cho tương lai của mình, mà còn phải
học tập rèn luyện mở mang “trí tuệ” để hoằng pháp
giúp người.
Dưới
đây tôi xin nêu ra sự tích của ngài Huyền Trang, nhân vật
chính trong “Tây du ký”, một vị cao tăng thông thạo văn
hóa Trung Hoa và Ấn Độ, để thuyết minh Phật giáo hoàn toàn
không phải là trốn tránh hiện thực.
Huyền
Trang, ngài họ Trần tên Huy, người Hà Nam, sinh năm Khai Hoàng
19 vua Văn Đế đời Tùy. Gia đình có truyền thống học hành.
Ông nội ngài là Tiến sĩ quốc học Bắc Tề. Cha làm Huyện
trưởng Giang Lăng triều Tùy.
Sau
khi Huyền Trang xuất gia, người nhà đề nghị ngài nên trụ
trì chùa Trang Nghiêm, một ngôi chùa rất lớn ở Trường An,
nhưng ngài không chịu.
Ngài
nhận thấy kinh sách trong nước rất ít, mà nghĩa lý thì không
rõ ràng, không đủ sức thu phục nhân tâm. Vì thế ngài phát
thệ “hy sinh thân mạng đi Tây Trúc cầu pháp, để sau này
trở về hoằng hóa tại Trung Quốc. Không những chỉ dịch
một lượng lớn kinh sách, mà còn phải giải quyết những
tệ bệnh của Phật pháp ngày nay và làm được một công
việc hết sức thiêng liêng vĩ đại giúp cho nền văn hóa
nước nhà”.
Vào
năm thứ 3 Trinh Quán vua Thái Tông đời Đường, Huyền Trang
bắt đầu cuộc Tây du cầu pháp. Ngài phải trải qua những
sa mạc nóng cháy, vượt qua những ngọn núi cao nguy hiểm.
Một thân một bóng chịu đựng biết bao gian lao khổ cực,
chín phần chết một phần sống mới đến được Ấn Độ.
Dưới
gốc cây Bồ đề nơi Đức Thích Ca thành đạo, Huyền Trang
ngậm ngùi rơi lệ cho sự suy vi của Phật giáo Ấn Độ, lập
chí phải nỗ lực nghiên cứu Phật pháp. Về sau trong đại
hội thành Khúc Nữ (Ranyakubja) ngài đọc một bản tuyên ngôn
(tức Chân Duy Thức Lượng tụng) đã làm chấn động giáo
đồ Tiểu thừa toàn cõi Ấn Độ.
Huyền
Trang được quốc vương các nước tôn sùng ngưỡng mộ, họ
tranh nhau mời thỉnh ngài giảng Kinh, thậm chí còn muốn dùng
cả vũ lực để tranh giành nữa.
Lúc
“công danh phú quý” đã đạt đến đỉnh cao, nhưng Huyền
Trang vẫn quyết định trở về nước. Lời ngài nói với
Giới Hiền, bậc thầy của ngài lúc bấy giờ, ngày nay sau
gần 2000 năm, chúng ta nghe qua vẫn không khỏi cảm động.
“Bạch
thầy, mục đích cầu học của con không phải vì hạnh phúc
và tài học của cá nhân. Nếu chỉ vì những chuyện như thế,
thì con không bao giờ liều mạng vào con đường hiểm cả.
Hiện nay con đã học được chút đạo lý nơi quý quốc, cần
phải trở về nước để truyền đạo, giải cứu những nỗi
khổ đau cho đồng bào. Nếu con lưu lại đây lâu ngày không
về, con sẽ có lỗi với đồng bào thân yêu của con”.
Cái
tinh thần cao cả vĩ đại ấy, xứng đáng là tấm gương cho
chúng ta noi theo học tập.
Trong
cuốn “Trung Quốc Triết học sử thoại” của Trương Khởi
Quân và Ngô Di tiên sinh hợp biên, có một đoạn nói về Huyền
Trang như sau :
“Một
đời của vị cao tăng ấy, một nửa đi thỉnh kinh, một nửa
chuyên dịch kinh. Ngài có dáng dấp đời sống của nhà du
lịch, có tinh thần tuẫn đạo của nhà tôn giáo, có nhiệt
tình cứu thế của nhà tư tưởng. Ngài vì Phật giáo, vì
văn hóa Trung Quốc đã cống hiến cả cuộc đời mình. Ngày
nay đã yên trí lìa bỏ cuộc đời. Ngọn bút trong tay của
ngài không còn chuyển động nữa. Quả tim của ngài đã ngừng
đập rồi. Thế nhưng dấu chân của ngài vẫn in nơi sa mạc,
vĩnh viễn lưu lại trong ký ức của loài người. Một tay
của ngài đã phiên dịch hàng ngàn quyển kinh sách, cũng vĩnh
viễn lưu lại trong kho tàng văn hóa của Trung Quốc”.
Ai
nói Phật giáo là trốn tránh hiện thực ? Ai nói Phật giáo
là tiêu cực, bi quan, yếm thế ?
6/
Phật giáo không chỉ nói suông về nghĩa lý
Có
những người than rằng : “Chẳng phải tôi không muốn nghiên
cứu Phật pháp, cũng chẳng phải nói Phật pháp không tốt,
chỉ vì nó quá phiền phức, quá cao xa”.
Ý
họ nói kinh Phật rất nhiều, rất cao sâu.
Lại
có một người bạn nói với tôi rằng : “Vì sao Phật giáo
không học tập Cơ đốc giáo, chỉ cần đưa ra một quyển
Thánh Kinh tóm tắt đơn giản rõ ràng là đủ ?”.
Kỳ
thật vấn đề này nêu ra rất là ấu trĩ, cũng rất nông
cạn, tôi bèn hỏi lại rằng : “Hiện tượng của vũ trụ
nhân sinh là đơn giản, hay là phức tạp ?”.
Tôi
nói : “Phật pháp là tìm cầu hiện tượng chân thật của
nhân sinh vũ trụ. Bởi vì hiện tượng nhân sinh vũ trụ rất
phức tạp, cho nên không thể nói đôi ba lời là thấu suốt.
Cũng bởi đạo lý của nhân sinh vũ trụ không dễ dàng hiểu
biết, cho nên Phật pháp giải thích nó cũng có chỗ sâu cạn
khác nhau”.
Đồng
thời Phật pháp là giảng cho chúng sinh nghe. Chúng sinh thì
vô biên, căn khí (trí tuệ) của chúng sinh cũng bất đồng,
có người cao kẻ thấp, có người trí kẻ ngu, cho nên nói
pháp cũng không thể cứ một mực không thay đổi. Cùng một
đạo lý ấy nhưng có thể tùy góc độ khác nhau mà giải
nói cho từng đối tượng.
Phật
giáo không chỉ là tôn giáo nói suông về nghĩa lý, có thể
qua sự thực tu và thân chứng, khiến cho giữa nó và lý luận
cùng phối hợp với nhau. Trong đó chỉ đơn cử một việc
như tọa thiền chẳng hạn. Phương pháp tọa thiền rất nhiều,
có thể thực hành như chuyên chú, quán tưởng, điều tức,
mật niệm, vận động v.v… Dù bạn y theo một phương pháp
nào, đều có thể đạt đến cảnh giới giác ngộ “minh
tâm kiến tánh, chuyển mê thành trí”.
Ví
như Đại sư Huệ Năng - Tổ thứ 6 của Thiền tông Trung Quốc.
Ngài là một vị sư không biết chữ, nhưng có thể nêu ra
bài kệ của Thần Tú, vị đệ tử lớn của Ngũ Tổ là chưa
đắc đạo, bài kệ ấy là : “Thân là cây Bồ đề, tâm
như đài gương sáng, thời thời siêng lau chùi, chớ để nhiễm
trần ai”. Phê bình Thần Tú chỉ là người mới đến cửa
mà chưa vào nhà, ngài nhờ người viết hộ bài kệ (vì ngài
không biết chữ) : “Bồ đề vốn không cây, gương sáng cũng
không đài, xưa nay không một vật, chỗ nào nhiễm trần ai
?”. Được Ngũ Tổ ca ngợi và truyền trao y bát kế thừa
thiền pháp.
Chúng
ta chỉ cần xem qua “Lục Tổ Đàn Kinh” sẽ biết được
trí tuệ tuyệt vời của Lục Tổ, khâm phục năm vóc sát
đất. Bởi vì những lời giảng của ngài với lời Phật
thuyết hoàn toàn phù hợp không một chút sai sót nào.
Dưới
đây là một đoạn công án (sự tích) của Đại sư Huệ Năng
sẽ chứng tỏ điều đã nêu trên.
Có
hai vị sư nhìn thấy lá phướn bên ngoài giảng đường, gió
thổi lay động qua lại. Nhân đó đã dẫn đến sự tranh luận.
Một vị nói :
- Tại
gió động.
Vị
sư khác nói :
- Không
phải, tại phướn động. Tại sao ông lại nói gió động
?
- Nếu
không có gió thổi thì làm sao phướn động được ?
Lúc
ấy Huệ Năng nghe được, ngài liền nói với hai vị sư là
:
- Không
phải gió động, cũng không phải phướn động, mà là do tâm
của các ông động !
Lại
có một vị thi tăng Bát Chỉ đầu đà (đầu đà là khổ
hạnh tăng, tức là vị sư tu hành khổ hạnh), ở vào đầu
nhà Thanh cuối nhà Minh. Trước kia là người có đủ 10 ngón
tay, sau vì ngài biểu thị quyết tâm cầu đạo và lòng thành
kính đối với Đức Phật, cho nên đã đốt hai ngón tay trước
điện Phật, chỉ còn lại tám ngón (Bát chỉ).
Bát
Chỉ đầu đà vốn không biết làm thơ, cho đến chữ nghĩa
cũng biết rất ít, thế nhưng có một hôm, sau khi tĩnh tọa
nhập định liễu ngộ, ngài đi đến Động Đình hồ thăm
người bạn. Lần đầu tiên ngài chấp bút viết câu “Động
Đình ba tống nhất tăng lai” (Sóng hồ Động Đình đã đưa
vị tăng đến), khiến cho mọi người phải kinh ngạc. Từ
đấy, ngài làm thơ như là có thần trợ giúp, ý thơ tuôn
ra như nước.
Còn
có rất nhiều vị cao tăng khác, cũng chữ nghĩa không bao nhiêu,
thế nhưng sau khi công phu thiền định đã được liễu ngộ
rồi, giảng kinh thuyết pháp, nói có bài bản hẳn hoi, trên
hợp với ý Phật, dưới hợp với tâm người, không cần
khéo léo trau chuốt mà ngôn từ ý tứ vẫn siêu việt hơn
người. Vì tập sách có hạn nên không thể giới thiệu hết
được.
Phần
trên là giới thiệu về sự thực chứng của việc tu hành
theo pháp môn “thiền định”. Còn đối với những vị tu
hành theo Tịnh độ tông chỉ niệm Phật A Di Đà, cũng có
thể đạt được đạo quả. (Phật giáo nương theo phương
pháp tu hành khác nhau mà có các phái khác nhau gọi là Tông).
Chẳng
hạn như ngài Từ Hàng Đại sư trải qua 5 năm ở trong chiếc
vại đậy kín mà nhục thân không hoại (tức là thể xác
đã chết mà không hư hoại). Hiện nay đã thếp vàng lên thân
ngài tôn thờ tại Tịch Chỉ ở Đài Bắc. (Đại sư Huệ
Năng cũng nhục thân bất hoại, tức là sau khi chết thi thể
còn nguyên, vẫn sinh động như sống, hiện còn lưu giữ tại
Quảng Châu).
Lại
như Đại sư Ấn Quang và Đại sư Hoằng Nhất (tức là nhà
âm nhạc Lý Thúc Đồng) v.v… Các ngài đều tu tập pháp trì
danh niệm Phật, sau khi mất, thiêu được rất nhiều Xá lợi.
(Xá lợi còn gọi là kiên cố tử, lúc mất hỏa táng di thể
mà có được loại Xá lợi này). Ở Đài Loan, tôi đã được
may mắn xem qua Xá lợi của Ni sư Viên Dung chùa Đông Sơn ở
Bình Đông, Hòa thượng Nhãn Tịnh chùa Từ Vân ở Nam Tử
và Đại sư Chương Gia, màu sắc nó lóng lánh tuyệt đẹp.
Những dẫn chứng trên để chứng minh việc tu hành chứng
quả của các vị tu hành theo Phật giáo.
7/
Phật giáo phủ định Túc mạng luận
Vì
sao gọi là “Túc mạng luận” ? Nói một cách đơn giản
là sự cát hung họa phước của con người đều do đời trước
định đoạt, sức người không có thể thay đổi được.
Nói
cách khác người tin theo “Túc mạng luận” là “phú thác
mạng mình cho trời”, cho rằng số mạng của mình đã định
sẵn rồi.
Rất
nhiều người có tư tưởng như vậy. Cũng rất nhiều tôn
giáo chủ trương như vậy. Họ cho rằng : Số mạng đã định
không thi đậu đại học, nếu có nỗ lực đến đâu cũng
không thi đậu; số mạng đã định không bần cùng, dù có
xa xỉ phù hoa hoặc hoang phí cũng không bần cùng.
Song
Phật giáo triệt để đả phá loại luận điệu này, khẳng
định có ra sức thì phải có thu hoạch. Theo thuyết của nhà
Phật thì “công bất đường quyên”, ý nói đã cố gắng
thì không uổng phí công lao. (Có thể đọc thêm sách “Liễu
phàm tứ huấn”).
Phật
giáo cho rằng tiền đồ vị lai của một cá nhân là tùy theo
hành vi tốt xấu hiện tại của chính mình mà quyết định.
Tiền đồ của mình nằm ở trong tay của chính mình. Không
có cái gọi là số mạng đã định không thi đậu đại học,
nếu mình cố gắng nỗ lực, cánh cửa đại học chắc chắn
sẽ mở ra đón nhận bạn. Cũng không có chuyện số mạng
định sẵn giàu sang phú quý, cứ xa hoa phung phí, không lo cần
kiệm làm ăn thì nhất định một ngày nào đó sẽ bị nghèo
khổ. Cho nên Phật giáo không chủ trương “Túc mạng luận”.
Lại
bàn qua về thuyết “nhân quả báo ứng” của Phật giáo.
Tuy chúng ta thường nghe thuyết pháp “trồng dưa được dưa”,
thế
nhưng thuyết nhân quả của Phật giáo, nếu nói rõ ràng một
tí thì phải nói là “nhân duyên quả báo”. Tức là giữa
nhân và quả Phật giáo xem trọng ở chữ “duyên”. Vì sao
gọi là “duyên” ? “Duyên” có tác dụng gì ? Nếu như
chúng ta gieo một hạt giống dưa xuống đất (nhân) mà không
có ánh sáng, nước, phân hoặc sự chăm sóc của nhân công
(duyên), nó sẽ ảnh hưởng đến hạt giống, chồi, cây và
hoa trái.
Cũng
như thế nếu một người đời trước có gieo nhân lành, nhưng
đời nay không tiếp tục tu trì, hành thiện để trợ duyên,
thì cũng sẽ ảnh hưởng đến sự trưởng thành quả tốt,
cũng không thu hoạch được bao nhiêu.
Nếu
một người đời trước làm điều xấu, nhưng đời này biết
cải hối, bỏ ác làm thiện, cũng có thể giảm thiểu hoặc
không thọ quả khổ.
Các
bạn học nghe đến đây, chắc chắn sẽ hoài nghi rằng : Một
người làm điều xấu, nếu biết cải ác làm thiện thì “có
thể” không chiêu thọ quả ác. Và hỏi ngược lại rằng
: Như vậy có nghĩa là “có thể” chiêu thọ quả ác phải
không ?
Vấn
đề này tôi xin nêu ra một thí dụ để giải thích như sau
:
Nếu
một người uống thuốc độc, được đưa đến bác sĩ cứu
trị, kết cục của người ấy có hai thứ : Một là hóa nguy
thành yên và một là chết.
Vì
sao người ấy uống thuốc độc, (nhân ác, tỉ như làm việc
xấu), đưa đến bác sĩ chữa trị (làm thiện, tỉ như làm
việc tốt), nhưng lại cũng “có thể” chết ?
Để
trả lời vấn đề này không phải chỉ nói vài lời có thể
giải thích thấu đáo, tối thiểu cũng liên quan đến ba phương
diện :
1/
Người ấy trúng độc nặng hay nhẹ (làm việc xấu nhiều
hay ít, tội phạm cũng tương đương).
2/
Người ấy được đưa đi bác sĩ nhanh hay chậm (giác ngộ
sớm hay muộn).
3/
Có cứu trị được hay không ? (hành thiện nhiều hay ít, giữa
loại hành thiện này có liên quan với nhân ác đã tạo trước
kia).
Căn
cứ theo ba điểm trên có thể quyết định cá nhân người
ấy có hay không chiêu thọ “quả ác”. Song tôi cũng mong
các bạn học hiểu cho tỉ dụ đó chẳng qua chỉ là bất
đắc dĩ phải nêu mà thôi, mục đích là ở chỗ giúp cho
mọi người hiểu được nghĩa chân thật của nhân quả. Chúng
ta không nên chấp vào đó, bởi vì đã gọi là “thí dụ”
thì không “có nghĩa là” sự thật, mà chỉ có thể nói
là “tương tợ” mà thôi.
Thuyết
nhân quả của Phật giáo, trùm khắp nhân sinh vũ trụ vô cùng,
bao quát không gian và thời gian vô tận, trong ấy chằng chịt
xen lẫn nhau, trăm dây nghìn mối, ngoài những vị giác ngộ
(như Phật, Bồ tát v.v…) có đầy đủ trí tuệ chân thật
ra (Phật giáo gọi là “Bát nhã”) , người bình thường
chúng ta khó có thể hiểu được sự thâm áo của nó.
Cũng
giống như một cái máy thu hình, bên trong đó dây nhợ chằng
chịt, ngoài nhân viên kỹ thuật chuyên môn ra, thì ai có thể
nhìn vào đó hiểu được ? Do đó tỉ dụ của tôi không thể
bao hàm hết mối quan hệ nhân quả sum la ấy. Cũng giống như
một thác nước lớn từ trên cao chảy xuống (Phật giáo gọi
là dòng tương tục lớn của nhân quả) thì làm sao có thể
cắt xén một đoạn trong dòng thác ấy để quan sát, để
thuyết minh cho được ?
Thôi
được, dưới đây tôi sẽ nói tiếp về vấn đề “Đời
trước làm điều xấu, đời nay tuy nỗ lực làm việc thiện
mà vẫn có thể chiêu lấy báo ứng !”. Phật giáo có thái
độ gì với vấn đề này ?
Thái
độ của Phật giáo là :
1-
Khuyên bạn cứ tiếp tục làm điều thiện hơn nữa, bởi
vì những việc ấy sẽ thâu hoạch được kết quả mỹ mãn
ở tương lai, không nên nản lòng thối chí.
2-
Đối với loại “quả xấu” không có thể thay đổi được
(Phật giáo gọi là “định nghiệp”), Phật giáo an ủi họ
phải mạnh dạn nhẫn chịu, vì người quân tử dám làm thì
phải dám chịu. Đã làm những điều sai trái cũng như phạm
vào luật pháp thì phải an tâm, nhẫn nại nhận chịu hình
phạt, oán trời trách người hoặc có ý trốn thoát đều
là biểu hiện của kẻ nhu nhược, đều là một loại hành
vi không dám lãnh lấy trách nhiệm mà mình đã làm. (Điều
này thường bị người đời hiểu lầm là do số Trời đã
định, kỳ thật hoàn toàn sai lầm).
3-
Từ trong những báo ứng thống khổ này phải phản tỉnh lấy
mình, từ đây về sau cần cẩn thận giữ gìn tâm tính hành
vi của mình. Hiểu rõ nhân quả báo ứng không sai sót chút
nào, càng phải “chớ cho điều thiện nhỏ mà không làm,
chớ cho việc ác nhỏ mà làm” (câu này do Lưu Bị nói với
con của mình trước khi chết, còn Phật giáo thì nói “Chớ
làm các điều ác, hãy làm các việc thiện”).
Do
đó, nhân sinh quan của Phật giáo là tích cực hướng về
phía trước. Đối với những sai lầm của dĩ vãng phải dũng
mãnh nhìn nhận, an tâm nhẫn chịu, lấy đó để rèn luyện
nhân cách tiết tháo. Đồng thời vì sự an lạc và hạnh phúc
mai sau, cần phải nỗ lực phấn đấu hướng thượng, dù
thế nào cũng không nên tiêu cực, chán nản, tự hủy hoại
mình. Điều sau cùng muốn nói thêm là : Vì sao có người đời
nay làm thiện, nhưng trái lại toàn gặp điều khổ sở bất
hạnh ? Một số người suốt đời làm điều xấu ác, nhưng
lại tiêu diêu tự tại, giàu sang trường thọ ?
Trong
nhà Phật nói “Thiện có thiện báo, ác có ác báo, nếu không
thấy báo, vì thời gian chưa đến”. Câu nói này rất rõ
ràng là “nếu như không thấy báo” chỉ là vì “thời gian
chưa đến” mà thôi.
Làm
thiện mà gặp ác báo, làm ác ngược lại gặp thiện báo,
chẳng phải “nhân quả báo ứng” vượt ngoài khuôn phép,
sai mất tính chân thật, mà là người hành thiện ấy đời
trước đã từng làm những điều xấu, đến đời nay phải
chịu những ác quả. Còn việc thiện của họ làm hiện nay
ngày sau mới có thể hưởng thiện báo. Người làm ác gặp
thiện báo cũng giống như vậy.
Phật
giáo lại cho rằng nhân quả báo ứng, có cái đời nay làm
đời nay liền báo, nhưng cũng có những cái phải trải qua
một đời hoặc bao nhiêu đời mới bị báo ứng. Như vậy
là sao ? Xin quý vị hãy xem thí dụ sau :
1-
Đời nay làm đời nay báo ứng, cũng như cây cà chua một tháng
là có thể thu hoạch được.
2-
Đời nay làm trải qua nhiều đời sau mới báo ứng, cũng như
cây nho phải trải qua vài năm sau mới có thể thu hoạch được.
Cổ
nhân nói : “Thiện ác đều có báo, đạo trời vốn xoay vần,
không tinngẩng đầu xem, trời xanh tha thứ ai ?”.
Các
bạn học thân mến, chắc các bạn đã biết câu “Lưới
pháp lồng lộng, thưa mà không lọt mảy may” rồi chứ ?
Hết thảy việc ác dù nhỏ như hạt mè cũng không nên làm,
bởi vì một tế bào ung thư dù nhỏ xíu, cũng có thể cướp
đi sinh mạng quý báu của bạn, làm cho bạn phải đau khổ
tột cùng.
8/
Phật giáo không sùng bái hình tượng
Thường
thường chúng ta hay nghe một số người nói Phật giáo là
“sùng bái hình tượng”.
Như
vậy Phật giáo có sùng bái hình tượng không ? Tôi xin thưa
là không.
Như
các bạn đã biết, ở trong sách này đã nhiều lần nêu rõ
Phật giáo chủ trương “tứ đại giai không”, “sắc tức
là không, không tức là sắc”. Nhiều lần thuyết minh vũ
trụ vạn sự vạn vật đều là do nhân duyên tạm thời tụ
hợp mà thành, không có một thứ bản thể thực tại bất
biến. Giống như băng là do nước lạnh đông đặc lại mà
thành, nước là hóa hợp của Hydro và Oxy mà thành, mà nguyên
tố của Oxy và Hydro lại là do hạt nguyên tử và điện tử
v.v… tập hợp mà thành, trong đó có cái nào là thực thể
bất biến đâu ?
Nhân
đấy Phật giáo chủ trương “phá tướng”. Thế nào gọi
là phá tướng ? Phá tướng tức là đả phá quan niệm thiếu
sáng suốt cho rằng “sự vật do nhân duyên sinh” là vĩnh
tồn bất biến.
Như
vậy hình tượng có phải là thứ “tướng” mà Phật giáo
muốn phá trừ không ? Tôi xin thưa là phải, bởi vì hình tượng
chỉ là do cây, đá, đất bùn trang sức thêm vàng mà thành,
cũng là một loại thể giả hợp của nhân duyên, đương nhiên
bản thể là không. Hình tượng đã là do “nhân duyên sinh
ra”, cho nên Phật giáo không thể thừa nhận nó là vĩnh hằng
bất biến. Vì vậy cũng phải phá trừ “tướng” ấy - phá
trừ quan niệm hình tượng.
Có
bạn đồng học không hiểu hỏi ngược lại tôi : “Hình
tượng đã là nhân duyên giả hợp tạm thời, Phật giáo đả
phá nó, vì sao trong các tự viện lại thờ rất nhiều tượng
Phật ?”
Trả
lời vấn đề này có hai mặt, một mặt phải chú ý đến
triết lý cao thâm của Phật giáo, mặt khác cũng không nên
chê trách tác dụng của Phật giáo dùng phương tiện làm pháp
môn, để cứu độ chúng sinh.
1-
Về phương diện triết lý : Phật giáo cho rằng “tượng
Phật” là do các vật liệu như cây, đá, đất bùn (nhân),
do nhân công (duyên) chế tạo mà thành, chia chẻ nó ra thì
không còn là tượng nữa, không có chủ thể bất biến, cho
nên bản thể là “không”. Lúc nhân công mới chế tạo nếu
làm Quan Âm thì thành Quan Âm, làm A Di Đà thì thành A Di Đà.
Từ điểm này mà xét, chúng ta gọi đó là “tượng Phật”,
hình trạng đó gọi là “giả” (tùy theo sự nhào nặn hình
tượng mà gọi). Sự phân tích trên trong Phật giáo trước
gọi là “không quán” sau gọi là “giả quán”. Tuy bản
thể của tượng Phật là không, hình dáng gọi là giả, nhưng
cũng không phải biểu thị Phật giáo phủ định sự tồn
tại của tượng Phật. Phật giáo sau khi dạy người “không
quán”, “giả quán” muốn chúng ta dùng “trung quán” để
nhận thức giá trị và tác dụng của tượng Phật. Vì tượng
Phật có thể khiến cho tâm của người ta ngưỡng mộ mà
“noi gương học tập”.
2-
Về phương diện phương tiện cứu độ chúng sinh : Người
đời nếu ai cũng có đủ trí tuệ để hiểu biết câu “tượng
Phật chỉ là giúp cho người ta khởi tâm ngưỡng mộ noi theo
học tập” thì sẽ không bị chấp trước vào tượng. Bởi
vì khi ấy Phật ở trong tâm của mỗi người, thì mỗi một
hòn đá, mỗi một gốc cây, thậm chí một áng mây trôi, một
thoáng chiều tà, thứ gì mà không tạo thành tượng Phật
để suy tư, chiêm bái ?
Thế
nhưng, người đời vì không hiểu được ai ai cũng đều là
Thánh hiền đại trí. Họ không hiểu được tư tưởng viên
dung, vĩ đại ấy của Phật giáo. Họ chưa được xem qua,
chưa được biết đến. Họ không chịu tin nên không thể
khởi tâm ngưỡng mộ học tập cho được.
Ôi
! Chúng sinh đầy dẫy, có mấy người hiểu được triết
lý cao thâm “Bồ đề vốn không cây, gương sáng cũng không
đài” đâu.
Nhân
đấy, Phật giáo có hay không sùng bái hình tượng, các bạn
học thông minh cũng đã hiểu rõ rồi. Phật giáo vì rộng
độ chúng sinh, cho nên không chỉ đem Phật pháp cao thâm vĩ
đại để khai ngộ cho người thông minh, mà còn đối với
chúng sinh thấp kém, cũng phải dùng đạo lý thiển cận, thế
tục để bắc cầu dẫn đường cho họ. Nếu không như thế
thì Phật giáo không thể gọi là bình đẳng, viên dung và
vĩ đại được. Cho nên ý nghĩa của sùng bái tượng Phật
là ở chỗ hình tượng tượng trưng cho chân lý, chứ không
phải ở nơi bản thân hình tượng.
Thử
hỏi trên thế giới này có một quốc gia nào không thiết
lập quốc kỳ để khích lệ lòng yêu nước của quốc dân
? Treo chân dung của vị khai quốc công thần, để khêu gợi
tình cảm ngưỡng mộ của quốc dân ? Để hết lòng tận
trung với lãnh tụ ?
Nếu
có người nói hướng về quốc kỳ, chân dung vị nguyên thủ
kính lễ là sùng bái hình tượng thì những người này không
hiểu đạo lý.