Chúc
Thư Cuối Cùng của Garab Dorje:
“Ba
Tuyên Bố Điểm Vào những Điểm Thiết Yếu”
từ
“Những Giáo Lý Để Lại Sau Khi Chết của những bậc Vidyadhara”
Những
Chữ Vàng :
Ở
đây chứa đựng “Bốn Giáo Lý Để Lại Sau Khi Chết của
những bậc Vidyadhara, cùng với một Phụ Lục”. ÷
(Về
phần cái đầu tiên trong những bản văn này :)
Ở
đây chứa đựng “Ba Tuyên Bố Điểm Vào những Điểm Thiết
Yếu”, theo đạo sư Prahevajra (Garab Dorje). ÷
NAMO
GURUVE ÷
Kính
lễ đức tin này, lưu xuất từ sự thấu hiểu trạng thái
của tánh Giác tức thời nội tại của chính mình. ÷
VÀO
ĐỀ
Trạng
thái này của tánh Giác tức thời nội tại (Rigpa) là vô sanh
và tự hữu. Cách thế hiện hữu của nó tiêu biểu tinh túy
và tinh túy này là Nền Tảng Bổn Nguyên. Bất cứ nơi đâu
có những hình tướng xuất hiện dù khác biệt đa thù, nó
đáp ứng không gián đoạn và không ngăn ngại. Hơn nữa, mọi
sự, mọi hiện tượng xuất hiện và hiện hữu, đều khởi
lên (tự toàn thiện một cách tự phát) ở trong Pháp thân.
Bất cứ hình tướng xuất hiện nào biểu lộ trong đó đều
trực tiếp được giải thoát sau khi chúng sanh khởi nhờ sự
hiện diện của trạng thái của tánh Giác vốn sẵn của chính
mình. ÷
Thực
nghĩa của điều này : Tất cả mọi trạng thái giác ngộ
đều gồm trong cái hiểu biết bất nhị, nó là tánh giác
bổn nguyên (ye-shes) hiện diện trong lòng của tất cả chư
Phật, thật ra được bao hàm trong trạng thái đơn nhất duy
nhất này của tánh Giác Rigpa tức thời nội tại vốn sẵn
trong mỗi một chúng sanh. ÷
Để
khai thị cho Manjushrimitra, đã té bất tỉnh trên mặt đất
(khi đạo sư của ngài đã làm tan biến thân thể vật chất
vào hư không lúc chấm dứt cuộc đời trần thế), Upadesha
này, hay giáo huấn bí mật, gồm “Ba Tuyên Bố Điểm Vào
những Điểm Thiết Yếu”, được phát lộ bởi đạo sư
Prahevajra (Garab Dorje). Với mục đích xóa sạch mọi ý niệm
liên hệ đến sanh tử lẫn niết bàn (trong tâm thức của
đệ tử), nghĩa là xóa sạch mê tín của đệ tử rằng cái
này hay cái kia thực sự tự hiện hữu về phần riêng của
nó, chúc thư cuối cùng cực kỳ tuyệt hảo và biểu thị
rõ ràng này được phát lộ vào lúc chết của đạo sư. Nó
cần được cất dấu và giữ gìn trong chỗ sâu thẳm nhất
của lòng con ! ÷
A ÷
Thật
vậy, trạng thái này của tánh Giác tức thời vốn sẵn thì
siêu vượt mọi ý niệm, là cái gì vô sanh và vô điều kiện.
÷
BA
TUYÊN BỐ
ATI
÷
Upadesha
này, không ngần ngại phát lộ trạng thái của tánh Giác tức
thời vốn sẵn, tánh Giác này là khả năng của Nền Tảng
Bổn Nguyên hay Pháp thân, là như sau : ÷
“Người
ta được trực tiếp đưa vào thật tánh của chính mình”,
nghĩa là, người ta được đưa một cách trực tiếp và tối
hậu vào khuôn mặt thực sự hay bản tánh thực sự của chính
mình, nó là tánh Giác vốn sẵn, trạng thái hiện tiền thanh
tịnh tức thời (rig-pa). Và hơn nữa, bản tánh của nó được
phát lộ, thật ra là trọn vẹn thanh tịnh từ vô thủy. Chính
duy nhất trạng thái này của tánh Giác tức thời xưa nay được
giới thiệu ở đây, trong cùng một cách, như chẳng hạn sự
sân giận có thể được giải thoát bởi tự chính nó. ÷
“Người
ta trực tiếp xác quyết trạng thái đơn nhất duy nhất này”,
nghĩa là một người trực tiếp khám phá cho chính mình (giữa
một số lớn những kinh nghiệm khác nhau) trạng thái đơn
nhất và duy nhất này của tánh Giác vốn sẵn, trong đó người
ta tỏ biết thấu suốt mọi mặt, mà không có cảm giác nào
về nhị nguyên chủ thể đối tượng còn sót lại. ÷
“Bấy
giờ người ta trực tiếp tương tục tin vào giải thoát”,
nghĩa là người ta tiếp tục trực tiếp ở trong trạng thái
tham thiền với sự tin tưởng trọn vẹn vào tiến trình tự
động của tự-giải thoát (của bất kỳ tư tưởng và hình
tướng nào khởi sanh). Và vì thế, tánh Giác của chính mình
thấy nó vốn được giải thoát nơi chính nó (không có bất
kỳ một can thiệp nào bởi trí năng phóng dật vô bổ hay
bởi cái gì ở ngoài chính nó). ÷
Không
có một chúng sanh nào, về mặt tự biểu lộ của tánh Giác
vốn sẵn này, không thấy mình vốn giải thoát. Trạng thái
hiện hữu cá nhân mình (hay thể trạng của tỉnh giác bên
trong) ở một mặt và những trạng thái của những sự vật
khác trong thế giới bên ngoài trình diện với thức của người
ta như những xuất hiện tình huống bên ngoài, ở mặt kia,
được gặp gỡ lẫn nhau và trở thành hòa nhập. (Điều này
biểu thị một trực giác trực tiếp tức thời không có bất
kỳ nhị nguyên chủ-khách nào, một tỉnh giác bổn nguyên.)
Nhưng ở đây cá nhân không thấu hiểu điều này, bấy giờ
chính mình và những sự vật khác (cái “tôi” là tỉnh giác
bên trong của chính mình, và “những cái khác” là những
tình huống xuất hiện bên ngoài) được tri giác như là sanh
khởi trong cách thế nhị nguyên chủ thể bên trong và đối
tượng bên ngoài. ÷
Upadesha
đơn nhất này, hay giáo huấn bí mật này cho tự-giải thoát
tức thời và thẳng tắt là duy nhất (trong mọi con đường
tâm linh đến giác ngộ), và không có cái nào đối lập với
nó. Chỉ một mình nó là đủ để giải thoát. ÷
TUYÊN
BỐ THỨ NHẤT
ATI
÷
Bất
cứ cái gì khởi sanh hay xuất hiện với cá nhân như những
hiện tượng bên ngoài chỉ là trạng thái hiện hữu của
chính mình biểu lộ một cách bên ngoài như những hình tướng.
Lìa ngoài hệ thống được tổ chức và cấu trúc cao cấp
này của những hiện tượng (thường được gọi một cách
quy ước là “thực tại”), không có cái gì hiện hữu và
từ nó người ta không thể có được cái gì cả (có bản
chất hay giá trị). Tuy nhiên, do toàn thể tính của thần lực
hay diệu dụng vốn sẵn (rang rtsal) của nó, bởi vì tánh Giác
của mình hòa hợp với mọi loại sự vật khác nhau sanh khởi
như là những hiện tượng, nó cho phép những loại hiện tượng
khác nhau này giải thoát tự chúng. Không có đối trị nào
khác cho chúng (những hiện tượng khác nhau này) ngoài tiến
trình tự-giải thoát này. ÷
Về
tiến trình này, những hiện tượng sanh khởi với thức gặp
gỡ tức thời và trực tiếp tự tánh của chúng, như chẳng
hạn, khi người ta có cùng ngôn ngữ gặp nhau đâu đó trong
một xứ sở ngoại quốc nơi dùng một ngôn ngữ khác. Tức
thời họ nhận biết nhau ngay ; trong cùng một cách như thế,
tự thân sự tức giận được giải thoát bằng cách được
nhận biết như là tức giận. ÷
Khi
tìm kiếm Mẹ của nó, là nguồn gốc của nó, cái hiểu biết
hay trí huệ (ye-shes) của cái nhìn thấy hay những hiện tượng
gặp gỡ trực tiếp Mẹ (tánh Không) của chính nó và tự-giải
thoát. Nói thế nghĩa là, cái nhìn thấy được tự-giải thoát
nhờ cái nhìn thấy, như bơ nóng chảy tan vào bơ. Và khi tìm
kiếm Con, thì bản thân Con, là cái hiểu biết hay trí huệ,
gặp gỡ chính nó một cách trực tiếp. Bản thân tánh Giác
này được tự giải thoát nhờ tánh Giác ; như nước hòa
tan trong nước. Khi tìm kiếm trạng thái duy nhất (của Rigpa),
người ta chỉ gặp gỡ trạng thái duy nhất của chính mình.
Nói thế nghĩa là, tự tánh của mình (Rigpa) đơn giản chỉ
gặp gỡ chính nó. Nhưng tinh túy của nó siêu vượt mọi diễn
tả bằng lời ; như hư không tan biến vào hư không, hay như
ba vòng cuộn tròn của một con rắn tự giải thoát một cách
đồng thời. ÷
Trạng
thái phi thường và độc nhất này của tánh Giác vốn sẵn
chỉ có thể tìm thấy trong chính mình. Trong trường hợp đó,
bấy giờ khi người ta nhận biết tinh túy của mình, mọi
sự được hòa giải trong một khoảnh khắc đơn nhất trong
đó hiện diện một cái biết, cái biết này không vượt khỏi
cái hiểu biết của cái tinh túy phi thường duy nhất này (Rigpa).
Điều này cũng giống như một người đàn ông và một người
đàn bà yêu nhau và họ bí mật gặp nhau nơi vắng vẻ để
thực hiện tình yêu. ÷
Bản
thân trạng thái phi thường và duy nhất này chỉ có thể được
tìm thấy trong chính mình. Dù những tình huống bên ngoài có
đa thù dị biệt, vẫn hiện diện một hiểu biết chung hay
một tỉnh giác nguyên sơ trong đó những khác biệt này của
những hiện tượng đa thù được tự giải thoát. Cái hiểu
biết hay trí huệ này giống như khi cắt đứt cái nút chính
độc nhất nơi một sợi dây thừng người ta cắt đứt tất
cả trăm sợi của dây thừng. ÷
Sự
giải thoát độc nhất này chỉ có thể tìm thấy được ở
trong chính mình. Bởi vì cái biết hay cái tỉnh giác nguyên
sơ (ye-shes) này là tự biểu lộ, nó tiêu biểu một cái hiểu
biết bổn nguyên mà không thể có được ở bất cứ nơi
đâu ngoài chính mình. Tự-giải thoát chính là bản thân cái
tỉnh giác nguyên sơ này. Nó giống như đi vào một thành phố
lớn và độc nhất nằm ở cuối hàng trăm hay hàng ngàn con
đường. (Ở đây kết thúc sự khảo sát về điểm thiết
yếu thứ nhất liên quan đến Nền Tảng.) ÷
TUYÊN
BỐ THỨ HAI
Trong
trạng thái này của tánh Giác tức thời vốn sẵn, người
ta trực tiếp khám phá cho chính mình rằng tất cả những
“cái nhìn thấy sau cùng” của mình thực ra khởi sanh từ
chính mình. (Những cái nhìn thấy sau cùng này là những quả
cầu nhỏ ánh sáng cầu vồng sanh khởi trong thực hành Thodgal.)
Trong cùng cách, vì người ta nhận biết tự tánh bởi chính
mình, nghĩa là, người ta an trụ trong trạng thái tham thiền,
bấy giờ tánh Giác vốn sẵn này không có bất kỳ nhị nguyên
liên hệ với vô minh nào (vô minh được xem là vắng mặt
tỉnh giác). Chẳng hạn, dù một người có thể được gọi
bằng nhiều tên khác nhau từ nhiều hướng khác nhau, thế
nhưng y sẽ vẫn đến khi được gọi. Nhiều tên khác nhau
này không ra ngoài nghĩa độc nhất là bản thân cá nhân con
người ấy. ÷
Trong
trạng thái duy nhất là tánh Giác tức thời vốn sẵn này,
người ta trực tiếp khám phá rằng mọi cái nhìn thấy quả
cầu nhỏ ánh sáng cầu vồng này (thig-le) và các thứ khác,
thực ra chỉ là những tự biểu lộ của mình. Và trong trạng
thái giải thoát này, người ta khám phá mà không có nghi ngờ
nào. Trạng thái tham thiền này là tự-giải thoát trong chính
nó, tánh Giác được giải thoát bởi tánh Giác. Tương tự,
qua nhận biết rằng tánh Giác này chỉ là trạng thái hiện
hữu của chính mình, bấy giờ mọi sự mà người ta hiểu
được giải thoát vào trong thể trạng tự nhiên của bản
thân chúng. Điều này giống như gặp một người đã từng
biết trước kia sau một thời gian dài xa cách. (Ở đây kết
thúc sự khảo sát về tuyên bố thứ hai liên quan đến Con
Đường là tiến trình của tự-giải thoát.) ÷
TUYÊN
BỐ THỨ BA
Đức
tin của người ta trở thành như một kho tàng chứa đựng
những giàu có bao la tiêu biểu những kinh nghiệm cá nhân cụ
thể đối với chính mình, nghĩa là về tự tánh của chính
mình, đó là tánh Giác vốn sẵn. Mọi chuyển động của tư
tưởng trở thành tự giải thoát vào thể trạng nguyên sơ
của chính chúng. Điều này giống như sở hữu một kho tàng
vĩ đại chứa bất cứ cái gì mà người ta mong muốn. ÷
Bấy
giờ, có những kinh nghiệm cụ thể về người khác và những
sinh vật là những đối tượng bên ngoài, đức tin của người
ta trở thành giống như một Chuyển Luân Vương, một nhà vua
của vũ trụ. Thế nghĩa là, trạng thái của tánh Giác hiện
tiền tức thời trở thành biểu lộ có thể thấy được
(như những quả cầu nhỏ màu cầu vồng và vân vân). Bởi
vì những hiện tượng thuộc về ánh sáng này không do cái
gì khác ngoài chính mình tạo ra, cái tỉnh giác vốn sẵn của
người ta thì giống như một Chuyển Luân Vương đặt mọi
người trong bốn châu dưới quyền lực của mình. ÷
Hơn
nữa, bởi vì tánh Giác của người ta có khả năng đặt ngay
cả những nguyên tố vật chất dưới quyền lực của mình,
và bởi vì người ta thành giải thoát nhờ thể trạng này
(nghĩa là, sự thành tựu Thân Ánh Sáng), người ta không nương
dựa nữa vào khả năng nào khác. Và có một kinh nghiệm cụ
thể như vậy về trạng thái giải thoát, đức tin của người
ta giống như kinh nghiệm không gian tan vào không gian. Như thế
nghĩa là, người ta hoàn toàn tự tin vì người ta thấy rằng
mọi sự ngay khi sanh khởi đều tự giải thoát không cố gắng
vào nguyên trạng của chúng, tức là vào Pháp tánh thanh tịnh
một cách bổn nguyên. Sự việc này giống như hư không tan
vào hư không, hay như những đám mây tan biến trong bầu trời.
÷
Mọi
sự sanh khởi trong chiều kích của người ta đều được
tự giải thoát trực tiếp vào trạng thái nguyên tánh của
chúng. Thế có nghĩa, mọi sự tự giải thoát bởi chúng mà
không có bất kỳ cố gắng hay can thiệp từ bên ngoài. Điều
này giống như đá nghiền với đá, hay như nung chảy sắt
với sắt, hay như làm sạch cái bẩn với cái bẩn. ÷
Trong
trạng thái duy nhất này của tánh Giác tức thời, mọi sự
được giải thoát thành cái thấu hiểu đơn nhất này về
trạng thái của tánh Giác tức thời vốn sẵn. Điều này
giống như lấy lửa từ lửa, hay như chuyển hóa nước thành
nước, hay như thêm bơ chảy lỏng vào bơ. Như thế, Mẹ (Trạng
Thái Bổn Nguyên) và Con của bà (hiểu biết) trở thành một.
Bởi vì bà Mẹ của mình, như nguồn gốc hay cỗi nguồn, chỉ
là chính nó (và không có cái nào khác ngoài nó, thường trụ
trong trạng thái hiện hữu của chính nó, và đây là tánh
Không), người ta có thể nói rằng tánh Không được giải
thoát do bởi tánh Không. Như thế, cái hiện tiền hay tánh
Giác của cá nhân tiêu dung (vào lúc thành tựu Thân Ánh Sáng)
và hòa nhập thành chính cái nhìn thấy. ÷
Bởi
vì người ta nhận biết trạng thái bẩm sinh của chính mình
là tánh Giác vốn sẵn, người ta được trực tiếp giới
thiệu với nền tảng của tất cả hiện hữu. Thế nghĩa
là người ta nhận biết những cái nhìn thấy (trong thực hành
Thodgal) chỉ là những tự-biểu lộ của tự tâm mình. Điều
này giống như thấy mặt mình phản chiếu trong một tấm gương.
Và bởi vì niền tin này (hay sự nhận biết), trong đó người
ta đã được trực tiếp đưa vào Nền Tảng của hiện hữu,
sự thể giống như sự gặp gỡ của bà mẹ và con bà sau
một xa cách lâu dài. Người ta nhận biết đây là trạng thái
duy nhất của giải thoát. Vì cái nhìn thấy được tự-giải
thoát trực tiếp thành nguyên trạng của nó, cái nhìn thấy
hay hiện tượng được nhìn thấy là trống không (vô tự
tánh), và tính chất quang minh trong sáng của nó được nhận
biết không gì khác hơn là trạng thái tánh Giác tức thời
của chính mình. ÷
Bởi
vì cái nhìn thấy hay hiện tượng được nhận biết là tự
giải thoát bởi chính nó, người ta khám phá rằng thật ra,
nó tiêu biểu vô minh từ sơ thủy. Thế nghĩa là, sanh tử
được biết hay được nhận biết tự nơi chính nó (như dựng
một cái gương trước một cái gương khác, nên nó có thể
tự thấy chính nó). Và về sự vượt khỏi sanh tử, tình
trạng này được biết là trạng thái của Niết bàn, người
ta nhận biết rằng người ta đã siêu vượt sanh tử, và như
vậy bản thân vô minh được tự-giải thoát. Và chính vì
lý do này một thí dụ được dùng là rửa sạch cái bẩn
bằng cái bẩn. ÷
Bởi
vì khi tự khám phá thực nghĩa của trạng thái hiện hữu
của chính mình là tánh Giác vốn sẵn, những tư tưởng lan
man phóng dật được giải thoát bởi tự chúng một cách tự
nhiên. Và theo cách này, người ta khám phá rằng người ta
không cần nương tựa vào bất kỳ đối trị nào khác. Bởi
vì tư tưởng được giải thoát vào chính Nền Tảng, người
ta tiếp tục ở trong một trạng thái hiện diện tức thời
hay tham thiền, và làm như vậy với sự tự tin. Điều này
giống như đổ nước vào trong nước, hay như rót bơ chảy
lỏng vào trong bơ. ÷
Và
bởi vì tương tục trong trạng thái tham thiền này ở bất
cứ nơi đâu (trong mọi hoạt động hàng ngày), sự thể này
giống như những vòng cuộn của một con rắn được giải
thoát (cởi mở) một cách không cố gắng bởi chính con rắn.
Nhưng một trí thông minh hay một tỉnh giác nhìn đi đâu khác
ngoài chính nó (sau khi không tìm ra cái nó muốn tìm), sẽ rơi
trở lại vào thất vọng. Bởi vì nó được giải thoát bởi
chính nó, trạng thái của tánh Giác tức thời này là tự
hộ trì, tự giữ gìn và tự an trụ. Vì lý do này, tương
tục trực tiếp ở trong trạng thái tánh Giác vốn sẵn của
mình là sự cẩn trọng và nhạy cảm chính yếu. (Ở đây
kết thúc tuyên bố thứ ba liên hệ đến sự chứng ngộ Quả.)
÷
KẾT
LUẬN
Vào
lúc Prahevajra (Garab Dorje) phát lộ phương pháp để hoàn toàn
vượt khỏi sự khổ đau của sanh tử, Manjushrimitra ngã xuống
bất tỉnh, và đã nằm trên mặt đất, ngài kêu lớn, “Than
ôi !” Ngay lúc ấy, Vetalakshema (Garab Dorje) từ giữa ánh sáng
(một khối ánh sáng cầu vồng giữa bầu trời) biểu lộ
hình tướng biểu tượng rực rỡ của ngài. Để truyền cảm
hứng cho Manjushri-mitra thức dậy khi đang nằm bất tỉnh trên
mặt đất, ba tuyên bố này được đạo sư phát lộ. Đó
là ba nguyên tố điểm vào những điểm thiết yếu, nói về
sự giải thoát tối hậu của cá nhân, và chứa đựng di chúc
bí mật cuối cùng. Di chúc cuối cùng này đi xuống từ bầu
trời vào bàn tay phải của Manjushrimitra. Bản văn được viết
bằng mực làm từ đá da trời chảy lỏng. Bản văn viết
trên một tờ giấy được để trong một đồ đựng nhỏ
cỡ bằng ngón móng tay cái, và đồ đựng nhỏ này đặt trong
một hộp nhỏ bằng pha lê quý báu. Ngay khi nhận di chúc này,
Manjushrimitra thoát khỏi cơn ngất xỉu, và, thông hiểu lời
dạy, ngài thành người có đức tin từ hiểu rõ chắc chắn.
Và vì lý do đó, Upadesha hay giáo huấn bí mật này, được
dấu kín trong mạn đà la của trái tim ngài và giữ bí mật
với những người khác. Như thế, cam lồ của sự trao truyền
ba tuyên bố này, nó là những giáo lý truyền miệng được
nhận vào lúc chết của đạo sư, trở thành sáng rõ và tràn
lan trong lòng ngài và thật nghĩa của cái thấy hiểu của
Dzogchen được phô bày trong lòng ngài như vàng ròng. ÷
Sự
cố này xảy ra trên đất đại trà tỳ ở Shitavana Ấn Độ.
Sau đó, giáo lý thiêng liêng này được biểu lộ cho thấy
được ở nguồn Sông Dan-tig, trở thành con đường rốt ráo
đem lại cởi thoát khỏi khổ đau của sanh tử cho tất cả
chúng sanh. Upadesha này đem lại một giải thoát tức khắc
vào tịnh độ của Phật quả, hoàn tất ở đây. ÷
Dịch
bởi Vajranatha
Jamestown,
Colorado
Tháng
Bảy 1987
Bình Giảng
Giữa Dòng
về “Chúc
Thư Cuối Cùng của Garab Dorje”
bởi Dịch
Giả
ĐẦU
ĐỀ CỦA TUYỂN TẬP
Những
Chữ Vàng :
Ở
đây chứa đựng “Bốn Giáo Lý Để Lại Sau Khi Chết của
những bậc Vidyadhara, cùng với một Phụ Lục”. ÷
Ở
đây lúc ban đầu chúng ta đã nói rằng bản văn nguyên được
viết bằng chữ vàng. Theo truyền thống Nyingthig, đại Vidyadhara
Vimalamitra gồm lại tinh túy của những giáo lý Dzogchen Upadesha
thành năm bộ bản văn “Những Chữ Vàng”, viết bằng mực
vàng, “Những Chữ Đồng”, viết bằng mực màu đỏ, “Những
Chữ Nhiều Màu”, viết bằng mực nhiều màu, “Những Chữ
Vỏ Tù Và”, viết bằnh mực màu trắng, và “Những Chữ
Bích Ngọc”, viết bằng chữ màu xanh. Hơn nữa, bản văn
được chấm câu bằng dấu gter-dzar, ÷, chỉ rằng nó là một
Terma, hay văn bản được khám phá lại.
Bản
văn chúng ta có ở đây thuộc một tuyển tập những bản
văn Terma được biết là những Das-rjes, hay “những giáo lý
để lại sau khi chết”, từ chữ das-pa “đi mất, chết”
và rjes “sau”. Bốn Vidyadhara trong chủ đề là Garab Dorje,
Manjushrimitra, Shrisimha, và Jnanasutra, những đạo sư loài người
sớm nhất của dòng Dzogchen theo những nhà Nyingma. Chữ Sanskrit
Vidyadhara (rig-dzin) trong tiếng Tây Tạng nghĩa là người sở
hữu hay đã chứng ngộ (dzin-pa, Skt. dhara) hiểu biết (rig-pa,
Skt. vidya) về Trạng Thái Bổn Nguyên. Trong bối cảnh tổng
quát Ấn Độ, cả Ấn giáo và Phật giáo, từ ngữ có nghĩa
người sở hữu hiểu biết bí truyền. Terma này tìm thấy
trong bộ Bi-ma snying-thig của Longchen Rabjampa (1308-1363), nhà
đại biên tập và đại tổng hợp những truyền thống sớm
nhất của Dzogchen. Những lời dạy trong Bi-ma snying-thig này
được nói là lời phát xuất từ đạo sư Dzogchen Mahapandita
Vimalamitra (thế kỷ thứ tám). Longchenpa nhận chúng từ đạo
sư của ngài là Kumararaja (Kumaradza, 1266-1343). Đặc biệt, bản
văn này chứa đựng trong bộ 6A : zDorje chang gis gsungs-pa mchod
os rang bzhin gyi tshig dus gnad nges-pa (trang 273-344). Bi-ma snying-thig
là một trong bốn tuyển tập những giáo lý cổ Dzogchen tìm
thấy trong sNying-thig ya-bzhi nổi danh của Longchenpa, những tuyển
tập khác là mKha-gro'i snying-thig, mKha-gro'i yang-thig, và bLa-ma'i
yang-thig. Nhiều Terma tìm thấy ở đây, đặc biệt mKha-gro'i
snying-thig, được nối kết với tên Padma Letrelt-sal (1291-1315?).
Longchenpa được xem là người kế thừa của ngài Letreltsal,
hay thậm chí là hậu thân của ngài.
Về
Das-rjes, trong mỗi trường hợp, các vị đạo sư (nói ở trên)
đạt đến Thân Ánh Sáng vào lúc chết, khi các vị làm tan
biến thân thể vật chất vào không gian của bầu trời. Và
rồi, để đáp ứng cho các đệ tử chánh của mình, mỗi
đạo sư tự biểu lộ trở lại trong một khối cầu ánh sáng
cầu vồng (thig-le) ở giữa bầu trời, khi ấy đạo sư ban
cho chúc thư cuối cùng cho đệ tử. Ở đây trong sưu tập
những giáo lý để lại sau khi chết được ban cho trong hình
thức một chúc thư cuối cùng của những đạo sư sau :
1.
Tshig gsum gnad du brdeg-pa, “Ba Tuyên Bố Điểm Vào Những Điểm
Thiết Yếu”, của Garab Dorje ;
2.
sGom nyams drug-pa, “Sáu Kinh Nghiệm Thiền Định”, của Manjushrimitra
;
3.
gZen-bu bdum-pa, “Bảy Điểm Quan Trọng”, của Shrisimha ;
4.
bZhags-thabs bzhi, “Bốn Phương Pháp An Trụ Trong Tham Thiền”,
của Jnanasutra.
Phụ
lục gồm một văn bản được cho là của đạo sư Vimala-mitra,
tựa đề là mKhas-pa bimalai zhal-chems, “Chúc Thư Cuối Cùng
của Đạo Sư Uyên Bác Vimalamitra”. Tuy nhiên, vào cuối đời,
đạo sư này không tan biến vào bầu trời, trở thành một
Thân Ánh Sáng, mà có nói rằng sau khi rời Tây Tạng Ngài đến
Ngũ Đài Sơn thiêng liêng ở miền bắc Trung Hoa và ở lại
đó. Ngài không bao giờ chết, mà đã thành tựu Thân Cầu
Vồng của Đại Chuyển Biến, nghĩa là đã trở thành một
Thân Ánh Sáng ngay khi còn sống không đợi đến lúc chết.
Như thế trong Những Chúc Thư chúng ta có đầy đủ tất cả
những đạo sư sơ thời chính yếu của Dzogchen từ Uddiyana
và Ấn Độ, ngoại trừ Guru Padmasambhava. Theo truyền thống
Nyingma, đạo sư này giống như Vimalamitra, cũng thực hiện
Đại Chuyển Biến. Ở đây trong cuốn sách này chúng ta giới
thiệu bản dịch của chúc thư cuối cùng của Garab Dorje ;
những bản văn khác đã được dịch ở đâu đó, và hy vọng
chúng sẽ được xuất bản trong tương lai.
ĐẦU
ĐỀ VĂN BẢN
Ở
đây chứa đựng “Ba Tuyên Bố Điểm Vào những Điểm Thiết
Yếu”, theo đạo sư Prahevajra (Garab Dorje). ÷
Đầu
đề bản văn thứ nhất trong tuyển tập Chúc Thư là Tshig
gsum gnad du brdeg-pa, “Ba Tuyên Bố Điểm Vào những Điểm Thiết
Yếu”. Ba điểm thiết yếu ở đây là cái thấy hiểu, thiền
định và hạnh trong liên hệ với tham thiền, như Ngài Patrul
Rinpoche giải thích ở trên. Prahevajra là một tái dựng của
chữ Tây Tạng Garab Dorje, “kim cương của an lạc tối thượng”.
CẦU
NGUYỆN
NAMO
SHRI GURUVE ÷
Kính
lễ đức tin (lưu xuất từ) sự thấu hiểu trạng thái của
tánh Giác tức thời nội tại của chính mình. ÷
Namo
shri guruve trong tiếng Sanskrit “Kính lễ đạo sư vinh quang”.
Sau đó là một cầu nguyện hay kệ cúng dường, “Kính lễ
đức tin lưu xuất từ sự thấu hiểu trạng thái của tánh
Giác tức thời nội tại của chính mình”. Thường thường,
tôi dịch rig-pa là tánh Giác hay tánh Giác tức thời nội tại
(vốn sẵn). Rig-pa là vidya trong Sanskrit nhưng trong ngữ cảnh
Dzogchen nó có một nghĩa rất đặc biệt, như nghịch lại
với nghĩa trong hệ thống Kinh, ở đó nó thường có nghĩa
là “trí thông minh” như đã chỉ ra ở trước. Tôi dùng
chữ viết hoa rig-pa, “tánh Giác”, để phân biệt với shes-pa,
“tỉnh giác, biết cái gì đó”, và shes-rig, “một tỉnh
giác biết cái gì, một tỉnh giác hiểu biết”. Đức tin
(gdeng) chỉ niềm tin khai triển trong hành giả từ khi được
giới thiệu vào Rig-pa, khi do sự thực hành tham thiền liên
tục, người ta không có nghi ngờ nào nữa về rig-pa. Xin xem
bình giảng của Patrul Rinpoche về tuyên bố thứ ba ở dưới.
VÀO
ĐỀ
Dòng
1 : Về trạng thái của tánh giác tức thời nội tại này,
nó vốn vô sanh và tự hữu [nghĩa là, cách thế hiện hữu
của nó tiêu biểu tinh túy, tinh túy này là Nền Tảng]... ÷
Tánh
Giác Rigpa này, là vô sanh và tự hữu ; nghĩa là, theo chú giải,
cách thế hiện hữu của nó tiêu biểu tinh túy, tinh túy này
là Nền Tảng. Nền Tảng là Trạng Thái Bổn Nguyên, nó là
nguồn và nền của cả kinh nghiệm bình thường lẫn cả giác
ngộ. Nó vốn thanh tịnh vì nó vượt khỏi thời gian và điều
kiện ; nó không bao giờ bị trộn lẫn hay nhiễm ô bởi sanh
tử. Rigpa, trạng thái của tánh Giác tức thời vốn sẵn,
trạng thái của hiện diện thanh tịnh, là chủ đề của giáo
lý cuối cùng này của đạo sư Garab Dorje. Nó là điểm thiết
yếu.
Trong
bản dịch ở đây, những lời, câu trong ngoặc đứng
[
] là những chú giải trong bản văn nguyên gốc Tây Tạng. Chúng
được viết bằng chữ nhỏ và được thêm vào bởi người
xuất bản. Không có những chú giải thêm vào này bản văn
sẽ cực kỳ ngắn ngủn và khó hiểu, như những ghi chú để
ghi nhớ của một sinh viên trong buổi giảng dạy ở đại
học. Phần ở trong ngoặc nhỏ () do tôi thêm vào để dễ
hiểu bản dịch, và điều này theo bình giảng bằng miệng
của Namkhai Norbu Rinpoche.
Dòng
2 : Bất cứ nơi đâu cách nó sanh khởi [những hình tướng
xuất hiện khác nhau] đều không dứt (và không bị ngăn ngại).
÷
Cách
những tình huống bên ngoài tự chúng sanh khởi hay biểu lộ
với thức của cá nhân là khắp nơi, không đoạn dứt, không
ngừng và không bị ngăn ngại. Những tình huống, nghĩa là
bất cứ cái gì sanh khởi bên ngoài đối với giác quan của
chúng ta được nói là khác nhau, đa thù, trong khi Rigpa là đơn
nhất và duy nhất. Điều này đã được chỉ ra trong sáu câu
kệ kim cương của Rig-pa'i khu-byug. Những hình tướng tiêu
biểu trò chơi của năng lực sáng tạo hay tiềm năng không
thể cạn kiệt của tánh Giác. Chúng không phải là “tâm”
như trong cái thấy hiểu Duy Thức, mà hơn nữa chúng là những
biểu lộ của tâm, cái gì tạo dựng bởi tâm từ chất liệu
thô của dữ kiện giác quan.
Dòng
3 : Hơn nữa mọi sự [tất cả mọi hiện tượng] xuất hiện
và hiện hữu, sanh khởi (tự-toàn thiện một cách tự nhiên)
trong trường Pháp thân. ÷
Chữ
“mọi sự” ám chỉ tất cả hiện hữu hiện tượng và
tất cả hiện hữu hiện tượng nghĩa là “bất cứ cái gì
xuất hiện và bất cứ cái gì hiện hữu”. Mọi sự nghĩa
là mọi hiện tượng, và tất cả các pháp này tự sanh khởi,
tự trình diện trong không gian hay trường của Pháp thân. Pháp
thân, chiều kích của tất cả hiện hữu, là bối cảnh của
tất cả các pháp hay hiện tượng. Như thế, nó có thể được
ví với không gian vô hạn của bầu trời, bởi vì nó toàn
khắp và không có biên giới. Sự sanh khởi của những tư
tưởng bên trong và sự sanh khởi của những hình tướng xuất
hiện bên ngoài có thể ví như những đám mây thấy được
trong bầu trời. Không gian hay chiều kích hay cõi giới của
Pháp thân cung cấp chỗ cho mọi biểu lộ có thể của hiện
tượng để sanh khởi mà không có chướng ngại. Như thế,
ý nghĩa cụ thể của Pháp thân (chos-sku, Skt. Dharmakaya), không
phải là “thân”, như Thân Chân Lý hay Thân Pháp, như thường
dịch, mà là chiều kích (sku, Skt. kaya) của tất cả hiện
hữu (chos, Skt. dharma, pháp). Pháp là cái đang hiện hữu, đang
là, “thực tại” ; và bởi thế nó cũng là giáo lý về
cái thực sự hiện hữu. Chữ kaya không chỉ có nghĩa là “thân”
theo nghĩa vật chất bình thường, mà là toàn thể chiều kích
biểu lộ của cá nhân. Dĩ nhiên thân thể là địa điểm
trung ương của chiều kích này, nhưng thân này không chỉ tới
da là hết. Nó không tiêu biểu nhiều một hình thức tĩnh
đọng, như một bức tượng, mà là một tương quan sinh động
giữa cá nhân và môi trường xung quanh. Trong từ ngữ Ba Thân
(Trikaya), Hóa thân liên hệ nhiều hơn đến thân vật lý, Báo
thân đến chiều kích của năng lực của cá nhân biểu lộ
như ánh sáng, và Pháp thân đến chiều kích bản tánh của
tâm thức. Trong ba cái này, Pháp thân là nền của hiện hữu,
chiều kích bao trùm toàn bộ sự sanh khởi và diệt mất của
tất cả những hiện tượng, thậm chí tất cả những vũ
trụ. Từ ngữ sanh khởi (shar-ba) nghĩa là “xuất hiện”,
“biểu lộ” hay “tự trình diện”.
Dòng
4 : Cái sanh khởi (hay biểu lộ) trong đó thì được trực
tiếp giải thoát nhờ [trạng thái của tánh Giác tức thời
(rig-pa)] của chính mình. ÷
Cái
sanh khởi hay biểu lộ trong chiều kích hay bối cảnh của
Pháp thân được giải thoát một cách trực tiếp và tức
thời do sự an trụ của hành giả trong trạng thái tham thiền,
nghĩa là, bởi sự tương tục trong tánh Giác vốn sẵn của
chính mình. Tuy nhiên, những tư tưởng sanh khởi khi cá nhân
ở trong một trạng thái của vô minh (ma rig-pa) thì không tự
giải thoát bởi chúng. Tệ hơn nữa, người ta theo chúng và
trở nên bám luyến và trói buộc vào chúng. Nhưng khi Rigpa
hoàn toàn hiện diện và khi không có can thiệp nào bởi những
tư tưởng phóng dật hay bởi tâm vận hành, những hiện tượng
tự trình diện giải thoát tức thời thành thể trạng bổn
nguyên của tự chúng, đó là tánh Không, không để lại dấu
vết, như mây tan trong bầu trời. Đây là tiến trình của
tự-giải thoát, nó tiêu biểu sự thực hành riêng biệt của
Dzogchen.
Dòng
5 : Về thật nghĩa của điều này : [Tất cả] những trạng
thái của trí huệ hay hiểu biết bất nhị (nó là tánh Giác
bổn nguyên) hiện diện trong lòng chư Thiện Thệ đều được
bao gồm trong cái này (trạng thái đơn nhất duy nhất của
tánh Giác tức thời vốn sẵn trong mỗi chúng sanh). ÷
Tiếp
theo bản văn nói đến thật nghĩa của điều đã nói ở trên.
Thiện Thệ (Sugata), nghĩa đen là “khéo đi” hay “người
đi vào an lạc”, một danh hiệu của Phật. Bản văn nói đến
những Trạng Thái Bổn Nguyên hiện diện trong lòng hay tâm
của tất cả chư Phật của ba thời quá khứ, hiện tại,
tương lai. Trạng Thái Bổn Nguyên này biểu lộ một trí huệ
hay hiểu biết bất nhị (advaya-jnana) như là cái tỉnh giác
bổn nguyên. Nó bất nhị bởi vì nó ở trước và siêu vượt
khỏi sự phân hai chủ thể và đối tượng vây bọc mọi
hoạt động của tâm thức. Tiềm năng cho mọi sắc thái có
thể có của hiểu biết tìm thấy trong trạng thái đơn nhất
và duy nhất của tánh Giác Rigpa, như một tấm gương có tiềm
năng phản chiếu mọi hình ảnh phản chiếu có thể. Tấm
gương này là Pháp thân thường trụ trong lòng của tất cả
chư Phật giác ngộ ; và nó cũng thường trụ trong lòng của
tất cả những chúng sanh chưa giác ngộ. Nó hiện diện trong
cả người giác ngộ lẫn người chưa giác ngộ như là bản
tánh của tâm thức (sems-nyid). Tuy nhiên, một “tấm gương”
chỉ là một ví dụ, bởi vì một tấm gương là một mặt
phẳng hai chiều, trong khi Pháp thân có vô biên chiều kích,
vì nó là nguồn và tạng của mọi biểu lộ có thể. Một
thí dụ tốt hơn, người ta có thể nói đến một tấm gương
pha lê có vô số mặt phản chiếu, như Indrajala, “lưới ngọc
của trời Đế Thích”.
Dòng
6 : Để truyền cảm hứng cho [Manjushrimitra], đang ngã bất
tỉnh (trên mặt đất), Upadesha (hay giáo huấn bí mật) này
gồm “Ba Tuyên Bố Điểm Vào những Điểm Thiết Yếu” (được
phát lộ bởi đạo sư Prahevajra hay Garab Dorje). ÷
Khi
đạo sư thân yêu của mình biến mất, ngài làm tan biến thân
thể ngài vào không gian trống rỗng của bầu trời ngay khi
thực hiện Thân Ánh Sáng, Manjushrimitra rơi vào một cơn ngất
xỉu. Lúc tỉnh lại, đạo sư lại hiện ra, nhưng bây giờ
với hình dạng một đứa trẻ ngồi giữa một khối cầu
ánh sáng cầu vồng. Lúc ấy đạo sư bày tỏ cho đứa con
của lòng mình hay đệ tử chính của mình chúc thư cuối cùng
trong hình thức một Upadesha.
Dòng
7 : Với mục đích xóa sạch mọi ý niệm liên hệ đến hai
cái sanh tử và Niết bàn [nghĩa là, tin rằng cái này hay cái
kia thực sự tự hiện hữu (về phần nó)]… ÷
Bản
văn nói đến việc xóa sạch hay cắt đứt mọi ý niệm về
sanh tử và Niết bàn, nghĩa là, mọi ý niệm về niềm tin
vào thực tại của hai cái đó như là những thực tại tự
hiện hữu hay khách quan.
Dòng
8 : Chúc thư cuối cùng [cực kỳ tuyệt hảo và biểu thị
rõ ràng này], được ban ra vào lúc chết của ngài, cần được
cất dấu kỹ lưỡng (và gìn giữ) trong đáy lòng mình ! ÷
Upadesha
này cần được cất dấu kín trong đáy lòng mình ; sự khuyến
khích được gởi đến cho người nghe hay người đọc.
Dòng
9 : A ÷ [Thật vậy, nó (trạng thái này của tánh Giác tức
thời vốn sẵn) thì vượt trên mọi ý niệm (do trí năng),
là cái gì vô sanh (và không bị điều kiện). ÷
Chú
thích trong bản văn thông tin cho chúng ta rằng Rigpa thì vượt
khỏi những ý niệm và là cái gì không phải được sanh ra.
Nó không được sản sanh bởi tâm thức như những tư tưởng.
Trạng Thái Bổn Nguyên vô sanh này là ý nghĩa của chữ A.
A là nguồn của mọi âm thanh và liên lạc, bởi vì theo âm
vị học Sanskrit, âm thanh này đi theo sự tiếp hợp của mỗi
nguyên âm và phụ âm. Tập trung vào chữ A Tây Tạng màu trắng
là một thực hành quan trọng trong Dzogchen. Trong hệ thống
Tantra, A là biểu tượng của trạng thái tánh Không, nguồn
của tất cả hiện tượng và tạng của tất cả hiện hữu.
Nó là chủng tử tự của Phật Mẫu Vĩ Đại, Bát Nhã Ba La
Mật. Bây giờ vào đề đã hoàn tất, và chúng ta đến nội
dung Ba Tuyên Bố.
BA
TUYÊN BỐ
Dòng
10 : ATI ÷ Về Upadesha này, nó không ngần ngại phát lộ trạng
thái của tánh Giác trực tiếp nội tại (và nó tiêu biểu
khả năng của Trạng Thái Bổn Nguyên, nó là như sau :) ÷
Những
giáo lý Dzogchen cũng được biết là Atiyoga trong chữ này ati
có thể được hiểu là “bổn nguyên” (gdod-ma, Skt. adi).
Thông thường trong những bản văn Dzogchen, chữ ati, để nguyên
không dịch, được dùng như một viết tắt của Atiyoga. Upadesha
này được phát lộ một cách không ngần ngại cho đệ tử,
và ở đây một lần nữa nó chỉ ra rằng chủ đề của toàn
thể giáo lý là Rigpa.
Dòng
11 : Người ta được trực tiếp đưa vào bản tánh thật sự
của chính mình, [vào tự tánh của người ta như là tánh Giác,
nó được phát lộ là hoàn toàn thanh tịnh ; và chính trạng
thái của hiện diện tức thời này được giới thiệu ở
đây, trong cùng cách mà tức giận có thể được giải thoát
bởi tự chính nó]. ÷
Tuyên
bố thứ nhất của Garab Dorje là “người ta được trực
tiếp đưa vào khuôn mặt hay bản tánh của chính mình”, và
bản tánh thật sự của mình chính xác là trạng thái này
của tánh Giác tức thời gọi là Rigpa. Ở đây sự đưa vào
được hoàn thành theo cùng cách như tức giận được tự
giải thoát. Một phiền não mạnh mẽ như tức giận sẽ tan
biến về phần nó vào trong thể trạng bổn nguyên của nó
là tánh Không, nếu không có sự can dự từ phía tâm thức.
Dòng
12 : Người ta trực tiếp xác quyết ngay nơi trạng thái đơn
nhất duy nhất này [(nghĩa là nói, người ta khám phá cho chính
mình) tánh Giác vốn sẵn này, nó tỏ biết mà không có trong
đó bất kỳ nhị nguyên (của chủ thể và đối tượng) nào].
÷
Tuyên
bố thứ hai này của Garab Dorje là “người ta khám phá trực
tiếp (trạng thái) độc nhất này”.
Dòng
13 : (Bấy giờ) người ta trực tiếp tương tục tin vào (tự)
giải thoát [và bởi vì thế, tánh Giác của chính mình (thấy
nó) vốn sẵn giải thoát về phần nó.] ÷
Tuyên
bố thứ ba là “người ta trực tiếp tương tục tin
vào giải thoát”. Hai câu này, xin xem tự bình giảng
của Patrul Rin-poche.
Dòng
14 : Trạng thái hiện hữu của chính mình, [không có một chúng
sanh nào, trong sự tự biểu lộ (của tánh Giác nội tại)
không thấy mình (vốn) giải thoát], và những trạng thái của
những sự vật khác (sống động và không sống động, trong
thế giới bên ngoài), chúng tự trình diện như những hình
tướng xuất hiện bên ngoài, gặp gỡ (nhau) và trở thành
hợp nhất. [Nhưng nơi nào điều này không được thấu hiểu,
mình và những cái khác (cái “ta”, nó là tỉnh giác bên
trong và những “cái khác”, là những hình tướng xuất hiện
bên ngoài, được thấy) sanh khởi trong một cách thức nhị
nguyên (như chủ thể và đối tượng).] ÷
Ở
đây một giải thích thêm được ban cho. Trạng thái hiện
hữu cá nhân của mình có nghĩa là tánh Giác bên trong. Nói
một cách chặt chẽ, tánh Giác bên trong này hiện hữu trước
khi có thức (rnam-shes), bởi vì sự vận hành của thức, như
được định nghĩa trong tâm lý học Phật giáo, thì luôn luôn
nhị nguyên, sự phân hai giữa chủ thể bên trong và khách
thể bên ngoài đi vào biểu hiện. Cái thức này tiêu biểu
một tỉnh giác phóng dật. Nhưng Rigpa vốn là giải thoát ;
như vậy không có một chúng sanh nào, trong sự tự-biểu lộ
của tánh giác này, không thấy mình giải thoát. Tự biểu
lộ (rang-snang) nghĩa là cái gì xuất hiện hay đến chỗ biểu
lộ mà không có một nguyên nhân trước đó. Cái ngược lại
là gzhan-snang, một biểu lộ hay xuất hiện do một cái gì
khác. Trạng thái của tánh giác bên trong tự biểu lộ này
ngược với những trạng thái của những sự vật khác, sống
động lẫn vô tri, chúng tự trình diện với tỉnh giác như
những hình tướng ở thế giới bên ngoài.
Ở
đây bản văn nói trong bối cảnh tham thiền hơn là thức lan
man bình thường. Trong trạng thái tham thiền, hai cái này, tỉnh
giác bên trong và hình tướng bên ngoài gặp gỡ nhau, theo cách
này hay cách khác tùy theo sự cấu tạo vật lý của các giác
quan, và chúng trở nên hợp nhất. Nhưng khi nào tiến trình
này không được thấu hiểu, tỉnh giác bên trong và những
hình tướng bên ngoài sanh khởi lên theo cách nhị nguyên chủ
thể và đối tượng.
Dòng
15 : [Upadesha đơn nhất này cho tự-giải thoát trực tiếp (những
tư tưởng và những hình tướng) là độc nhất, và cái ngược
lại thì không có ; chỉ một mình nó là đủ (cho giải thoát).]
÷
TUYÊN
BỐ THỨ NHẤT
Dòng
16 : ATI ÷ Bất cứ cái gì sanh khởi hay xuất hiện (như những
hiện tượng bên ngoài) chỉ là trạng thái hiện hữu của
chính mình (biểu lộ). [Lìa ngoài hệ thống những hiện tượng
được tổ chức và cấu kết này, nó vốn không hiện hữu
(thật sự), người ta không nắm bắt được cái gì cả.]
Do toàn thể tính của năng lực (hay khả năng) bẩm sinh của
nó, [bởi vì nó (tánh giác Rigpa) hài hòa với nhiều loại
sự vật khác nhau (sanh khởi), nó cho phép nhiều loại (hiện
tượng) giải thoát (tự chúng), và bởi thế, không có đối
trị nào khác.] ÷
Bây
giờ ba tuyên bố được đề cập chi tiết hơn, bắt đầu
với tuyên bố thứ nhất, sự đưa vào trực tiếp. Trong sự
khảo sát tỉ mỉ ba tuyên bố sau đây, sự trình bày bao gồm
những quan điểm của Thekchod và Thodgal.(1) Hai quan điểm này
được hòa nhập và được xử lý cùng nhau, thay vì xử lý
tách riêng như trong truyền thống Terma về sau này. Như một
thí dụ của truyền thống về sau, xin xem Khrid-yig ye-shes blama
nổi tiếng của Jigmed Lingpa, mà tôi đã dịch ở chỗ khác,
trong đó Rushan, Thekchod, Thodgal và Bardo được nghiên cứu tách
biệt.
Bất
cứ cái gì khởi sanh, xuất hiện như hiện tượng bên ngoài
cá nhân, chỉ là trạng thái hiện hữu bên trong của chính
mình biểu lộ như bên ngoài, nghĩa là, nó chỉ là tiềm năng
hay năng lực sáng tạo của tánh Giác, trở thành thấy được
cho cá nhân. Lìa ngoài hệ thống những hiện tượng được
tổ chức này, không có cái gì thực sự hiện hữu. Nó chỉ
sự phóng chiếu của tiềm năng của tánh Giác, và người
ta sẽ tìm thấy, sau sự nghiên tầm triệt để, không có cái
gì cứng chắc, có chất thể hay có thực trong đó. Không có
sự vật tự thân, có thực hay hiện hữu nội tại, nằm ở
đâu đó đàng sau tiền sảnh thấy được của những hiện
tượng. Những hiện tượng này biểu lộ tự phát trong không
gian trống không như một phóng chiếu điện ảnh hay một giao
thoa của những tia la-de. Sự biểu lộ của những hiện tượng
là một phóng chiếu của năng lực (rtsal) của tâm thức, một
màn trình diễn những bóng dáng phóng chiếu vào không gian
; nhưng cõi giới bao la của không gian (klong) thì bản thân
nó trống không và vô hạn. Sự biểu lộ của những hiện
tượng giống như tia sáng mặt trời được khúc xạ qua một
viên pha lê trong suốt, bấy giờ nó xuất hiện như những
cầu vồng trên vách. Tuy nhiên, tâm thức không có khả năng
bẩm sinh tổ chức và cấu kết những kinh nghiệm giác quan
này, thế nên bản văn nói đến một hệ thống những hiện
tượng được tổ chức ; nhưng cơ cấu này, dù người ta
lầm lẫn cho nó là một thực tại khách quan, thực ra là không
có hiện hữu nội tại. Nó không phải là cái gì độc lập
với tâm thức, nhưng mặt khác, nó không phải được cấu
tạo bởi tâm thức theo nghĩa một tưởng tượng thuần túy
chủ quan. Hơn nữa, có một tiến trình riêng biệt vận hành
ở đây, bao gồm những nhân và duyên phụ về mặt vô minh.
Chỉ về mặt giác ngộ thì tự do vốn sẵn mới thực hiện
được.
Tịnh
Quang của Pháp thân trụ trong lòng của cá nhân từ vô thủy.
Lòng (tsit ta) có thể được ví như một đèn lồng kỳ ảo,
một loại máy phóng chiếu điện ảnh lúc sơ thời. Tất cả
những hình ảnh có thể đều hiện hữu tiềm ẩn trong ánh
sáng bổn nguyên của tánh Giác vốn sẵn. Rồi ánh sáng, như
là năng lực của tánh Giác, được dẫn vào kinh, qua dây thần
kinh Kati đến hai mắt ; hai mắt này có tác dụng như thấu
kính đôi của một máy phóng chiếu, và những hình ảnh được
phóng vào không gian như những hình ba chiều. Những hình ảnh
này trong bản chất rốt ráo là trống không và không có chất
thể, nhưng ở mức độ tương đối, chúng có một loại thực
tại hiện hình, hầu như huyễn thuật, như một ảo ảnh trong
sa mạc hay trò ảo thuật trên sân khấu. Sự xuất hiện xem
ra có vẻ thực, nhưng không phải thế. Chúng ta không nói “duy
tâm thức” ở đây, học thuyết Duy Tâm Thức, mà nói đến
hoạt động và khả năng của năng lực. Những hình ảnh hay
hình tướng này được phóng chiếu vào không gian không phải
là tâm thức, mà là những biểu lộ của tâm thức. Tuy nhiên
những biểu lộ này không độc lập với tâm thức. Nếu tâm
thức và những giác quan được trong sạch, bấy giờ cá nhân
sẽ tri giác thế giới với cái nhìn thấy thanh tịnh, người
ta sẽ tri giác nó như là chiều kích thanh tịnh của mạn đà
la. Nhưng nếu tâm thức, cái tỉnh giác bên trong của người
ta, vẫn còn bị che phủ bởi những lớp che ám, những che
ám này sẽ làm méo mó cái nhìn thấy của người ta và người
ta tri giác thế giới với cái nhìn thấy bất tịnh do nghiệp.
Người ta sẽ tri giác thế giới như một chúng sanh vô minh
bình thường, một chúng sanh còn sống trong những chiều kích
của sáu nẻo tái sanh. Như thế, trong Dzogchen, không phải là
một trường hợp chuyển hóa một loại cái nhìn thấy thành
một cái khác, như hành giả làm trong Tantra. Hơn thế nữa,
người ta làm cho mình trong sạch bằng cách đi vào trạng thái
tham thiền, nó nằm trên mọi điều kiện hóa của nghiệp,
và rồi cái nhìn thấy biểu lộ một cách tự phát. Đó là
tại sao người ta phải làm chủ trọn vẹn Thekchod trước
khi thực hành Thodgal. Nếu khác đi, thì do những thói quen nghiệp
báo nặng nề từ quá khứ lâu xa vô thủy, những cái nhìn
thấy bất tịnh thuộc nghiệp sẽ tái xuất hiện và người
ta lại thấy mình một lần nữa bị nhốt vào vòng sanh tử.
Do
khả năng (hay quyền lực) bẩm sinh, tánh Giác – trạng thái
tự nhiên của hiện hữu của chính mình – sẵn sàng cho phép
sự sanh khởi của nhiều loại hình tướng xuất hiện này,
chúng tự giải thoát bởi chính chúng, bởi vì tánh Giác luôn
luôn hòa hợp với bản tánh của chúng mà không đối nghịch.
Những hình tướng và tánh Giác hiện hữu trong một trạng
thái hợp nhất hoan hỷ an vui, thế nên giải thoát là vốn
sẵn và tự nhiên. Bởi thế, những đối trị khác không hiện
hữu hoặc không cần đến. Đây là điều ngược với thực
hành thiền định của hệ thống Kinh, thường dùng những
cái đối trị. Những cái đối trị như vậy tiêu biểu việc
làm của tâm thức. Nhưng trong Dzogchen, thiền giả không cố
gắng ngăn chặn những tư tưởng hay cầu viện những đối
trị chống lại chúng. Trạng thái của tánh Giác tức thời
và hiện tại là cái đối trị duy nhất, phương thuốc trị
mọi bệnh hoạn. Trong trạng thái tham thiền này, mọi sự
được hòa nhập với sự hiện diện này của tánh Giác, như
vậy sự chú trọng không phải nằm nơi Hai Chân Lý, Chân Lý
Tương Đối và Chân Lý Tuyệt Đối, như trong hệ thống Kinh.
Chỉ có một chân lý độc nhất, duy nhất là Trạng Thái Bổn
Nguyên trong đó những hình tướng và tánh Không không thể
tách lìa.
Dòng
17 : (Đúng hơn, một hiện tượng) đến chỗ gặp gỡ tự
tánh (hay khuôn mặt) của nó. Một cách trực tiếp [như, chẳng
hạn, khi người ta gặp một người khác cùng quê ở một
xứ sở (ngoại quốc) nơi có một ngôn ngữ khác, (tức thời
họ nhận ra và) biết nhau ; trong cùng cách như vậy, (bản
thân) tức giận được giải thoát bằng cách được nhận
ra như là tức giận]. ÷
Ở
đây bản văn lại đề cập tới sự thực hành Thodgal (xem
ở dưới, dòng 30). Những cái nhìn thấy này, dù chúng tiêu
biểu cái nhìn thấy thanh tịnh (Niết bàn) hay cái nhìn thấy
bất tịnh thuộc nghiệp (sanh tử), đều là những biểu lộ
thấy được của năng lực của trạng thái tánh Giác. Như
vậy, trong trạng thái tham thiền những cái nhìn thấy hay hiện
tượng này, chính chúng và không có cái nào khác, đến chỗ
gặp gỡ chính chúng, giống như nhìn thấy mặt mình trong một
tấm gương, hay như người cùng quê gặp nhau nơi một xứ
sở ngoại quốc. Chúng tức thời nhận biết nhau. Đây là
khoảnh khắc tự-nhận biết, và ngay khoảnh khắc đó, chúng
tự giải thoát. Tánh Giác là tấm gương của tỉnh giác để
ở trước mọi sự vật, đến độ ở bất cứ nơi đâu,
trong mọi hoàn cảnh, trong mỗi biến cố xảy ra, luôn luôn
hiện hữu cái tự-nhận biết này. Đó cũng giống như tấm
lưới vĩ đại của Đế Thích làm bằng những chuỗi tấm
gương liên kết nhau, trong đó mỗi tấm gương phản chiếu
mọi tấm gương khác. Trong huyền thoại Ấn Độ, Đế Thích,
vua của chư thiên, có người thợ thủ công cõi trời Vishvakarman
làm ra một mạng lưới những tấm gương cho lâu đài Vijayanti
ở trên đỉnh núi Tu Di. Trong tấm lưới Đế Thích này, mỗi
sự việc xảy ra trong vũ trụ phản chiếu mỗi sự việc khác.
Tuy nhiên, trong Dzogchen, tánh Giác là độc nhất, và những
cái biết thì nhân rộng không giới hạn.
Như
việc này áp dụng cho sự sanh khởi của những hình tướng
bên ngoài, cũng áp dụng như thế cho sự sanh khởi của những
tư tưởng bên trong, chẳng hạn những phiền não. Tức giận
được tự giải thoát bằng cách được nhận biết như là
tức giận. Trong tấm gương của tánh Giác, tức giận tự
nhận biết chính nó là tức giận, và năng lực của nó tức
thời tan biến. Ở đây phương pháp là gcer-grol, giải thoát
qua sự chú ý hay nhận biết đơn thuần.
Dòng
18 : (Khi tìm kiếm) Mẹ (của nó, đó là cỗi nguồn của nó),
cái biết (cái hiểu biết của cái nhìn thấy hay của những
hiện tượng) trực tiếp gặp gỡ Mẹ của chính nó, [(nghĩa
là,) bản thân cái nhìn thấy là (tự) giải thoát nhờ cái
nhìn thấy ; như bơ chảy lỏng tan vào trong bơ.] ÷
Khi
tìm kiếm Mẹ của nó (ma), cỗi nguồn ánh sáng đã sanh ra
nó, cái biết (ye-shes, hiểu biết) của cái nhìn thấy (hay
những hiện tượng) trực tiếp gặp gỡ Mẹ của chính nó,
đó là Trạng Thái Bổn Nguyên của Tịnh Quang của Nền Tảng.
Giống như một tia sáng mặt trời, như ánh sáng (ye-shes) hòa
tan trong ánh sáng ('od-gsal). Mọi hiện tượng có thể thấy
được giải thoát trong ánh sáng này của tánh Giác. Thế nên,
bản thân cái nhìn thấy tự-giải thoát bằng cái nhìn thấy.
Chỉ bằng cái nhìn đầu tiên vào hình ảnh phản chiếu của
mình trong gương mà người ta khám phá ra tấm gương.
Dòng
19 : (Tìm kiếm Con,) Con (nó là cái biết hay cái tỉnh giác
nguyên sơ này) gặp gỡ chính nó một cách trực tiếp. ÷
Con
(bu), nó là cái biết thuộc về cá nhân hay tỉnh giác nguyên
sơ về những hiện tượng giác quan thì hiện hữu trước
khi tâm thức đi vào hiện hành, Con này đứng trần trụi trong
sự hiện diện của tham thiền, trạng thái của Rigpa. Đó
giống như thấy chính mình phản chiếu trong một tấm gương.
Tấm gương này là Mẹ, Bồ đề tâm hay Trạng Thái Bổn Nguyên
của giác ngộ. Con là một cái biết, một khoảnh khắc cá
nhân của tỉnh giác hay hiểu biết nguyên sơ. Đối với cá
nhân có nhiều cái biết như thế, nhưng tất cả chúng đều
là con của một Mẹ độc nhất. Có nhiều cái biết và chỉ
có một Rigpa, nhưng bản tánh của chúng là đồng nhất.
Dòng
20 : [Bản thân tánh Giác (tự) giải thoát nhờ tánh Giác, như
nước hòa tan trong nước.] ÷
Dòng
21 : (Khi tìm kiếm) trạng thái duy nhất này, người ta gặp
gỡ trạng thái duy nhất của chính mình. ÷
Khi
tìm kiếm trạng thái duy nhất này, nó là Rigpa, người ta gặp
gỡ trực tiếp trạng thái duy nhất. Đây là trường hợp
khi người ta khám phá trạng thái duy nhất của tánh Giác trong
vô số kinh nghiệm khác nhau.
Dòng
22 : [Tự tánh người ta (đơn giản) gặp gỡ chính nó ; nhưng
tinh túy của nó siêu vượt mọi diễn tả ; nó giống như
không gian tan vào không gian hay như ba vòng cuộn của một con
rắn mở thoát chính chúng một cách tự phát.] ÷
Tự
tánh hay khuôn mặt xưa nay của người ta gặp gỡ chính nó.
Khi người ta mặt đối mặt với chính mình, đó cũng giống
như nhìn chính mình trong một tấm gương và rồi khám phá
rằng người ta chính là tấm gương. Đây là tinh túy của
người ta, nó là trạng thái của tánh Không, tương đương
với bản tánh của tấm gương, và tinh túy này siêu vượt
mọi diễn tả bằng lời. Kinh nghiệm hợp nhất này giống
như hư không tan vào hư không. Hư không (hay không gian) bên
trong của tánh Giác bên trong và hư không bên ngoài, nó là
chiều kích trong đó những hình tướng hay những cái nhìn
thấy biểu lộ, cả hai hòa nhập và được chứng ngộ là
đồng nhất. Thí dụ như khi cái bình sứ bị vỡ, thì không
còn hai không gian, không gian trong bình và không gian ngoài bình,
mà chỉ một không gian hay chiều kích. Tuy nhiên không gian chẳng
biến đổi chút nào. Cái bình sứ tiêu biểu các uẩn, hiện
hữu giới hạn của cá nhân do nghiệp riêng. Tiến trình tự
giải thoát này có thể được so sánh với ba vòng cuộn tròn
của một con rắn tự cởi thoát một lần.
Dòng
23 : Trạng thái đơn nhất và duy nhất này của tánh Giác tức
thời chỉ có thể tìm thấy trong chính mình. ÷
Trạng
thái duy nhất của Rigpa chỉ tìm thấy được trong chính mình,
nói theo nghĩa đen là, “nối kết với chính mình”.
Dòng
24 : Nếu như vậy, bấy giờ khi người ta biết (hay nhận biết
tinh túy của chính mình), mọi sự cùng đồng thời được
đưa vào trong một khoảnh khắc đơn nhất (hay một niệm đơn
nhất), trong đó hiện diện một tỉnh giác nguyên sơ (cái
hay biết) nó không vượt khỏi (cái hiểu biết của) tinh túy
đơn nhất duy nhất này. [Điều này cũng giống như một người
đàn ông và một người đàn bà đang yêu nhau và (bí mật)
gặp nhau nơi vắng vẻ.] ÷
Tinh
túy là tánh Không, thể trạng của bản tánh của tấm gương.
Nếu người ta biết hay nhận biết tinh túy của mình, nghĩa
là nếu người ta biết rằng người ta là tấm gương, bấy
giờ mọi sự cùng đồng thời đến một khoảnh khắc đơn
nhất. Trong thể trạng này, người ta siêu vượt thời gian,
vì thời gian là cái gì do tâm thức tạo ra và chỉ hiện hữu
theo những phản chiếu, chứ không có trong thể trạng của
bản thân tấm gương. Thể trạng không có thời gian này là
một thời gian thứ tư vượt khỏi ba thời quá khứ, hiện
tại, tương lai ; nó là “thời gian vĩ đại” là bối cảnh
hay chiều kích chứa đựng một lúc cả ba thời kia. Trong thể
trạng này, khi là tấm gương mà không phải là những bóng
dáng phản chiếu, tương tục hiện diện một cái biết hay
tỉnh giác nguyên sơ (ye-shes). Cái tỉnh giác nguyên sơ này
không vượt khỏi sự thấu biết chỉ cái tinh túy duy nhất
và đơn nhất ấy. Do khám phá chỉ một kinh nghiệm đơn nhất
về trạng thái của tánh Giác tức thời này, người ta khám
phá toàn bộ vũ trụ. Do biết chỉ một hiện tượng hay pháp
đơn nhất này, trong đó Rigpa hiện diện, bấy giờ người
ta biết tất cả các pháp. Biết cái một này tức là biết
tất cả. Dù những hiện tượng có sai khác vô tận, trạng
thái này của tánh Giác tức thời là đơn nhất. Nó là tấm
gương đơn nhất phản chiếu tất cả sự việc. Không có
cái biết duy nhất nào khác, nó là rig-pa'i ye-shes, cái hiểu
biết của trạng thái tánh Giác tức thời vốn sẵn. Và điều
này giống như hai kẻ yêu nhau gặp nhau nơi chỗ bí mật.
Dòng
25 : Bản thân trạng thái đơn nhất và duy nhất này chỉ tìm
thấy được trong chính mình. ÷
Trạng
thái đơn nhất duy nhất này nghĩa là rig-pa'i ye-shes, cái hiểu
biết của trạng thái tánh Giác.
Dòng
26 : Dù những hình tướng có sai khác nhau, vẫn hiện hữu
một cái hiểu biết chung, hay cái tỉnh giác nguyên sơ, trong
đó những khác biệt này được tự giải thoát bởi chính
những khác biệt này. [(Một cái biết như vậy) giống như
cắt xuyên qua cái nút chính yếu độc nhất, và nhờ đó cắt
đứt tất cả một trăm sợi làm thành dây thừng.] ÷
Những
hình tướng bên ngoài và sai khác vô tận, nhưng Rigpa là độc
nhất và đơn nhất. Nó là một hiểu biết nền tảng hay cái
tỉnh giác nguyên sơ, trong đó những hiện tượng đa thù này
tự giải thoát nhờ chính sự sanh khởi của chúng như là
những hiện tượng sai khác. Rigpa là cây kiếm cắt đứt lập
tức mối thắt nút của những hình tướng.
Dòng
27 : Sự giải thoát độc nhất này chỉ có thể tìm thấy
trong chính mình. ÷
Dòng
28 : [Bởi vì (cái biết này) là tự biểu lộ, nó là một
hiểu biết hay tỉnh giác nguyên sơ mà không thể có được
ở đâu khác (ngoài bên trong mình). (Tự giải thoát chính là
bản thân cái tỉnh giác nguyên sơ đó.] ÷
Cách
thức giải thoát độc nhất này chỉ tìm thấy trong chính
mình. Cái hiểu biết trạng thái tánh Giác này là tự-biểu
lộ ; nó là một tỉnh giác nguyên sơ không thể tìm ở đâu
khác ngoài chính mình.
Dòng
29 : [Chẳng hạn, đó giống như đi vào một thành phố lớn
độc nhất nằm ở cuối hàng trăm hay hàng ngàn con đường.]
÷
Tất
cả những con đường tâm linh khác nhau thuộc những thừa
khác nhau đi đến giác ngộ quy về cùng một mục đích ; mọi
đường đều dẫn đến thành phố của giải thoát. Như vậy,
chúng ta được đưa vào bản tánh của chính chúng ta, nó là
tánh Giác vốn sẵn, và ở đây kết thúc tuyên bố thứ nhất.
TUYÊN
BỐ THỨ HAI
Dòng
30 : (Trong trạng thái của tánh Giác tức thời) người ta trực
tiếp khám phá rằng mọi cái nhìn thấy sau cùng của người
ta (nghĩa là, những khối cầu nhỏ ánh sáng cầu vồng mà
người ta thấy trong thực hành) thực ra khởi sanh từ bên
trong chính mình. ÷
Tuyên
bố thứ nhất chủ yếu liên hệ với Nền Tảng, đó là lãnh
vực của Thekchod, nhưng trong tuyên bố thứ hai sự nhấn mạnh
bây giờ là Con Đường, tiêu biểu bởi thực hành Thodgal.
“Những cái nhìn thấy sau cùng” hay “cái xuất hiện sau
cùng” là những quả cầu nhỏ ánh sáng cầu vồng (thig-le,
Skt. bindu) thường xâu với nhau thành những chuỗi kim cương
và thành những kiểu cách khác, chúng xuất hiện với cái
nhìn của người ta một cách tự phát trong thực hành Thodgal.
Chính những cái nhìn thấy thig-le này được phát triển trong
bốn giai đoạn của sự nhìn thấy tiêu biểu cùng đích của
con đường. Vượt trên những giai đoạn của sự nhìn thấy
này là sự chứng đắc Thân Ánh Sáng Cầu Vồng. Vì lý do
này chúng được gọi là những cái nhìn thấy sau cùng. Sự
thực hành tham thiền luôn luôn hòa nhập với bốn giai đoạn
của sự nhìn thấy này :(2)
1.
cái nhìn thấy của tri giác trực tiếp về Thực Tại,
2.
cái nhìn thấy của sự khai triển những kinh nghiệm,
3.
cái nhìn thấy của sự tăng thêm đến đến mức độ tròn
đủ của tánh Giác,
4.
cái nhìn thấy của sự hoàn tất hay kiệt tận của Thực
Tại.
Trong
khi thực hành Thodgal với ánh sáng mặt trời, thig-le hay những
quả cầu nhỏ ánh sáng cầu vồng, biểu lộ trong giai đoạn
thứ nhất ở trên. Trong trạng thái tự nhiên của mình như
là những hành giả, nghĩa là trong trạng thái tham thiền người
ta xác quyết đích thật những cái nhìn thấy sau cùng về
thig-le và vân vân này, thực sự phát sanh từ bên trong mình,
dù chúng có vẻ ở không gian bên ngoài như những phóng chiếu.
Chúng là những biểu lộ của tiềm năng hay ánh sáng bên trong
của chính mình.
Mọi
sự sanh khởi như những hiện tượng biểu lộ, gồm những
âm thanh, ánh sáng và tia sáng, dù là cái nhìn thấy thanh tịnh
hay là cái nhìn thấy bất tịnh thuộc nghiệp, đều là phần
của tiềm năng của chính mình, sự biểu lộ của năng lực
của tánh Giác vốn sẵn của chính mình trong không gian bên
ngoài. Năng lực này, trong hình thức ánh sáng, phát xuất từ
trái tim của cá nhân. Thế nghĩa là, quang minh trong sáng bẩm
sinh hay tự-sáng soi của Trạng Thái Bổn Nguyên của chính
mình, dù ở khắp trong thân thể, chủ yếu trú ở trái tim
vật chất. Từ không gian bên trong hay khoảng trống trong tim,
ánh sáng bên trong này (nang 'od, Skt. antarajyotih) tiến lên trên
qua một kinh mạch sáng mờ gọi là Kati, hay dây thần kinh trắng
và phẳng, và rồi ra khỏi thân thể bằng cửa của hai mắt
vật chất. Quang minh bên trong này, phóng chiếu ra ngoài trái
tim, biểu lộ trong không gian bên ngoài như là những cái gì
bề ngoài có vẻ thực và có chất thể, như phim chiếu trên
một màn hình vĩ đại bao quanh cá nhân khắp mọi mặt. Bấy
giờ người ta trở nên lạc mất trong trò trình diễn hấp
dẫn này, như khi bị giam cầm trong một giấc mộng, nơi mọi
sự có vẻ khách quan, cứng chắc và có thật. Tuy nhiên, tấm
màn trên đó màn trình diễn bóng dáng này được phóng chiếu
không phải là một bức tường cứng đặc nào đó, mà chỉ
là không gian trống rỗng, chiều kích của tất cả hiện hữu.
Mọi sự được tri giác trong chiều kích rỗng rang này chỉ
là màn trình diễn ánh sáng của tánh Giác, giống như sự
phóng chiếu của một đèn lồng kéo quân. Cá nhân, không biết
về thật tánh của điều mà người đó thấy như là thế
giới bên ngoài, lang thang đây đó những vòng quanh quẩn, lạc
lõng trong sự phóng chiếu này như trong một mê cung không lối
ra. Như vậy, người ta đến chỗ sống trong những phóng chiếu
của người ta mà không phải trong cội nguồn của chúng. Tiến
trình phóng chiếu này được diễn tả theo sáu ánh sáng hay
ngọn đèn :
1.
ngọn đèn của chiều kích của tánh Giác,
2.
ngọn đèn của trái tim vật chất,
3.
ngọn đèn của dây thần kinh trắng và phẳng,
4.
ngọn đèn của nước (con mắt giống như quả cầu) nó nắm
bắt mọi sự ở một khoảng cách,
5.
ngọn đèn của những quả cầu nhỏ trống rỗng bằng ánh
sáng,
6.
ngọn đèn của trí huệ tự-phát sanh.
Như
vậy, cái có vẻ biểu lộ ngoài cá nhân trong không gian bên
ngoài thực sự là cái hiện hữu bên trong mình trong không
gian bên trong của cá nhân. Trong thực hành Thodgal, người ta
khám phá ánh sáng tự-phát sanh bên trong của chiều kích của
tánh Giác trú trong khoảng trống của trái tim vật chất giống
như một ngọn đèn cháy sáng trong một cái bình trống. Ánh
sáng này tiến lên kinh mạch sáng mờ và được phóng chiếu
qua hai mắt vào không gian bên ngoài. Bấy giờ ánh sáng này
biểu lộ thành những quả cầu nhỏ bằng ánh sáng (thig-le)
hay thành chuỗi kim cương và v.v... Với thực hành liên tục,
những không gian bên trong những quả cầu nhỏ trống rỗng
này mở ra và phát triển một cách tự phát như những phần
nhỏ, và cuối cùng người ta đến chỗ có những cái thấy
bên trong chúng mà rốt ráo gồm những cái nhìn thấy chư Phật
và các cõi Phật. Như vậy, người ta nói đến sáu ngọn đèn.
Nếu người ta đã tịnh hóa những che ám và khuynh hướng
nghiệp nhờ thực hành tham thiền, bấy giờ những cái nhìn
thấy sẽ thanh tịnh và người ta sẽ thấy những cõi Phật
thanh tịnh trong những quả cầu nhỏ ánh sáng cầu vồng trong
không gian bên ngoài. Nhưng nếu tâm thức còn bị che ám, bấy
giờ những cái nhìn thấy sẽ là cái nhìn thấy bất tịnh
thuộc nghiệp của sáu nẻo luân hồi. Phải hiểu rằng Thodgal
không phải là một tiến trình chuyển hóa, chuyển hóa từ
cái bất tịnh sang cái thanh tịnh nhờ tiến trình quán tưởng
được dùng trong Sadhana của Tantra. Quán tưởng được tiến
hành bởi tâm thức, trong khi hành giả Thodgal thấy mình trong
tham thiền, một trạng thái vượt khỏi tâm thức. Những cái
nhìn thấy sanh khởi tự phát và không cố gắng về phần
chúng, khi thiền giả thực hành với ánh sáng mặt trời hoặc
với bầu trời trong sáng trống không, hoặc với toàn bộ
bóng tối của chỗ ẩn cư tối tăm. Theo cách này không gian
bên ngoài của bầu trời, nơi thig-le hay những hiện tượng
ánh sáng khác xuất hiện, và không gian bên trong của tánh
Giác trở thành hòa nhập. Cuối cùng, cái bình đất sét bị
vỡ tan, và không còn khác biệt nào giữa không gian trong bình
và không gian ngoài bình. Nhưng người ta phải hiểu rằng những
hiện tượng ánh sáng và những cái nhìn thấy biểu lộ tự
phát trong bầu trời này chỉ là những phóng chiếu vào không
gian bên ngoài của Ánh Sáng Bổn Nguyên bên trong của chính
mình. Mục tiêu của thực hành Thodgal này là hợp nhất với
ánh sáng này, nó dù có vẻ biểu lộ ở ngoài cá nhân, thật
sự là ở bên trong. Ánh sáng này là sự sáng chiếu rực rỡ
bẩm sinh của Trạng Thái Bổn Nguyên của chính mình, Tịnh
Quang của Nền Tảng, ở đây biểu lộ như Tịnh Quang của
Con Đường.
Nhưng
trước khi người ta có thể thực hành Thodgal, trước tiên
người ta phải tịnh hóa hai che chướng (phiền não chướng
và sở tri chướng) và thông thạo trạng thái tham thiền nhờ
thực hành Thekchod, một sự giải phóng hay một sự cắt đứt
mọi căng thẳng và khô cứng của người ta. Nếu người ta
không hoàn thiện trước Thekchod như một tiền đề tuyệt
đối cần thiết, bấy giờ thực hành Thodgal sẽ không hơn
gì xem một màn xi nê. Dù người ta thực hành Thodgal không
phải trong trạng thái của thức bình thường mà trong trạng
thái tham thiền, thì bao giờ cũng có mối hiểm nguy là người
ta bám luyến vào những cái nhìn thấy đang sanh khởi. Trong
trường hợp này cá nhân lại rơi vào thế giới giấc mộng
của sanh tử và bị nhốt trở lại trong lưu chuyển luân hồi.
Dù cho mục đích tối hậu của Thodgal là sự thực hiện Thân
Ánh Sáng Cầu Vồng, nó đưa cá nhân vượt khỏi sanh tử,
sự thực hành nó cũng là một chuẩn bị tuyệt hảo cho những
kinh nghiệm sau khi chết của Bardo, nơi những cái nhìn thấy
biểu lộ tự phát với thức đã không còn thân của người
ta. Những cái nhìn thấy này là những kết quả của những
dấu vết nghiệp quá khứ. Trở nên bị bắt giam lần nữa
vào những cái nhìn thấy mê cung này, người ta đi vào tái
sanh tương lai trong một lần nhập thân mới. Nhưng cũng ở
đây, có khả năng cho giải thoát nhờ nhận biết Tịnh Quang
của Trạng Thái Bổn Nguyên của mình.
Dòng
31 : Tương tự, bởi vì người ta nhận biết tự tánh của
mình bởi chính mình (nghĩa là, người ta ở trong trạng thái
tham thiền), bấy giờ nó (tánh Giác này) không có bất kỳ
nhị nguyên nào với vô minh (được xem là sự vắng mặt của
tánh Giác). Chẳng hạn, dù một người được gọi từ những
hướng khác nhau bằng nhiều tên khác nhau, nhưng nó vẫn sẽ
đến ; và những cái này (nhiều tên khác nhau) không vượt
khỏi nghĩa độc nhất (nó chính là bản thân cá nhân). ÷
Do
ở trong trạng thái tham thiền, tức là trong tánh Giác, người
ta đến chỗ nhận biết tự tánh của mình, nó chính là tánh
Giác. Và khi thực hành Thodgal, những cái nhìn thấy thig-le
và v.v... sanh khởi đều được nhận biết là những biểu
lộ hay phóng chiếu của bản tánh của tâm thức mình. Giống
như nhìn thấy sự phản chiếu của khuôn mặt mình trong một
tấm gương và nhận biết nó như vậy. Bấy giờ tánh Giác
Rigpa được kinh nghiệm không có bất kỳ nhị nguyên chủ
thể và đối tượng nào, và thể trạng này được phân biệt
một cách quy ước với vô minh (ma rig-pa). Trong những tình
trạng bình thường của cuộc sống hàng ngày, vô minh được
kinh nghiệm như cái nhìn thấy bất tịnh thuộc nghiệp của
sanh tử. Tuy nhiên, khi người ta ở trong trạng thái tham thiền
và nhận biết bản tánh đích thực của người ta là Trạng
Thái Bổn Nguyên, không còn phân biệt nào nữa giữa cái nhìn
thấy bất tịnh (sanh tử) và cái nhìn thấy thanh tịnh (Niết
Bàn). Tấm gương phản chiếu bất cứ cái gì đặt trước
nó, dù xấu hay đẹp, và những phản chiếu này không làm
sao ảnh hưởng hay biến đổi bản tánh của gương. Cùng cách
như vậy, bất cứ cái gì khởi sanh trước bản tánh của
tấm gương, dù cái nhìn thấy thanh tịnh là Niết Bàn hay cái
nhìn thấy bất tịnh thuộc nghiệp là sanh tử, thể trạng
bổn nguyên của bản tánh tấm gương vẫn không biến đổi.
Chỉ có Nền Tảng Bổn Nguyên đơn nhất này, nhưng hiện hữu
hai Con Đường : cái nhìn thấy thanh tịnh Niết Bàn trong ánh
sáng của tánh Giác và cái nhìn thấy bất tịnh sanh tử trong
bóng tối của vô minh. Và hai Con Đường này dẫn đến hai
kết quả hay Quả : sự giác ngộ của một vị Phật và mê
lầm của một chúng sanh bình thường. Nhưng một khi đã chứng
ngộ Nền Tảng, người ta có thể xem cả hai viễn cảnh một
cách bình đẳng, thản nhiên. Dù nếu những cái thấy bất
tịnh thuộc nghiệp có sanh khởi như trong trường hợp Sidpa
Bardo, sự việc này sẽ không cách gì ngăn chặn, giới hạn
hay làm nhiễm ô tánh Giác tức thời vốn sẵn. Trong nghĩa
này, người ta có thể nói rằng tánh Giác và vô minh là không
có nhị nguyên nào, là bất nhị.
Trong
trạng thái thấu hiểu chân thật này, nơi người ta nhận
biết khuôn mặt bổn nguyên hay thật tánh của mình, người
ta hòa nhập không nhận lấy hay chối bỏ bất kỳ cái gì,
với những cái nhìn thấy sau cùng này chúng biểu lộ tự
nhiên trong thig-le. Trong Dzogchen, khác với Tantra, người ta thiền
định với đôi mắt mở bởi vì không có sự cân nhắc cái
nhìn thấy thanh tịnh là tốt và cái nhìn thấy bất tịnh
là xấu. Cả hai cái nhìn thấy này đều là những phóng chiếu
của tâm. Chúng chỉ có một mùi hay một vị đối với bản
tánh của tâm. Và với sự thực hành tự-giải thoát, chẳng
can hệ gì cái chi khởi sanh trong nhìn thấy, dù cái nhìn thấy
có là tịnh hay bất tịnh. Nhưng nếu tâm thức đã được
thanh tịnh, bấy giờ những cái nhìn thấy thanh tịnh của
Phật quả sẽ sanh khởi tự nhiên, dễ dàng, không cố gắng,
bởi vì chúng vốn sẵn, nhưng hiện thời còn ngủ yên trong
lòng của tất cả chúng sanh. Đó là gia tài được thừa kế
của mỗi người, cái mà người ta đã sở hữu từ vô thủy.
Cá nhân không cần tìm kiếm đâu khác cho những cái nhìn thấy
cõi thiên đường. Chân lý có thể được gọi bằng nhiều
tên, nhưng nhiều cái tên này không vượt khỏi nghĩa độc
nhất.
Dòng
32 : Trong trạng thái độc nhất này (là tánh Giác tức thời
vốn sẵn), người ta được trực tiếp khám phá rằng (tất
cả những cái nhìn thấy những quả cầu nhỏ ánh sáng cầu
vồng và vân vân này, thật ra) chỉ là những tự-biểu lộ
của chính mình. ÷
Trong
trạng thái độc nhất duy nhất này của Rigpa, người ta khám
phá rằng tất cả những cái nhìn thấy này là những tự-biểu
lộ. Những cái nhìn thấy này sanh khởi tự phát, và chúng
trọn vẹn hoàn thiện (rdzogs) như chúng vốn là, không cần
sửa sang chỉnh trị, bởi vì chúng là những biểu lộ của
sự sáng chiếu bẩm sinh hay năng lực của Trạng Thái Bổn
Nguyên.
Dòng
33 : Và trong trạng thái này của (tự) giải thoát, người
ta không thấy có nghi ngờ nào. ÷
Dòng
34 : (Trạng thái này) vốn giải thoát trong chính nó, vì tánh
Giác được giải thoát bởi chính tánh Giác. [Tương tự, qua
sự nhận biết tánh Giác chỉ là trạng thái hiện hữu của
chính mình, bấy giờ mọi sự mà người ta hiểu được giải
thoát vào thể trạng (tự nhiên) của chính chúng ; và điều
này giống như gặp một người đã từng biết trước kia.]
÷
Tánh
Giác được giải thoát bởi tánh Giác, nó vốn giải thoát
trong chính nó. Bởi vì người ta hiểu và nhận biết nó là
trạng thái hiện tiền của chính mình, mọi sự mà người
ta hiểu được giải thoát vào thể trạng bổn nguyên của
chính nó. Ở trước bản văn nói về những tình huống xuất
hiện bên ngoài, nhưng ở đây nói về những tư tưởng bên
trong cá nhân. Cũng tương tự, chúng tự giải thoát ngay khi
sanh khởi. Người ta nhận biết chúng khi chúng vừa sanh khởi,
như gặp một người chúng ta đã biết trước kia. Điều này
kết thúc sự xem xét tuyên bố thứ hai, nó ban cho giáo huấn
về thực hành của Con Đường, Thodgal.
TUYÊN
BỐ THỨ BA
Dòng
35 : Niềm tin của người ta trở thành như một kho tàng chứa
đựng những giàu có bao la, chúng là những kinh nghiệm cá
nhân cụ thể (của người ta) về chính mình (nghĩa là về
tự tánh của mình, đó là tánh Giác vốn sẵn). ÷
Đã
xem xét Nền Tảng với tư cách là tánh thanh tịnh bổn nguyên
và Con Đường với tư cách là tự-toàn thiện tự nhiên, bây
giờ bản văn nói đến Quả. Tánh thanh tịnh bổn nguyên và
toàn thiện tự nhiên được được xem xét ở đây theo tính
không thể tách lìa của chúng. Đức tin được chứng nghiệm
như là kết quả của nhiều kinh nghiệm cá nhân cụ thể trong
đó người ta có một hiểu biết về tham thiền.
Dòng
36 : [Tất cả mọi chuyển động của tư tưởng trở thành
(tự) giải thoát vào hiện trạng của chính chúng ; điều
này giống như một kho tàng (vĩ đại) chứa đựng bất cứ
cái gì người ta mong muốn.] ÷
Dòng
37 : Bấy giờ có những kinh nghiệm cụ thể về những
cái khác (chúng là những sự vật và người bên ngoài), đức
tin của người ta trở thành giống như một vị vua làm Chuyển
Luân Vương. ÷
Với
chính mình, người ta khai triển một sự tin cậy sanh từ những
kinh nghiệm cá nhân cụ thể, và như thế tất cả những chuyển
động bên trong của tư tưởng trở thành giải thoát vào hiện
trạng bổn nguyên của chính chúng, hiện trạng đó là tánh
Không. Và với những cái khác, nghĩa là những hình tướng
bên ngoài, người ta trở thành giống như một Chuyển Luân
Vương, một vị vua vũ trụ. Một vị vua như vậy trị vì
bốn đại lục và bởi thế không sợ bất cứ cái gì khác
hay sức mạnh nào khác ngoài mình. Đã làm chủ tham thiền
chúng ta có thể hòa nhập, hợp nhất tất cả hiện hữu vào
trạng thái này. Đây là Dzogchen, trạng thái “Đại Toàn Thiện”.
Dòng
38 : [(Nghĩa là,) trạng thái của tánh Giác tức thời trở
thành biểu lộ có thể thấy được (như những cái nhìn thấy
những mạn đà la và vân vân), và bởi vì những (cái nhìn
thấy) này không được tạo ra bởi bất cứ cái gì khác,
(tánh Giác vốn sẵn của mình) thì giống như (một Chuyển
Luân Vương) đem mọi sự trong bốn châu lục đặt dưới quyền
lực của mình.] ÷
Tánh
Giác bên trong của người ta biểu lộ có thể thấy được
trong không gian, trước hết như những hiện tượng ánh sáng
và rồi như những cái nhìn thấy, và những cái ấy đều
là những tự-biểu lộ ; chúng không được tạo ra bởi bất
kỳ cái gì khác ngoài chính chúng. Với sự chứng ngộ này,
người ta đến giai đoạn cuối cùng của cái nhìn thấy.
Dòng
39 : Hơn nữa, (tánh Giác vốn sẵn của người ta) có khả
năng đem thậm chí những nguyên tố vật lý đặt dưới quyền
lực của nó ; [và bởi vì người ta trở thành giải thoát
do thể trạng này (thực hiện Thân Ánh Sáng), người ta không
nương dựa nữa vào bất cứ khả năng nào khác.] ÷
Bây
giờ bản văn ám chỉ đến Quả, Thân Ánh Sáng, nó tiêu biểu
cực điểm của bốn giai đoạn của cái nhìn thấy liệt kê
ở trên. Theo tiến trình này, Rigpa có khả năng đem thậm chí
những nguyên tố vật chất đặt dưới quyền lực của nó,
và bởi vì người ta được giải thoát do thể trạng này,
người ta không nương dựa vào bất cứ khả năng hay thần
lực nào khác để chứng thành Quả, tức là Thân Ánh Sáng.
Tại sao lại Thân Ánh Sáng ? Bởi vì giác ngộ của một vị
Phật không có nghĩa chỉ là sự chứng ngộ trí huệ toàn
thể (Skt. prajna) và chứng ngộ thực tại tối hậu của trạng
thái tánh Không (Skt. sunyata), mà cũng còn là sự chứng ngộ
hay sự biểu lộ của lòng bi (Skt. karuna) và phương tiện thiện
xảo (Skt. upaya). Bởi thế, Phật quả không chỉ là tĩnh lặng
hay thụ động, mà hơn thế nó bao giờ cũng linh hoạt với
những hoạt động của Phật, những biểu lộ của lòng bi
vũ trụ và vô cùng. Về mặt tánh Không, có Pháp thân, nhưng
về mặt lòng bi, có Sắc thân. Cả hai “thân” hay hai chiều
kích, Pháp thân và Sắc thân, đều đồng khởi trong Bồ Đề,
trạng thái của giác ngộ. Hệ thống Kinh diễn tả như thế
nào Sắc thân được thực hiện qua ba vô số kiếp nhờ trau
dồi những ba la mật bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn
và thiền định. Hệ thống Tantra diễn tả như thế nào Sắc
thân được thực hiện nhờ những thực hành tiến trình phát
sanh và tiến trình hoàn thiện (Skt. utpa-ttikrama và sampannakrama),
đặc biệt là Thân Huyễn (sgyu-lus) được thanh tịnh. Dzogchen
diễn tả tiến trình đạt được Sắc thân nhờ thực hiện
Thân Ánh Sáng Cầu Vồng. Thân Ánh Sáng này như là một Hóa
thân biểu lộ cho chúng sanh mê mờ còn bị giam nhốt trong
sanh tử cần giáo huấn và hướng dẫn trên đường giải
thoát. Chót đỉnh của Thekchod là sự khám phá Pháp thân, nhưng
kết thúc của Thodgal là sự thực hiện Sắc thân như Thân
Ánh Sáng.
Nhờ
thực hành Thodgal người ta kiểm soát được và có quyền
với những năng lực của năm nguyên tố, bởi vì người ta
giải thoát những nguyên nhân phụ nhờ những nguyên nhân phụ.
Tiến trình được diễn tả ở trên. Đó cũng như những phản
chiếu (hay những cái biết) nhận biết chính chúng trong tấm
gương. Ở đây những cái biết về những nguyên tố nhận
biết chính chúng ngay khi chúng sanh khởi và tự chúng giải
quyết trở lại vào trong hiện trạng bổn nguyên trống không
của chúng. Tiến trình này được biết là Đảo Ngược (ru-log).
Những nguyên tố vật chất thô của người ta (chúng thật
ra là những kiểu biểu lộ của năng lượng, dù có vẻ cứng
đặc, lỏng, hơi và v.v...) dần dần được tinh lọc và tan
trở lại thành những tinh túy vi tế của những nguyên tố,
những tinh túy đó là những ánh sáng màu sắc trong sáng. Đã
thực hiện Thân Ánh Sáng, vị Thành Tựu giả vẫn hoạt động
theo lòng bi và tiếp tục biểu lộ trong thế giới của những
giác quan với những chúng sanh khác để dạy và dẫn họ đến
giải thoát và giác ngộ, nhưng vị đạt đạo này không còn
sống nữa dưới ách cai trị của sanh tử. Dù Thành Tựu giả
biểu lộ có thể thấy được cho những người khác, vị
ấy đã siêu vượt khỏi hiện hữu vật chất về mọi mặt,
vào lúc chết hay ngay khi còn sống – trong ý nghĩa này, người
ấy đã “thăng thiên”, trong khi về mặt không gian, người
ấy không thực sự đi đâu cả, mà chỉ ở tại trung tâm
của hiện hữu bổn nguyên đã được khám phá lại.
Dòng
40 : Và có một kinh nghiệm cụ thể về trạng thái giải thoát,
niềm tin của người ta trở thành giống như không gian tan
vào không gian. ÷
Khi
một Thành Tựu giả, như đạo sư Garab Dorje, đạt đến Thân
Ánh Sáng, có vẻ như thân thể vật chất tan biến vào không
gian bao la của bầu trời, hay khác đi, tan biến vào năng lực
thanh tịnh sáng rỡ, những ánh sáng cầu vồng. Vật chất
được chuyển hóa thành năng lực, và năng lực sáng rỡ này
vốn là phương tiện của tánh Giác. Cầu vồng là tượng
trưng cái cầu nối kết trời với đất. Theo truyền thuyết
Tây Tạng, trong thời cổ xưa, những vị vua đầu tiên vào
lúc chết lên trời trở lại bằng cách làm tan biến thân
thể vật chất thành dây cầu vồng nối với đỉnh đầu
họ. Như vậy, họ không để lại thân xác hay dấu vết gì
trên trái đất. Chỉ khi mối nối kết với cõi trời này
bị cắt đứt mới cần xây mộ cho thân thể những vị vua
này. Tuy nhiên, Thành Tựu giả không thăng thiên theo một nghĩa
vật chất đến thế giới cõi trời siêu vượt khỏi trái
đất, mà chỉ trở về trung tâm của hiện thể mình, tức
là Trạng Thái Bổn Nguyên. Thành Tựu giả sống trong thể
trạng của tấm gương hơn là trong những phản chiếu, thế
giới như huyễn.
Dòng
41 : [(Nghĩa là) người ta giải thoát chính mình vào trong thể
trạng bổn nguyên của mình, vào trong Pháp tánh vô nhiễm bổn
nguyên thanh tịnh, và điều đó thực sự giống như không
gian tan biến vào không gian hay như những đám mây tan trong
bầu trời.] ÷
Có
những kinh nghiệm cụ thể của trạng thái giải thoát, niềm
tin của người ta giống như không gian tan biến vào không gian.
Trong tiến trình thực hiện Thân Ánh Sáng người ta giải thoát
mình vào trong thể trạng bổn nguyên của mình, nó là trạng
thái của Pháp tánh vô nhiễm bổn nguyên thanh tịnh. Người
ta giải thoát hiện hữu nhập thân của mình vào trong không
gian cũng như trong khi thực hành con đường người ta cho phép
bất kỳ tư tưởng hay hình tướng khởi sanh nào được tự
giải thoát. Đây là chót đỉnh của thực hành Thodgal và được
thực hiện bằng cách vượt qua giai đoạn thứ tư, được
biết là cái nhìn thấy của sự hoàn tất của Thực Tại.
Người ta giải thoát vào trong trạng thái của sự thanh tịnh
bổn nguyên này, nó giống như không gian tan biến vào không
gian, hay như những đám mây tan biến trong bầu trời.
Dòng
42 : (Mọi sự, tất cả toàn bộ của người ta) được tự
giải thoát trực tiếp vào trạng thái của chính nó. ÷
Dòng
43 : [(Nói thế nghĩa là, mọi sự) tự giải thoát bởi chính
nó ; và điều này giống như nghiền đá với đá, hay như
nấu chảy sắt với sắt, hay như làm sạch cái dơ với cái
dơ.] ÷
Dòng
44 : Trong trạng thái duy nhất này (của tánh Giác tức thời,
mọi sự) được giải thoát vào cái đơn nhất này. ÷
Dòng
45 : [Và điều này giống như lấy lửa từ lửa, hay như chuyển
nước thành nước, hay như thêm bơ (lỏng) vào bơ.] ÷
Dòng
46 : Như thế, Mẹ và Con lại trở thành hợp nhất. ÷
Dòng
47 : [Bởi vì Mẹ (nguồn gốc) của chính mình đúng là chính
nó (và không có cái gì khác, nó hiện hữu trong trạng thái
hiện hữu tự mình, và cái này là tánh Không), bản thân tánh
Không thì giải thoát nhờ chính tánh Không ; và như thế (hiện
diện cá nhân hay) tánh Giác hòa tan (trở thành hợp nhất)
vào bản thân cái nhìn thấy.] ÷
Tất
cả toàn bộ của người ta được tự-giải thoát trực tiếp
; nó tự giải thoát bởi chính nó. Nó được giải thoát vào
trạng thái độc nhất này của Rigpa. Như thế Mẹ, là Trạng
Thái Bổn Nguyên và Con, là hiểu biết hay trí huệ, hợp nhất
không thể tách lìa không có chút nhị nguyên nào. Bởi vì
nguồn gốc là Mẹ, chỉ hiện hữu trong trạng thái hiện hữu
của chính nó, cái này là trạng thái của tánh Không, bản
thân tánh Không thì giải thoát bởi tánh Không, và như thế,
tánh Giác cá nhân hòa tan, nghĩa là trở thành hợp nhất vào
cái nhìn thấy. Cảm thức về sự hiện diện và về thực
tại của người ta hòa tan và hội nhập vào cái nhìn thấy
có thể thấy được bên trong thig-le, hay quả cầu ánh sáng
cầu vồng, một cái thấy Phật và mạn đà la hay chiều kích
của Phật quả. Điều này giống như nhìn vào sự phản chiếu
của chính mình trong một tấm gương, và thình lình thấy mình
không phải đang nhìn vào một phản chiếu trong một tấm gương
mà đang ở trong tấm gương nhìn ra ngoài. Người ta trở thành
tấm gương. Mẹ, tấm gương, và Con, sự phản chiếu, trộn
lẫn và trở thành một. Người ta trở thành cái nhìn thấy
thanh tịnh này của Phật quả, nó thực sự là cái biểu lộ
của chính mình, và không phải là cái gì ngoài mình. Bây giờ
người ta ở trung tâm, không còn ở ngoại vi. Mẹ đúng là
chính nó và không có cái gì khác. Trạng Thái Bổn Nguyên đúng
là Trạng Thái Bổn Nguyên, không bao giờ có thể khác đi được,
từ vô thủy. Trạng Thái Bổn Nguyên (Mẹ) và cảm thức cá
nhân của sự hiện diện (Con) hợp nhất ; chúng được chứng
ngộ là bất nhị. Điều này hoàn toàn khác với một kinh
nghiệm thần bí về ánh sáng (gsal-ba'i nyams) hay về cái không
và sự biến mất của tính cá nhân (mi rtog-pa'i nyams), nó chỉ
tiêu biểu một sự thay đổi tạm thời của thức. Ở đây
cảm thức cá nhân của sự hiện diện được hòa nhập vào
chiều kích toàn thể của Phật tánh bổn nguyên của mình,
tức là Phật quả.
Hình
ảnh thấy được, tự-sanh khởi và tự-biểu lộ, của Phật
và mạn đà la xuất hiện bên trong thig-le trước người ta
trong không gian bên ngoài thực sự là một phóng chiếu của
sự sáng chiếu rạng rỡ của ánh sáng bên trong của tánh
Giác của chính mình trú ngụ trong trái tim. Cảm thức về
sự hiện diện của người ta hợp nhất với cái nhìn thấy
này và tự thấy nó hoàn toàn trong cái nhìn thấy ấy, nói
cụ thể nó chính là bản thân cái nhìn thấy. Thân thể vật
chất của người ta, mất đi chỗ nương dựa của nó, không
thể được duy trì bởi sức mạnh của thức, và nó phai dần,
tan biến vào không gian. Cả hai sắc tướng của Phật và sắc
tướng vật chất của người đều là những phóng chiếu
từ Trạng Thái Bổn Nguyên. Nhưng trong khi cái sau là sản phẩm
của những dấu vết nghiệp quá khứ và cái nhìn thấy bất
tịnh thuộc nghiệp thì cái trước là sự biểu lộ tự phát
của bản tánh giác ngộ không chướng ngại của người ta.
Người ta đã trở thành cái nhìn thấy thanh tịnh của chiều
kích của Phật quả, và thực tại vật chất giới hạn, bị
điều kiện hóa bởi nghiệp quá khứ bây giờ cạn kiệt,
phai mất. Người ta lại thấy mình trong một Thân Ánh Sáng
toàn hảo một cách tự phát, Sắc thân, quan sát sự tan biến
của thân vật chất trước kia.
Rigpa
hòa nhập vào cái nhìn thấy thanh tịnh trong không gian và trở
thành cái nhìn thấy này. Người ta trở thành một Thân Cầu
Vồng, ánh sáng không có bóng. Điều này, mặc dù những tuyên
bố ngược lại của Jung, xảy ra bởi vì những che chướng
hay bóng, thừa hưởng từ quá khứ lâu xa, đã cạn kiệt trong
quá trình tịnh hóa nhờ thực hành tham thiền. Những nguyên
nhân cho sự che chướng đã bị loại bỏ, thế nên không còn
những che chướng sanh khởi để làm méo mó tỉnh giác. Người
ta thấy mình trong trạng thái của tỉnh giác toàn thể bao
trùm – đây là điều gọi là “toàn giác”. Thân Ánh Sáng
tiêu biểu một chuyển hóa triệt để và trọn vẹn địa
vị hiện sinh của người ta, một sự tái khám phá cái vốn
xưa nay đã hiện diện và thể trạng này là thường trực
và thường hằng. Nó chính là bản thân tánh Giác và không
nương dựa tùy thuộc vào cái gì khác. Điều này có thể
được so sánh với những ý niệm Thiên Chúa giáo về biến
hình, sống lại và thăng thiên ; nhưng trong trường hợp Dzogchen,
phương pháp luận để hoàn thành việc ấy, cụ thể là, sự
thực hiện Thân Ánh Sáng, được trình bày bằng những từ
ngữ chính xác. Trong lịch sử có nhiều gương mẫu thành tựu
tiến trình này. Thậm chí trong những năm gần đây đã có
một số Lama Tây Tạng, cả Phật giáo và đ