Lời
Nói Đầu
Trước
hết, tôi muốn được cám ơn Namkhai Norbu Rinpoche, người trước
tiên giảng giải cho tôi sự trọng yếu của ba lời tuyên
bố này của Garab Dorje để hiểu Dzogchen (Đại Toàn Thiện,
Đại Viên Mãn) như một tổng thể (Dotter Valley, California,
1980) ; và sự giúp đỡ vô giá của ngài trong việc dịch những
bản văn này, đặc biệt là Das-rjes. Tôi cũng cám ơn Rinpoche
đã viết đề tựa cho cuốn sách này. Hơn nữa, tôi biết
ơn những trao truyền tôi đã nhận được về bản văn của
Patrul Rinpoche cũng được dịch trong cuốn sách này, từ một
số đạo sư của truyền thống Nyingma, nhất là H. H. Dudjom
Rinpoche, Lama Gonpo Tsedan Rinpoche, và Lama Tharchin Rinpoche.
Tôi
đã dịch bản văn của Patrul Rinpoche này, nguyên văn là mKhas-pa
sri rgyal-po'i khyad-chos, “Lời Dạy Đặc Biệt của Đức Vua
Thông Thái và Vinh Quang”, là một trong những bình giảng nổi
tiếng nhất ở Tây Tạng về ba lời tuyên bố này, khi tôi
đang sống ở Baudha tại thung lũng Kathmandu, Nepal (mùa xuân
1978). Tôi cám ơn Ami Lord Palmo đã tốt lòng trao cho tôi bản
sao bản văn này, đã đem nó theo từ Tashi Jong ở Himachal Pradesh.
Với nhiều tách trà trong những giờ buổi sáng sớm ở khách
sạn Bir, trong vài ngày, tôi đã hoàn tất bản dịch. Nhưng
rồi tôi đã bỏ qua một bên khoảng vài năm. Trong thời gian
đó tôi đọc một số bản dịch khác của bản văn đó của
Sogyal Rinpoche, Tulku Thondup, và của Keith Dowman. Vài năm trước
đây, tôi lấy bản dịch của tôi ra đọc lại, dựa theo những
bản dịch để đưa những từ ngữ kỹ thuật Phật giáo Tây
Tạng vào. Khi xem lại bản dịch để xuất bản, tôi nảy
ra ý bao gồm vào đó một bản dịch của Das-rjes, được xem
là đại diện cho bản văn thực sự, di chúc cuối cùng của
Garab Dorje. Nỗ lực này được gợi hứng từ chương trình
của tôi trở lại những bản văn nguyên gốc của truyền
thống Dzogchen, và không chỉ dựa vào những diễn giải của
những đạo sư mới đây của truyền thống này, mặc dù chúng
có tuyệt hảo bao nhiêu. Đây cũng thường là trường hợp
ở Tây Tạng.
Bản
văn sau này, khác với tác phẩm của Patrul Rinpoche, hóa ra được
viết bằng một thứ tiếng Tây Tạng khó hiểu, cực kỳ ngắn
và tỉnh lược, giống với những ghi chú cấp đại học.
Hơn nữa, sự trình bày Thekchod và Thodgal được trộn lẫn
với nhau trong bản văn, thay vì tách biệt rời như trong truyền
thống Terma sau này. Trong ba buổi chiều ở một chỗ ẩn cư
tại James-town, Colorado (tháng 7, 1987), Namkhai Norbu Rinpoche đã
rộng lượng dành vài giờ để chúng tôi cùng xem lại bản
dịch này. Có thể thấy những kết quả của việc làm này
trong bình giảng giữa dòng và những ghi chú theo sau bản dịch.
Vì sự khó khăn ngôn ngữ của bản văn và sự cần thiết
phải chen vào những ghi chú trong bản tiếng Tây Tạng, cũng
như một số đoạn được thêm vào trong dấu ngoặc của dịch
giả để dễ đọc và dễ hiểu, tôi quyết định phương
pháp tốt nhất là cung cấp một bản dịch trôi chảy và không
bị đứt đoạn bởi những ghi chú, và theo như vậy với một
bản dịch nguyên nghĩa chặt chẽ cùng với một bình giảng
giữa các dòng ở chỗ cần thiết.
Như
một minh chứng cho phương pháp dịch thuật của tôi, trước
hết được phát triển trong một cuộc hội thảo về phiên
dịch những từ ngữ kỹ thuật Phật giáo với Giáo sư Edward
Conze vào năm 1967-1968 (Đại học Washington, Seatle), xin xem phần
có tựa đề “Ghi chú về Dịch Thuật những Từ Ngữ Kỹ
Thuật Dzogchen”. Một bảng thuật ngữ về Dzogchen bằng tiếng
Tây Tạng và tiếng Anh có ở phần cuối sách, nhưng những
giải thích tại sao tôi dịch một vài từ ngữ Tây Tạng theo
cách tôi làm sẽ được tìm thấy trong những ghi chú và bình
giảng. Tôi loại bỏ những giải thích này khỏi những bản
dịch để đọc giả khỏi nặng nề. Cuốn sách này chủ yếu
là một trình bày những lời dạy về Dzogchen trong hai bản
văn này hơn là một nghiên cứu ngữ văn hay lịch sử về
nguồn gốc của truyền thống Dzogchen. Có một số tiểu sử
cuộc đời Garab Dorje được giữ gìn trong truyền thống Nyingma
và trong chi tiết chung không đồng nhất với nhau. Vì vậy
về tiểu sử tôi chỉ đưa vào một bản dịch : cuộc đời
của Garab Dorje trong Lo-rgyus chen-mo của Zhangton Tashi Dorje (1097-1167)
nằm trong bộ Bi-ma snying-thig của Longchen Rabjampa (cuốn 7, chương
III). Có lẽ đây là một tiểu sử xưa cổ nhất về cuộc
đời của Garab Dorje. Tôi cũng tham khảo bản tiểu sử trong
Dra 'bag chen mo (không rõ tác giả), tiểu sử nổi tiếng của
Vairochana dịch giả, có trễ nhất là thế kỷ mười ba, nhưng
nó chứa đựng những tài liệu cổ hơn nhiều. Tôi cũng đưa
vào ở đây một Guru Sadhana ngắn về Garab Dorje do Khyentse Chokyi
Lodro Rinpoche (1896-1959) viết, dành cho những hành giả. Sad-hana
này được Sogyal Rinpoche từ mẫn ban cho khi ngài viếng thăm
cuộc nhập thất mùa xuân ở Merigar, Ý, tháng Tư 1985.
Bởi
vì nhiều bản văn ban đầu còn tồn tại của truyền thống
Dzogchen có từ thế kỷ thứ mười và mười một, một số
học giả hiện đại có ý kiến rằng Dzogchen thực ra được
phát minh ra vào thời gian đó bởi một số Lama Nyingma và Bošn
không dè dặt. Theo luận cứ này, những Lama đó muốn cho những
giáo thuyết không chính thống của họ được người Tây
Tạng chấp nhận, đã gán những bản văn ấy cho là của những
nhân vật lịch sử anh hùng thời sơ kỳ, đặc biệt là Padmasambhava
và Vimalamitra sống ở thế kỷ thứ tám. Tuy nhiên lý thuyết
này rơi vào một sai lầm chung với các học giả hàn lâm mà
sự hiểu biết của họ chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu
những bản văn được viết ra, họ cho rằng một ý tưởng
hay một thực hành không hiện hữu cho đến khi nào nó được
viết ra trong một số bản văn. Dĩ nhiên cách tiếp cận này
bỏ qua và không để ý sự quan trọng của truyền thống khẩu
truyền trong sự chỉ dạy tâm linh. Thực tại của truyền
thống khẩu truyền này tôi đã tự thân kinh nghiệm lần đầu
trong những năm sống với những Lama Tây Tạng ở Ấn Độ
và Nepal. Do đó tôi không nghi ngờ gì về việc những giáo
lý Dzogchen có ở Tây Tạng vào thế kỷ thứ tám với Padma-sambhava,
Vimalamitra và Vairochana, đúng như được tuyên bố trong truyền
thống, và đã có từ trước nữa ở Ấn Độ và Uddiyana.
Dzogchen không phải là cái gì được sáng tạo ra từ hư vô
trong thế kỷ thứ mười. Một số bản viết tay ở thư viện
Đôn Hoàng trong thế kỷ thứ mười chứng tỏ sự hiện diện
của nó vào thời gian này. Và dù cho có thể làm cho rõ ràng
xác thực rằng Dzog-chen là một phong trào độc lập có mặt
lần đầu ở thế kỷ thứ mười với Nubchen Sangye Yeshe, Shenchen
Luga và những vị khác, thì khoảng cách hai trăm năm này giữa
thế kỷ thứ tám và thế kỷ thứ mười là quá nhỏ so với
chân lý phổ quát của những giáo lý Dzogchen như một con đường
đến giải thoát và giác ngộ. Chân lý tâm linh vượt khỏi
lịch sử. Tôi đề cập đến một số vấn đề ngữ văn
và lịch sử trong phần “Những nguồn gốc lịch sử của
Dzogchen”, nhưng một xem xét những vấn đề ấy cần phải
dành cho một thảo luận sau này.
Tất
cả mọi dịch thuật từ Tây Tạng là của tôi, ngoại trừ
những chỗ khác được chỉ ra. Những chữ nước ngoài trong
bản văn là tiếng Tây Tạng, nếu khác cũng được chỉ rõ
xuất xứ. Những chữ Tây Tạng chuyển tự theo hệ thống
Wylie được đặt trong dấu ngoặc hay viết nghiêng không dấu
ngoặc ; những chữ gốc tên người và tựa của bản văn
được viết hoa. Trong phần dịch, những đoạn tôi thêm vào
và giải nghĩa được để trong dấu ngoặc. Những dấu ngoặc
đứng chỉ một ghi chú bằng tiếng Tây Tạng được xen vào
bản văn gốc.
Cuối
cùng, trong việc chuẩn bị xuất bản cuốn sách này, tôi cảm
ơn biên tập của tôi là Micheal Taylor vì những gợi ý và
bình luận mở rộng của ông. Tôi cũng gởi lời cám ơn đến
Arthur Mandelbaum, Bob Kohut, Charles Stein, Andrea Loseries-Leick, Tina
Smith, và Andy Lukianowicz đã đọc soát lại bản thảo và cho
nhiều gợi ý bổ ích. Hơn nữa tôi cũng đặc biệt cám ơn
Brooke Henley đã kiên nhẫn đánh bản thảo này vào dĩa và
Robert Knight cố gắng nhập bản văn vào máy tính.
Mặc
dù toàn bộ bản văn của cuốn sách này, Những Chữ Vàng,
được viết và hoàn thành năm 1990, sự xuất bản bị trễ
gần bốn năm do những hoàn cảnh ngoài tầm kiểm soát của
tôi với người xuất bản ban đầu. Bởi thế tôi biết ơn
nhà xuất bản Snow Lion đã cho ra mắt cuốn sách. Hơn nữa,
bởi vì cuốn sách đã bị trì hỗn khá lâu, chương “Những
Nguồn Gốc Lịch Sử của Dzogchen” không có sự tiếp xúc
với những công trình mới nào trong lĩnh vực này từ năm
1990. Tôi xin lỗi về điều này. Tuy nhiên, như là một dịch
giả, tôi hy vọng rằng những bản dịch Dzogchen này sẽ có
ích lợi rất nhiều cho những hành giả hiện đại đang du
hành trên con đường xưa cổ này.
Vajranatha
(John Myrdhin Reynolds)
Freehold,
New Jersey, tháng Giêng 1995
Đề Tựa
của Namkhai
Norbu Rinpoche
Tất
cả những giáo lý về con đường Ati Dzogchen có thể xếp
vào ba chủ đề : Nền Tảng, Con Đường, và Quả. Tương tự,
những bản văn dạy những vấn đề liên quan đến ba chủ
đề này thường được biết là Ba Bộ giáo lý Dzogchen.(1)
Về
Ba Bộ này, ban đầu tất cả mọi giáo lý liên quan đến Con
Đường của Ati Dzogchen là một toàn thể đơn nhất và thống
nhất được Garab Dorje, vị thầy con người đầu tiên phát
lộ cho các đệ tử thân cận của ngài. Trổi vượt trong
họ là đạo sư Man-jushrimitra, chính ngài đã sưu tập những
giáo lý Dzogchen nguyên thủy. Viết ra một biên thảo những
chỉ dạy, ngài chia chúng thành Ba Bộ này. Như thế, chúng
ta có thể hỏi đâu là tiêu chuẩn để tổ chức những giáo
lý theo cách đó ? Khi tổ Garab Dorje chứng ngộ Thân Ánh Sáng
thanh tịnh, ngài ban cho Man-jushrimitra, đệ tử chính trong đoàn
tùy tùng của ngài, “Ba Câu Kệ Kim Cương”.(2) Những câu
kệ này được xem là Chúc Thư Cuối Cùng của đạo sư trong
đó ngài cô đọng cái cốt lõi nhất của mọi giáo lý của
con đường Dzogchen thành những điểm chính yếu. Trong một
cách hoàn hảo và sâu xa khôn dò, Ba Câu Kệ Kim Cương này
của Chúc Thư Cuối Cùng thể hiện tâm tủy của những điểm
chính yếu của Nền Tảng, Con Đường và Quả. Như bơ là
sản phẩm tinh khiết từ sữa, Ba Phát Biểu này mở ra ý nghĩa
định hướng của mọi giáo lý của Con Đường Dzogchen. Bởi
thế, Ba Phát Biểu này là một chìa khóa thực sự để mở
cánh cửa vĩ đại đến mục đích của mọi Upadesha sâu xa
của những điểm cốt yếu được trình bày trong Dzogchen.
Bởi vì bao gồm mọi sự liên hệ với Dzogchen, Ba Câu Kệ
Kim Cương này của Chúc Thư Cuối Cùng cung cấp cơ sở hợp
lý cho sự phân chia những giáo lý Dzogchen thành Ba Bộ.
Tuy
nhiên một số học giả Tây Tạng mặc dù đã đi vào những
giáo lý của Con Đường Dzogchen với sự sùng mộ chân thành
đã dạy cho những học trò của họ rằng những giáo lý của
Ba Bộ Dzogchen này, tức là Semde, Longde và Upadesha, là hoàn
toàn khác nhau về những kiến giải và nguyên lý của chúng.
Họ khẳng định những giáo lý chứa trong Ba Bộ có từ thời
gian sớm hơn, từ đó mà hiểu rằng ba kiến giải riêng biệt
đã hiện hữu trong truyền thống Dzogchen. Tuy nhiên những quan
điểm khác nhau do những học giả này chủ trương, dù chúng
đã được thiết lập phù hợp với những nguyên lý tổng
quát của những hệ thống tuần tự của họ, thật ra đã
trình bày Dzogchen theo một phong cách riêng. Quả thật ra ở
đây chẳng có gì được thiết lập, và loạt công việc này
đã sai lạc từ bản chất khỏi ý nghĩa đích thực của Dzogchen.
Rõ ràng những tạo dựng này tiêu biểu cho những tưởng tượng
của những học giả cá nhân, họ chỉ theo đuổi một sự
phân tích trí thức. Đôi khi, nên phân chia những giáo lý Dzogchen
thành Ba Bộ này và nên chỉ ra chúng liên quan tương ứng với
Nền Tảng, Con Đường và Quả của Dzogchen. Nhưng trong Trạng
Thái Bổn Nguyên Tự Nhiên của Ati Dzog-chen, hiện diện sự
tự do trọn vẹn không rơi vào bất kỳ thiên lệch nào, và
như vậy không cần những phân biệt phạm trù nào. Do đó,
không có bất kỳ điều gì (trong Trạng Thái Tự Nhiên của
Dzogchen) đòi hỏi một loại xác định vị thế triết học
được thiết lập bằng cách bác bỏ, chứng minh và phủ nhận
như các học giả ấy làm.
Bởi
vì có vô cùng những tính khí và nhân cách khác nhau trong chúng
sanh để có thể nói rằng cũng có những phương tiện và
phương pháp khác nhau vô số có thể được dùng để đưa
họ trực tiếp vào Trạng Thái Bổn Nguyên của Dzogchen. Không
cần phải nói hết tất cả ở đây. Tuy nhiên, khi một cá
nhân riêng biệt nào sắp sửa đi vào thực hành Dzogchen, cũng
luôn luôn có một phương pháp thích ứng để cho người ấy
dùng. Về cá nhân, ba loại hoạt động tương ứng với thân,
ngữ, tâm. Như thế, vị thầy xem xét nhận định những kinh
nghiệm cá nhân của ba cửa (thân, ngữ, tâm) của học trò
và cho một sự giới thiệu trực tiếp thích hợp vào Trạng
Thái Bổn Nguyên của Ati, bằng cách dùng nhiều phương pháp
và phương tiện khác nhau. Chẳng hạn, ngài có thể giải thích
cho người học trò rằng bản chất của tấm gương là trong
sáng, thanh tịnh và không ô nhiễm và do đó những vật hiện
khởi như những hình ảnh phản chiếu trong đó. Trên căn bản
của thí dụ tương tự này, một cái hiểu khởi sanh nơi đệ
tử, người này sẽ hiểu rằng những kinh nghiệm về những
hiện tượng thì giống như những phản chiếu thấy được
trong một tấm gương.
Tất
cả nhiều giáo lý về con đường Ati Dzogchen mà Vị Thầy
Tối Thượng Garab Dorje phát lộ cho những đệ tử loài người
có thể xếp thành ba loại : Tantra, Agama, và Upadesha. Theo truyền
thống, có nói rằng có khoảng 6.400.000 Tantra trong Ati Dzogchen.
Ngoài ra, có ghi (trong sGra thal 'gyur Tantra và những chỗ khác)
rằng những giáo lý này của Dzogchen được tìm thấy trong
nhiều hệ thống thế giới khác nhau có chúng sanh khắp toàn
thể vũ trụ. Tuy nhiên, rõ ràng không có nhiều giáo lý Ati
Dzogchen trong thế giới hạn hẹp của chúng ta ở đây.
Những
giáo lý Ati Dzogchen có ở đây (trong thế giới con người của
chúng ta) là nhờ nghiệp tốt của chúng ta. Cái quan trọng
nhất trong đó là những Tantra gốc như Đại Tantra Gốc của
Bộ Semdre Dzogchen, Đại Tantra Gốc của Bộ Upadesha Dzogchen,
cũng như những Tantra giải thích chúng và các loại Upadesha
và Tantra, cả dài và ngắn. Theo sGra-thal-gyur, những Tantra Dzogchen
giữ sự quan trọng đặc biệt trong mười ba hệ thống đại
tinh tú (một hệ thống trong đó là của chúng ta). Trong vô
số Tantra thuộc về Ati Dzogchen hiện diện khắp vũ trụ pháp
giới, có một nhóm bản văn phát lộ cam lồ tinh túy nhất
của ý nghĩa sâu xa. Hơn nữa, có nhiều loại Agama, hay những
bản văn triết học rút gọn những Tantra này. Ngoài ra có
nhiều loại Upadesha diễn bày một cách trực tiếp những kinh
nghiệm riêng biệt của cá nhân các Vidyadhara, các vị đã
đạt đến chứng ngộ. Điều này là chắc chắn.
Tuy
nhiên, một số học giả Tây Tạng có thói quen quan niệm rằng,
bởi vì những Tantra Dzogchen không thực sự trình bày mười
chủ đề như đặc điểm của một Tantra, bởi thế những
bản văn này không có những đặc điểm của một Tantra. Nói
chung, một Tantra phải trình bày tất cả mười chủ đề của
một Tantra. Đây là quan điểm của Con Đường Chuyển Hóa,
tức là hệ thống Mật Chú. Tuy nhiên không có cái gì (trong
mười chủ đề này) đặc biệt thuộc về hệ thống Ati,
là con đường của tự-giải thoát, nghịch lại với quan điểm
của con đường chuyển hóa. Bởi thế, chắc chắn rằng sự
thiếu vắng mười chủ đề này không phải là một cản trở
trong việc xem các bản văn này là những Tantra. Ngoài ra, trong
Byang-chubkyi sems kur-byed rgyal-po và trong những Tantra gốc và
vĩ đại khác của Ati, mười chủ đề không tìm thấy trong
đó. Thế nên, nếu mười chủ đề không có trong Tantra chánh
yếu này, người ta không nên mong mỏi tìm thấy chúng ở chỗ
khác (trong những Tantra Dzogchen được biết khác).
Lại
nữa, một vài học giả Tây Tạng, như Drigung Paldzin, cho rằng
bản thân giáo lý Dzogchen là không đích xác và những bản
văn gốc, dù là Tantra, Agama, hay Upadesha – chẳng hạn Tantra
Dzogchen Kun-byed rgyal-po –, được tạo ra bởi những học giả
Tây Tạng vào một thời gian sau này. Với những trường hợp
như vậy, khi có những nỗ lực đặt vấn đề tính chính
xác của Dzogchen bằng cách xem những bản văn này nguyên thủy
từ thời cổ là được tạo ra và do vậy, không đích thực,
thì như có một đám mây đen tối dày đặc của những tư
tưởng sai lầm (che mất sự trong sáng của tâm). Trái lại
những học giả chứng ngộ (của truyền thống Nyingma) cả
thời xưa cũng như nay như Kunkhyen Longchen Rabjampa và Sogdogpa
Lodro Gyaltsan, dùng ánh sáng của lý trí và những trích dẫn
kinh điển, đã làm những việc ấy trở thành sáng tỏ tuyệt
vời.
Hơn
nữa trong thời đại chúng ta, một số bản văn xưa (liên
quan đến vấn đề này và có thời gian từ thế kỷ thứ
tám đến thứ mười) đã được tìm thấy ở Đôn Hoàng Trung
Hoa. Trong số đó là Agama có tựa Rig-pai khu-bhug, một bản
văn gốc của Dzogchen với một bình giảng ngắn về nội dung
của nó, cả hai được dịch từ ngôn ngữ Uddiyana bởi đại
dịch giả Tây Tạng Vairo-chana. Ngoài ra những phát hiện ở
Đôn Hoàng còn có một bản văn Dzogchen thứ hai, tựa là sBas-pa'i
rgum chung, do đạo sư Buddhagupta viết, với một bình giảng
về nội dung những điểm trọng yếu khó hiểu của nó. Thêm
nữa, cùng với chúng có một bản văn khác, trong đó Trạng
Thái Bổn Nguyên của Ati được rốt ráo chứng ngộ bằng
tiến trình hoàn thiện của thiền định hóa thần Shri Vajrakilaya.
Thế nên rõ ràng có thể thấy, ba bản văn tìm thấy ở Đôn
Hoàng chứng tỏ sự xác thực của Dzogchen.
Hơn
thế nữa, những giáo lý Dzogchen xuất hiện trước tiên ở
Tây Tạng thậm chí còn sớm hơn (thế kỷ thứ tám), tức
là trong thời đại của Triwer Sergyi Jyaruchan, vua xứ Zhang-zhung.
Từ thời của nhà vua này đến nay khoảng 3600 năm. Vị Thầy
đạo Bošn, Shenrab Miwoche là người đầu tiên dạy Dzog-chen
(cho loài người), vào thời đó được biết như “người
Bošn của Tâm Toàn Thiện”. Ngài dạy Dzogchen ở Olmo Lung-ring
vùng Tazig (Trung Á), và về sau những giáo lý Dzogchen lan truyền
từ đây đến vùng Zhang-zhung nằm ở phía tây của Trung Tây
Tạng. Rồi trong thời đại vua Tây Tạng Songtsang Gampo, hành
giả đạo Bošn từ Zhang-zhung là Gyerpung Nangzher Lodpo được
mời đến cư trú ở Tây Tạng, nơi này ngài dạy những Tantra
của Zhang-zhung snyan-rgyud. Như thế, rõ ràng từ lịch sử tìm
thấy trong Zhang-zhung snyan-rgyud rằng vị đạo sư này là người
đầu tiên khai mở tập quán dạy Dzogchen ở Trung Tây Tạng.
Sau
đó, trong thời vua Tây Tạng Tisong Detsan, Padma-sambhava, đạo
sư vĩ đại từ Uddiyana, được mời viếng thăm Tây Tạng.
Như thế, đối với Trung Tây Tạng, ngài là người đầu tiên
mở cánh cửa Pháp Kim Cương thừa Mantra Đại Bí Mật, và
đặc biệt, ngài đưa vào Mahayoga, Anuyoga và Atiyoga. Ngài đã
làm cho những giáo lý này, Ba Bộ Yoga của những Tantra Nội,
được lan truyền khắp Tây Tạng.
Tuy
nhiên một số học giả (những vị Bošnpo) ôm ấp ý kiến
rằng, dù đại đạo sư Padmasambhava đã đến Trung Tây Tạng
(vào thế kỷ thứ tám), thì chính Gyerchen Nangzher Lodpo, đệ
tử của Tapihritsa, là người đầu tiên đưa truyền thống
giáo lý Dzogchen vào Tây Tạng. Hơn nữa, họ khẳng định rằng
vị thầy đạo Bošn Shenrab Miwoche là Vị Thầy Tối Thượng
đầu tiên của Dzogchen. Thật ra, từ thời cổ nhất đã hiện
hữu một số hệ Dzogchen (ở Trung Á), giáo lý này được
biết là “Bošn của Tâm Toàn Thiện”. Do đó họ kết luận
rằng giáo lý Dzogchen phải đã hiện hữu thậm chí trước
Vị Thầy Tối Thượng Garab Dorje và ngài đã dạy nhiều giáo
lý Dzogchen, chúng chắc chắn ở trong số những Tantra, Agama
và Upadesha sâu rộng nhất của Ati còn tồn tại đến ngày
nay và được giữ gìn trong truyền thống Nyingma. Những giáo
lý chính thống này của Garab Dorje được biết là Ba Bộ Dzogchen
đã nói ở trên.
Tuy
nhiên, (cũng trong truyền thống Nyingma) không nên nghĩ rằng
những giáo lý Dzogchen không hiện hữu ở một thời gian trước
Garab Dorje. Thậm chí trước khi có Vị Thầy Tối Thượng này,
những giáo lý Dzogchen chưa từng cạn kiệt và như thế, chưa
từng biến mất (khỏi thế giới). Theo những Tantra Dzogchen,
trong thế giới chúng ta xuất hiện Mười Hai Vị Thầy Dzogchen.
Vị sớm nhất xuất hiện vào thời xưa nhất lúc bắt đầu
của thế giới chúng ta, thậm chí trước khi có vị thầy
đạo Bošn, Shenrab Miwoche (đã xuất hiện ở Lungring). Bởi
vì lịch sử những giáo lý Dzogchen do Mười Hai Vị Thầy này
phát lộ thì hoàn toàn được rõ biết (từ những Tantra Dzogchen),
điều này bao hàm việc có một nguồn còn xưa cổ hơn phần
Dzogchen được dạy do Shenrab Miwoche.
Rồi
trong thế kỷ thứ tám của thời đại chúng ta, đại đạo
sư Padmasambhava diễn bày mười bảy Tantra Bí Mật Tối Thượng
của Dzogchen Nyingthig cho chúng hội Dakini, gồm cả công chúa
Tây Tạng dòng họ Kharchen, Yeshe Tsogyal. Cùng với kLong-gsal,
và với những giáo huấn bí mật và những giáo lý bổ sung,
những bản văn này gồm một toàn thể mười tám bản văn
(đại diện những Tantra Gốc của những Bộ Dzogchen Upadesha).
Sau đó Padmasambhava, cùng với công chúa Yeshe Tsogyal của Kharchen
phát hiện, một mặt, những Upadesha rất đỗi bao la, chúng
là những Tantra (đề cập ở trên), và mặt khác, chính đại
đạo sư tự mình phát hiện những Upadesha Cô Đọng sâu xa
trong hình thức tạo luận của ngài, đặt chúng riêng biệt
bằng cách viết và soạn một mục liệt kê chúng.
Rồi
vào thời gian sau, con gái của Vua Tisong Detsan, Lhacham Padmasal,
chết (lúc lên tám), đại đạo sư viết chữ NRI bằng mực
sơn đỏ trên ngực của xác cô. Bằng thần lực kỳ diệu
của ngài, ngài gọi thần thức cô và làm cô sống lại. Sau
đó, ngài ban cho cô quán đảnh gSang-ba-mkha'-'gro snying-thig ;
và rồi đặt cho cô tên nhập môn là Padma Letrelsal. Đặt một
cái tráp đựng những bản văn mKha'-'gro snying-thig lên đỉnh
đầu cô gái trẻ, ngài biểu lộ ước mong chân thành : “Mai
sau, nguyện con gặp lại giáo lý này của ta, và mong nó sẽ
làm lợi lạc cho chúng sanh.”
Sau
đó, ngài cất dấu những Tantra này, là những Upa-desha rất
đỗi bao la, (mười tám Tantra nói trên,) như những kho tàng
ở ngọn núi hình giống con sư tử ở miền Bumthang thấp (Bhutan)
; và ngài cất dấu những Upadesha Cô Đọng sâu xa ở Danglung
Tramodrag vùng Dwagpo (nam Tây Tạng). Những thế kỷ sau, nhà
sư Tsultrim Dorje được nhận ra là tái sanh của công chúa Lhacham
Padmasal. Sau đó, ngài có được bản mục lục những bản
văn kho tàng này. Chính ngài đã lấy ra bản văn kho tàng mKha'-'gro
snying-thig từ Danglung Tramodrag ở Dwagpo và sau đó khiến giáo
lý Nyingthig được truyền bá rộng rãi. (Sau này những bản
văn còn lại của chu trình này được phát hiện ở Bumthang
bởi người kế thừa và tái sanh nổi tiếng của ngài là
Longchen Rabjampa.)
Ngoài
ra, đại đạo sư Vimalamitra dạy những giáo huấn sâu xa về
Nyingthig cho Nyang Tingdzin Zangpo. Không có những đệ tử khác
thích hợp vào lúc đó, ngài cất dấu những bản văn ở Gegung
vùng Chimphu, gần Tu Viện Samye. Rồi Vimala-mitra đi Ngũ Đài
Sơn ở Trung Hoa. Khi năm mươi lăm tuổi, Nyang Tingdzin Zangpo
dựng chùa Zhwai Lhakang ở Uru và cất dấu ở đó những bản
văn của giáo huấn (tức là những Tantra Giải Thích) mà ngài
đã nhận được từ Vimalamitra, trong những khe hở giữa những
cây cột trên cửa. Tuy nhiên, ngài truyền dòng “nghe” cho
đệ tử Dro Rinchenbar. Tiếp theo Dro Rinchen-bar truyền chúng
cho Be Lodro Wangchug ; và vị này đến lượt mình giải thích
và truyền chúng cho Dangma Lhungyal Huynh. Phù hợp với một lời
tiên tri của Lhwai Gonpo (do từ Damchan Dorje Legpa, thần thủ
hộ được Nyang Tingdzin Zangpo giao cho bảo vệ chùa), Dangma
Lhungyal khám phá những bản văn Terma được cất dấu ở đó.
Đến lượt mình ngài truyền chúng cho Chestsun Senye Wangchug.
Sau đó Chetsun gặp Thân Ánh Sáng biểu lộ thấy được của
Vimalamitra, và vài năm sau ngài dựa vào những lần gặp gỡ
này để phát hiện những giáo lý Nying-thig, ngày nay được
biết với tên là lCe-btsun snying-thig. Như thế ngài đã cho
sách hướng dẫn để khám phá những bản văn kho tàng cất
dấu tại Chimphu. Ngài đã lấy ra những kho tàng sâu xa này,
và thực hành chúng, năm 125 tuổi, ngài tự chứng tỏ phương
pháp làm xuất hiện Thân Ánh Sáng. Tất cả điều này được
nói ra rõ ràng trong lịch sử của Dzogchen Nyingthig.
Trước
đó, Vidhyadhara vĩ đại Vimalamitra tập thành tinh túy của của
Dzogchen Nyingthig thành năm bộ bản văn viết tay : “Những
Chữ Vàng”, “Những Chữ Đồng”, “Những Chữ Nhiều Màu”,
“Những Chữ Tù Và”, và “Những Chữ Lam Ngọc”. Cái quan
trọng nhất trong những bản văn đó được chính đạo sư
Vimalamitra viết ra là “Những Chữ Vàng” và trong bộ này
bản văn quan trọng nhất là rDo-rje'i tshig gsum, “Ba Câu Kim
Cương”, đại diện cho Chúc Thư Cuối Cùng của Vị Thầy
Tối Thượng của Dzogchen, Garab Dorje. Bản văn này là một
trong Bốn Giáo Lý Được In Ra Sau Khi Chết của những Vidyadhara.
Bốn Giáo Lý In Ra Sau Khi Chết này là :
1.
Tsthig gsum gnad du brdeg-pa, “Ba Tuyên Bố Điểm Vào những Điểm
Thiết Yếu” (hay “Ba Câu Kim Cương”), Chúc Thư Cuối Cùng
của Vị Thầy Tối Thượng Garab Dorje ;
2.
sGom nyams drug-pa, “Sáu Kinh Nghiệm Thiền Định”, Chúc Thư
Cuối Cùng của Đạo sư Manjushrimitra ;
3.
gNyer-bu bdun-pa, “Bảy Cái Đinh”, Chúc Thư Cuối Cùng của
Đạo sư Shrisimha ;
4.
bZhags thabs bzhi-pa, “Bốn Phương Pháp Nhập Thiền”, Chúc
Thư Cuối Cùng của Đạo sư Jnanasutra.
Bộ
những bản văn này là Rig-'dzin gyi das-rjes rnampa bzhi, “Bốn
Giáo Lý In Ra Sau Khi Chết của những Vidyadhara”.
“Ba
Câu Kim Cương” hiện thân tinh túy đời sống của mọi giáo
lý Dzogchen và nó đại diện sự thấu hiểu rốt ráo những
điểm thiết yếu của Pháp sâu xa (Dzogchen). Bởi thế, đối
với những đệ tử chân thành tận tâm với những giáo lý
Dzogchen, phải biết rằng bản văn này chứa một Upadesha rất
đặc biệt cần giữ gìn cẩn thận tận đáy lòng mình.
Nhân
dịp xuất bản cuốn sách này, Những Chữ Vàng, Vajranatha (John
Myrdhin Reynolds), người không chỉ là một học giả và dịch
giả học rộng, mà còn là một Ngagpa thành tâm hiến mình
cho sự thực hành thực sự Yoga Bổn Nguyên của Dzogchen, đã
dịch bản văn của Garab Dorje từ Tạng ngữ sang Anh ngữ. Bản
dịch này chắc chắn sẽ tăng thêm phần nghiệp tốt cho những
đệ tử có nguyện vọng tối cao đối với Yoga của Dzogchen.
Tôi vui sướng về điều này, và cùng với việc rải hoa tạ
ơn cúng dường, tôi nhiệt thành cầu nguyện rằng bản văn
này, phát lộ trái tim đích thực của giáo lý, sẽ hoàn toàn
xóa tan bóng tối trong kiến thức của những đệ tử và trở
nên một nguyên nhân vĩ đại cho lợi lạc và hạnh phúc của
vô số chúng sanh.
Tại
Merigar, mồng tám tháng ba năm con cừu-kim (1991), được viết
bởi Chošgyal Namkhai Norbu.
[Do
John Myrdhin Reynolds dịch.]
DẪN NHẬP
NGUỒN
GỐC NGUYÊN THỦY CỦA DZOGCHEN
Phái
Nyingthig bảo tồn những truyền thống cổ nhất của Phật
giáo Đại thừa ở Tây Tạng và được thiết lập ở thế
kỷ thứ tám của thời đại chúng ta bởi đạo sư mật thừa
Guru Padmasam-bhava xứ Uddiyana, vị tăng học giả Ấn Độ và
trưởng tu viện Shantirakshita, và vua Tây Tạng Tisong Detsan.
Trong truyền thống Nyingma này, Dzogchen (Đại Toàn Thiện, Đại
Viên Mãn) được xem là đại diện giáo pháp tinh túy của
đức Phật. Từ ngữ Tây Tạng Dzogchen (rdrogs-pa chen-po, Skt.
mahasandhi) thường được dịch sang Anh ngữ là Great Perfection.
Giáo pháp này được gọi như thế bởi vì bản thân nó là
toàn bộ, trọn vẹn và toàn thiện (rdzogs-pa), không có gì
thiếu sót, khuyết điểm, và bởi vì không có cái gì cao hơn
hay lớn hơn (chen-po) nó. Bởi vì nó được xem là chót đỉnh
của mọi thừa (yana) trước nó, tức là những con đường
đến giác ngộ trong các hệ thống Kinh và Tantra, nó cũng được
biết với tên là Atiyoga, yoga tối hậu. Tuy nhiên, Atiyoga có
khi được giải thích như một biến thể của từ ngữ Sanskrit
Atiyoga (gdod-ma'i rnal-'byor), “Yoga Bổn Nguyên”. Từ ngữ sau
ám chỉ đến cái gì thực sự là Đại Toàn Thiện : Trạng
thái Bổn nguyên của cá nhân. Trạng thái thanh tịnh bổn nguyên
(ka-dag) này của giác ngộ, bao gồm đồng thời Nền Tảng,
Con Đường và Quả, thực ra là trạng thái của Phật tánh
vốn sẵn đủ được gọi là Bồ đề tâm. Siêu vượt mọi
thời gian và nhân duyên, trạng thái này ở sẵn nơi tâm của
mỗi chúng sanh. Theo kiến giải này, những Lama Nyingma không
xem Dzogchen như chỉ là một cơ cấu khác của những đức
tin, hay một hệ thống những khẳng định triết lý, hay một
kết tập những bản văn, hay một số nhành phái, trường
phái. Hơn thế nữa, Dzogchen là sự trực tiếp đưa vào và
sự an trụ trong Trạng Thái Bổn Nguyên của giác ngộ này
hay Phật quả, Phật tánh vốn hiện diện từ vô thủy như
mặt trời trên bầu trời, dù khuôn mặt rạng rỡ của nó
có bị che ám bởi những đám mây vô minh (ma rig-pa) đi nữa.(1)
Thật
vậy, suốt lịch sử Tây Tạng, những hành giả Dzogchen không
hạn chế chặt chẽ trong phái Nyingma. Ngoài ra, một hệ thống
Dzogchen đồng nhất trong ý nghĩa, nhưng là dòng độc lập,
được gìn giữ trong truyền thống Bošn của Tây Tạng, cụ
thể là truyền thống khẩu truyền từ Zhang-zhung. Nói chung,
trong quan điểm của những hành giả Dzogchen, dù họ thuộc
phái nào, Phật giáo hay Bošn, mục tiêu tối hậu của con đường
tâm linh là sự chứng ngộ Phật tánh vốn sẵn này trong bối
cảnh cuộc sống hàng ngày cụ thể của người ta, hơn là
thiết lập một trường phái triết học khác. Sự chứng ngộ
đó được biết là Đại Toàn Thiện.
Theo
truyền thống Nyingma Tây Tạng, Garab Dorje (Skt. Prahevajra) là
vị thầy con người đầu tiên của những lời dạy Dzogchen.
Chúng ta nói con người, bởi vì theo truyền thống, Dzogchen
được nói là đã được dạy trước đó cho những chúng
sanh không phải người ở những chiều kích hiện hữu khác.
Thật vậy, một tài liệu sơ thủy nói đến mười ba hệ
thống hành tinh khác có những giáo lý Dzogchen được truyền
bá.(2) Hơn nữa, Garab Dorje không sanh tại Ấn Độ mà ở một
xứ sở biến mất từ lâu là Uddiyana (Orgyan) nằm đâu đó
ở bắc Ấn Độ, có lẽ ngày nay là Pakistan hay Afghanistan.
Người ta tin rằng Garab Dorje đã nhận sự trao truyền những
lời dạy Dzogchen (bka’, “lời”) trực tiếp từ Vajrasattva
ở trong một trạng thái tâm thức siêu việt. Vajrasattva không
phải là một biểu lộ lịch sử của đức Phật ; hơn thế,
ngài tượng trưng nguyên lý giác ngộ của Phật vượt khỏi
vòng hiện hữu bị quy định (samsara, sanh tử), vượt khỏi
mọi thời gian và lịch sử. Như thế, theo truyền thống, sự
biểu lộ của Pháp Phật không giới hạn trong đời người
của đức Phật Shakyamuni, cũng được biết với tên là Siddhartha
Gau-tama, sống ở bắc Ấn Độ vào thế kỷ thứ sáu trước
Công nguyên. Vajrasattva không chỉ là một đức Phật trong chuỗi
dài các đức Phật, mà ngài là nguyên mẫu của vĩnh cửu,
hiện hữu vượt khỏi thời gian không gian phàm tục, thường
trụ tại trung tâm của mạn đà la của tất cả hiện hữu.
Từ ngài lưu xuất tất cả chư Phật lịch sử hay những Hóa
thân xuất hiện từ thời gian này đến thời gian khác suốt
lịch sử của hành tinh chúng ta. Trong nghĩa này, Garab Dorje
cũng được xem là một lưu xuất của Vajrasattva, và thật
vậy, trong truyền thống Nyingma, ngài được gọi là Tulku (sprul-sku)
hay Hóa thân, có nghĩa là “thân lưu xuất”.
Theo
truyền thống, vào thời sơ thủy, Vajrasattva đã nhận trực
tiếp sự trao truyền Dzogchen hay Atiyoga từ Adibuddha, Phật Nguyên
Thủy Samantabhadra (Phổ Hiền), ngài là Pháp thân tối hậu
của Phật quả. Như vậy, Samantabhadra vượt khỏi ý niệm
của trí năng hữu hạn và vượt khỏi diễn tả bằng ngôn
ngữ hay biểu tượng, không có giới hạn và toàn khắp như
không gian vô tận. Vajrasattva nhận trực tiếp những giáo lý
từ Saman-tabhadra theo cách tâm truyền tâm, nghĩa là tức khắc,
không một lời được nói ra. Điều này biểu thị sự Tâm
Truyền hay sự trao truyền trực tiếp tâm với tâm của chư
Phật. Trong cách thức kỳ diệu này, những giáo lý tuôn ra
một cách tự nhiên từ cái Tuyệt Đối, mức độ Pháp thân
không biểu lộ, đi vào biểu lộ trên mức độ Báo thân.
Nhưng điều này hoàn toàn xảy ra trong một trạng thái thanh
tịnh trọn vẹn, không nhiễm ô bởi bất kỳ giới hạn hay
che chướng nào, dù trí năng, tâm linh hay vật chất. Đến
lượt Vajrasattva, phương diện vĩnh cửu không thời gian của
Phật tánh, chỉ với vài lời xen vào, truyền đạt những
lời dạy Dzogchen qua phương tiện biểu tượng, cho một số
cá nhân cao cấp, cả nhân loại và chư thiên, tức là những
Vidyad-hara (rig-'dzin), “những vị đã hiểu biết Trạng Thái
Bổn Nguyên”. Ban đầu điều này xảy ra trong những thế
giới và những chiều kích khác nhau hiện hữu bên trên và
ở ngoài thế giới con người. Trong những Vidyadhara không phải
là người này có Garab Dorje trong đời trước thuộc cõi thiên
của ngài. Tiến trình này biểu thị sự trao truyền bằng
biểu tượng đến những Vidyadhara.
Đã
hiện hữu trước kia như một vị thiên trong một cõi trời,
bấy giờ, trong những điều kiện hoàn cảnh kỳ diệu, từ
một sự mang thai vô nhiễm và một sự sanh ra của một vị
ni Phật giáo trong trắng, Garab Dorje được sinh ra trên trái
đất trong xứ sở Uddiyana. Như thế ngài thị hiện là một
Hóa thân, hay phương diện lịch sử của Phật tánh. Dù nguyên
lý Phật tánh bản thân nó là siêu thế gian và không có thời
gian, Phật Báo thân tiếp tục lưu xuất từ tiềm năng vô
tận của mình vô số Phật Hóa thân. Những Hóa thân này nhập
thể thành chúng sanh trên trái đất trong thời gian lịch sử
để cứu độ nhân loại khỏi tù ngục của sanh tử bằng
phương tiện giáo pháp và đưa họ đến giải thoát và giác
ngộ. Với biểu lộ trần thế và hoạt động của mình, Garab
Dorje truyền những giáo lý Dzogchen cho những đệ tử Dakini
(cả người lẫn ngoài loài người) và đặc biệt nhất, cho
đệ tử chánh của ngài là học giả Manjushrimitra. Ngài làm
điều này bằng thần giao cách cảm và biểu trưng, nhưng chủ
yếu bằng những giải thích miệng. Đến lượt Manjushrimitra
truyền những lời dạy cho đệ tử chánh là Shrihimsa, và vị
sau trong những dịp khác, ban chúng cho Jnanasutra, Vimalamitra,
Pad-masambhava, và dịch giả Tây Tạng Vairochana. Tiến trình
này truyền xuống từ Garab Dorje, biểu thị sự trao truyền
miệng cho nhiều người. Như vậy, chúng ta có ba loại chánh
trong sự trao truyền những chỉ dạy Dzogchen : trực tiếp,
biểu trưng và truyền miệng.
VỊ
TRÍ CỦA DZOGCHEN TRONG PHẬT PHÁP
Những
nhà Nyingma, “Những Vị Cổ”, thuộc trường phái xưa cổ
nhất của Phật giáo Tây Tạng và thực hành những Tantra Cổ,
chúng được dịch vào thời truyền bá giáo pháp sớm nhất
từ thế kỷ thứ bảy đến thứ chín. Theo quan điểm của
những Lama thuộc truyền thống Nyingma, Dzogchen tiêu biểu lời
dạy đích thực và chính thống của đức Phật. Nó là Bhuddhavachana,
“Lời của Phật”, nhưng Lời này, hay Logos (bka'), không xuất
phát nhiều từ đức Phật lịch sử Shakyamuni bằng nguyên
mẫu siêu thời gian, siêu lịch sử của ngài, tức là Vajrasattva,
qua sự thiền định của Garab Dorje. Nhưng những lời chỉ
dạy này liên hệ với giáo lý truyền thống được biết
nhiều của đức Phật như thế nào ?
Mọi
trường phái của Phật giáo Tây Tạng đồng ý rằng những
giáo lý của đức Phật có thể được xếp thành Ba Thân
hay Ba Thừa đi đến giác ngộ. Đó là Tiểu thừa, Đại thừa
và Kim Cương thừa. Tuy nhiên những nhà Nyingma phân loại tỉ
mỉ ba thừa này thành chín thừa liên tiếp nhau trong hệ thống
sắp xếp đặc biệt của họ.
Tiểu
thừa, theo những nhà Nyingma, gồm hai thừa phân biệt : (1)
Thanh Văn thừa, “Thừa của những Người Nghe hay Đệ tử”,
và (2) Bích Chi Phật thừa, “Thừa của các vị Phật Đơn
Độc”.
Những
giáo lý Tiểu thừa này đều gắn liền với sự tu hành giới,
định, huệ cao cấp hơn. Mục tiêu của con đường tu hành
này là đạt đến địa vị A La Hán, hay vị thánh toàn hảo,
“người đã đánh bại và cắt đứt mọi phiền não bất
tịnh”. Con đường này được phác họa trong những kinh điển
được bảo tồn trong những trường phái Tiểu thừa, cụ
thể là Kinh và Luật. Một Thanh Văn khác với một Độc Giác
Phật ở chỗ vị ấy trước hết phải nghe những giáo lý
từ người khác. Một Độc Giác Phật hay Bích Chi Phật, từ
bỏ mọi tiếp xúc với nhân loại cho một đời sống tuyệt
đối một mình, tự mình khám phá những giáo lý. Tuy nhiên,
cấp độ chứng ngộ của các vị là tương đồng.
Đại
thừa, trong sự xếp loại của Nyingma, là thừa thứ ba đến
giác ngộ, cụ thể là (3) Bồ tát thừa, “thừa của các
Bồ tát”.
Những
giáo lý Đại thừa này, trong đó đức Phật phát lộ rằng
bản tánh nội tại của mọi hiện tượng là tánh Không (vô
tự tánh, không có bản tánh hay hiện hữu nội tại), được
tìm thấy trong Kinh được gìn giữ trong những trường phái
Đại thừa. Ở đây người thực hành được gọi là một
Bồ tát, nghĩa là một cá nhân anh hùng (sems-dpa') hướng về
sự đạt đến giác ngộ của một vị Phật. Vị ấy (nam
hay nữ) tìm kiếm sự giải thoát khỏi sanh tử, không phải
cho sự cứu độ riêng mình, mà cho lợi lạc của tất cả
chúng sanh và giải thoát họ khỏi khổ đau trong sanh tử luân
hồi. Mục tiêu ở đây không phải là A La Hán, người chỉ
quan tâm đến sự cứu độ cho riêng mình, mà là Phật quả
trọn vẹn. Chỉ một vị Phật mới có thể đem lại sự cứu
độ phổ quát cho tất cả chúng sanh. Nền tảng hay căn cứ
(gzhi) của Đại thừa là Phật tánh nguyên thủy vốn có trong
mỗi chúng sanh. Cái này được gọi là Như Lai tạng (Tathagatagarbha),
một từ ngữ có nghĩa là phôi thai hay hạt giống (garbha) của
một vị Phật (Tathagata) tương lai. Con đường của Đại thừa
cốt ở thực hành sáu cái hoàn thiện (sáu ba la mật) trong
vô số thời gian trải qua ba vô số kiếp. Sáu hoàn thiện
là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định
và trí huệ. Vì con đường cốt ở sáu cái này, Đại thừa
cũng được biết như là Ba la mật đa thừa (Paramita-yana),
hay thừa của những Hoàn Thiện. Mục tiêu hay quả của Đại
thừa là sự thực hiện Hai Thân của Phật là Sắc thân (Rupa-kaya)
và Pháp thân hay Thân Thực Tại. Sự thực hành năm ba la mật
đầu là sự tích tập công đức, tựu thành sự thực hiện
Sắc thân. Sắc thân này bởi thế là hoàn toàn độc nhất
cho mỗi vị Phật, bởi vì sự thực hiện nó tùy thuộc vào
những lời nguyện và hoạt động của vị đó khi còn trên
con đường như một Bồ tát. Ngược lại, Pháp thân được
thực hiện nhờ sự tích tập trí huệ nhờ trí huệ ba la
mật. Pháp thân thì đồng nhất cho tất cả những ai đã chứng
ngộ hoàn toàn Phật tánh. Bởi vì những giáo lý trình bày
những nguyên lý của Đại thừa được tìm thấy trong kinh
thuyết giảng ở núi Linh Thứu và những nơi khác, con đường
này cũng được biết như là Hệ thống Kinh. Bởi vì mỗi
giai đoạn của sự khai triển tâm linh cá nhân có những đặc
trưng nhất định riêng biệt, nó cũng được biết như là
Tướng thừa (Lakshanayana), hay Thừa của những Đặc Trưng
Nhất Định. Và bởi vì những Kinh nói đến Phật quả là
có một nguyên nhân (Skt. hetu), nghĩa là Như Lai tạng, Đại
thừa cũng được gọi là Nhân thừa (Hetuyana), hay Thừa Nguyên
Nhân. Cả Tiểu thừa và Đại thừa được nói là đã được
phát lộ khoảng 2.500 năm trước bởi đức Phật lịch sử
Shakyyamuni ở bắc Ấn Độ.
Kim
Cương thừa được chia nhỏ trong hệ thống Nyingma thành sáu
loại Tantra, mỗi loại là một thừa độc lập và tự đủ
đưa đến giác ngộ, tức là, Kriya Tantra, Charya Tantra, Yoga
Tantra, Mahayoga Tantra, Anuyoga Tantra và Atiyoga Tantra. Kim Cương
thừa được gọi như vậy bởi vì bản tánh nguyên sơ sẵn
có của cá nhân giống như kim cương : không biến đổi, không
thể hủy hoại, trong suốt. Những giáo lý của Kim Cương thừa
được tìm thấy trong những bản văn mật truyền là Tantra
(rgyud). Bởi vì những Tantra nói về sự chuyển hóa năng lực,
và năng lực biểu lộ như âm thanh, và âm thanh được dùng
theo cách này gọi là mantra, con đường của những Tantra cũng
được gọi là Mantrayana (Thần Chú thừa) và hệ thống thần
chú. Những giáo pháp mật truyền trong hệ thống này được
biết là Thần Chú Bí Mật.
Dù
những cách tiếp cận của hệ thống Kinh và hệ thống Thần
Chú không trái nghịch nhau chút nào, hệ thống Thần Chú được
xem là cao hơn, bao gồm trong nó hệ thống Kinh thấp hơn. Tuy
nhiên, hệ thống Thần Chú hay Kim Cương thừa khác với hệ
thống Đại thừa Kinh ở bốn lối chính : (i) sự thực hành
những Tantra dễ hơn bởi vì không đòi hỏi những khổ hạnh
gắt gao ; (ii) những kết quả thì nhanh hơn, và người ta có
thể đạt được giải thoát trong chỉ một đời ; (iii) những
Tantra chứa đựng một số lớn lao những phương pháp đa dạng
hợp với những cá nhân khác nhau ; và (iv) một trí thông minh
sắc sảo xuyên thấu hơn cần có trong thực hành tantra.
Có
ba loại Tantra được xem là thấp hơn, do đó được gọi là
những Tantra Ngoại (phyi rgyud) : Kriya Tantra, Charya Tantra, và
Yoga Tantra.
(4)
Kriya Tantrayana, “Thừa Kriya Tantra”, là thừa thứ tư sau Thanh
Văn thừa, Bích Chi Phật thừa và Bồ Tát thừa, nhấn mạnh
sự cử hành những nghi thức bên ngoài. Chữ Sanskrit kriya có
nghĩa là “hoạt động nghi lễ”.
(5)
Charya Tantrayana, “Thừa Charya Tantra” nhấn mạnh đồng đều
nghi thức bên ngoài và thiền định bên trong. Chữ Sanskrit
carya có nghĩa “hạnh kiểm” hay “ứng xử”. Charya Tantra
cũng được biết như là Upaya Tantra, trong đó chữ San-skrit
upaya là “phương pháp”, và như Ubhaya Tantra, trong đó ubhaya
có nghĩa là “cả hai”, nghĩa là nó nối kết cả hai Kriya
Tantra và Yoga Tantra. Trong khi hoạt động của nó cũng giống
như Kriya Tantra, quan điểm của nó giống như Yoga Tantra. Trong
thừa này và trong thừa trước, người thực hành quán tưởng
vị thần bổn tôn (yi-dam) trong bầu trời trước mặt nó và
cầu nguyện và xin vị thầy này ban phước để được cảm
ứng và trí huệ. Trong trường hợp Kriya Tantra điều này được
làm theo cách một người tớ đến gần ông chủ và tương
tự với thái độ của tôn giáo sùng mộ quy ước. Trong trường
hợp Charya Tantra, điều này được làm theo cách một người
bạn yêu cầu một người bạn thân thiết. Điều này tương
tự với thái độ của huyền học sùng mộ.
(6)
Yoga Tantrayana, “Thừa Yoga Tantra”. Ở đây Yoga nghĩa là “hợp
nhất” hay “kết hợp”. Trong Yoga Tantra, như với hai thừa
trước, người thực hành bắt đầu bằng quán tưởng vị
thần bổn tôn trong bầu trời phía trước nó, cầu thỉnh
sự ban phước cảm ứng và trí huệ theo cùng cách. Nhưng sau
đó, người ta đi vào một hợp nhất huyền bí với thần
bổn tôn bằng cách làm tan biến chính mình vào trạng thái
của tánh Không và rồi tái biểu lộ trong một thân thể ánh
sáng thanh tịnh, thực sự trở thành vị thần bổn tôn trong
thiền định của mình. Kinh nghiệm này được biết là kiêu
hãnh thiêng liêng. Như thế người ta đến chỗ thể hiện
bên trong mình mọi phẩm tính và thuộc tính của vị thần
đặc biệt ấy.(3) Những phương pháp tịnh hóa được đùng
trong những Tantra Ngoại này thì rất đòi hỏi những yêu cầu
và phức tạp, và chúng chủ yếu đại diện con đường tịnh
hóa. Những Tantra này được nói do Vajrasattva, hình thức nguyên
mẫu bí mật của Phật, phát lộ.
Rồi
tiếp theo là ba loại Tantra Cao Hơn, cũng gọi là Những Tantra
Nội : Mahayoga, Anuyoga và Atiyoga. Những Tantra Cao Hơn được
xem là do Phật Bổn Nguyên Samantabhadra phát lộ. Theo những
Tantra Cao Hơn này, nền tảng căn cứ của Kim Cương thừa là
thân người. Con đường của Kim Cương thừa là sự thực
hành tiến trình phát sanh (bskyed rim, Skt. utpattikrama) và sự
thực hành tiến trình hoàn thiện (rdzogs-rim, Skt. sampannakrama).
Trong giai đoạn tiến trình phát sanh người ta tự quán tưởng
mình là hình tướng thiêng liêng của vị thần bổn tôn và
môi trường của mình là nơi chốn thanh tịnh của mạn đà
la của vị thần ấy, nghĩa là chiều kích của nó trong thời
gian và không gian. Chính nhờ tiến trình phát sanh này hành
giả tịnh hóa khuynh hướng tái sanh trong dục giới, tức là
sáu loại chúng sanh. Trong giai đoạn tiến trình hoàn thiện,
hành giả quán tưởng những kinh mạch siêu vật chất (rtsa-ba)
và những năng lực siêu vật chất (rlung) trong thân thể là
vị thần. Ở đây những năng lực bất tịnh của phiền não
(Skt. klesavayu, khí phiền não) được tịnh hóa và chuyển hóa
thành năng lực thanh của trí huệ (Skt. jnanavayu). Do tiến trình
sau này xu hướng tái sanh trong sắc giới giữa chư thiên trường
thọ của những bình diện tâm thức cao hơn được tịnh hóa.
Như được diễn tả trong những Tantra, Kim Cương thừa, nó
là con đường của những Đại Thành Tựu giả, tiêu biểu
một tiến trình luyện kim thành vàng, trong đó những năng
lực của những đam mê căn bản trong thân thể vật chất
và những thân vi tế chuyển thành chất trường sanh của tánh
giác bổn nguyên hay trí huệ bổn nguyên (yeshes, Skt. juma). Chính
chất trường sanh của thuật luyện kim này ban cho đời sống
vĩnh cửu. Bởi thế, không cần từ bỏ và dồn nén những
đam mê phiền não, như trong trường hợp thực hành của hệ
thống Kinh. Phương pháp đặc biệt cho hệ thống Kinh là con
đường từ bỏ, trong khi phương pháp đặc biệt cho những
Tantra là sự chuyển hóa (sgyur-ba) năng lực. Vì lý do này,
những bản văn nói đến Tantra như là con đường của chuyển
hóa.
Mục
tiêu hay quả của Kim Cương thừa là sự thực hiện Ba Thân
của Phật. Ở đây Sắc thân là hai cái : (i) Báo thân, Thân
của Phúc Lạc Viên Mãn biểu lộ trong Akanishtha (Hữu đỉnh
thiên), bình diện cao nhất của hiện hữu, và không ở đâu
khác ; (ii) Hóa thân, Thân Lưu Xuất, biểu lộ trên những bình
diện vật chất và siêu vật chất trong thời gian và lịch
sử. Trong khi Báo thân chỉ biểu lộ với cái thấy của chúng
sanh tiến hóa cao, những Đại Bồ tát, thì Hóa thân xuất
hiện với vô số chúng sanh khắp vũ trụ mà sự thấy của
họ còn bất tịnh và bị che ám bởi những phiền não và
giới hạn trí năng. Tuy nhiên, bởi vì quả của nó đã hiện
hữu trong cá nhân từ vô thủy, dù có bị che ám, Kim Cương
thừa được xem là đã chứa sẵn quả và bởi thế được
gọi là Phalayama tức là Thừa Quả.
(7)
Mahayoga Tantrayana, “Thừa Đại Hợp Nhất”, nhấn mạnh vào
Utpattikrama hay tiến trình phát sanh. Thừa này rất tỉ mỉ
và gồm sự quán tưởng nhiều vị thần và mạn đà la. Mahayoga
chia thành phần Tantra (rgyud-sde) và phần Sad-hana (sgrub-sde).
Nói chung Mahayoga tương đương với Anu-ttara Tantra của những
trường phái mới hơn của Phật giáo Tây Tạng, và đặc biệt
tương đương với những Tantra Cha (phargyud), nhấn mạnh khía
cạnh nam tính của giác ngộ.
(8)
Anuyoga Tantrayana, “Thừa Hợp Nhất Hơn Nữa”, nhấn mạnh
Sampannakrama, hay tiến trình hoàn thiện. Thừa này trong nhiều
mặt tương đương với loại Tantra Mẹ của giác ngộ. Tuy
nhiên khác với Anuttara Tantra, Anuyoga có hai kiểu hay phương
pháp quán tưởng phân biệt : tiệm tiến và tức thời. Trong
Anuyoga cũng có những quán tưởng tỉ mỉ những vị thần
và mạn đà la, nhưng ở đây nhấn mạnh hơn đến thực hành
yoga bí truyền về những kinh mạch và năng lực. Thật ra,
trong hệ thống Tantra, sau khi làm tan biến sự quán tưởng
trở lại vào trong trạng thái tánh Không, từ tánh Không này
sự quán tưởng khởi lên vào lúc bắt đầu tiến trình chuyển
hóa, bấy giờ người ta đi vào một trạng thái tham thiền
(mnyam-bzhag, Skt. sama-hita). Trong Anuttara Tantra của những trường
phái mới trạng thái này được biết là Mahamudra (Đại Ấn).
Tuy nhiên, trong hệ thống Anuyoga, giai đoạn này, nó biểu lộ
sự thành tựu của tiến trình chuyển hóa, được gọi là
Dzogchen. Một số bản văn rất cổ xác nhận điều này, chỉ
ra rằng trong sơ thời, Dzogchen được nghĩ là cái còn lại
vượt khỏi tiến trình phát sanh và tiến trình hoàn thiện,
như một trạng thái là rdzogs-chen, trọn vẹn hoàn thiện.
(9)
Atiyoga Tantrayana, “Thừa Hợp Nhất Tối Hậu”, còn được
biết với tên Dzogchen, “Đại Toàn Thiện, Đại Viên Mãn”.
Trong hệ thống Nyingma, thừa thứ chín, Atiyoga hay Dzogchen, được
xếp loại là một Tantra. Tuy nhiên, Dzogchen cũng hiện hữu
nơi lãnh vực riêng của nó, độc lập với những phương
pháp của Tantra. Ở đây sự thực hành của nó không đòi
hỏi tiến trình tiên quyết nào chuyển hóa thành một vị
thần trú trong chiều kích thanh tịnh của mạn đà la, như
trong trường hợp Mahayoga hay Anuyoga. Hơn nữa, sự thực hành
bắt đầu nơi Tantra dừng lại, nghĩa là, Dzogchen bắt đầu
với trạng thái tham thiền. Như thế Dzogchen được xếp loại
là một thừa tự chính nó, và không chỉ là trạng thái kết
thúc của tiến trình chuyển hóa như Maha-mudra chẳng hạn.
Trong hệ thống Nyingma, Dzogchen được nhìn như đỉnh cao nhất
(yang-rtse) đạt được bởi mọi con đường tâm linh khác và
như điểm kết thúc của mọi thừa hay yoga trước đó.
Dzogchen
có một phương pháp luận hoàn toàn riêng, phân biệt nó với
các thừa khác, và bởi thế nó không chỉ là một mở rộng
hay tiếp tục của hệ thống Tantra. Phương pháp đặc trưng
của hệ thống Kinh là con đường từ bỏ, như sự thực hành
phát những lời nguyện, phương pháp đặc trưng của các Tantra
Thấp là con đường tịnh hóa, như nhiều loại thực hành
làm sạch cái thấy bất tịnh thuộc nghiệp báo ; và phương
pháp đặc trưng của các Tantra Cao là con đường chuyển hóa,
như tiến trình chuyển hóa bản thân, cả ngoài lẫn trong,
thành vị thần trong chiều kích thanh tịnh của mạn đà la
của vị thần ấy. Ở đây trong các Tantra Cao, cái thấy bất
tịnh thuộc nghiệp báo tác động chúng sanh vô minh bình thường
không chỉ được làm sạch, mà còn thực sự chuyển hóa thành
cái thấy thanh tịnh của trí huệ và tri kiến của một bậc
giác ngộ. Những quang cảnh bình thường của thế gian không
còn bình thường nữa, mà là những cái thấy những vị thần
bổn tôn và những mạn đà la. Những âm thanh bình thường
của thế gian không còn bình thường nữa, mà là những âm
thanh thanh tịnh của những thần chú. Những tư tưởng và
nhớ tưởng bình thường không còn bình thường nữa, mà là
những tham thiền hay samadhi của một bậc giác ngộ. Tuy nhiên,
phương pháp đặc trưng của Dzogchen không phải là chuyển
hóa, mà là con đường của tự-giải thoát (grol-lam), và đó
là sự độc nhất vô nhị của nó.
Tất
cả những phương pháp thực hành này trong Ba Thừa, hay trong
hệ thống xếp thành Chín Thừa, hoàn toàn phân biệt về cách
tiếp cận của chúng đối với con đường tâm linh. Điều
này có thể thấy bằng thí dụ cây độc. Loại hành giả
thứ nhất theo phương pháp những Kinh Tiểu thừa, cố gắng
tránh cây độc ngăn chặn con đường của họ. Cách tiếp
cận này biểu thị con đường từ bỏ. Loại hành giả thứ
hai theo những phương pháp của những Kinh Đại thừa và những
Tantra Thấp, cố gắng áp dụng một đối trị với chất độc
của cây mà nó tiếp xúc khi ở trên con đường. Cách tiếp
cận thứ hai này tiêu biểu con đường tịnh hóa. Cái đối
trị phổ quát với những chất độc thế gian là thiền định
về tánh Không, sự vô tự tánh của mọi hiện tượng. Loại
hành giả thứ ba, theo những Tantra Cao, cố gắng chuyển hóa
chất độc trong cây theo cách luyện kim để thành cam lồ của
trí huệ hay tánh giác. Cách tiếp cận thứ ba này tiêu biểu
con đường chuyển hóa. Cây độc này tượng trưng mọi phiền
não và tiêu cực làm khổ tâm thức con người trong hiện hữu
sanh tử. Nhưng những cái trên không tiêu biểu phương pháp
riêng của Dzogchen. Hành giả Dzogchen không cố gắng thoát khỏi,
hay áp dụng một cái đối trị cho, hay chuyển hóa chất độc
này. Trong Dzogchen không có gì để từ bỏ và không có gì
để chuyển hóa. Nói cho đúng, Dzogchen có phương pháp riêng
của nó, gọi là tự-giải thoát (rang grod), ở đây, trong thực
hành thiền định của cá nhân, những tư tưởng được để
cho tự-giải thoát ngay khi chúng khởi lên. Những bản văn
được dịch sau đây nói về phương pháp chót này, gọi là
con đường của tự-giải thoát.
BA
BỘ GIÁO LÝ DZOGCHEN
Về
con đường, có ba bộ giáo lý mà những bản văn gốc của
Dzogchen được xếp thành. Bộ thứ nhất là Semde, hay Bộ Tâm
(sems-de, Skt. citta-varga). Ở đây chữ tâm không ám chỉ tiến
trình tư tưởng của người bình thường, nó hiện hữu trong
thời gian và bị quy định bởi những nguyên nhân trước đó,
mà là bản tánh của tâm (sems-nyid), hiện hữu vượt khỏi
thời gian và sự bị điều kiện hóa. Trong những bản văn
Semde Dzogchen, bản tánh của tâm này thường được gọi là
Bồ đề tâm. Nghĩa của Bồ đề tâm trong ngữ cảnh này nói
đến Trạng Thái Bổn Nguyên của cá nhân do đó hoàn toàn
khác với chữ được dùng trong các bản văn của hệ thống
Kinh. Nhưng về toàn thể, những giáo lý Semde cung cấp một
cách tiếp cận trí thức hơn, một giải thích từng bước
làm sao đi vào trạng thái tham thiền (rig-pa). Sự giải thích
này tương tự với hệ thống Mahamudra của Gampopa, là cái
trổi bật trong trường phái Kargyu. Trong cả hai trường hợp,
sự thực hành được chia thành bốn giai đoạn gọi là những
yoga.(4) Những bản văn còn tồn tại của những bộ Semde Dzog-chen
đã được dịch giả Vairochana và đạo sư Vimalamitra truyền
vào Tây Tạng.
Thứ
hai là Longde, hay Bộ Hư Không (klong-sde, Skt. abhyantara-varga)
trong đó mọi sự thì rất trực tiếp, tức thời và thoáng
rộng hơn trong cách tiếp cận tham thiền của nó. Về nghĩa
đen, klong nghĩa là “sự trải rộng bao la của hư không”.
Bốn giai đoạn trong thực hành Longde được biết như bốn
dấu hiệu (brda bzhi) nhưng chúng xảy ra đồng thời hơn là
tuần tự như bốn giai đoạn yoga trong Semde. Những bản văn
còn tồn tại của Longde Dzogchen tất cả đều truyền vào
Tây Tạng do dịch giả Vairochana, đặc biệt là những chỉ
dạy Cầu Kim Cương. Vairochana đã nhận những trao truyền về
Semde và Longde ở Ấn Độ từ đạo sư Dzogchen Shrisimha.
Thứ
ba, có những giáo lý phi thường của Bộ Upadesha, hay Bộ Giáo
Huấn Bí Mật (man-ngad gi sde, Skt. upadesha varga). Những giáo
lý này giả định rằng người ta đã biết làm sao đi vào
trạng thái tham thiền, và như thế chúng cho nhiều lời khuyên
thực tế và nhiều phương pháp để liên tục ở trong trạng
thái tham thiền. Những giáo lý này cũng được biết với
tên là Nying-thig (snying-thig, Skt. citta-tilaka), nghĩa là “tinh
túy của tâm”, từ chữ snyng-po (tâm) và thig-le (tinh túy).(5)
Những giáo lý Nying-thig khởi đầu được truyền vào Tây
Tạng bởi Guru Padmasambhava và Mahapandita Vimalamitra, cả hai vị
là những đệ tử của đạo sư Shrisimha ở Ấn Độ. Cả
hai bản văn được dịch sau đây thuộc về Bộ Upadesha.
Từ
quan điểm của những giáo lý Nying-thig, trạng thái nguyên
sơ của cá nhân, bản tánh giác ngộ vốn sẵn của người
ta, vốn thanh tịnh và tự nhiên tự-toàn thiện (lhun-grub).
Hai phương diện này được chứng ngộ trong hai phần giáo
lý và thực hành của Nying-thig là Thekchod và Thodgal. Từ ngữ
Thekchod (khregs-chod) nghĩa đen là “cắt tháo (chod) cái bó (khregs)”,
như một người tiều phu cắt tháo những sợi dây cột một
bó củi anh ta đã mang theo từ rừng về. Trong trường hợp
cá nhân, cái bó này là tất cả những căng thẳng và khô
cứng về tình cảm và trí óc nó giam giữ người ta trong một
lồng của sự tự tạo và ngăn người ta không chứng ngộ
được sự tự do vốn sẵn nơi mình. Điểm chính trong Thekchod
là buông xả mọi căng thẳng này của thân, ngữ, tâm ngăn
chướng Phật tánh vốn sẵn của chúng ta. Phật tánh này vốn
hiện diện như là Nền Tảng (ye gzhi). Trong thực hành Thekchod
người ta an định vào một trạng thái tham thiền mà không
xao lãng khỏi cái thấy (kiến) sự thanh tịnh bổn nguyên của
bản tánh vốn sẵn của chúng ta dù một khoảnh khắc. Như
đạo sư Garab Dorje nói, “Bất cứ cái gì được sanh ra trong
tâm đều không chướng ngại như những đám mây trong bầu
trời. Đã hiểu nghĩa của sự đồng nhất trọn vẹn của
tất cả hiện tượng (về tinh túy của chúng là tánh Không),
bấy giờ khi người ta đi vào cái này (trạng thái tham thiền
này) mà không theo những hiện tượng, đây là chân thiền
định.” Qua sự thực hành Thekchod, người ta đến chỗ hiểu
và hoàn toàn quen với trạng thái tham thiền.
Rồi,
qua thực hành Thodgal, người ta khai triển trạng thái tham thiền
này qua trung gian của cái nhìn. Từ ngữ Thodgal (thod-rgal, Skt.
vyutkrantaka) nghĩa đen là “trực tiếp” (thod-rgal du) trong
nghĩa một chuyển dịch tức thời và khoảnh khắc từ một
chỗ này qua chỗ khác, trong đó không có sự can thiệp của
thời gian. Như thế một số người dịch là “nhảy qua”,
nhưng nó thì tức thời hơn là thế. Và cũng ở đây, khi chúng
ta nói “cái nhìn thấy” (snang-ba), chúng ta không nói đến
quán tưởng, nó được dùng nhiều chẳng hạn trong Tantra.
Quán tưởng là một tiến trình bao gồm công việc của tâm
thức. Tuy nhiên, với Thek-chod chúng ta đã đi vào một chiều
kích vượt khỏi tâm thức, và với Thodgal, người ta tiếp
tục trong chiều hướng này. Hơn là những quán tưởng do tâm
thức tạo ra, chúng ta đang nói về một sự hòa nhập với
cái nhìn thấy, với bất kỳ cái gì khởi lên tự nhiên cho
cái nhìn trong khi hành giả đang trong trạng thái tham thiền.
Bởi thế, sự thông thạo tham thiền nhờ thực hành Thekchod
là một tiền đề trực tiếp cho thực hành Thodgal. Nếu khác
đi, sẽ có mối nguy là người ta bị bắt vào trong những
cái nhìn thấy của mình, trở nên xao lãng bởi chúng và rồi
tin rằng chúng là một thực tại khách quan. Thật vậy, chính
sự bám luyến vào những cái nhìn thấy bất tịnh thuộc nghiệp
báo đã làm cho cá nhân thoạt tiên bị bắt vào sanh tử.
Trong
khi nguyên lý của Thekchod là sự thanh tịnh bổn nguyên của
mọi sự, nguyên lý của Thodgal là sự tự-toàn thiện tự
nhiên của chúng. Tương phản lại, phương pháp trong Tantra
là chuyển hóa cái nhìn bất tịnh và thuộc nghiệp báo của
chúng ta (như ngay lúc này chúng ta đang kinh nghiệm) thành cái
nhìn thanh tịnh, đó là cái nhìn của người giác ngộ nhìn
thấy thế giới. Trong Tantra người ta quán tưởng mình là
một vị thần bổn tôn trong chiều kích thanh tịnh của mạn
đà la, và nhờ sự thực hành sadhana lập đi lập lại trong
khi nhập thất người ta làm cho kinh nghiệm này thành cái gì
thực và cụ thể. Tuy nhiên, trong Dzogchen không có việc chuyển
hóa những hiện tượng bất tịnh thành những hiện tượng
thanh tịnh, bởi vì bất kỳ hiện tượng nào có thể biểu
lộ với các giác quan đều toàn thiện, trọn hảo như chính
nó là. Chúng là sự tự nhiên toàn thiện (lhun-rdzogs) bởi
vì chúng là những biểu lộ của bản tánh của tâm, của
tiềm năng của năng lực (rtsal) vô tận của tâm. Trong những
giáo lý Dzogchen, bản tánh của tâm giống như một tấm gương
và những hiện tượng giống như những phản chiếu thấy
trong tấm gương ấy. Dù những phản chiếu này tốt hay xấu,
đẹp hay xấu, sạch hay dơ, chúng không thể nào biến đổi
hay làm giới hạn tấm gương. Bản tánh của tự tâm cũng
như vậy.
Thành
quả tối hậu của sự thực hành Thodgal là sự thực hiện
Thân Cầu Vồng của Ánh Sáng (ja-lus), khiến người ta không
cần chịu tiến trình chết và tái sanh nữa. Tất cả những
đạo sư ban đầu của truyền thống Dzogchen ở Ấn Độ, vào
lúc chấm dứt cuộc đời giáo hóa ở trần thế, đã biểu
lộ Thân Ánh Sáng (od lus) này. Những đạo sư này – Garab
Dorje, Manjush-rimitra, Shrihimsa và Jnanasutra, sau khi làm tan biến
thân thể vật chất thô vào năng lực thanh tịnh chói ngời
(một tiến trình gọi là m-log, hay “đảo ngược”, trong
đó những nguyên tố vật lý của thân vật chất được tan
vào những ánh sáng màu sắc tương ứng), rồi sau đó xuất
hiện trở lại trong bầu trời dưới dạng những thân ánh
sáng để ban cho những chúc thư cuối cùng (zhal' chems) cho những
đệ tử cao cấp từng người một. Một chúc thư cuối cùng
như thế là những câu kệ súc tích nói lên tinh túy cốt lõi
của giáo lý đạo sư, mà bây giờ đã được thực hiện
trong kinh nghiệm cá nhân của ngài. Chúc thư đó là một Upadesha,
không phải là một trình bày theo lối học giả. Ngay khi nghe
những chỉ dạy này, đệ tử tức thời đạt đến một cái
thấu hiểu sâu rộng ngang với sự thấu hiểu của đạo sư.
Những chúc thư cuối cùng này được biết như những giáo
lý để lại khi chết này được biết là “Ba Tuyên Bố Điểm
Vào những Điểm Thiết Yếu”. Trong Dzogchen điểm thiết yếu
(gnad) là trạng thái tham thiền, nó là trạng thái của tánh
giác nội tại hiện tiền.
Theo
truyền thống Nyingma, những tinh túy của toàn bộ giáo lý
Dzogchen đến từ chính Adibuddha Samantabhadra và chứa đựng
trong khoảng sáu mươi bốn ngàn câu kệ trong những Tantra,
Agama và Upadesha được tìm thấy trong ba tuyên bố súc tích
này. Có một số lớn những bình giảng học giả trong nhiều
bộ sách bởi những đạo sư đời sau của truyền thống Nyingma
giải thích tỉ mỉ ba lời tuyên bố này. Nhưng một trong những
bình giảng trực tiếp có thể thâm nhập nhất, và ngày nay
rất được các hành giả Dzogchen Tây Tạng biết đến, là
bản văn của đạo sư Dzogchen thế kỷ mười chín Dza Patrul
Rinpoche (1808-1887) với đầu đề mKhas-pa shri rgyal-po'i khyad
chos, “Giáo Lý Đặc Biệt Của Đức Vua Thông Thái Và Vinh
Quang”. Bản dịch của cả bản văn gốc này và bình giảng
của nó sẽ có ở sau đây. Bản văn của Patrul Rinpoche theo
sau một bản dịch mà theo truyền thống thực sự là chúc
thư cuối cùng của đạo sư Garab Dorje. Bản văn này được
tìm thấy trong một bộ tuyển tập có tên Bi-ma snying-thig,
do đạo sư Dzogchen và học giả Nyingma nổi tiếng thế kỷ
mười bốn là Longchen Rabjampa (1308-1363) kết tập. Một trong
những mục tiêu chính yếu của cả hai bản văn này là cung
cấp cho hành giả một giới thiệu trực tiếp vào Dzogchen,
Trạng Thái Bổn Nhiên.
PHẦN
MỘT:
BA
LỜI TUYÊN BỐ ĐIỂM VÀO NHỮNG ĐIỂM THIẾT YẾU
BA
LỜI TUYÊN BỐ ĐIỂM VÀO
NHỮNG
ĐIỂM THIẾT YẾU
(Tshig
gsum gnad du brdeg-pa)
Garab
Dorje
I.
NGO
RANG THOG TU SPRAD
(đọc
: ngo rang t'og tu tray)
Người
ta được đưa trực tiếp vào bản tánh của chính mình.
II.
THAG
GCIG THOD TU BCAD
(đọc
: t'ag chig t'og tu chay)
Người
ta quyết định dứt khoát ở trong trạng thái độc nhất này.
III.
GDENG
GROL THOG TU BCA'
(đọc
: deng drol t'og tu cha)
Người
ta liên tục trực tiếp tin vào giải thoát.
MỘT
BÌNH GIẢNG NGẮN
VỀ
BA LỜI TUYÊN BỐ CỦA GARAB DORJE
do
Đức Dudjom Rinpoche
I.
Về sự trực tiếp đưa vào bản tánh của chính mình : Cái
tỉnh giác tươi mới hiện tiền này của khoảnh khắc hiện
tại, siêu vượt mọi tư tưởng liên quan đến ba thời, chính
là cái tỉnh giác bổn nguyên hay trí huệ (ye-shes) bổn nguyên,
nó là tánh Giác (rig-pa) tự tại. Đây là sự trực tiếp đưa
vào bản tánh của chính mình.
II.
Về quyết định dứt khoát ở trong trạng thái độc nhất
này : Bất cứ hiện tượng nào của Sanh tử và Niết bàn
biểu lộ ra, tất cả chúng đều hiển hiện trò chơi của
năng lực hay tiềm năng sáng tạo của tánh Giác tự tại trực
tiếp của chính mình. Bởi vì không có cái gì ra khỏi cái
này, người ta cần liên tục ở trong trạng thái của tánh
Giác kỳ diệu và độc nhất này. Bởi thế, người ta phải
quyết định dứt khoát ở trong trạng thái độc nhất này
cho chính mình và phải biết rằng không có gì hiện hữu ngoài
Cái Này.
III.
Về liên tục trực tiếp tin vào giải thoát : Bất cứ tư
tưởng thô hay tế nào khởi lên, chỉ bằng nhận biết bản
tánh của chúng, chúng sanh khởi và tự-giải thoát đồng thời
trong cảnh giới bao la của Pháp thân, nơi đó tánh Không và
tánh Giác không một chút tách lìa. Bởi thế, người ta cần
liên tục tin ngay vào sự giải thoát của chúng.
Dịch
bởi Vajranatha
Baudhnath,
Nepal, 1978
Giáo lý đặc
biệt của đức vua
thông thái
và vinh quang
do Patrul Rinpoche
BẢN
VĂN GỐC
Kính
lễ Đạo Sư.
Kiến
là Longchen Rabjampa : “pháp giới bao la vô hạn” ;
Thiền
là Khyentse Odzer : “những tia sáng của trí huệ và tình thương”
;
Và
hạnh là Gyalwe Nyugu : “những mầm tươi tắn của chư Phật
tương lai”.
Người
nào thực hành toàn tâm theo cách này
Chắc
chắn đạt được Phật quả trong chỉ một đời không phải
nỗ lực ;
Và
dù người ta không (hoàn thành thực hành), tâm họ chắc chắn
hưởng thọ hạnh phúc.
A-la-la
!
I.
Về
phần cái kiến của Longchen Rabjampa (pháp giới bao la vô hạn),
Có
ba tuyên bố điểm vào những điểm thiết cốt (của sự thực
hành).
Thứ
nhất, để cho tâm mình ở trong trạng thái buông xả
Không
có tư tưởng, không phân tán cũng không tập trung.
Khi
ở trong tình trạng này, một trạng thái thư thả và buông
xả trọn vẹn,
Đột
nhiên thốt lên PHAT ! đánh tan tư tưởng (khởi lên)
Mạnh
mẽ và tức khắc.
EMAHO
(kỳ diệu thay) !
Không
còn gì khác ngoài một cái tỉnh giác sắc bén đến sửng
sốt ;
Cái
tỉnh giác đáng kinh ngạc này trực tiếp thấu suốt ;
Không
có gì khởi lên có thể ngăn trở nó ; nó không thể mô tả.
Người
ta cần nhận biết cái ấy là tánh Giác nội tại tức thời
nó chính là Pháp thân.
Sự
trực tiếp đưa vào tự tánh này là điểm thiết yếu thứ
nhất.
II.
Dù
tư tưởng sinh sôi hay ở yên trong một trạng thái bình lặng,
điều này hoàn toàn tốt thôi.
Dù
có khởi lên tham hay sân, vui hay buồn,
Vào
mọi lúc và nơi mọi dịp,
Người
ta cần hộ trì sự nhận biết Pháp thân đã được nhận
ra trước đó.
Hợp
nhất hai Tịnh Quang của Mẹ và Con,
Người
ta phải để cho mình an trụ trong một trạng thái của tánh
Giác không thể diễn tả.
Dù
có khởi lên những kinh nghiệm về bình lặng, khinh khoái,
hay về sáng tỏ, hay tư tưởng phồn tạp, hãy tiếp tục phá
tan chúng
Với
sự thốt lên bùng vỡ thình lình âm PHAT ! này, nó hợp nhất
phương tiện thiện xảo và trí huệ.
Bởi
vậy sẽ không có khác biệt giữa trạng thái tham thiền bằng
phẳng và cái được nhận thức tiếp theo ;
Và
sẽ không có phân biệt giữa thời khóa thiền định và ngoài
thời khóa.
Người
ta cần tương tục ở trong trạng thái nơi đó chúng không
thể tách lìa.
Tuy
nhiên, nếu người ta không thể đạt được sự an vững trong
đó,
Bấy
giờ đã từ bỏ mọi tiêu khiển thế gian, quan trọng là thiền
định
Và
phân chia sự thực hành thành từng thời riêng biệt.
Vào
mọi lúc và nơi mọi dịp,
Người
ta cần liên tục ở trong trạng thái của Pháp thân đơn nhất
này
Và
người ta cần khám phá rằng không có cái gì khác ngoài Cái
Này.
Như
thế, khám phá thẳng trạng thái duy nhất này là điểm thiết
yếu thứ hai.
III.
Vào
lúc đó, bất cứ tham hay sân, bất cứ vui hay buồn,
Bất
cứ tư tưởng lan man nào thình lình khởi lên,
Trong
trạng thái nhận biết chúng, người ta không theo chúng.
Từ
đó người ta nắm giữ sự nhận biết Pháp thân về mặt
giải thoát,
Bấy
giờ giống như vẽ hình trên mặt nước,
Không
có cách hở giữa tự-sanh khởi (của những tư tưởng) và
tự-giải thoát của chúng.
Bất
cứ cái gì khởi lên (trong tâm) đều thành thực phẩm cho
tánh Giác rỗng không trần trụi ;
Khi
nào những chuyển động (của tư tưởng xảy ra), chúng tiêu
biểu năng lực sáng tạo của vua Pháp thân ;
Không
để lại dấu vết, (những tư tưởng này) là tự-tịnh hóa.
A-la-la
!
Cách
sanh khởi của chúng cũng sẽ y như trước,
Nhưng
điểm thiết yếu cốt tử đặc biệt là cách (những tư tưởng
và kinh nghiệm) được giải thoát.
Không
có cách sau này, thiền định sẽ chỉ biểu hiện một con
đường của vọng tưởng sai lầm.
Nhưng
nếu người ta có điểm thiết yếu này, bấy giờ không-thiền
định chính là trạng thái của Pháp thân.
Bởi
thế, liên tục tin thẳng vào (tự-) giải thoát là điểm thiết
yếu thứ ba.
Về
cái kiến này, nó bao trùm ba điểm thiết yếu ấy,
Thiền
nối kết trí huệ và lòng bi với nhau,
Cũng
như hạnh nói chung của những Con Phật, hoạt động như những
người bạn (cho cái kiến và hỗ trợ nó).
Dù
nếu tất cả chư Phật ba thời cùng nhau thảo luận,
Cũng
sẽ không có giáo lý nào cao hơn cái này.
Năng
lực sáng tạo của tánh Giác vốn sẵn đủ, nó là Đạo Sư
Kho Tàng của Pháp thân,
Đã
đưa kho tàng này ra từ cõi trí huệ bao la.
Nhưng
cái này không phải như rút quặng từ đá của đất ;
Hơn
nữa, nó biểu hiện di chúc cuối cùng của chính Garab Dorje
;
Nó
là tinh túy tâm linh của ba dòng truyền thọ
Và
cần được trao cho những đứa con của lòng mình và niêm
phong lại.
Nghĩa
của nó thì sâu xa và được nói từ trái tim.
Nó
biểu hiện sự chỉ bày thành tâm của tôi, là điểm thiết
yếu của thật nghĩa.
Điểm
thiết yếu của thật nghĩa này không nên để cho biến mất,
Cũng
không nên để cho giáo huấn bí mật này bị tục hóa !
Đây
là “Giáo Lý Đặc Biệt của Đức Vua Thông Thái và Vinh Quang”.
BÌNH
GIẢNG [1]*
Vào
đầu
Kính
lễ đạo sư nhân từ của tôi, ngài sở hữu lòng bi vô song.
Ở đây tôi sẽ giải thích một ít về phương pháp thực
hành phối hợp với những điểm thiết yếu biểu thị cái
thấy hiểu (kiến giải), thiền định và hạnh.
Trước
hết, bởi vì Bổn Sư của tôi trong bản chất hiện thân và
thống nhất trọn vẹn với Tam Bảo, thế nên khi kính lễ
riêng ngài, người ta thực sự đồng thời kính lễ tất cả
mọi cội nguồn quy y. Như thế, có nói (trong bản văn gốc)
: “Kính lễ Đạo sư” [2].
Hơn
nữa, về thật nghĩa, tôi sẽ giải thích ở đây : Nếu người
ta thực hành một cách toàn tâm, trước hết người biết
được rằng tất cả những Đạo sư của mình, Đạo sư Gốc
cũng như những Đạo sư thuộc về mọi dòng truyền pháp mà
người ta đã nhận, đều thật ra không rời lìa tự tâm,
bấy giờ cả ba cái – thấy hiểu, thiền định và hạnh
– được phối hợp và bao gồm trong thực hành. Do đó tôi
phải giải thích ở đây rằng thấy hiểu, thiền định và
hạnh tương ưng chặt chẽ với thật nghĩa của danh hiệu
của những vị thầy của tôi, cả Đạo sư Gốc và những
Đạo sư của dòng truyền thừa của tôi [3].
Trước
tiên, cái thấy hiểu là sự tỉnh giác của mình rằng tất
cả vô cùng những hình tướng xuất hiện xảy ra trong Sanh
Tử lẫn Niết Bàn, dầu nhiều bao nhiêu đi nữa, đều trọn
vẹn hoàn thiện (hay viên mãn) từ vô thủy trong cõi giới
bao la của Như Lai tạng, nó chính là Pháp giới thoát khỏi
mọi tạo tác ý niệm. Như thế, bởi vì cái tỉnh giác của
thật nghĩa này hiện hữu, có nói (trong bản văn gốc) : “Cái
thấy hiểu là Longchen Rabjampa” (danh hiệu này nghĩa là “cõi
giới bao la vĩ đại vô hạn).
Bấy
giờ, với cái thấy hiểu này, tự bản tánh nó thoát khỏi
mọi tạo tác ý niệm : (Một mặt, cái thấy hiểu) được
thiết lập một cách hệ thống nhờ trí huệ phân biệt (Skt.
prajna) và quán chiếu (Skt. vipasyana) theo phương diện trí huệ
và tánh Không. Và (về mặt khác), nó an trụ (và tương tục)
phẳng lặng và nhất tâm trong tham thiền, ở đó nó hợp nhất
bất khả phân với phương tiện thiện xảo của an định
(Skt. samatha), và bởi thế, (điều này biểu thị phương diện)
đại từ bi. Ở đây vì có sự thiền định này nối kết
tánh Không và lòng bi với nhau theo cách ấy, bởi thế có nói
trong bản văn : “Thiền định là Khyentse Odzer” (nghĩa là
“những ánh sáng của trí huệ và tình thương”).
Bấy
giờ, khi trong một trạng thái có được một cái thấy hiểu
và một thiền định ngang nhau như vậy, người ta tiến đến
thực hành toàn tâm sáu ba la mật vì lợi lạc của những
người khác tương hợp với phương pháp đặc trưng của những
Bồ tát, những vị tiêu biểu những mầm non của chư Phật
tương lai. Bởi vì đây là hạnh kiểm và cư xử, có nói trong
bản văn : “Hạnh là Gyalwe Nyugu” (nghĩa là “những mầm
non của chư Phật tương lai”).
Người
thực hành toàn tâm, có một thấy hiểu, một thiền định
và một hạnh như thế này, được diễn tả là người thực
sự có được may mắn. Bởi thế có nói : “Bất cứ ai thực
hành toàn tâm theo cách này...” [4].
Hơn
nữa, nhờ một sự ẩn cư nhập thất, nếu người ta có thể
từ bỏ những hoạt động thế gian và thực hành nhất tâm,
thì trong đời này người ta sẽ được giải thoát vào Nền
Tảng bổn nhiên, nó vốn thanh tịnh từ vô thủy. Như thế,
có nói trong bản văn : “... chắc chắn sẽ đạt được Phật
quả trong chỉ một đời không cần nỗ lực.”
Cũng
thế, dù người ta không hoàn thành được điều này, nếu
người ta vẫn hướng tâm đến một thấy hiểu, một thiền
định và một hạnh như vậy, thì trong đời này người ta
sẽ trở nên tỏ biết mọi điều kiện bất thiện (và như
vậy chúng được chuyển hóa) và đưa người ta đi xa trên
con đường ; và dù cho người ta còn bận rộn với những
hoạt động của một đời thường nhật, người ta sẽ không
tạo thêm quá nhiều hy vọng và lo âu, sau này (trong những
tái sanh tương lai) người ta sẽ đi từ cuộc đời hạnh phúc
này sang một cuộc đời hạnh phúc khác. Do vậy, có nói trong
bản văn : “Và dù người ta không hoàn thành những kết quả
của thực hành, tâm thức người ta sẽ hưởng thọ hạnh
phúc. A-la-la !”
Điểm
Thiết Yếu Thứ Nhất
Bây
giờ tôi sẽ giải thích từng bước cái thấy hiểu thiền
định và hạnh chúng có những lợi lạc như nói ở trên.
Thứ nhất, tôi muốn giải thích rộng rãi phương pháp thực
hành cái thấy hiểu. Như vậy, bản văn có nói : “Về phần
cái thấy hiểu của Longchen Rabjampa (cõi giới bao la vĩ đại
vô hạn)” [5].
Hơn
nữa, do những giáo huấn bí mật thực tiễn gắn liền với
ba tuyên bố điểm vào những điểm thiết yếu này của sự
thực hành, người ta cắt đứt tận gốc rễ sức sống ban
sơ của những mê lầm. Do đó, có nói trong bản văn : “Có
ba tuyên bố điểm vào những điểm thiết yếu thực sự của
thực hành.”
Thứ
nhất là phương pháp để đưa cá nhân vào cái thấy hiểu
mà trước đó chưa được giới thiệu. Tổng quát, theo Laksha-nayana
(Tướng thừa), người ta thiết lập một cách hệ thống cái
thấy hiểu bằng những truyền thống kinh điển khác nhau có
thẩm quyền và bằng lý tính. Lại nữa, theo sự tiếp cận
thông thường của hệ thống Thần Chú Bí Mật, đã dựa trên
hiểu biết thí dụ đã được chỉ ra trong lần quán đảnh
nhập môn thứ ba, người ta được đưa vào hiểu biết thực
sự về tánh Giác bổn nhiên trong lần quán đảnh nhập môn
thứ tư. Có nhiều hệ thống cho việc này. Tuy nhiên, đây
là phương pháp của những Đạo Sư Linh Thánh của Dòng những
Thành Tựu giả để trực tiếp đưa thẳng vào (bản tánh
của tâm thức) bằng cách làm tan biến mọi hoạt động tâm
thức.
Hơn
nữa, vào những lúc những làn sóng mê mờ và loạn động
của những tư tưởng mê lầm (vọng niệm) tràn ngập, những
tư tưởng thô, lạc lõng và rời rạc đuổi theo những đối
tượng của chúng sẽ che ám khuôn mặt thật của bản tánh
của tâm thức. Như thế, dù trước đó người ta đã được
giới thiệu với nó, người ta sẽ không nhận ra bản tánh
của tâm. Vì lý do này, người ta trước hết phải để cho
những tư tưởng thô lan man lặng xuống và tâm thức trở
nên trong sáng. Thế nên, có nói trong bản văn : “Trước hết,
hãy để cho tâm mình an định trong một trạng thái buông xả...”
[6].
Tuy
nhiên, tâm mình khi được để cho an lặng không có gắng sức
nào để chỉnh trị, tự thân nó trở lại là trí huệ hay
tánh giác nguyên sơ, đó là Tịnh Quang. Bởi vì thể trạng
tự nhiên của mình không thể được hiểu bằng một tiến
trình tạo tác ý niệm, để cho người ta có thể hiển lộ
cho chính mình cái tánh giác bổn nhiên này vốn không do tạo
tác hay thi thiết, có nói trong bản văn (rằng người ta ở
yên) “không có tư tưởng, không phân tán cũng không tập
trung”.
Khi
cá nhân chỉ là một người mới bắt đầu, dù tâm có thể
tiếp tục trong một trạng thái tự an trụ tự nhiên, thì
dù là một phần của trạng thái đó, nó vẫn sẽ không thể
siêu vượt khỏi một tình trạng bám luyến vào những kinh
nghiệm (khởi lên trong thiền định), như những cảm giác
thích thú, trong sáng và sự vắng bặt những tư tưởng. Như
thế, có nói trong bản văn (rằng người ta nên tiến hành)
“khi ở trong tình trạng này, một trạng thái thư thả và
buông xả trọn vẹn...”
Để
thoát mình khỏi sự bao bọc của những bám luyến với những
kinh nghiệm (kể trên), và để phát lộ thể trạng tự nhiên
không thêm bớt của tánh Giác vốn sẵn, trần trụi, vốn
không có cách gì bị che đậy bởi bất kỳ cái gì khởi lên,
có nói trong bản văn rằng người ta cần “Đột nhiên thốt
lên PHAT ! nó đánh tan tư tưởng (khởi lên)” [7].
Điều
này cắt đứt dòng chảy của tư tưởng, và bởi vì hoạt
động tâm thức tạo ra dòng chảy này nhất thiết phá vỡ
thiền định, cần phải thốt lên âm thanh PHAT ! mạnh mẽ
và tức khắc. Thế nên, có nói trong bản văn : “... mạnh
mẽ và tức khắc. Kỳ diệu thay !”
Và
chính ngay khoảnh khắc người ta thoát khỏi mọi ý niệm,
như nghĩ, “Đây là một tư tưởng” hay “Đây là tâm”,
mà người ta thực sự giải thoát. Do đó, có nói trong bản
văn, “Không còn gì khác ngoài một cái tỉnh giác sắc bén
đến sửng sốt.”
Trong
trạng thái này của Pháp thân, thoát khỏi mọi tư tưởng
ý niệm, tánh Giác thấu suốt trực tiếp và trần trụi vẫn
nguyên như nó vốn là, một cái hiểu biết hay tỉnh giác nguyên
sơ vượt khỏi tâm thức. Thế nên, có nói trong bản văn :
“Cái tỉnh giác đáng kinh ngạc này trực tiếp thấu suốt.”
Hơn
nữa, nó là trực tiếp thấu suốt như vậy bởi vì nó siêu
vượt mọi giới hạn (và nhị nguyên), như sanh diệt, có và
không v.v... Trạng thái tự hữu này siêu vượt khỏi mọi
đối tượng của tư tưởng, mọi nỗ lực của ngôn ngữ
và tâm thức, biểu thị điểm thiết yếu của một tỉnh
giác hay trí huệ cội nguồn không thể diễn tả. Bởi thế,
có nói trong bản văn : “Không có gì khởi lên có thể ngăn
ngại nó ; nó là không thể mô tả.”
Thật
nghĩa của điểm thiết yếu này là tánh Giác nội tại tức
thời thường trụ như là Nền Tảng quả thật là chính Pháp
thân. Và bởi vì sự thanh tịnh bổn nguyên trống rỗng mọi
tạo tác ý niệm là cái thấy hiểu đích thực của Con Đường
của những Thiền giả, nên cho đến khi nào người ta nhận
ra đích xác Cái Này (tánh Giác nội tại tức thời), còn không
thì dù người ta có thiền định và thực hành liên tục,
người ta cũng sẽ không vượt qua được một cái thấy hiểu
và một thiền định chỉ do những hoạt động trí thức của
người ta tạo tác ra. Thế nên, cái thấy hiểu và thiền định
của người ta sẽ xa cách con đường thực sự của Đại
Toàn Thiện tự nhiên như mặt đất cách xa bầu trời. Và
trong cái thấy hiểu và trong thiền định đó chẳng có gì
là điểm thiết yếu của sự thực hành Tịnh Quang mà thực
ra Tịnh Quang là không-thiền định. Thế nên, cốt yếu quan
trọng là trước hết nhận ra đích xác cái này (điểm thiết
yếu tánh Giác vốn sẵn). Bởi thế, có nói trong bản văn
: “Người ta cần nhận biết cái ấy là tánh Giác nội tại
tức thời nó chính là Pháp thân” [8].
Thật
nghĩa của cái này là cái thứ nhất của ba tuyên bố điểm
vào những điểm thiết yếu. Nếu không có sự trực tiếp
đưa vào (tánh Giác nội tại tức thời) nhờ cái thấy hiểu,
thì cũng không có nguyên nhân cho việc tiếp tục ở trong trạng
thái ấy nhờ thiền định. Bởi thế, được đưa vào cái
thấy hiểu ngay từ khởi đầu là rất quan trọng. Hơn nữa,
một khi cá nhân được đưa vào tánh giác nguyên sơ này vốn
tự hiện diện trong chính mình (từ vô thủy), nó sẽ không
là cái gì phải tìm kiếm ở đâu khác bên ngoài nữa. Bởi
vì cái này không phải là một thứ gì được sanh ra trong
tâm thức mà trước đó chưa hiện hữu, có nói trong bản
văn : “Sự trực tiếp đưa vào tự tánh này là điểm thiết
yếu thứ nhất.”
Điểm
Thiết Yếu Thứ Hai
Bây
giờ tôi sẽ giải thích rộng phương pháp thực hành thiền
định [9]. Nếu người ta đặt mình vào một trạng thái thiền
định giống như dòng chảy của một con sông, và vào mọi
lúc vẫn ở yên không tìm cách tạo ra hay dừng dứt cái gì
hay cố gắng phát triển những tư tưởng hay làm chúng lặng
xuống, bấy giờ cái này biểu thị thật tánh của Pháp thân
[10]. Khi những tư tưởng bắt đầu sanh sôi phát triển, người
ta cần chỉ tiếp tục trong thể trạng này của năng lực
sáng tạo vốn sẵn đủ hay tiềm năng của tánh giác nguyên
sơ. Bởi thế, có nói trong bản văn : “Dù tư tưởng sinh
sôi hay ở yên trong một trạng thái bình lặng, điều này
hoàn toàn tốt thôi.”
Hơn
nữa, từ thần lực của năng lượng sáng tạo hay tiềm năng
của tư tưởng trong tâm khởi lên những phiền não mọi loại
như sân, tham, chúng tiêu biểu cho Chân Lý của Phát Sanh (Tập
đế), cũng như những cảm thọ vui buồn, chúng tiêu biểu
Chân Lý của Khổ (Khổ đế). Nhưng nếu người ta biết rằng
bản tánh bẩm sinh của mọi tư tưởng phiêu dạt này chính
là Pháp tánh, bấy giờ chúng sẽ được chuyển hóa thành
trạng thái của Pháp thân. Bởi thế, có nói trong bản văn
(rằng người ta nên ở trong cái tỉnh giác này một cách liên
tục,) “Dù có khởi lên tham hay sân, vui hay buồn.”
Hơn
nữa, nói chung, dù người ta đã được trực tiếp đưa vào
(tánh giác vốn sẵn tức thời) nhờ cái thấy hiểu, khi người
ta rơi trở lại (vào phóng dật) vào sự loạn tâm bình thường,
không thể giữ mình trong trạng thái ấy nhờ thiền định,
bấy giờ người ta bị cột trói lần nữa vào sanh tử bằng
sự sanh khởi những tư tưởng phiêu dạt trong dòng tâm thức
của mình. Như thế, Pháp và dòng tâm thức tách lìa nhau, người
ta sẽ trở nên không khác với người bình thường. Như thế,
cần thiết là người ta không bao giờ lìa khỏi trạng thái
tự-an trụ toàn diện của không-thiền định. Do đó, có nói
trong bản văn : “Vào mọi lúc và nơi mọi dịp...”
Cũng
thế, dù những tư tưởng phát triển hay ở yên bình lặng,
không cần phải cố gắng hàng phục từng tư tưởng (ngay
khi nó khởi lên) bằng một đối trị riêng biệt. Hơn nữa,
bất kỳ khi nào tư tưởng và phi