Người
ta thường nói về việc “sống một mình trong thiên nhiên”.
Điều này rất lạ lẫm với tôi. Tôi đang nhớ lại một
ngày hè đặc biệt, dạo tôi lên 9, tôi chẳng làm gì ngoài
việc nằm trên một cánh đồng ở miền Nam Ontario đăm đăm
nhìn vào bầu trời xanh thẳm.
Lúc
đó, tôi là bạn của một con ngài có màu vàng đen, một con
ong đang bận bịu, ba con quạ đang đậu trên một cành cây
đu sắp chết, một đàn kiến, một con chuột túi đang lăn
một viên đất không phải bằng đầu của nó ra khỏi hang,
vài con ong bắp cày giận dữ ùa ra rồi lại biến mất và
một đàn chim bay thành hàng thẳng. Còn vô số các sinh vật
khác tôi không nhìn thấy nhưng tôi có thể cảm thấy được:
cây cỏ, dây leo và tất cả những đời sống thực vật khác.
ánh mặt trời rực rỡ sưởi ấm tôi như một vòng tay ôm
ấp.
Đó
là nơi cho tôi cảm giác hạnh phúc nhất khi còn nhỏ. Chỉ
một vài phút đạp xe ngược lại từ căn nhà nhỏ của tôi,
tôi cảm giác dường như mình đã đi xa lắm, đến một nơi
bình yên, chẳng còn ý niệm thời gian. Khi tôi đứng trên
mặt đất lởm chởm đá ở đó và nhìn lên bầu trời, tôi
có thể tan dần vào thế giới tự nhiên với “trí tuệ nguyên
sơ” của một đứa trẻ. Trong những buổi chiều ấy, tôi
thấy trong chính sự hiện hữu của mình một ốc đảo yên
tĩnh được bao quanh bởi thiên nhiên rộn ràng. Sự tĩnh tại
trong tôi có liên hệ sâu xa với sự bất động của rễ cây,
của đá cuội, và những vòng quay bất tận của mùa.
Giờ
đây, tôi bốn mươi tuổi. Trong những năm sau đó, tôi đã
nằm trên nhiều cánh đồng khác, cả những cánh đồng thật
và những cánh đồng biểu tượng.
Có
một cánh đồng như thế ở San Bernardino, California. Đó là
mùa Thu năm 1982, khi tôi 26 tuổi, vào lúc nửa đêm, có lẽ
là vào lúc 1 giờ sáng. Tôi không có đồng hồ, tôi đã đưa
nó cho một vị pháp sư tóc đỏ, người đã nhìn thấy trước
nghi lễ an táng tôi một cách thần bí, từ xa hơn nửa dặm.
Mục đích của tôi trên cánh đồng tối hôm ấy là nằm vào
cái huyệt ba bộ rưỡi mà tôi đã đào sẵn cho mình. Cả
đêm, tôi suy nghĩ về cái chết của mình và lắng nghe màn
đêm. Xa rồi cánh đồng thời thơ ấu, tôi đã quên tôi từng
biết điều gì, vì thế giờ đây tôi đang mong chờ sự tĩnh
lặng. Nhưng thời gian của đêm tối kia cũng ồn ào y như
xa lộ Santa Monica trong giờ cao điểm.
Cây
cối bắt đầu kêu cọt kẹt và cuối cùng gào thét trong cơn
gió lốc. Những âm thanh kỳ lạ đó, từ trong huyệt, tôi
chỉ cố tìm những lời giải thích. Tôi đã thử giải thích.
Không giống như cánh đồng thuở nhỏ, chỉ một vài âm thanh
ồn ã trong không gian, còn tâm trí tôi thì hoàn toàn thư thả.
Giờ đây, trong đêm tối này, tôi đang bị ngôn ngữ, hình
ảnh, những cuộc đối thoại và cả nỗi sợ hãi chế ngự.
Như một kẻ hèn nhát, tôi run cầm cập suốt cả đêm. Nhưng
cuối cùng khi bình minh đến, tôi đã tự trấn tĩnh được.
Cánh đồng đã đem lại sự tĩnh tại cho tôi.
Sau
đó là cánh đồng ở Kauai, Hawail, một mảnh đất gồ ghề
bên bờ biển. Đó là năm 1985, tôi 29 tuổi. Tôi ngồi, vừa
xoay tít đồng ghinê bằng cỏ trong tay, vừa nhìn những con
sóng cuộn tròn. Tôi có một cuốn nhật ký và một cây bút,
nhưng tôi không thể viết được gì. Nghe có vẻ hấp dẫn
nhưng thật ra, tôi đã phản bội người mà tôi yêu rất nhiều
để đi với người mà tôi nghĩ mình còn yêu nhiều hơn nữa.
Và bấy giờ tôi bị mắc phải chứng tức ngực, có thể
vào phòng cấp cứu bất cứ lúc nào. Mặt trời đang dội
những tia nắng gay gắt xuống tôi, còn đầu tôi thì chứa
toàn kế hoạch và những lời biện giải.
Dần
dần, tiếng gầm của sóng và tiếng gào thét của gió ứ
đầy trong óc tôi và làm nó trống rỗng. Trong khi xung quanh
có lẽ quá ồn ào để có thể suy nghĩ một điều gì thì
nỗi buồn của tôi vẫn không dứt, tôi nhìn chằm chằm vào
những con sóng mong chờ một sự cứu rỗi mà tôi không nghĩ
rằng mình đáng được hưởng. Tôi hướng mắt ra xa để
đủ thấy không chỉ cách những con sông cuộn tròn mà cả
cách chúng tan biến. Một con sóng cuộn lại và vỡ vụn chỉ
trong chốc lát.
Sau
đó, tôi dã nghiệm ra một phép mầu nho nhỏ thường xảy
đến với con người trong cơn đau. Tôi nhận ra rằng nếu
tôi dõi theo một con sóng và tập trung cao độ trong khoảnh
khắc con sóng tan vỡ, tôi sẽ cảm thấy mọi việc đều trở
nên tốt đẹp và chứng đau ngực cũng dường như biến mất.
Sau khoảng một giờ, một ý nghĩ chạy qua khoảng trống đang
gào thét trong đầu tôi giống như một băng giấy điện báo
vừa gửi đến: Hiện tiền là đâu nếu không phải là chính
bây giờ? Có phải chẳng cần lý thuyết, chỉ cần sự trải
nghiệm và hiện tượng thôi?
Khi
tôi ngồi trên cánh đồng không bằng phẳng đó, mọi việc
trôi đi chậm dần, chậm dần. Phút giây ấy trở thành phút
giây duy nhất, phút giây vĩnh cửu. Tôi được cảm nghiệm
rất sâu những điều tôi đã học được từ giáo lý Phật
Đà trong nhiều năm: Khi bạn thâm nhập vào bên trong, sự tĩnh
tại nằm ở đó, bây giờ và mãi mãi. Tôi ngồi bên bờ biển
mãi cho đến khi mặt trời lặn phía chân trời. Khi mặt trời
lặn, tôi đã tìm thấy sự tĩnh tại trong tôi. Tôi về nhà
dọc theo con đường đá dung nham, cảm thấy vững tâm như
năm mình lên 9. Từ chốn thanh lọc này, tôi sẽ đối mặt
với những vụng dại và những chọn lựa của lòng mình.
Sau
này, tôi nghĩ rằng cánh đồng tỉnh thức đó có giá trị
tượng trưng nhiều hơn là ý nghĩa thật. Đó là cánh
đồng đớn đau mà tôi đã nằm trên đó khi bị thoát vị
đĩa đệm cột sống. Tôi đã nằm duỗi, nghiêng sang bên khoảng
5 độ và sau đó, tôi chỉ có thể nói có một thế giới
hoàn toàn mới đã mở ra với tôi. Dường như có cái răng
nào đó đang được khoan mà không có Novican giảm đau. Nhưng
để thấu hiểu những gì tôi đã trải qua, bạn cần phải
thực sự biết cảm giác đó. Thử hình dung nó là một cảm
giác bị kìm hãm ở trong hàm, và giống như một cái kẹp,
nó còn kéo dài từ ngực đến tận đầu gối bạn. Tôi thở
hổn hển và té xuống sàn. Tôi cố cử động nhưng không
thể bởi vì mọi cử động đều làm tôi đau hơn, làm cho
thấy những tia sáng và sắc màu bên bờ sự chết. Tôi nằm
rất lâu chờ một ai đó đến nhà, tìm thấy và đưa tôi
đi bệnh viện.
Giờ
đây, tôi hạnh phúc khi mình là người từng nhận biết những
cánh đồng tỉnh thức trong nhiều năm. Điều đó chuẩn bị
tinh thần cho tôi trước sự đau đớn. Bởi vì ngày đó tôi
đã khám phá ra một nơi, hay có lẽ là một khoảnh khắc,
một sát na, nơi mà cơn đau không tồn tại. Đó là khoảnh
khắc của vĩnh cửu mà tôi khám phá được ở Kauai. Trong
thời gian dài chờ đợi đó, tôi phát hiện ra mình có thể
tìm thấy trong một khoảnh khắc nơi không có nỗi đau, và
sau đó đã tìm thấy nó lại mỗi lần tôi cố thở đều
đặn và bình tĩnh.
Tôi
mất nó, rồi lại tìm thấy nó. Khi bị thời gian trói buộc,
cơn đau gần như không bao giờ dứt trong tôi. Chỉ khi tôi
có thể tồn tại trong khoảnh khắc, thì không còn cơn đau
nào nữa, chỉ có sự tĩnh tại trong phút giây hiện tiền.
Điều đó xảy đến với tôi, tôi đã thấy tất cả những
thứ này thật sự là cuộc đời tôi, giống như một vòng
tuần hoàn: đau đớn, hoảng loạn, ý thức về hơi thở, khoảnh
khắc không có nỗi đau, và sau đó cứ thế lặp lại nhiều
lần.
Đó
là một trong những thành công của tôi. Tuy vậy, qua nhiều
năm, tôi đã vượt thoát từ vô số nỗi đau, dù không thành
công lắm như ai đó đã nói, tôi chạy trốn nhưng lại mang
theo chính bản thân mình. May mắn thay, nỗi đau lại là người
thầy nhẫn nại. Và cuối cùng tôi đã học được điều
mà nó muốn dạy. Tôi bị cuốn xoáy vào sự hỗn loạn bên
bờ vực của nỗi đau; còn tại tâm điểm của nỗi đau chính
là sự tĩnh tại. Tôi gieo trồng sự tỉnh thức lúc bình yên
và để dành khi sóng gió đến.
Thiền
định là vô giá, nhưng với tôi, thiên nhiên là một sự hướng
đạo dịu dàng và không bao giờ thất bại để ta bước vào
trạng thái tĩnh tại hoàn toàn. Hôm nay, tôi sẽ đi tìm một
cánh đồng khác trong cuộc đi dạo hằng ngày của tôi với
con chó nhỏ. Tôi nghĩ rằng tôi sẽ ngồi xuống đó một lát.
Joan
E.Chapman
(Văn
hóa Phật giáo)
http://www.vanhoaphatgiao.com/
07-04-2007
11:23:34
