Hiện
nay, Việt Nam phải chịu tác động không nhỏ của xu hướng
toàn cầu hoá đối với mọi mặt của đời sống xã hội,
trong đó có đời sông tôn giáo . Trong thực tế, sự vận
động, biến đổi và phát triển của đời sống tôn giáo
ở Việt Nam gắn chặt với sự vận động của tồn tại
xã hội, gắn chặt với xu hướng toàn cầu hoá. Điều này
được biểu hiện ở những xu thế cơ bản sau:
Thứ
nhất, xu thế thế tục hoá
Có
thể nói, thế tục hoá tôn giáo gắn chặt với sự phát triển
và tiến bộ của xã hội loài người đồng thời ngày nay
đây là xu thế nổi trội chi phối đời sống tôn giáo thế
giới cũng như ở Việt Nam. Về cơ bản nội dung của xu thế
thế tục hoá được các nhà khoa học thống nhất ở những
điểm cơ bản sau: Đó là những hành vi nhập thế của mọi
tôn giáo bằng cách tham gia vào những hoạt động trần tục
phi tôn giáo (xã hội, đạo đức, giáo dục, y tế...), nhằm
góp phần cứu người đồng loại, xu thế thế tục hoá còn
biểu hiện trong cuộc đấu tranh của một bộ phận tiến
bộ trong từng tôn giáo muốn xoá bỏ những điểm lỗi thời
trong giáo lý, những khắt khe trong giáo luật, muốn tiến tới
sự đoàn kết giữa các tín đồ tôn giáo và không tôn giáo,
xu thế thế tục hoá còn biểu hiện phổ biến ở các nước
công nghiệp, nhất là bộ phận cư dân thành thị và tầng
lớp thanh niên, vai trò của tôn giáo bị giảm sút. Sự quyết
định đời sống bản thân chủ yếu dựa vào đời sống
bản thân, không, hay ít phụ thuộc vào đấng siêu linh, xu
thế thế tục hoá còn biểu hiện ở chỗ con người đường
như ra khỏi tôn giáo nhất đinh, nhường lại một tâm thức
tôn giáo bàng bạc hay cái tôn giáo.
Thật
vậy, nếu hiểu nội dung đề cập ở trên là nội hàm của
thế tục hoá, thì trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam, xu
thế thế tục hoá hay nhập thế đã diễn ra từ lâu song chỉ
thấy bộc lộ rõ ràng trong những năm gần đây. Tuy nhiên,
do điều kiện lịch sử đặc thù, cộng với đang trong tình
trạng chuyển đổi của nền kinh tế - xã hội, nên xu thế
thế tục hoá tôn giáo của Việt Nam cũng khác với các nước
khác, đặc biệt so với các nước phương Tây.
Nếu
như xu thế thế tục hoá ở phương Tây, người dân ngày càng
ít đi lễ ở nhà thờ, dù rằng vẫn tin là có Chúa, có Đấng
tối cao, vẫn nhận mình là tín đồ tôn giáo nào đó, thì
ngược lại ở Việt Nam số tín đồ tham gia sinh hoạt tôn
giáo ở các nơi thờ tự ngày càng tăng, nếu ở phương Tây
có xu hướng dường như ra khỏi tôn giáo nhất định, nhưng
trở lại tâm thức tôn giáo bàng bạc, hay "cái tôn giáo",
thì các tín đồ tôn giáo Việt Nam nói chung lại gắn bó với
tôn giáo cụ thể nhiều hơn và cũng khó đến với "cái tôn
giáo". Nếu như người phương Tây chú ý nhiều đến lý luận
tôn giáo, phân tích những quan điểm lạc hậu, bảo thủ của
giáo lý tôn giáo nhằm yêu cầu khắc phục, hoặc có xu hướng
đi vào suy tư thần học mới bằng những chiêm nghiệm cá
nhân, thì ở Việt Nam lại đơn giản hoá những vấn đề
lý luận, trọng thực hành nhiều hơn, thường vận dụng linh
hoạt những giáo điều trong giáo lý vào đời sống thực
tiễn hàng ngày. Mặt khác, xu thế thế tục hoá trong các tôn
giáo ở Việt Nam còn được thể hiện ở các tôn giáo bên
cạnh thực hiện việc đạo, họ còn thực hiện việc đời,
đó là tham gia hoạt động xã hội: chính trị, y tế, giáo
dục, xoá đói giảm nghèo ở tất cả các tôn giáo như Phật
giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hoà Hảo, Hồi giáo...
Thứ
hai, hiện đại hoá tôn giáo
Theo
quan điểm của chủ nghĩa Mac, tôn giáo là sự phản ánh của
tồn tại xã hội. Thế giới tôn giáo chỉ là phản ánh của
thế giới hiện thực. Khi cơ sở kinh tế của xã hội bị
thay đổi, thì sớm hay muộn, tôn giáo cũng thay đổi theo.
Đối với mỗi tôn giáo, "cùng một tôn giáo nhưng thích ứng
với mỗi giai đoạn phát triển khác nhau về kinh tế của
dân tộc tin theo nó, tôn giáo thay đổi bản chất nội dung
của mình".
Hiện
đại hoá là một quá trình lịch sử khởi nguồn từ Châu
Âu, được bắt đầu với cuộc cách mạng công nghiệp, sau
đó lan rộng ra các khu vực khác và trở thành trào lưu chung
của thế giới. Để thích ứng với quá trình hiện đại
hoá,các tôn giáo đã có sự thay đổi. Đầu tiên phải kể
tới là sự xuất hiện của đạo Tin Lành. Với sự canh tân
về giáo lý, về nghi lễ, về tổ chức, sự mềm dẻo hơn
trong luật lệ, sự tồn tại và phát triển nhanh chóng của
đạo Tin Lành đã chứng tỏ nó là một tôn giáo thích hợp
với sự phát triển của CNTB hiện đại. Và trong dòng chảy
đó, các tôn giáo khác cũng có sự thay đổi để phù hợp.
Do
đặc điểm và lịch sử phát triển của các tôn giáo không
giống nhau, nên phương thức, nội dung và trình độ hiện
đại hoá không giống nhau, song nhìn chung đều có những nội
dung cơ bản sau:
Hiện
đại hoá những mối quan hệ bên trong về nội dung giáo lý
và việc giải thích giáo lý, về các quy định của giáo luật,
về hình thức lễ nghi và việc thực hành nghi lễ, về cơ
cấu tổ chức và sinh hoạt của Giáo hội,
Hiện
đại hoá những mối quan hệ bên ngoài về học thuyết xã
hội và quan hệ, thái độ của tôn giáo với các vấn đề
xã hội, về quan hệ với các tôn giáo khác và những người
không tôn giáo...
Hiện
đại hoá các phương tiện phục vụ cho việc truyền đạo
và quản đạo... ở Việt Nam, trước quá trình hiện đại
hoá của các tôn giáo trên thế giới và sự tác động của
nó, đồng thời trước những biến đổi của đời sống
kinh tế, xã hội trong nước, các tôn giáo đều có những
phản ứng khác nhau: từng bước hiện đại hoá với những
mức độ khác nhau để phù hợp với thời đại. Hiện đại
hoá tôn giáo ở Việt Nam không chỉ có sự khác nhau về nội
dung, phương thức và trình độ hiện đại hoá, mà còn có
sự khác nhau giữa các miền, các khu vực, các địa phương,
thậm chí giữa các bộ phận tín đồ, dù cùng là một tôn
giáo. ở mỗi tôn giáo, quá trình hiện đại hoá diễn ra có
thể sớm, muộn khác nhau, song tập trung và dễ thấy nhất
trong khoảng hơn chục năm gần đây, khi đất nước chuyển
từ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị
trường.
Điều
dễ nhận thấy trong sự thay đổi của các tôn giáo theo hướng
hiện đại hoá, trong thời kỳ kinh tế thị trường là việc
các tôn giáo áp dụng các thành tựu của khoa học, công nghệ
hiện đại, kể cả một số lý thuyết khoa học và một số
phương tiện khoa học phục vụ cho công tác truyền đạo.
Một số chức sắc tôn giáo đã lợi dụng các lý thuyết
khoa học mới để chứng minh cho lý luận tôn giáo của mình,
hoặc tìm cách lý giải mới các quan điểm tôn giáo cho phù
hợp với khoa học hiện đại. Nhiều phương tiện kỹ thuật
hiện đại như đèn điện các loại. loa truyền thanh, tăng
âm, ti i, video, máy chiếu phim, vi tính... được sử dụng để
phát huy tất hơn hiệu quả của việc truyền đạo và quản
đạo.
Như
vậy, có thể nói vấn đề hiện đại hoá tôn giáo là phản
ứng của tôn giáo trước sự thay đổi của thời đại. Không
phải đến giai đoạn hiện nay quá trình hiện đại hoá tôn
giáo mới diễn ra, mà trước đó, mỗi tôn giáo đã xuất
hiện những thay đổi để thích ứng với những thay đổi
của thời đại, dù có thể sớm hoặc muộn khác nhau. Sự
tác động của kinh tế thị trường, của toàn cầu hoá chỉ
làm cho quá trình hiện đại hoá ở mỗi tôn giáo diễn ra
nhanh hơn. Đặc biệt, các phương tiện kỹ thuật hiện đại
được các tôn giáo lợi đụng để phát huy hiệu quả trong
việc truyền đạo và quản đạo, đã trở thành một bộ
phận không thể thiếu của quá trình hiện đại hoá tôn giáo
ở nước ta.
Thứ
ba, xu thế đa dạng hoá tôn giáo
Có
thể nói, xu thế đa dạng hoá tôn giáo là hậu quả tất yếu
của toàn cầu hoá. Bởi vì toàn cầu hoá là quá trình mở
rộng dần không gian lãnh thổ, nên con người không chỉ tiếp
cận với một/ các tôn giáo của dân tộc mình, mà còn biết
tới tôn giáo khác, thậm chí không phải tiếp thu một cách
thụ động, mà còn chủ động tiếp thu với tính chất phê
phán. Hậu quả tất yếu của đa dạng hoá tôn giáo là, nếu
như tôn giáo truyền thống nào không đáp ứng được nhu cầu
quần chúng (do hạn chế về giáo lý, nghi lễ...) thì sẽ bị
thay thế bởi một tôn giáo nào đó phù hợp hơn. Trong giai
đoạn này, hiện tượng tín đồ khô đạo, nhạt đạo nảy
sinh, trường hợp trong một con người song hành nhiều tôn
giáo. Lịch sử đã từng chứng kiến sự tách ra của đạo
Tin Lành từ Công giáo ở thế kỷ XVI, rồi Tin Lành lại phân
rẽ ra nhiều giáo phái, từ từng giáo phái lại tách ra thành
các nhánh nhỏ và nhiều khi nó xa lạ với giáo phái ban đầu.
Xu thế này lý giải vì sao ở Châu Âu hiện nay số lượng
tín đồ của các tôn giáo khác đi theo Phật giáo khá nhiều.
Đó là sự biểu hiện đa dạng hoá tôn giáo.
Đối
với Việt Nam, do đặc điểm về mặt địa lý, nên đặc
điểm về tôn giáo không giống như các nước châu âu, tính
đa thần hay phiến thần dường như phổ biến. Thực tế cho
thấy, trong đời sống tôn giáo nổi lên tục thờ thần đá,
thần cây, thần sông, nước, các nhiên thần và cá nhân thần.
Hiện tượng nhân cách hoá các nhiên thần không chỉ thấy
ở những tên các vị thần được phong: Cao Sơn, Tản Viên,
Cao Lỗ, Phù Đổng, Thạch Quang, mà còn thấy ở các hòn đá
là những đối tượng thờ cúng phổ biến ở các nơi thờ
các vị thành hoàng hiện nay... Các vị thần có nguồn gốc
sông nước như: Long Đỗ, Linh Lang, Hoàng Lệ Mật, Trương
Hống, Trương Hát... Các vị thần cây trú ngụ ở cây đa,
cây gạo... quen thuộc ở khu vực đồng bằng Bắc bộ...
Sự
ra đời của nền sản xuất nông nghiệp kéo theo sự ra đời
của các cộng đồng chính trị - xã hội (lãnh thô): làng,
xã bản, mường, đất nước..., bên cạnh các cộng đồng
huyết thống (các dòng họ). Dưới góc độ tôn giáo, các
tôn giáo tương ứng với quốc gia - dân tộc như: đã nảy
sinh đạo Tổ tiên theo nghĩa rộng tôn thờ các vị thần có
công với cộng đồng từ gia đình, dòng họ, làng bản, đất
nước... với các lễ thức nông nghiệp theo chu ký của sản
xuất. Phương thức canh tác nông nghiệp như vậy cũng xuất
hiện ý niệm về trời, đất. Ông trời đến với họ vừa
cao xa, vừa gần gũi, trời có thể thưởng, phạt và luôn
là đối tượng bảo hộ khi con người gặp hoạn nạn, khó
khăn.
Bên
cạnh các hình thức đa dạng trong đời sống tôn giáo kể
trên, ở các tộc người trong cộng đồng quốc gia dân tộc
tồn tại nhiều hình thức tôn giáo sơ khai: tô tem, ma thuật,
phù thuỷ... tạo nên đời sống tôn giáo của người Việt
vô cùng đa dạng và phong phú.
Sự
đa dạng và phong phú trong đời sống tôn giáo của người
Việt còn kể tới sự du nhập của các tôn giáo lớn: Nho
giáo, Phật giáo, Đạo giáo... Có thể nói, ba tôn giáo này
truyền vào Việt Nam rất sớm, song vẫn tồn tại hoà bình
bên cạnh nhau suốt hơn 2000 năm lịch sử đã trở thành một
trong những yếu tố cốt yếu của nền văn hoá, đó là hiện
tượng tam giáo đồng nguyên. Chính sự xâm nhập, đan xen vào
nhau tạo ra nét văn hoá của mỗi con người. Trong con người
Việt Nam vừa có cái duy lý của Nho giáo, vừa có cái tâm
linh của Phật giáo, vừa có cái siêu thoát của Lão giáo.
Cũng chính sự kết hợp, bổ Bung của ba tôn giáo đã làm
phong phú thêm những lễ nghi, giáo lý, nghi thức thờ cúng
trong hành vi của mỗi tôn giáo, tồn tại trong làng xóm hay
trong cộng đồng. Đó cũng là di sản văn hoá để tiếp xúc
với văn minh phương Tây, cũng như du nhập tôn giáo độc thần
như Kitô giáo. Khi đã du nhập đến lượt mình Kitô giáo cũng
phải biến đổi ít nhiều để phù hợp với sự đa dạng
của các hình thức tôn giáo Việt Nam bằng nội dung hội nhập
văn hoá của Công đồng Vatican II (1962 - 1965).
Sự
đa dạng tôn giáo lại được biểu hiện rõ ràng nhất trong
đời sống thực hành tôn giáo. Một tín đồ của một tôn
giáo có thể tham gia nhiều hành vi sinh hoạt tôn giáo khác
nhau. Những người theo tôn giáo được coi là độc thần:
Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo... cũng không ít người còn tham
gia và sinh hoạt tôn giáo khác ở chùa, đền, các lễ hội
tôn giáo. Họ tin tưởng rằng, ngoài Chúa của họ thì các
lực lượng siêu nhiên khác cũng sẽ mang lại cho họ những
điều tốt lành. Sự đan xen, lồng ghép tôn giáo, trong giáo
lý, trong tâm thức và thực hành tôn giáo xuất phát từ nhận
thức giản đơn của cư dân nông nghiệp "có thờ có thiêng,
có kiêng có lành”.
Như
vậy có thể thấy, xu hướng đa dạng tôn giáo hiện nay ở
nước ta là xu thế có tính nổi trội. Bởi vì, một mặt
do không gian xã hội được mở rộng, sự tiếp xúc văn hoá
trong đó có tôn giáo ngày càng gia tăng, mặt khác, sự đa
dạng tôn giáo có ngay ở trong yếu tố lịch sử văn hoá của
dân tộc, đó là tính khoan dung trong văn hoá, đó là sự xuất
phát của cư dân nông nghiệp, đó là sự đa dạng tộc người
trong quốc gia đa dân tộc. Chính các đặc trưng này tạo xu
thế đa dạng tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.
Thứ
tư, xuất hiện hiện tượng tôn giáo mới
Thông
thường tôn giáo được ra đời trong các thời kỳ chuyển
tiếp của xã hội, trong điều kiện khủng hoảng niềm tin.
Vào những năm cuối của thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, thế
giới có những bước chuyển kỳ lạ, đó là bước chuyển
từ xã hội công nghiệp sang xã hội hậu công nghiệp, đó
là sụ sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô
và Đông Âu, đó là sự phát triển và những thành tựu vô
cùng vĩ đại của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đương
đại. Những tác nhân đó không chỉ làm cho đời sống xã
hội nhiều biến chuyển, mà còn tạo cho đời sống tôn giáo
nhiều đổi khác. Có những điều trước đây là sự tin tưởng,
sự ngưỡng mộ trong đời sống tôn giáo, đến hôm nay lại
tồn tại đầy sự "lung lay" và "bất trắc", có niềm tin trước
kia trở thành tín điều thì hiện nay con người lại đặt
sự nghi ngờ. Tác nhân đó tất yếu dẫn đến sự suy giảm
niềm tin, khô đạo, nhạt đạo và con người lại hành trình
đi tìm tôn giáo cho riêng mình. Đây là những cơ sở cho sự
ra đời khuynh hướng tôn giáo, mà người ta thường gọi là
hiện tượng tôn giáo mới.
Nghiên
cứu sự vận động và phát triển của hiện tượng tôn giáo
mới, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra cơ sở của sự hình
thành tôn giáo mới như sau:
Tôn
giáo mới ra đời trên cơ sở của sự phân rẽ của tôn giáo
chủ lưu, bằng cách "tôi tin tôn giáo của tôi", tức là hiểu
giáo lý và Chúa theo cách riêng.
Tôn
giáo mới ra đời xung quanh trục một tôn giáo có sẵn, nhào
nặn, lắp ráp những yếu tố tôn giáo khác, thường được
hiểu một cách truyền thống hoá.
Tôn
giáo mới có thể dựng lên một nhu cẩu trần tục gắn vào
đó những yếu tố tôn giáo tạo nên một phong trào.
Cũng
có thể một tôn giáo mới ra đời rồi vin vào ngày tận thế,
một yếu tố thấy ở nhiều tôn giáo khác nhau, ngày Thiên
niên kỷ, ngày đổi đời, phủ nhận trần gian, đi vào "cổng
trời", một thiên đàng mới lạ.
Với
sự hình thành trên cơ sở như vậy, nên thường các tôn giáo
có những biểu hiện như:
Được
hình thành với hàng triệu, chục triệu tín đồ, không chỉ
giới hạn trong phạm vi quốc gia, thí dụ Phong trào New Age
(Thời đại Mới) đang tỏa rộng trong các nước theo đạo
Kitô, hay đạo Soka Gakkai ở Nhật Bản do Tunexabaro Makiguchi
sáng lập, nay do Dikada lãnh đạo với trên 10 triệu tín đồ,
khoác áo Phật, tài sản hàng triệu tỷ đô la Mỹ, có chi
nhánh khắp thế giới, là lực lượng chính trị trong chính
trường Nhật Bản, phái Moon do Sun Myung Moon ở Hàn Quốc, một
thứ Tin Lành cực đoan triệt để với 8 triệu tín đồ, nhân
chứng Jehovah, phái Ngũ tuần nói tiếng lạ...
Được
hình thành với tổ chức lớn nhỏ, số lượng tín đồ khác
nhau, tự mình muốn phủ nhận thế giới hiện hữu, chủ trương
sống khép kín, trác táng, kỳ quặc như phái Jim Jones (Ngôi
đền nhân dân) gây ra cuộc tự tử tập thể ở Guyana năm
1978, khiến 918 người chết, hiện tượng đạo David of David
Khoresh với sụ tự sát hàng loạt năm 1993.
Tôn
giáo mới được hình thành từ những hoạt động tưởng
chừng không liên quan gì đến tôn giáo như: luyện tập thân
thể, tu dưỡng bản thân (thiền Yoga, pháp luân công -Trung
Quốc...) .
Có
thể nói, nhìn "hiện tượng tôn giáo mới" này, mỗi người
lý giải một cách khác nhau. Người cho rằng, đây là sự
phản ứng tiêu cực đối với đời sống hiện đại trong
nhiều trường hợp mang những màu sắc xung đột tôn giáo,
gây ra sự bất ổn định chính trị, xã hội, phản văn hoá
nhiều hơn. Có ý kiến khác thì cho rằng, đây là kết quả
của thứ dân chủ trong đời sống tôn giáo, không bằng lòng
với tổ chức tôn giáo độc quyền, cũng có ý kiến khác
lại cho rằng đây là một sự suy thoái nghiêm trọng hay chí
ít cũng là hiện tượng không bình thường trong đời sống
tôn giáo. Tuy nhiên, cho dù đánh giá thế nào chăng nữa thì
hiện tượng tôn giáo mới đang là một xu hướng khách quan,
hiện hữu trong đời sống tôn giáo trong thời gian gần đây.
Đối
với việt Nam, hiện tượng tôn giáo mới có những đặc trưng
điển hình, một mặt xuất hiện muộn hơn nhiều so với thế
giới, mặt khác, xuất hiện, tồn tại trong nền kinh tế chậm
phát triển và mang nặng tính chất sản xuất nông nghiệp,
nên hiện tượng tôn giáo mới chỉ là hiện tượng mang tính
chất tôn giáo, nhưng lại lẻ tẻ và chưa thành một phong
trào rõ rệt như ở một số nước khác. Hơn nữa, những
nhóm có tính chất tôn giáo ở đây thường không chú ý tới
việc thể chế hoá, mà lưu tâm đến tính cộng đồng, làm
sao nhiều người biết đến, ủng hộ, tham gia. Bên cạnh đó,
hiện tượng tôn giáo mới ở Việt Nam, một mặt xuất hiện
từ bên trong mang tính chất nội sinh, mặt khác được du nhập
từ bên ngoài, chưa được "tiêu hoá" hết, nên mang tính lộn
xộn mà được biểu hiện từ ngay những tên gọi, giáo lý,
nghi lễ.
Theo
số liệu khảo sát của một số đề tài nghiên cứu khoa
học của Việt Nam, hiện nay ở nước ta có khoảng 50 hiện
tượng tôn giáo mới, trong đó có 8 hiện tượng xâm nhập
từ nước ngoài vào, còn lại 42 hiện tượng khác mới phát
sinh từ trong nước: Thanh Hải vô thượng sư, Tam Tổ thánh
hiền, ô mô tô giáo, đạo Bahai, Long Hoa Di Lặc, Ngọc Phật
Hồ Chí Minh, Chân tu tâm kính, Đạo Chân Không, Vô Vi pháp...
Như
vậy, sự xuất hiện hiện tượng tôn giáo mới là hậu quả
tất yếu của sự biến đổi xã hội: toàn cầu hoá, kinh
tế tri thức, phát triển khoa học-công nghệ. Điều đáng
quan tâm hơn, hiện tượng tôn giáo mới này có tác động
không chỉ tới đời sống tôn giáo, mà còn cả trong đời
sống xã hội.
Vũ
Văn Hậu
(Tạp
chí Thông tin khoa học xã hội)
11-11-2006
10:23:18