THƯ VIỆN HOA SEN
SearchEnglish  Mirrorsite
.
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
NHẤT THIẾT CHÚNG SANH
GIAI HỮU PHẬT TÁNH
HT. Thích Nhất Hạnh
 
Tháng X 2007 - Chân Tịnh Ý biên tập : 
Pháp thoại của Sư ông Làng Mai ngày 31.07.2007 tại xóm Mới - làng Mai - Pháp

 
Kính thưa đại chúng,
Hôm nay là ngày 31 tháng 7 năm 2007. Chúng ta đang ở tại xóm Mới trong tuần lễ thứ tư của khóa tu mùa Hè.

Mẹ con sư tử 

Đức Thế Tôn có kể câu chuyện về một con sư tử mẹ mang thai gần đến ngày sinh, nhưng vẫn phải đi kiếm mồi.

Hôm đó sư tử mẹ đuổi theo một con nai. Bụng sư tử mẹ đã lớn nên nó rất mệt, lại đang đói nên không thể nào chạy nhanh. Đuổi con nai tới một thung lũng, con nai chạy lẹ nhún mình nhảy qua thung lũng. Sư tử mẹ đang đói mà đứa con trong bụng cũng đói, vì vậy sư tử mẹ cũng rán hết sức mình rướn nhảy qua. Nhưng trong khi nhảy từ bên này qua bên kia sườn núi thì sư tử mẹ bị sảy thai. Sư tử con rơi từ lòng mẹ xuống thung lũng. 

Mất đứa con, sư tử mẹ tuyệt vọng không còn muốn rượt theo con nai nữa. Nghĩ rằng sư tử con rớt xuống thung lũng chắc đã tan xương nát thịt, sư tử mẹ rất đau buồn. 

Hơn một năm sau, lúc sư tử mẹ đang đi trong rừng thì thoáng thấy một con sư tử con.  Sư tử con này có bộ điệu không giống như sư tử mà giống như một con khỉ. Nó biết leo cây. Nó kêu chét chét, lại biết ăn trái cây. Thường thường thì sư tử không ăn trái cây. Nhưng sư tử con này biết ăn trái cây, leo cây giỏi và nói tiếng khỉ thành thạo. Thoáng một chút, sư tử mẹ biết rằng đứa con của mình còn sống. Nó mừng lắm. Nhưng sư tử con gặp sư tử mẹ, nó không có cảm giác gì hết. Nó không thấy sư tử mẹ có liên hệ gì tới nó và nó còn  muốn lẩn trốn sư tử mẹ nữa. 

Sư tử con chơi với bầy khỉ. Nó leo cây với bầy khỉ con và chơi với nhau. Nó nói chuyện với nhau bằng ngôn ngữ khỉ chét, chét, chét. Cách nhìn, cách chơi, cách nói, cách hái trái cây nhai nhai của nó giống hệt như con khỉ con. 

Sư tử mẹ nghĩ rằng nên kiên nhẫn một chút. Nên chọn lúc nào sư tử con đi một mình, không có những con khỉ khác bên cạnh thì  sẽ tới làm quen. 

Một hôm, sư tử mẹ gặp sư tử con một mình đi tới. Nó nói : con của mẹ ơi, đi chơi với mẹ đi. Sư tử con ngạc nhiên, bực tức : bà này vô duyên thiệt, tôi là con của bà hồi nào, mẹ của tôi là khỉ mẹ dễ thương mà. Nó nhớ lại mẹ nó rất là dễ thương. Mẹ nó kể chuyện cách đây cả năm trời, đang hái trái cây trong thung lũng thì tự nhiên có một cục gì từ trên trời rơi xuống. Mẹ đưa tay ra hứng thì thấy đó là một con vật bé xíu, mềm nhũn, rất dễ bị thương.  Mẹ đem về nuôi và cho bú, cho học nói, cho ăn trái cây và cho tập leo. Mẹ mình dễ thương, khác với bà này vô duyên quá. Bà ta đâu có dính líu gì tới mình mà tự nhiên bà gọi mình là con. Bà tự xưng là mẹ và lại còn rủ mình đi theo nữa. Thật là vô duyên!

Sư tử con nói : thôi đi bà. Bà đi ngay đi, bà đừng nói vô duyên lắm. Nó có vẻ giận nữa. Tôi ghét bà lắm, bà đi đi. 

Sư tử mẹ học được rằng, nó cần kiên nhẫn nhiều hơn nữa, phải từ từ mới được. Đứa con của mình không biết nó là giống sư tử, nó tưởng nó là khỉ. Nó đã tưởng như vậy bao nhiêu ngày, bao nhiêu tháng rồi. Bây giờ mình bảo nó không phải là khỉ, bảo nó là sư tử thì nó không chấp nhận. 

Một lần khác, sư tử mẹ gặp lại sư tử con. Nó nói : Cô ơi, tôi xin lỗi cô nhé. Hôm trước tôi dại quá, tôi lầm. Tôi tưởng cô là con của tôi, tôi tưởng cô là sư tử ai dè nhìn lại tôi thấy cô là khỉ mà sao tôi lại nói cô là con của tôi được, cho tôi xin lỗi nhe, từ rày về sau tôi sẽ không làm như vậy nữa.  Sư tử con nhanh nhẩu : Vậy mới đúng, vậy mới đúng đó, tôi là khỉ mà bà kêu tôi là sư tử, bà kêu tôi là con của bà thì bà bậy, nhưng bà biết lỗi thì tôi tha lỗi cho bà. Sư tử mẹ mới hỏi : Như vậy thì mình chơi với nhau được không ?  Sư tử con bằng lòng.

Hai mẹ con tới bên một bờ suối, chỗ đó nước suối trong, có thể soi bóng được. Sư tử mẹ mới soi mình. Sư tử con thấy bạn mình soi bóng ở dưới nước thì nó cũng soi và rất ngạc nhiên thấy ở dưới nước có bóng con sư tử lớn bên cạnh con sư tử con. Sư tử mẹ le cái lưỡi thì sư tử con cũng le cái lưỡi. Sư tử mẹ đưa chân trước ra thì người bạn mới cũng giả bộ làm như vậy.  Nó bắt đầu nghi ngờ rằng có thể mình không phải là khỉ. Nó nhăn mặt một cái thì ở dưới nước, bóng nó nhăn mặt. Le lưỡi một cái, thì ở dưới nước, bóng nó le lưỡi. Nó đưa chân trước thì dưới nước bong nó cũng đưa chân… Nó bắt đầu nghi ngờ, có thể sư tử mẹ đã nói đúng. Liền lúc đó, sư tử mẹ gầm lên một tiếng, tự nhiên từ cổ họng sư tử con nó cũng gầm lên. Điều ngạc nhiên là lần này nó không phát ra âm thanh chét chét của loài khỉ mà là tiếng gầm của loài sư tử. Nó cảm thấy khoan khoái vô cùng. Sư tử mẹ nhìn sư tử con mỉm cười. Nó nhảy qua bên kia bờ suối đi vào rừng thì sư tử con cũng mỉm cười, nhảy theo mẹ, vượt qua suối vào rừng. Nó biết rằng, nó không phải là khỉ, nó là sư tử. Từ đó hai mẹ con được đoàn tụ hạnh phúc.

Sau khi kể xong câu chuyện, Đức Thế Tôn nói rằng con người cũng vậy đó. Mình là con của Bụt, mà mình không biết. Mình tưởng mình là con của ma, mình có mặc cảm mình xấu xa, tội lỗi. Mình hư hỏng, yếu đuối. Trong khi đó ở trong mình có Phật tánh. Nếu nhìn cho kỹ thì thấy rằng con người mình có những hạt giống của từ bi, của hỷ xả, của hạnh phúc, của niềm tin, của tuệ giác. Vì vậy đừng nghĩ rằng Phật là một cái gì ở ngoài mình, ở trong mình không có gì hết. Ở trong mình chỉ có đau khổ rồi đánh mất niềm tin, mang mặc cảm thấp kém, khổ đau, tội lỗi. Trong khi đó thì mình có Phật tánh, như sư tử con, nó có tánh của loài sư tử chứ không phải là loài khỉ.

 
“Phật sanh bất nhị”- Chúng sanh là Phật, Phật là chúng sanh.

Trong những ngày đầu của mùa hè năm nay, chúng ta đã được học rằng, chúng ta thuộc về truyền thống thiền của tổ Lâm Tế. 

Tổ Lâm Tế đã dạy chúng ta nhiều lần đừng đi tìm Phật ở bên ngoài. Phật đang nằm ở ngay trong tâm của mình. Mình chính là Phật, mình chính là con Phật. Mình có thể là Phật được nếu mình muốn. Mà Phật là gì? Bụt là gì? Bụt là khả năng tha thứ, khả năng thương yêu, hiểu biết, khả năng từ bi, trí tuệ. Con người có hạt giống đó. Con người có khả năng làm được chuyện đó. Ngày xưa Đức Thế Tôn cũng là một con người và nhờ có niềm tin con người có thể thành Phật, cho nên Đức Thế Tôn đã thực tập và phát triển Phật tánh trong người của ngài. Đức Thế Tôn không đi kiếm tìm Chân, Thiện Mỹ ở ngoài mà tìm ra được trong lòng của mình, tất cả các chúng sanh đều có Phật tánh. Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh. 

Nếu mỗi ngày chúng ta tưới tẩm được những hạt giống tha thứ, bao dung, thương yêu, hiểu biết thì càng ngày chúng ta càng thấy rõ rằng chúng ta thuộc về dòng giống Phật và chúng ta không còn mặc cảm tội lỗi. Chúng ta không đi kiếm Phật ở ngoài, chúng ta có thể kiếm Phật ngay trong lòng của chúng ta.

Ngày xưa khi tôi đi xuất gia hồi mười sáu tuổi, tôi có học bài kệ thỉnh chuông. Nghe tiếng chuông những phiền não trong lòng trở nên nhẹ nhàng, trí tuệ của mình phát triển lên và đau khổ trong mình giảm đi. Mình rời khỏi những khổ đau của địa ngục, những ngọn lửa đốt cháy của tham dục, sợ hãi. Nghe tiếng chuông con trở về và con nguyện rằng con sẽ trở thành một vị Bụt giác ngộ, một vị Phật để con cứu độ chúng sanh. Đọan kinh chúng sanh vô biên thề nguyện độ, phiền não vô tận thề nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thề nguyện học, Phật đạo vô lượng thề nguyện thành  có nghĩa là tất cả chúng sanh đang đau khổ, số lượng đông đảo không thể đếm được, con muốn cứu độ tất cả, không bỏ sót một ai. Những phiền não đau khổ, rất là nhiều nhưng con nguyện chuyển hóa hết. Những lời dạy của đức Phật rất thâm sâu, những pháp môn của đức Phật cung cấp rất là nhiều, con nguyện tu tập được hết và con đường thành Phật rất dài nhưng con nguyện đi tới cùng để thành Phật. Những bài kệ đó cho thấy rõ ràng mục đích của người tu là được thành Phật. Thành Phật là chuyện có thể làm được và lý tưởng của người tu là để thành Phật chứ không phải làm chuyện khác, như là làm chùa cho lớn, hoặc để lập hội hoặc để làm Hòa thượng Pháp chủ hoặc là để làm Trú trì.

Mục đích tu là để làm Phật thôi, hồi mười sáu tuổi mình học rất rõ ràng như vậy rồi. Mục đích làm Phật là rõ ràng, đâu có thể nào khác ? Nhưng hồi đó mình nghĩ rằng Phật chắc phải lâu lắm mới làm được, phải có kiếp này sang kiếp khác, đời này qua đời khác mình mới có thể làm được. Khi có người tự xưng họ là Phật thì mình nghĩ ông này chắc là điên rồi. Nếu có người tự xưng tôi là Phật Di Lặc giáng sinh, tôi là Phật Thích Ca, hay tôi là Bồ Tát Quan Thế Âm đây thì mình nói chắc người này điên quá. Mình là chúng sanh sờ sờ, tham sân si còn nhiều, tự ái còn nhiều, xưng là Phật ai mà tin được. 

Nhưng có một bữa đang đi thiền hành, tôi có cảm tưởng rằng đây đâu phải là một chúng sanh đang đi, đây là một đức Phật đang đi. Trong con người mình lúc đó có một người đang đi thiền hành và một người quán sát.  Người quán sát đó đã nói ra một câu bình phẩm đó là đức Phật đang đi, tại vì mình thấy rõ ràng mỗi bước đều có niệm, có định và có tuệ, đều có hạnh phúc, đều có giải thoát, không có luyến tiếc quá khứ, không có mơ ước tương lai. Vì vậy trong con người của mình có một phần quán sát viên và một phần là diễn viên. Mà diễn viên này không phải là diễn viên để cho người khác coi, thực sự là người này đang đi với tất cả hạnh phúc. Đi không phải vì mục đích dạy người ta, đi không mang để làm mẫu cho người ta đi theo, mà đi giống như đức Phật đang đi vậy đó. 

Nhớ lại năm đó thầy và một số các vị xuất gia ở làng Mai đi qua hoằng pháp ở Đại Hàn. Hôm đó cảnh sát đã chặn đường một đại lộ lớn ở Hán Thành để cho mấy ngàn người đi thiền hành. Khởi đầu buổi thiền hành, thầy đứng trên bục cao để hướng dẫn cho đại chúng biết làm thế nào để thiền hành có an lạc trong từng bước chân. Khi hướng dẫn xong, bước xuống bục để bắt đầu đi thì thầy không còn đường để đi. Thiên hạ bao quanh dày đặc. Hàng trăm ống kính của máy chụp hình, máy quay phim bao vây mình. Thấy khó quá, thầy tự nhủ thôi mình để Bụt đi dùm mình. Bụt ơi, con chịu thua, ngài đi dùm con. Tự nhiên Bụt trong mình hiện ra và Bụt bước xuống Bụt đi một bước, hai bước rất chánh niệm, rất vững chãi. Rừng người rẽ ra chừa lối để thầy đi, rất là hay. Mình không yêu cầu, quý đạo hữu rẽ ra để có đường cho thầy đi, không ai phải nói như vậy hết. Không có micro-phone. Con đường rẽ ra, mầu nhiệm như một phép lạ. Nhìn cho kỹ thì Bụt lúc đó không phải ở ngoài, Bụt lúc đó ở trong mình. Mình đã thực tập lâu ngày rồi. Khi Bụt đi thiền hành thì Bụt không cần cố gắng gì hết. Bụt đi rất thảnh thơi, Bụt đi rất giải thoát.

Trong mỗi người của chúng ta có cả Bụt lẫn Ma. Ma nói rằng Trời ơi đi thiền hành như vậy làm sao đi được, đi thiền hành mệt quá bây giờ mình muốn về mình nằm trên cái giường mình cho khỏe. Mình trốn đi thiền hành, cái đó là Ma ở trong mình. Có Ma nhưng cũng có Bụt, vì khi đi thiền hành Bụt đi rất hay, rất hạnh phúc, đầy năng lượng. Mỗi bước chân đem tới an lạc thảnh thơi, chuyển hóa, trị liệu, nuôi dưỡng. Con người của mình vì vậy có sẵn hai yếu tố : yếu tố Bụt và yếu tố Ma. Ma này cũng hiền thôi. Đó là Ma làm biếng, Ma nghi ngờ, Ma mặc cảm là mình không giỏi, hay trốn đi công phu, ngủ nướng thêm mười lăm phút nữa. Đó là Ma ở trong mình, Ma đó cũng dễ thương. 

Nhưng Bụt không khiển trách Ma, không đánh đập, không trừng phạt, Bụt rất là dễ thương. Bụt cư xử với Ma như một người anh đối với em của mình vậy. 

Những tuần vừa qua của khóa hè, chúng ta đã học rằng trong con người mình, Bụt luôn luôn ôm lấy Ma như một người anh ôm lấy đứa em vậy. Làng Mai có nhiều thầy giỏi về máy tính, trong đó có thầy Pháp Ấn, hễ thấy sư em nào có vấn đề về máy tính thì sư anh Pháp Ấn tới giúp giải quyết ngay. Mình loay hoay với cái máy vi tính hơn một giờ đồng hồ mà không làm gì được, thấy sư anh đi ngang qua mừng quá. Sư anh ngồi lại chừng một hai phút là giải quyết xong. Sư anh đó tức là Bụt trong người của mình, mỗi khi mình làm biếng, mệt nhọc, nghi ngờ, mình có khó khăn thì nói sư anh ơi, làm dùm em đi, em khỏi làm. Sư anh đó giúp đỡ tức là Phật ở trong mình. 

Nếu mình thực tập khôn khéo thì mình để Bụt làm hết mấy cái chuyện mà mình làm biếng. Thầy đã thực tập như vậy và khóa này có một bài kệ mới để sử dụng trong khi đi thiền hành. 

Để Bụt thở để Bụt đi, 
mình khỏi thở mình khỏi đi. 

Bụt tất nhiên là thở rất hay và đi rất hay. Trong khi Bụt thở, Bụt đi thì mình có thể làm biếng được. Bụt như là một người anh luôn luôn ôm lấy em mình, đi cho em mình. Thành ra trong khi Bụt thở, Bụt đi, mình được hưởng cái thở và cái đi đó.

Câu đầu tiên là Để Bụt thở, để Bụt đi, mình khỏi thở, mình khỏi đi, đã quá. Nhưng sau khi thực tập được chừng vài ba phút thì mình suy ngẫm ra cái khúc thứ hai là 

Bụt đang thở, Bụt đang đi, 
mình được thở, mình được đi. 

Nó hay vậy đó, có phần làm biếng trong mình và có phần siêng năng trong mình. Phần siêng năng ôm lấy phần làm biếng đi theo và phần làm biếng được thừa hưởng. Quý vị cứ thực tập rồi biết. Khi nào thấy khó khăn, chán nản, thấy làm biếng thì mình nói: Bụt ơi, Bụt làm dùm con đi. Tức thì Bụt chấp nhận làm liền. Bụt làm rất hay. Nên nhớ để Bụt thở, để Bụt đi, mình khỏi thở, mình khỏi đi, nó đã lắm. Mình đâu có cần làm gì đâu, Bụt làm hết. Ngài đi thiền hành rất hay và ngài ở trong mình chứ đâu phải ở ngoài. Để Bụt thở, để Bụt đi, mình khỏi thở, mình khỏi đi. Tiếp theo là Bụt đang thở, Bụt đang đi, mình được thở, mình được đi. Mình được thừa hưởng cái thở đó. Sau một ngày học hỏi hoặc làm việc mệt nhọc, tắt đèn đi ngủ, nằm trên giường có nệm êm, có chăn ấm, mình phải hưởng cái đó, mình có thể nói Bụt nằm thở, Bụt đang được nghỉ ngơi, mình được nằm thở và mình được nghỉ ngơi. Tại vì nằm xuống không suy nghĩ vớ vẫn, mình thấy là mình đang được nghỉ ngơi, đang  được nằm trên giường của mình, chỉ thở cho nhẹ đưa mình vào giấc ngủ, thì mình cũng mời Bụt thở, Bụt nghỉ ngơi. Mình cũng thở theo, mình nghỉ ngơi theo và mình đi vào giấc ngủ rất dễ dàng. Có hôm  đi thiền hành, thầy đi rất hay, tại vì thầy đã mời Bụt đi và Bụt đi quá hay, mình nhờ Bụt làm cái gì Bụt cũng làm hay hết. Nhiều lúc đánh răng, thầy nói Bụt đánh răng dùm con, thì Bụt đánh răng rất hay, đánh răng trong chánh niệm, rất hạnh phúc. Một bữa thầy viết thư pháp, cần vẽ một vòng tròn. Vẽ vòng tròn thì cần vẽ thật tròn và vẽ sao cho tự nhiên. Hôm đó thầy nói thôi để Bụt vẽ, mình vẽ làm chi cho mệt. Bụt vẽ rất là hay, mình vẽ thì mình còn sợ đẹp hay không đẹp, còn Bụt vẽ, Bụt chẳng sợ gì hết. Vì không sợ cho nên nó rất đẹp, hay vậy đó.  Mình cứ thử đi, rất mầu nhiệm. Bụt luôn luôn có mặt cho mình hai mươi bốn giờ đồng hồ một ngày. Vậy mà mình đi kiếm Bụt ở đâu, kiếm ở trên trời, kiếm ở bên Tây Phương, kiếm ở trên bàn thờ, kiếm ở trong chùa. 

Bụt ở trong chùa là Bụt bằng đồng, Bụt bằng xi măng. Còn Bụt ở trong mình là Bụt thật, là trí tuệ, là từ bi, là giải thoát, là tha thứ, là bao dung. Khi mình gặp một người khó chịu, mình thấy mệt quá. Nói chuyện với người này mệt quá, mình thua, Bụt nói chuyện gì với người này đi cho con khỏi nói. Bụt sẽ nói giúp, nói rất hay và rất  từ bi. Quý vị nên tin thầy, nên nương tựa vào Bụt ở trong mình, Bụt ở trong mình hay lắm. Mỗi lần mình nương tựa như vậy, mình giao phó cho Bụt làm, thì Bụt trong mình càng ngày càng sáng, càng rõ  Cái đó là thực tập quy y Phật. Còn mình nói con về nương tựa Phật, đó chỉ mới là nói thôi, chưa phải là quy y thật. Quy y Phật là phải để cho Bụt có mặt trong mỗi giờ phút của đời sống hàng ngày.

Thầy đã quyết định rồi. Thầy nói giờ thầy chết thì thầy sẽ nói Bụt ơi, chết dùm con.  Bụt sẽ chết một cách rất là an nhiên hạnh phúc và mình được chết theo cách đó, rất khỏe. Thành Phật không phải là vấn đề xa xôi, kiếp sau, hay ngàn kiếp sau. Vấn đề thành Phật là vấn đề bây giờ ở đây. Mình thành Phật trong mỗi giây phút. Khi mình nương tựa Phật là mình để cho Phật làm, để cho Bụt làm, để cho Bụt thở, để cho Bụt đi, là mình đang từ từ thành Phật đó. Khi mình nói rằng, mình là Phật, thì không phải là mình điên đâu. Trước đó mình thấy ai tự xưng là Phật, thì mình thấy người đó điên rồi. Nhưng mà theo đúng pháp môn này thì thành Phật là vấn đề mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút. Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút mình đều phải thành Phật hết. Tại vì Tổ Lâm Tế nói Phật và chúng sanh không phải hai thực thể riêng biệt : Phật sanh bất nhị.

Căn bản của giáo lý Lâm Tế là Phật sanh bất nhị. Phật và chúng sanh không phải hai  thực thể tách rời với nhau.  Trong chúng sanh có Phật. Nếu chúng sanh khôn, thông minh thì chúng sanh biết rằng trong mình có Bụt. Vì vậy cho nên dầu mình có lo lắng, buồn khổ mặc cảm, làm biếng, mình đừng có lo, để Bụt lo thì tự nhiên những phần chúng sanh ở trong mình sẽ được hưởng. Nếu mình lười đi thiền hành thì để Bụt đi, để Bụt thở, mình khỏi thở, mình khỏi đi. Thật là đã. Nhưng trong khi Bụt đi thì mình hưởng, Bụt đang thở, Bụt đang đi, mình được thở, mình được đi.

Bụt là thở, 
Bụt là đi,
mình là thở, 
mình là đi. 

Chỉ có thở, 
chỉ có đi, 
không người thở, 
không người đi. 

An khi thở, 
lạc khi đi, 
an là thở 
lạc là đi. 

Mình phải học bài đó.  Đó là bài đặc biệt của khóa tu mùa hè năm nay. Ban đầu thì thấy giống như có hai người, Bụt và mình. Nhìn từ từ một hồi thì hai người là một, mình với Bụt là một. Chúng sanh là Phật, Phật là chúng sanh.

Có nhà văn viết cuốn sách với đề tài là Tìm Phật ở đâu ? - Dễ quá ! Đâu cần phải viết một cuốn sách, chỉ một bài kệ là đủ rồi. Có nhiều Phật tử nghĩ rằng mình là con số không, mình chỉ là khổ đau, mình chỉ là thất bại, mình chỉ là ganh tỵ, mình chỉ là giận hờn, mình chỉ là tội lỗi. Cho nên mình mới tới chùa kiếm chút xíu từ Phật, từ Bụt. Bụt ơi, ngài là toàn vẹn, ngài là tuyệt hảo, còn con là con số không và mình lạy xuống để ăn mày chút công đức. Phần lớn chúng ta đều hành trì như vậy. Nhưng Tổ Lâm Tế hét một tiếng: đồ ngu, con là Phật đó, đừng có làm kiếp ăn xin. Đừng có tưởng mình là khỉ, dòng giống khỉ, mình là dòng giống sư tử. Vì vậy cho nên câu chuyện sư tử con mà Đức Thế Tôn kể với câu la mắng đồ ngu của Tổ Lâm Tế, hai cái đó đi đôi với nhau.

Mình là đồ ngu tại vì mình tưởng mình chỉ là khổ đau, mình chỉ là con số không, mình chỉ là chúng sanh tội lỗi, còn Phật là cái gì ở ngoài mình rất xa vời.

Trong truyền thống Cơ đốc giáo có ý niệm lưỡng nguyên: tạo hóa và tạo vật. Tạo hóa là Thượng đế làm ra thế giới loài người. Kitô giáo bị kẹt vào ý niệm đó. Mình chỉ là tạo vật, mình không phải là tạo hóa. Tạo hóa là khác, là Thiên chúa, là đức Chúa trời. Trong lịch sử hai ngàn năm của Thiên chúa giáo, các tín hữu Thiên chúa giáo bị kẹt vào ý niệm lưỡng nguyên đó rất nhiều. Nhưng không phải tất cả tín hữu đều bị kẹt. Có nhiều người có tự do, họ vượt thoát được ý niệm đó. Trong truyền thống Majestic thần bí của Thiên chúa giáo cũng như trong giáo hội chính thống, người ta cũng thấy được mình là thiêng liêng và Thiên chúa chính là mình. Cũng có người thấy được như vậy, nhưng là số ít thôi. Cũng như sóng và nước, chúng ta hãy tưởng tượng một đợt sóng nó đi tìm nước, nghe nói rằng nước không lên xuống, không bị lên xuống nhiều. Nước không sinh, không diệt không tới không đi. Còn sóng cứ lên xuống, cứ tới đi, thành ra mình phải đi tìm nước, tìm hoài chẳng thấy nước. Ai dè sóng chính là nước. 

Chúng sanh cũng vậy. Chúng sanh đi tìm Phật, đi tìm Bụt cũng giống như một đợt sóng đang đi tìm nước, buồn cười như vậy đó. Cho nên Đức Thế Tôn mới kể câu chuyện sư tử con và sư tử mẹ phải dùng nhiều phương tiện khéo léo mới giúp cho sư tử con biết rằng mình chính là sư tử, mình thuộc về dòng giống sư tử.

Kinh Pháp Hoa có kể chuyện Người cùng tử.  Một ông nhà giàu nọ mất đứa con trai. Đứa con bây giờ đang tha phương cầu thực, làm kẻ ăn mày, đi đổ thùng phân. Bữa nọ đứa con trai về tới quê nó. Nó không còn biết gốc tích của nó. Nó tính đi xin việc làm tại gia đình lớn đó. Nếu cho nó công việc đổ thùng phân hay đổ rác gì thì nó cũng nhận. Ông phú hộ nhìn thấy đứa con, ông biết đây là con của mình. Ông bảo nó tới gần thì nó sợ. Nếu như ông nói con là con của ba thì nhất định nó không tin. Vì vậy cho nên ông mới bảo những người phụ tá đi theo làm quen nó rồi đề nghị kiếm cho nó một công việc lương ít, thì nó chấp nhận. Một thời gian sau thấy nó làm việc đã giỏi, ông giao cho nó công việc lớn hơn. Cuối cùng nó được làm người hầu cận, phụ tá cho ông. Khi thân cận rồi ông mới tiết lộ rằng nó chính là con của ông. Lúc đó nó chấp nhận. Nếu như hai cha con gặp nhau lúc ban đầu ông mà nói này con, con là con của ba, con tới đây, nó sẽ không bao giờ tin và nó sẽ bỏ chạy. Đó là câu chuyện trong kinh Pháp Hoa, chuyện người cùng tử. Hỡi người giàu sang bậc nhất, tha phương cầu thực xưa nay, hãy thôi làm thân cùng tử, về đây tiếp nhận gia tài. Gia tài đó là bản tánh. 

 

 
TÌNH VÀ NGHĨA
HT. Thích Nhất Hạnh
Tháng X 2007 - Chân Tịnh Ý biên tập : 
Pháp thoại của Sư ông Làng Mai ngày 31.07.2007 tại xóm Mới - làng Mai - Pháp

Trong tiếng Việt có chữ Tình 情 và chữ Nghĩa 義. Chữ Nghĩa rất là khó dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh. Chữ Tình mà viết ra chữ Hán thì có chữ tâm忄 tức là trái tim phía bên trái. Bên phải có chữ thanh 青 là màu xanh, trái tim màu xanh. Ban đầu thì màu xanh mà về sau nó có thể biến thành màu khác, nhưng làm sao đừng để nó thành màu đen.

Tình ban đầu thường rất bồng bột, nóng bỏng, có tính đam mê. Khi con người bị năng lượng của tình chiếm cứ thì họ không được an ổn lắm. Ăn không an mà ngủ cũng không an, họ như đang bị đốt cháy. Tình là ngọn lửa. Người nào qua cầu rồi thì mới hay. Vướng vào chữ tình rồi thì khó an trú trong hiện tại lắm. Cứ nghĩ tới giây phút mình sẽ được gặp người đó, được ngắm người đó, ngồi ngắm đủ no rồi, khỏi ăn. Càng nhiều trở ngại chừng nào thì đam mê đó càng lớn. Trở ngại là chất liệu làm cho tình càng lớn. Dễ dàng quá thì tình không lớn mạnh. 

Ngày xưa khi chưa có e-mail, chưa có téléphone, đôi khi mình đợi một lá thư tình cả tuần này sang tuần khác. Đáng lý hôm qua lá thư tới rồi, nhưng sao nó chưa tới? 

Mình đợi suốt hai mươi bốn giờ đồng hồ cho đến lúc ông phát thư đi ngang trước ngõ. Ông thường đến lúc mười giờ sáng, thì chín giờ mình đã bắt đầu đứng đợi. Ông phát thư sáng nay sao đi trể quá, đi chậm quá, mình đếm từng bước của ông đi. Nếu ông đi ngang mà không dừng lại thì mình buồn lắm, lại phải đợi thêm hai mươi bốn giờ đồng hồ nữa. Tây Phương họ ví khi yêu như bị té (tombé d’amour), đang đi bình thường tự nhiên té xuống. Người Việt Nam thay vì nói bị té thì nói ốm. Tây Phương cũng nói ốm. Nguyễn Bính có hai câu thơ :

Gió mưa là bệnh của trời.
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Trời đẹp thì không có bệnh mà hể có gió, có mưa là bị bệnh. Tương tư tức nhớ nhau, không làm ăn được gì hết. Tình thường thường không được thỏa mãn là tình sầu. Sầu tình. Ốm là ốm tương tư, tương tư là nhớ nhau. Tình yêu là một cơn bệnh, ốm tương tư tức là nhớ quá. Nhưng nếu tình yêu đó được thỏa mãn dễ dàng, nó bùng lên rất nhanh nhưng rồi nó chết cũng rất mau. Đam mê nó lên như một ngọn lửa cao và khi rơi xuống thì cũng rất là mau, tình yêu tàn lụi rất là mau. Một cặp ở với nhau được lâu dài, cái đó không phải là nhờ tình yêu mà nhờ yếu tố thứ hai. Đó là nghĩa, tình nghĩa. Cái tình nó đưa tới cái nghĩa. Nếu cái tình đàng hoàng, nếu mình biết yêu cho đàng hoàng, thì tự nhiên nó đưa tới cái nghĩa. Chính nghĩa là keo sơn gắn chặt hai người, để hai người có thể sống được với nhau. Cho nên phải có cái nghĩa để bổ sung cái tình. Người ta không thể sống trăm năm bên nhau với tình được. Bởi tình là một ngọn lửa tàn rất mau, nghĩa trái lại nuôi dưỡng lửa tình âm ỉ cháy.

Chữ nghĩa thường đi đôi với chữ ơn: ơn nghĩa. Ơn đầu tiên mà mình nhận được là ý thức rằng : Có bao nhiêu người con gái, anh ấy không chọn mà anh chọn riêng mình? Biết bao nhiêu người con trai có bằng cấp, địa vị nàng không chọn mà nàng lại chọn mình? Ý thức đó là ơn. Tình yêu này nó không chỉ trong vòng nam nữ. Bạn bè cũng vậy, Cha mẹ cũng vậy, Thầy trò cũng vậy. Mình sinh ra một đứa con và đứa con đã chọn mình làm mẹ, chọn mình làm cha. Tại sao nó không sinh ra ở nhà khác?  Cha mẹ có thể biết ơn đứa con, sự ra đời của đứa con có thể đem lại ánh sáng và hạnh phúc cho cuộc đời còn lại, nên cha mẹ yêu thương con. Cũng như thầy trò, tại sao có nhiều thầy, người đó có thể tới quy y mà người ta chọn thầy này. Người thầy cũng biết ơn người đệ tử. Ơn đó là yếu tố của hạnh phúc. Tại sao anh không chọn người khác? Sự lựa chọn đó là do đâu mà có? Nếu chỉ là sự ham muốn sắc đẹp thôi, không đủ, phải có cái gì đó. 

Ở bên Mỹ có anh chàng đó rất đẹp trai, tài ba, tốt nghiệp đại học thuộc hàng ưu tú và có việc làm lương rất lớn lại có rất nhiều cô bạn gái thật là xinh đẹp. Bà mẹ rất là ngạc nhiên khi thấy anh  thân với một cô gái không phải là đẹp nhất. Cô này hơi thấp và nước da hơi đen, mà sao con trai của mình có vẻ thích cô này hơn các cô khác. Hôm đó hai mẹ con ngồi với nhau, bà hỏi có bao nhiêu người con không chọn, mà sao con chọn con nhỏ này vừa đen vừa thấp. Anh chàng không biết trả lời làm sao hết, anh chàng chưa suy nghĩ nên khi bị hỏi bất ngờ, anh không trả lời mẹ được. Nhưng ít lâu sau anh ta quán chiếu và tìm ra câu trả lời, cô này mỗi khi anh nói chuyện thì cô lắng nghe. Anh là nhà khoa học nhưng anh cũng ưa làm thơ. Mỗi khi anh đọc thơ, cô lắng nghe và cô chứng tỏ hiểu được thơ của anh. Còn những cô gái kia cũng nghe thơ anh nhưng mà nghe do phép lịch sự thôi, bị nghe thơ chứ không thích. Cô này thì khác, cô thích thơ, cô thưởng thơ, cô tham gia thơ và cô trở thành tri kỷ của anh chàng. Trên cuộc đời này có thể tìm được một người có thể hiểu mình được thì mình là người có hạnh phúc. Món quà quý nhất mà người kia có thể tặng cho mình là hiểu được mình. Có những người sống trong cuộc đời này nhưng chưa bao giờ tìm được một người có thể gọi là hiểu mình cả. Mà nếu mình là một người con trai hay một người con gái và trong cuộc sống này mình có thể tìm được một người có khả năng lắng nghe mình, có thể hiểu được mình, hiểu những khó khăn những khổ đau những ước vọng của mình, thì mình tìm thấy nơi người đó một tâm hồn tri kỷ. 

Đời một người là để đi tìm một người tri kỷ, một người biết được mình. Tìm ra được người đó thì hạnh phúc vô cùng. Ngày xưa có một người chơi đàn rất là hay, bạn hữu không có ai hiểu được tài năng của ông ta. Người này làm quan và chưa bao giờ trong  giới quan chức bạn bè thân thuộc mà tìm được người có thể hiểu được tài ba của mình. Vì vậy mỗi lần đánh đàn ông thường đem theo vài người hầu cận lên trên núi, tìm một chỗ rất là đẹp, trải chiếu ra, pha trà, đốt trầm lên. Không khí trang nghiêm lúc đó ông mới chơi đàn. Ông cảm thấy như chỉ có suối, cây, mây, gió mới hiểu được tiếng đàn của ông. Một hôm đang đàn thì tự nhiên  dây đàn bị đứt. Thay dây mới vừa đàn thêm một câu nữa thì nó đứt nữa. Ông ta nghĩ chắc có người đang nghe lén tiếng đàn. Ông đứng lên nói lớn có vị nào đang nghe lén tôi đàn xin bước ra, làm như vậy không có dễ thương. Thì tự nhiên có một anh tiều phu xuất hiện, anh tiều phu này đã nghe lén. Anh tiều phu này có lỗ tai rất là hay, nghe và hiểu được tất cả những cái hay, cái đẹp, cái quý, cái tài ba của người đàn. Vì vậy cho nên dây đàn bị đứt. Anh chàng tiều phu tên là Chung Tử Kỳ và người đánh đàn là Bá Nha. Bá Nha lần đầu tiên tìm ra được người hiểu được tiếng đàn của mình. Tử Kỳ chấp nhận làm bạn với Bá Nha nhưng không muốn về kinh đô, chỉ muốn làm tiều phu. Lâu lâu Bá Nha nhớ bạn, hẹn với bạn cùng uống trà, nghe đàn. Bá Nha đã tìm được người tri kỷ. Tình bạn đó lưu truyền cho tới ngày hôm nay với tên của hai người: Bá Nha và Tử Kỳ. Hồi thầy mới mười tám tuổi, thầy đã làm một bài thơ ca tụng tình bạn của Bá Nha, Tử Kỳ. Trên đời của mình mà có một người lắng nghe được mình, hiểu được mình thì mình là người may mắn nhất. Anh chàng ở Cali mới trả lời câu hỏi của mẹ, tại sao má biết không, tại vì người đó hiểu con. 

Đời người mà tìm ra được một người hiểu mình, thật là hạnh phúc vô cùng. Con mà hiểu cha, đệ tử mà hiểu thầy cũng làm cho cha, cho thầy hạnh phúc. Người mà hiểu được mình thì mình biết ơn người đó. Cảm ơn em đã hiểu được anh, cảm ơn con đã hiểu được cha, cảm ơn cha đã hiểu được con. Tu tập là làm thế nào để có thể hiểu được người khác. Muốn hiểu thì phải lắng nghe, phải quan sát mới hiểu được. Khi sống với một người có khả năng hiểu mình thì hạnh phúc lắm, vì hiểu là nền tảng của thương. Không hiểu thì không thể nào thương được. Cho nên trong tình yêu đôi lứa phải cẩn thận. Mà tình yêu đôi lứa mình chỉ cần làm vài cái test thì mình biết là người đó hiểu mình hay là không. Nếu người đó không hiểu được mình thì dù người đó có bằng cấp cao, lương tiền lớn, ô tô đẹp, có nhà cửa, bảnh trai, hay là có sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, cưới người đó mình cũng sẽ khổ suốt đời, gọi là khổ sai chung thân. Đó là một nhà tù, tình yêu là một nhà tù. Người nào mà khi mình mới nói đã cắt lời, thích khoe khoang cái riêng của họ, không có khả năng hiểu được những khó khăn, khổ đau của người khác, không biết lắng nghe mình, thì chỉ cần vài ba phút là mình có thể nhận ra được. Đừng để bị hấp dẫn bởi bề ngoài, những bóng sắc bên ngoài, địa vị danh lợi, xe hơi, nhà cửa, tiền lương, bằng cấp. Đừng để những cái đó làm mờ mắt mình. Hai mắt mình phải tỉnh táo để thấy rằng người con gái đó hay người con trai đó là một người có thể hiểu được mình và hiểu được mình thì sẽ thương mình, rõ ràng như vậy. 

Trong xã hội mới phát triển của chúng ta, một cô gái có thể đánh mất tiết trinh của mình để đánh đổi lấy một chiếc xe gắn máy. Thật là dễ sợ, đạo đức suy đồi đến như thế đó. Tại vì muốn thoát ra khỏi thân phận nghèo khổ, vì muốn có một chiếc xe giống như người khác họ đã đánh mất cái quý giá nhất của đời mình. Chuyện đó đã xảy ra, nó đang xảy ra.

Trong đạo Phật, cái thương đích thực nó được làm bằng cái hiểu, không hiểu thì không có thương. Cha mà nếu không hiểu con thì càng thương con, con càng khổ. Vợ không hiểu chồng càng thương chồng, chồng càng khổ. Hiểu là nền tảng của tình thương. Sống với nhau như thế nào để càng ngày mình càng hiểu được nhiều hơn và người kia càng ngày càng hiểu được mình nhiều hơn. Nếu cái hiểu không lớn lên, thì cái thương nó cũng không lớn lên, nó dẫm chân tại chỗ. Nếu quý vị thấy tình thương của mình đang dẫm chân tại chỗ thì quý vị biết rằng quý vị không tu, bởi cái hiểu không lớn nên cái thương không thể lớn. Khi mà tình thương không lớn thêm thì từ từ nó co rút lại cho đến khi trở thành một cục cứng ngắt. Tình yêu có thể chết nếu mình không biết nuôi dưỡng nó bằng cái hiểu và cái thương. Còn khi người kia hiểu mình thì mình biết ơn người đó, biết ơn suốt đời. Chính cái ơn đó là chất liệu nuôi dưỡng mình và người đó cho đến suốt đời, cái đó là nghĩa. Không phải là cái bồng bột lúc ban đầu, cái tình, không phải là ngọn lửa nuôi dưỡng đâu. 

Ở Việt Nam ngày xưa người ta không nấu cơm bằng gas hay là bằng điện mà nấu bằng rơm và rơm cháy rất mau. Có cách để làm cho nó cháy chậm lại,  mình cần một chiếc đủa. Đặt một nắm rơm vô bếp, lấy cái đủa đè xuống thì rơm sẽ cháy từ từ. Ngày xưa miền quê Việt Nam còn dùng trấu. Trấu tức là vỏ hạt lúa. Nhiều nhà không có hộp quẹt nên phải nuôi lửa. Muốn nuôi lửa lâu mình đổ vào bếp một ít trấu. Trấu cháy ngún, cháy lâu. Nó không cháy bùng như rơm mà cháy chầm chậm suốt đêm. Sáng mai mình khơi ra thì còn lửa ở trong đó, gọi là lửa trấu. Lửa rơm thì mau cháy, mau tàn. Đó là ngọn lửa tình. Còn nghĩa là lửa trấu, nó cháy suốt đêm dài.

Ngày xưa Việt Nam còn có truyền thống đi xin lửa, vì không có hộp quẹt và cũng không có đèn dầu. Mỗi khi nấu cơm mình phải qua hàng xóm xin lửa, nếu mà nhà mình không có trấu. Các cháu có thể là chưa thấy con cúi. Con cúi không phải là một sinh vật mà mình vẫn gọi là con.  Người ta lấy rơm bện lại thành ra một con rắn rất chặt và đốt một đầu, đầu kia để tay cầm. Nó cứ cháy ngún từ từ và cháy được nhiều giờ. Mỗi khi cần lửa nấu cơm thì mình tới con cúi lấy lửa. Còn nếu không có con cúi và cũng  không có lửa trấu thì mình phải đi xin thôi.

Thầy có làm một bài thơ về chuyện đi xin lửa. Chuyện đó xảy ra trong quá khứ. Thế hệ của các cháu giờ đây có thể không biết đi xin lửa là cái gì. 

Sáng hôm nay hộp diêm của tôi hết rồi. 
Buốt lạnh như trời cuối thu buốt lạnh. 
Tác phẩm vẫn đang còn đó. 
Tôi qua nhà láng giềng xin lửa. 
Xin các bạn đưa tay nói thật. 
Có phải tất cả chúng ta cuối cùng tin rằng. 
Trong xóm ta thế nào cũng có người còn lửa. 

Chúng ta hãy tin vào cái điều đó như một người tin vào lời ước của họ. 
Tôi biết có những nhà nghèo nhưng lửa hồng ngún cháy ngày đêm trong bếp hồng âm ỉ. 
Em hãy nhớ lời tôi căn dặn. 
Một nắm rơm đặt vào đợi khói tỏa màu xanh. 
Em nhìn xem như một hơi thở nhẹ của hồn tôi thôi cũng muốn gọi về lửa đỏ. 

Đi xin lửa thì mình phải biết cầm một nắm rơm. Tới bếp của người ta, mình đừng có quấy động cái bếp vì người ta đang nuôi lửa ở trong đó. Cầm nắm rơm của mình, dúi vào chỗ lửa trấu đang còn cháy và đợi. Chừng hai ba chục giây, mình thấy khói lên tức là biết rằng nắm rơm của mình đã được lửa bén vào rồi. Mình chỉ cần thổi một hơi thở nhẹ là lửa cháy lên rồi lấy một nắm rơm khác nắm lại, đem về thì nó tiếp tục cháy. Quý vị biết rằng ngày xưa xin lửa là chuyện mỗi ngày. Lửa có hai thứ một là lửa rơm hai là lửa trấu. Lửa trấu ngún cháy cả ngày đêm rất lâu. Lửa rơm được ví cho tình yêu, cho tình. Lửa trấu tượng trưng cho nghĩa.

Ân nghĩa là cái tiếp nối của chữ tình. Cái tình bắt đầu cho khéo để từ từ nó đi tới cái nghĩa. Ân nghĩa là chất liệu nuôi dưỡng một cặp vợ chồng cho tới khi đầu bạc và răng long. Nghĩa là sự thực tập về tình yêu, mỗi ngày mình phải làm cho cái tình của mình lớn lên và nó biến thành nghĩa. Mỗi ngày mình phải xây dựng cái ơn và cái nghĩa. Mỗi lời nói mỗi cử chỉ săn sóc đều tạo ra ơn và nghĩa hết. Chính cái đó là keo sơn, nó giúp cho một  cặp vợ chồng sống với nhau suốt đời. Tình bạn cũng vậy, tình bạn thì không có sự cháy bùng, không có sự đam mê như là tình yêu. Cho nên tình bạn nó dễ hơn nhiều. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói rất rõ là tình bạn lâu dài bền chắc, nó nuôi dưỡng mình nhiều hơn tình yêu. Vì vậy bí quyết là mình phải biến tình yêu lúc ban đầu trở thành tình bạn. Hai người ban đầu là hai người yêu nhưng mà từ từ sẽ trở thành hai người bạn. Khi trở thành hai người bạn thì đó là tình yêu đang còn. Còn nếu tình yêu không trở thành tình bạn được thì tình yêu sẽ chết, sẽ không thành công. Mà sở dĩ tình yêu trở thành tình bạn được là vì mình phát khởi được cái ơn và cái nghĩa. Ơn nghĩa đó như đã nói ở trên, nó bắt đầu từ chỗ ý thức được rằng tại sao giữa bao nhiêu người con trai người đó lại chọn mình, nên mình biết ơn người con gái đó. Giữa bao nhiêu người con gái đẹp mà mình chọn một người thôi thì cái đó là bắt đầu từ chọn. Cái chọn này không phải là nhất thời, cái chọn này là phải xãy ra trong một quá trình nào đó với trí tuệ của mình chứ không phải chỉ với đam mê mà thôi. Nếu tình chỉ chỉ có đam mê thì mình sẽ hối hận, phải có trí tuệ và phải biết lắng nghe. Lắng nghe bạn bè, lắng nghe cha mẹ, lắng nghe các em của mình. Tại vì họ cũng có cái thấy mà cái thấy của họ đôi khi khách quan hơn mình. Mình đam mê rồi thì mình không còn thấy được sự thật rõ ràng bằng những người khác.

Xin quý vị giúp dịch chữ nghĩa ra tiếng Pháp, tiếng Anh. Nghĩa đi đôi với chữ ơn: Ơn nghĩa. Khi thương thì ranh giới giữa cá nhân không còn nữa. Hai người trở thành một. Mình không đi tìm cái hạnh phúc riêng của mình. Hạnh phúc phải là hạnh phúc chung. Ở làng Mai mình nói hạnh phúc chưa bao giờ là hạnh phúc của riêng một mình con, đó là bài hát của sư cô Giải Nghiêm. Hạnh phúc hay đau khổ trong tình yêu không còn là vấn đề riêng của một người nữa mà của cả hai người. Đó là yếu tố thứ tư ( từ, bi, hỹ, xả ) của tình yêu trong đạo Phật, tức là không phân biệt tôi khác, anh khác. Hai người là một thôi. Cho nên không có chuyện ông ăn chả bà ăn nem, ông đi tìm thú vui riêng của ông, bà đi tìm thú vui riêng của bà. Cái vui của ông cũng là cái vui của bà.

 Tuần thứ ba trong khóa tu, có một thiền sinh Tây phương hỏi một câu rất đáng thương. Ông nói rằng, con khổ quá đi. Con rủ nhà con đi tới khóa tu, bà không chịu ở, bà cứ đòi con phải đi, bây giờ con phải làm sao. Thay vì nói rằng vì bà chưa thấy được sự cần thiết của tu học thì tôi trả lời rằng tại vì ông mà ra hết. Tại những gì bà thích ông đã không thích. Nếu ông thích và ông yểm trợ bà những gì bà thích thì chắc chắn bà sẽ thích cái ông thích. Sở dĩ bà đòi đi là vì ông không chú trọng tới bà. Ông không để tâm tới, ông không hiểu được bà. Những gì bà yêu mến, bà mong ước, ông không để ý tới. Vì vậy cho nên bà cũng không để ý tới ông. Những thứ ông thích thì bà ghét, những thứ ông ghét thì bà lại thích cho biết tay. Thường thường nó xảy ra như vậy. Vì vậy vấn đề hạnh phúc cũng như khổ đau trong tình yêu chân thật không còn là vấn đề của cá nhân nữa mà là của chung. Chúng ta phải có thì giờ quan tâm.
 
(Phusa.info)
 
 

11-06-2007 11:23:34
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap