NHẤT NGUYÊN
LUẬN &
THỂ CÁCH TRI
NHẬN TÁNH KHÔNG
Phổ
Nguyệt
VI. KẾT LUẬN
Dòng
Tâm Thức luôn trôi chảy không có khởi điểm cũng như không
có kết thúc. Khi thanh lọc, dòng tâm thức ấy không còn vản
đục, sự trong sáng cũng vẫn hiện hữu trong Tâm Trí con người.
Mây vẫn trôi không làm bầu trời thay đổi. Tâm thức luôn
biến diệt, Trí tuệ vẫn bản nhiên trong sáng. Đời người
sẽ đi về đâu? Cho dù thân tứ đại có tan rã theo thời
gian sanh lão bệnh tử, cáiTuệ Minh, cái Bản Giác hay Tri Kiến
Phật vẫn thường hiển lộ đó không phải là sự sống tự
tại đời đời hay sao?
Cái
vẫn đục vẫn có trong tính trong sáng Mây che khuất tưởng
chừng như bầu trời đen tối, kỳ thật chỉ là trạng thái
đen tối của mây còn bầu trời vẫn là bầu trời bản nhiên
trong sáng và thanh tịnh bất biến, vì khi mây tan bóng tối
không còn thì bầu trời hiển lộ như tính bản nhiên của
nó, không có một mảy may thay đổi.
Nhận
thức được Tánh Không của vạn hữu, thực tại của Duyên
Khởi và Giả Danh, thì Trung Đạo là con đường Cứu Cánh
cho mọi vượt khỏi dòng bộc lưu sanh tử. Trung Đạo hay Tự
Tánh Tuyệt Đối là Phủ Định Tính của vạn hữu kể cả
tâm thức con người. Con đường Giác Ngộ là con đường sáng
soi rọi các pháp làm cho vô tự tính mọi hữu tồn. Phủ định
tha tính của sụ vật và phủ định cả tự tính của sự
vật cũng chưa phải là cứu cánh, mà phủ định luôn cái
mình phủ định.
Con
đường đi đến Giác Ngộ theo kiểu của Bồ Tát Long Thọ
là những chặng đường phủ định tuyệt đối để cuối
cùng không còn gì phủ định, chỉ còn Tự Tính Tuyệt Đối,
vùng trời của Vô Ngôn là Trung Đạo.
Một
phương pháp khác trong Duy Thức Học quan niệm như là Thể
Cách Nhận Thức Sự Vật. Theo Bồ Tát Di Lạc và Vô Trước,
Thực
tại luận và giải thoát luận của Duy Thức dựa trên nhận
thức về thực tại. Nói cách khác, đối với tư tưởng gia
Duy Thức, liên hệ của chúng ta với thực tại là một liên
hệ nhận thức (và giải thích). Do đó trong thực tại luận
Duy Thức bản tính của Phật (tức là một sinh linh giác ngộ)
và bản tính của chúng sinh hay con người bình thường (tức
là những sinh linh chưa giác ngộ) cũng như sự dị biệt giữa
Phật và con người, cốt yếu được qui định bằng những
phạm trù nhận thức. Sự dị biệt giữa Phật và con người
chính yếu là sự dị biệt giữa hai thể cách tri nhận thực
tại.
Tri
giác của Phật được định nghĩa là vô phân biệt, một
thể cách nhận thức vượt trên dự kiến (presupposition), nằm
ngoài sự qui kỷ (nonegocentric), tri nhận thực tại như chính
nó, nghĩa là trong thực tính của nó. Do đó, Phật- tính- -
hay từ một viễn cảnh tri thức luận, Phật-tâm (hay Phật-trí,
tức là thể cách nhận thức của sinh linh đã giác ngộ) -
- cũng được đề cập đến như là tâm [nhận thức] thực
tại chân thực. Trong hầu hết các kinh luận Đại Thừa, tâm
(Phật) được mô tả là thanh tịnh và trong sáng tự bản
tính.
Tri
giác thực tại của con người, trái lại, là một thể cách
nhận thức qui kỷ (egocentric) và do đó bị giới hạn. Thể
cách nhận thức nầy có xu hướng tri nhận thực tại như
là gồm có một chủ thể nhận thức tự hữu và các thành
tố cấu tạo thực tại - - tức là các đối tượng - - cũng
hiện hữu một cách độc lập. Trong ngôn ngữ của Duy Thức,
đây chính là sự áp đặt tự tính lên chủ thể (tức là
phương diện chủ thể) và (các hiện tượng, tức là phương
diện khách thể) mà Duy Thức xem là một tiến trình giả tưởng.
Thứ duy thức luận phác tố (naĩve realism) này tự căn bản
đã mâu thuẫn với giáo lý nền tảng của Phật Giáo về
duyên khởi, theo đó thì thực tại thuần túy, tức là, cái
thực tại trước khi có sự áp đặt cuả bất cứ những
ý nghĩa nào giới hạn nào đó, là một sản phẩm của một
màng lưới của những tác động hỗ tương (có tính cách
liên hệ) nhân quả của những thành tố tâm lý và vật lý.
Nói cách khác, tất cả mọi hiện tượng đýu hiện hữu một
cách hỗ tương hệ thuộc và do đó không có tự tính hay là
không trong thuật ngữ của Phật Giáo (TC Triết 1, tr 39).
Con
đường đi đến Chân Nguyên thật lắm chông gai qua nhiều
chặng đường phủ định để đến bờ Trung Đạo, hoặc
gỉả thể cách Tri Nhận Thực Tại với Trí Vô Phân Biệt
để Trực Nhận Thực Tính của sự vật. Hành trình chuyển
hóa Tâm Thức thành Tâm Trí cũng cùng một nguyên lý từ Nhị
nguyên chuyển thành Nhất Nguyên. Đó là chúng ta đứng trên
khía cạnh không gian. Vượt khỏi không gian chỉ đạt đến
Chân lý tương đối mà thôi. Công việc cuối cùng là phải
thể hiện ngay khi nhận thức vượt khỏi không gian là phải
vượt khỏi luôn thời gian hay phủ định thời gian mới mong
đạt đến Thực Tại Tuyệt Đối hay Chân Lý Tối Hậu.
Có
thể kết luận như sau:
+ Nhị
bội phủ định nhận thức Giác Thức Nguyên Sơ của sự vật
là Khẳng định nhận thức Tánh không của chúng ; đó là
Nhất Nguyên Tính Tuyệt Đối, Chân lý Tối Hậu hay Trung Đạo,
cũng là hai giai trình Hàng phục Vọng Tâm và An trụ Tâm.
+ Nắm
bắt được thực tướng của vạn hữu là sự vượt khỏi
Thời-Không làm cho Tâm trở nên trong sáng thanh thản, tức
là giải thoát khổ đau, nhân quả, luân hồi.
THAM
KHẢO
01.
Bát Nhã Tâm Kinh Qua Cái Nhìn Của Duy Thức, HT.T.Thắng Hoan,
1996
02.
Chuyện Cổ Phật Giáo, tập chép tay do Đ.H Nguyễn Phước Lộc
Vũng Tàu
03.
Chuyển Hóa Tâm, Shamar Rimpoche, A. R, Palmo, Lục Thạch dịch
04.
Đối thoại giữa Triết Học và Tôn giáo, Revel, Ricar. B>S Hồ
Hữu Hưng dịch
05.
Kinh Duy Ma Cật, dịch giả T. Huệ Hưng, 1970
06.
Human Behavior, James V. McConnell, 1983
07.
Personality, William Samuel, 1991
08.
Tạng Thư Sống Chết, Sogyal Rinpoche, Trí Hải dịch, 1996
09.
Tạp Chí Triết 1 (1995): -Tàng Thức, Như Hạnh, TS Triết và
Tôn Giáo;
10.
Thiền Nguyên Thủy, HT. Mahasi Sayadaw, Tk Khánh Hỷ dịch
11.
Thiền của Giáo Lý Nguyên Thủy, HT Thích Thanh Từ
12.
Thực Tại và Chí Đạo, Phổ Nguyệt Ph.D. 2002
-ooOoo-
xk