NHẤT NGUYÊN
LUẬN &
THỂ CÁCH TRI
NHẬN TÁNH KHÔNG
Phổ
Nguyệt
V. PHƯƠNG CÁCH
THỂ HIỆN THỰC TẠI
Đời
người là cả một sự giao lưu hổ tương các hoạt động
không ngừng nghỉ giữa thân và tâm để được sống an vui
và hạnh phúc. Biết rằng Vật lý và sinh lý ảnh hưởng đến
tâm lý, cho nên con người cần phải thỏa mãn những nhu cầu
cần thiết để ổn định sự sống bình thường. Thân xác
là sự duyên hợp của đất nước gió lửa nói chung, thành
hình là do sự trao đổi giữa năng lượng và vật chất được
tạm thời ổn định. Vật lý là lực quán tính của sự vật
bao gồm sự chuyển động và vật chất. Ngay cả sinh lý con
người cũng bị hệ thống cân bằng giữa năng lượng và
vật chất chi phối. Thân xác cần phải tiêu thụ thức ăn
để nuôi dưỡng nó và duy trì sự sinh hoạt hàng ngày. Sự
tồn tại của thân xác được coi là an lành khỏe mạnh khi
hệ thống giao lưu giữa năng lượng và vật chất bên ngoài
tạm thời ổn định. Con người khi sanh ra (Sanh), trưởng thành
(Thành) tới 18 - 20 tuổi và sống trong thời gian (Trụ) từ
20 đến 55 hay 60 tuổi; từ 60 tuổi trở về sau già dần (Hoại)
đến Chết (Diệt). Cả một chuổi sống tạm thời như vậy
chẳng lẻ không còn cái gì làm cho chúng ta phải nghĩ đến
ngoài thân xác hay sao? Những cảm giác, ý thức, tri giác hay
tư duy phải lệ thuộc vào thân xác mà Thân xác và Tinh thần
đồng hiện hữu trong một con người. Tinh thần minh mẩn trong
một thể xác khỏe mạnh. Vậy vai trò của thể xác rất quan
trọng trong sự phát triển tinh thần. Nói một cách khác, tình
trạng sức khỏe của xác thân hay sinh- vật- lý ảnh hưởng
đến tâm lý con người. Con người muốn đạt đến hạnh
phúc tuyệt đối là thân tâm được thường an lạc, trước
hết là phải rèn luyện thân xác cho khỏe mạnh, sau mới trao
dồi trí tuệ.
A.-Rèn
Luyện Thân Xác
Để
rèn luyện thân thể khỏe mạnh, giảm trừ bệnh tật, có
rất nhiều cách, tựu trung ở hai phương diện sau đây:
1).
Ăn uống
Thân
xác được tồn tại nhờ ở sự ăn uống hàng ngày. Những
tế bào trong thân thể được sống còn là nhờ có sự trao
đổi thức ăn vào trong cơ thể để nuôi dưỡng. Hoạt động
của các cơ quan ngũ tạng có tầm quan trong hơn hết trong việc
trao đổi thức ăn là sự tiêu hóa và bài tiết cùng sự tuần
hoàn của máu huyết. Phương pháp dinh dưỡng là vai trò quan
trọng trong sự sống. Ăn như thế nào? và thức ăn nào cần
thiết thích hợp của riêng mỗi người? Đó là tự mỗi cá
nhân phải lo liệu, có thể qua học hỏi thêm hoặc tùy hoàn
cảnh mà thích ứng. Thức ăn được tinh khiết là một dinh
dưỡng tốt cho dòng tâm thức và là giảm bớt ngiệp thức
kết tụ ở nội tâm. Đó là sống theo Chánh Mạng.
2).
Hoạt động
Hoạt
động là một nỗ lực mà con người cần ra sức.Trước hết,
hoạt động nghề nghiệp. Trong sự sống ở xã hội nào cũng
vậy, mọi người ai ai cũng phải làm việc để kiếm tiền
nuôi sống bản thân. Làm việc gì? Làm như thế nào là do
khả năng và hoàn cảnh cá biệt của từng người. Kế đến,
hoạt động hay vận động thân thể là cần thiết để sự
chuyển động hay giao lưu giữa năng lượng và vật chất (thức
ăn) dễ dàng trao đổi để tạo sự cân bằng hệ thống dinh
dưỡng cho thân thể.
Vận
động thân thể thì có nhiều cách. Đi bộ, tập thể dục,
chơi thể thao, học võ để kiện thân, tập các tư thế Haltha
Yoga vv...Hoạt động nghề nghiệp và những hành vi tư cách
con người hay những hành động cử chỉ đều có ảnh hưởng
đến Chánh Nghiệp. Trong thân còn có miệng lưỡi, ngoài việc
ăn uống và hoạt động còn có lời nói là biểu hiện của
tư tưởng, hành động và tình cảm. Chánh ngữ là những lời
nói trung thực hài hòa và lợi ích cho mọi người.
B).
Bồi Dưỡng Tình Cảm
Tình
cảm, một mặt phát xuất từ vận động và sinh lý, một
mặt do từ kho ký ức, là diễn trình tác động hổ tương
giữa tâm lý và sinh lý.Sự vận động, ăn uống điều hòa
và sinh lý cân bằng là chỉ dấu của tâm lý bình thường.
Những cảm thọ lâu đời chấp chứa trong ký ức và tàng
thức cũng như ảnh hưởng của vận động và sinh lý là những
phát khởi tình cảm. Tình cảm rất cần thiết và cần phải
thể hiện trong nếp sống đạo đức của con người.
Trong
thập nhị nhân duyên là dây móc xích trói buộc con người.:
Vô minh, Hành, Thức, Danh Sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ,
Hữu, Sinh, Lão, Tử. Cắt đứt được hai móc xích nối giữa
Thọ và Ái là vòng nhân duyên không còn nữa tức sanh tử
không còn và khổ đau được giải thoát. Khổ đau là hệ
quả của thất tình lục dục khi được giải thoát thì tâm
được an lạc. Sự sống con người liên hệ với mọi người
và hoàn cảnh xung quanh, nên khi ta giải thóat khổ đau của
chính mình thì phải tìm cách giải thoát khổ đau cho kẻ khác.
Nếu như ta không làm việc đó, tức là ích kỷ, thì mọi
sự phiền não của mọi người xung quanh cũng ảnh hưởng
đến ta. Như vậy, tình đồng bào nghĩa gia tộc, lòng thương
yêu con người, mọi loài mọi vật, nói chung là chúng sinh
là một thứ tình cảm cao thượng.
Lòng
thương yêu và giúp đở mọi người, từ tốn, khoan dung độ
lượng, nhẫn nhục làm cho ta giảm bớt tham, sân, si, nghi,
mạn ác kiến. Thực hành tứ vô lượng tâm: tù, bi, hỷ, xả
là cao cả hơn hết. Khi đã giải thoát được khổ đau, tức
là tám gió (Bát phong: Lợi hại, Vui buồn, Vinh nhục, Khen chê)
không động, dòng tâm thức lúc bấy giờ không còn vẩn đục
và tình cảm trở nên an lạc.
C).
Trau Dồi Trí Tuệ
Trau
dồi trí tuệ-- nói theo thế tục, gọi là học hỏi ở trong
trường hay ngoài đời để tư tưởng ngày thêm phát triển,
nói theo đạo pháp, đó là thanh lọc dòng tâm thức vốn chứa
những mầm móng của vô minh-- là hành trình tu dưỡng thân
tâm theo Bát Chánh Đạo.
Tinh
túy của trau dồi Trí Tuệ là thanh lọc dòng tâm thức luôn
trôi chảy và giảm trừ nghiệp chướng trong Tàng Thức đã
chất chứa nhiều đời nhiều kiếp. Đó là một hành động
thực hiện phương pháp chuyển Thức (Vô Minh: sự tối tăm)
thành Trí (Giác Ngộ: sự sáng suốt).
Khi
Ý Tác Động với đối tượng sản xuất Tri Giác, là dòng
Tâm Thức luôn trôi chảy. Nhận thức Tri Giác nầy do Ý Tác
Năng gọi là Tri Thức hay Tư Duy. Nếu không biết Chánh Tư
Duy hay không biết thanh lọc thì dòng tri thức ấy biến thành
Tri Thức vụn vặt hay Tư Tưởng vẩn vơ. Thanh lọc bằng cách
nào? Chánh Tư Duy là sao?
Thật
ra Chánh Tư Duy được thể hiện bằng sự nối tiếp Chánh
Kiến. Thấy thực tướng của vạn hữu là vấn đề của
Kiến Đại, mà nắm bắt được thực tướng mới là công
việc của Chánh Tư Duy. Thí dụ, Mắt thấy một cái bình,
thấy biết được cái bình nầy là giả lập và huyển hóa,
không thật theo thời không, cái thấy biết đó là Chánh Kiến.
Muốn nắm bắt thực tướng của cái bình, tâm trực nhận
nơi thể không của cái bình là Chánh Tư Duy. Chánh kiến là
thấy biết cái bình là thực tại gỉa lập. Chánh tư duy là
nhận biết cái mình thấy biết đó, nghĩa là Biết cái mình
biết hay biết tánh không của cái bình. Vậy khi chúng ta xuất
Ý Tác năng ra khỏi kho chứa (Tàng thức) đúng cách thì nó
giảm trừ nghiệp thức hay là nó soi mòn những chũng tử trong
tàng thức. Nghiệp thức là những tư tưởng vẩn vơ, dòng
tâm thức bất an luôn trôi chảy; dòng tâm thức khuấy động
như vậy thì nó luôn vẩn đục. Thanh lọc tri thức vụn vặt
nầy bằng thể hiện Giác Trí Tuệ, thì dòng tâm thức trở
nên trong sáng và nghiệp thức (cặn bã) từ đó giảm dần.
Thiền,
Chánh Tư Duy, hay Chánh Niệm, cả Bát Chánh Đạo là con đường
giảm trừ nghiệp thức cũ mà còn tạo ra những dòng tâm thể
trong sáng ở tương lai. Vậy ngay hiện tại, chúng ta hành Thiền
là bài tập để diệt dần nghiệp chũng quá khứ và tạo
nhân tốt cho tương lai vì hiện tại tâm thể trong sáng không
vẩn đục, tâm được an định, không có nhân tố xấu trong
tâm thì quả sẽ giải thoát cảnh phiền não khổ đau, mà
đạt sự an lạc tự tại.
1).
Đối Với Thế Tục.
Bài
học ở trường, gia đình, xã hội, trường đời được phổ
truyền những tiêu chuẩn chân lý đạo đức làm kim chỉ nam
cho mọi người noi theo mà hành sử hầu tránh bất an trong
tâm (phiền não khổ đau) để được sự sống an vui hạnh
phúc.
Hành
động ngôn ngữ tư tưởng được xem là Thiện hay Ác là do
những động cơ thúc đẩy tốt hay xấu và kết quả hành
động đó đem đến hạnh phúc hay đau khổ. Người ta có thể
gọi đó là đạo đức hay luân lý nhưng thật ra chỉ là những
cơ chế của hạnh phúc và đau khổ. Hạnh phúc hay đau khổ
thường dính mắc với cái Ngã. Cái Ngã được hiểu là không
thật có, thì không cần chấp nhận cái gì đang đến, mà
là để hành động tự do hơn, không còn bị cái Tôi ràng
buộc, một cái Tôi là đầu mối của một chuỗi dài thương
và ghét. Thoát ra khỏi sự vị ngã sẽ cho ta tự do hành động
hơn. Quá khứ đã qua rồi nhưng tương lai thì chưa đến. Quan
điểm của Phật tử, theo cách nói của nhà Sư Tây Tạng Matthieu,
chấp nhận hiện tại vì lẽ cái gì đang xãy ra là kết quả
của việc làm xưa cũ. Nhưng tương lai thì tùy thuộc ở hắn.
Nguời thế tục không theo một tôn giáo nào thì tuân theo nếp
sống đạo đức hay luân lý của xã hội thì cũng hợp lý
hợp tình để được trong lòng thanh thản an vui và hạnh phúc,
ít ra trên phương diện hình thức sống thanh bình trong gia
đình và xã hội với tình thương yêu, lòng nhân ái, tính
khoan dung và phải thật tâm kiên trì và nhịn nhục.
Còn
đối với cư sĩ, có học hiểu Phật pháp, tin vào luật nhân
quả thì nhận thức rõ ràng sự giả danh của Tự Ngã và
sự vô thường của Sự Vật, nên có cái nhìn sâu sắc hơn.
Sự Tĩnh thức của người Phật tử là bình tĩnh làm chủ
được cái Ngã, là sáng suốt hơn, cương quyết hơn trong hành
động. - "Nó sẽ mở rộng sự hiểu biết của chúng ta về
nguyên nhân của hạnh phúc và đau khổ. Nó sẽ giúp ta hành
động đúng hơn. Sự dính mắc vào cái Ngã không làm cho chúng
ta nhận xét tốt hơn, trái lại nó làm mờ tối chúng ta. Nếu
hành động của chúng ta không sáng suốt, thiếu can đảm là
vì chúng ta là món đồ chơi của cái Ngã nầy. Có một câu
nói:" Cái nhìn của thánh nhân xa hơn trời cao, sự thấu hiểu
luật nhân quả của họ có tinh tế hơn bột mì." Chúng ta
không chống lại được kết quả cái gì chúng ta đã gieo,
nhưng chúng ta có thể xây dựng tương lai bằng cách biết
phân biệt cái gì đưa đến tai họa và cái gì làm ta thoát
ra được. Đối với người Phật tử, Hạnh phúc là cảm
tưởng hiện thực hóa cái tiềm lực có sẳn ở mỗi con người
và hiểu ra được bản thể tối hậu của tâm mình. Với
một kẻ biết tìm cho đời mình một ý nghĩa, mỗi giây phút
là một mũi tên bay đến mục tiêu. Nếu không biết đem lại
một ý nghĩa cho cuộc đời thì sẽ rơi vào thụ động rồi
sinh ra thất vọng cuối cùng có thể dẫn đến tự vẫn. Hạnh
phúc dĩ nhiên là cần đến sự hiểu biết. Không có sự hiểu
biết thì không làm sao chữa lành được nguyên nhân gây ra
đau khổ là sự bất mãn triền miên luôn luôn dằn vặt chúng
ta. Sự bất mãn đó cũng nảy sinh từ chỗ chúng ta không chiến
thắng được những tình cảm tiêu cực như lòng căm giận,
sự ghen ghét, sự luyến ái, tham lam, ngã mạn tất cả đều
do một cái nhìn duy ngã về cuộc đời, do sự dính mắc về
cái "Tôi" quá ư là hùng mạnh. Một yếu tố cần thiết khác
cho hạnh phúc chỉ gồm ba chữ: Lòng vị tha, tình yêu, và
lòng nhân ái. Làm sao chúng ta hạnh phúc được khi quanh ta
có bao người rên xiết. Hơn nữa, dù thế nào thì hạnh phúc
của chúng ta cũng dính liền chặt chẽ với hạnh phúc của
kẻ khác. Vì lẽ Phật giáo chủ trương một khoa học của
tâm linh, một kỹ thuật thiền định cũng vì nó đề cập
đến những cơ chế căn bản nhất của hạnh phúc và đau
khổ. Tại sao phải tham thiền? Việc làm nhẹ đi đau khổ
vật chất lại chưa đủ hay sao? Những điều kiện sinh hoạt
bên ngoài có thể thuận lợi cho sự thoải mái của chúng
ta, cho các tiện nghi đời sống, sức khỏe, tuổi thọ và
ngay cho suốt cuộc đời chúng ta. Nhưng những thứ đó không
đem lại cho ta sự an lạc nội tâm. Chính cái tâm là nguồn
cội của sự thỏa mãn và bất mãn, hạnh phúc và đau khổ,
thành công và thất bại. Chính cái tâm quyết định thái độ
chúng ta với cuộc đời. Khi chúng ta đã quyết định theo
con đường tâm linh, sau nhiều năm tháng hành trì, chúng ta
tự xét xem đã vượt thoát được lòng tham, sự kiêu căng,
ghen ghét và nhất là những tình cảm vị ngã và vô minh là
nguyên nhân của mọi đau khổ. Tu để làm gì? Là để xử
dụng những chân lý căn bản của Phật giáo ngõ hầu làm
hiển lộ Phật tính ở mỗi chúng ta - "(Sư Mathieu).
Tu
là bình tĩnh làm chủ mình, sáng suốt trước những phản
ứng đối nghịch tư tưởng tình cảm và hành động của
mình. Làm chủ chính mình là bình tĩnh quán xét phân tích nguyên
nhân của Tham, Sân, Si, Nghi, Mạn và Ác kiến phát xuất từ
Vọng tưởng của cái "Tôi" chủ thể giả lập nầy. Cho nên
tu là làm thế nào không còn chấp vào cái Ngã thì được
tự do tự tại (tức là Năng Sở song vong). Tu là vượt thóat
màn vô minh của tâm thức (Ngã thức) luôn lăn trôi theo trần
cảnh mà chịu phiền não khổ đau. Vượt thoát cái Thức Ngã,
cái chấp chứa những chũng tử nhân duyên chằng chịt vốn
là gốc của luân hồi sanh tử, là để đến bến bờ giác
ngộ. Người Phật tử hiểu rằng ngay trong hiện tại mình
sống được tĩnh thức (nhân), tâm an bình đã là hạnh phúc
mà hạnh phúc là thoát khỏi khổ đau, thì quả tương lai cũng
sẽ trổ cảnh tự tại an lạc như vậy mà thôi.
2).
Đối Với Tu Sĩ
Ngoài
cách tu thân như người thế tục và pháp học ra, tu sĩ Phật
giáo còn phải giữ giới luật nghiêm túc. Thật ra giới luật
chỉ là hướng dẫn thực hiện mà tu sĩ phải có sự tự
giác, thật sự thực hiện giới luật. Người tu sĩ không
những học hỏi giáo lý chuyên thâm, hành trì giới luật nghiêm
minh mà còn phải thực hành Giác Trí Tuệ hay gọi là Hành
Thiền. Mục đích hành Thiền như đã trình bày nêu trên trong
Pháp học.
a).
Tri nhận thực tại:
+
Người tu sĩ thực hành nghiêm chỉnh Bát Chánh Đạo. Làm con
người tất nhiên là phải tu thân (nhân đạo) trước tiên,
cần thiết hơn nữa là phải sống theo Chánh Nghiệp đối
với tu sĩ Phật Giáo bao gồm mọi hoạt động của thân xác
kể cả khẩu và ý là điều kiện hết sức chơn chánh không
những tránh gây oan trái, gây hại hay bất lợi cho chúng sanh,
mà còn phải tạo phước đức cho mọi loài. Chánh Nghiệp
là hành động, cử chỉ và tư cách của tu sỉ hết sức gắng
bó với giới luật. Ngoài ra Chánh Ngữ rất ư là quan trọng
đối với tu sĩ trong sinh hoạt hàng ngày, trong tiếp xúc, đối
xử hay đối thoại hoặc nói pháp mỗi mỗi đều phải hết
sức trung thực, khách quan hợp với chân lý, thành thật hài
hòa và không hư dối. Mặt khác, thức ăn dinh dưỡng cho thân
xác cần tinh khiết là sống theo Chánh Mạng. Đó là cách tu
thân theo hình thức bên ngoài.
+ Trong
nội tâm lúc nào cũng giữ Chánh Niệm, nghĩa là không khởi
vọng niệm. Vọng niệm phát xuất từ tư tưởng vẩn vơ,
ý tưởng so đo chấp trước. Chánh Kiến là thấy biết thực
trạng của vạn pháp như nó là, tức bản tánh thực
của tự tâm cũng là bản tánh thực sự của sự vật.. Chánh
Tư Duy là nhận thức thực tướng các thiện pháp. Chánh Tinh
Tấn là siêng năng tu tập bất thối chuyển. Và Chánh Định
là giữ thân khẩu ý (tam nghiệp) thanh tịnh, tâm vắng lặng
tịch tĩnh.
Tri
nhận thực tại giả lập là sống theo Tĩnh Thức. Tĩnh là
cái Biết của thâm tâm, Biết của Trí. Thức là cái Biết
của căn trần. Vậy Tĩnh Thức là Biết về Cảm Giác, về
đói tượng. Thí dụ, thấy cái bàn. Thấy là căn, cái bàn
là trần. Thấy cái bàn làThức, Biết thấy cái bàn là Tĩnh
Thức. Tri nhận (Biết) thực tại giả lập (Thức) là Tĩnh
Thức. Tĩnh thức là cái biết của Sở Tri, cái biết về đối
tượng, hay là Giác Thức.
Tri
nhận thực tại tuyệt đối là sống theo Tĩnh Giác. Tĩnh là
cái biết của Trí, còn Giác là Tánh Biết của Cảm Giác,
hay cái biết của Năng Tri, cái biết của chủ thể. Tĩnh Giác
là Biết về Tánh Mình Biết. Thí dụ thấy cái bàn, Biết
tánh Thấy; nghĩa là Biết Thấy Có, khi không có cái bàn thì
Biết Thấy Không. Tánh Thấy thì thường hằng, cái bàn thì
vô thường khi có khi không. Cho nên Tĩnh Giác là Biết lại
Tánh mình thấy, cũng gọi là Giác Trí.
b).
Thể hiện thực tại:
Người
tu sĩ muốn đạt đến giác ngộ giải thoát cho mình và giác
tha tất cần thiết phải thật hành Bát Chánh Đạo. Có thể
tu theo Lục Độ hoặc giả theo tất cả lối tu không cần
phân biệt Nguyên Thủy, Đại Thừa, Mật Tông, Tịnh Độ hay
Thiền Tông, miễn là làm sao cho Tâm được an định và trong
sáng thì Chân Tâm được hiển bày. Có hai phương pháp thực
hành để thành tựu cho dòng Tâm Thức được tích lũy thanh
lọc trong sáng và an định là: một là thực hành thường
xuyên đầy đủ Bát Chánh Đạo trong trong suốt cuộc đời,
hai là thực hành Thiền Định theo thời biểu hàng ngày liên
tục theo kiếp sống. Việc thanh lọc dòng tâm thức rất quan
trọng và càng thiết yếu hơn là cần Tâm được an định.
Muốn Tâm An Định thì có rất nhiều cách, chúng tôi giới
thiệu những trích dẫn bài khảo luận của những nhà đạo
học và các bậc trí giả với những môn phái khác nhau nhưng
cùng chung một mục đích.
b.1.
Pháp Môn Niệm Phật. (Tịnh Độ, HT. T.Thiện Hoa)
Phương
pháp tu về Cực lạc có nhiều lối, nhưng không ngoài các
pháp niệm Phật. Đây lược kể bốn pháp niệm Phật:
b.1.1.
Trì danh niệm Phật
Trì
danh niệm Phật tức là giữ một lòng nhớ nghĩ danh hiệu
Phật, là niệm "Nam mô A Di Đà Phật ". Khi đi, đứng, nằm,
ngồi, ăn, uống cũng niệm. Niệm từ buổi mai khi mới thưc
dậy, cho đến buổi tối, trước khi đi ngủ. Niệm suốt cả
ngày không xen hở. Khi gần đi ngủ, ngồi xếp bằng bán già
hay kiết già, chắp tay mà nguyện rằng:
"Con
tin lời của đức Phật A Di Đà, giữ một lòng niệm danh
hiệu Ngài, nguyện đời nầy, bao nhiêu tội chướng thảy
đều tiêu sạch, đến khi lâm chung được Phật và các vị
Bồ Tát, đến tiếp dẫn chúng con về Cực lạc.
b.1.2.
Tham cứu niệm Phật
Pháp
niệm Phật tương tợ pháp trì danh, nhưng mà có khác nghĩa,
làm môi miệng không động, niệm không ra tiếng, mà trong tư
tưởng có niệm Phật.
Khi
niệm có tiếng thì xét tiếng ấy từ đâu mà sanh ra. Đến
khi hết niệm không nghe nữa, thì xét tiếng ấy coi nó đi
vào chỗ nào. Xét cho biết chỗ sinh ra, chỗ trở về là đã
được một phần công phu khá cao rồi, cứ giữ như thế mà
niệm, đừng cho tán loạn, thì chắc có ngày minh tâm kiến
tánh.
b.1.3.
Quán tưởng niệm Phật
Là
quán tưởng hình dung đức Phật à ở trước mắt ta, mình
cao một trượng sáu thước, đứng trên hoa sen, và quán thân
ta cũng ngồi trên hoa sen, chắp tay hầu Phật. Phật thấy ta,
ta thấy Phật. Quán như thss lâu ngày, đi, đứng, nằm, ngồi,
nhắm mắt, mở mắt đều thấy Phật, tức là pháp quán đã
thuần thục.
b.1.4.
Thật tướng niệm Phật
Thật
tướng niệm Phật là niệm Phật hợp với chân tâm. Vì tất
cả các pháp đều do tâm biến hiện, bởi tâm biến hiện,
nên tướng nó đều là hư vọng (phàm sở tướng, giai thị
hư vọng), duy có chân tâm là chân thật, không sinh, không diệt;
không chứ, không lai, xưa nay thanh tịnh bình đẳng như như,
không hư vọng, không biến diệt, cho nên mới gọi là thật
tướng.
Ba
pháp niệm Phật trước thuộc về Sự, có tánh cách tiệm
tu và tiệm quán. Đến pháp thứ tư nầy, là thuộc về Lý
tánh, cao siêu hơn cả. Niệm Phật đến đây, mới hoàn toàn
rốt ráo, mới ngộ tánh mình là Phật A Di Đà, tâm mình là
cảnh Tịnh độ.
Nhưng
chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng: nhờ có Sự mới hiển
ra Lý. Trớc hết cũng do Trì danh niệm Phật, Quán tưởng niệm
Phật v.v...nhờ lối dụng công tu ba pháp trước, đến lúc
thuần thục không còn thấy có mình là người niệm Phật
và Phật là một vị mình niệm, chỉ còn có một chơn tánh
vừa yên lặng, vừa chiếu soi không năng, không sở, không
bỉ, không thử, không hữu, không vô. Chỗ này chính như trong
Kinh tứ Thập Nhị Chương, Phật nói: "Niệm đến chỗ vô
niệm"; hay trong kinh A Di Đà nói: "Được nhứt tâm bất loạn
b.2
Phép Niệm Phật Bằng Ba Tự Tính
b2.1-
Niệm Phật bằng Tướng.
Niệm
ra tiếng là thể hiện tác động của căn trần. Miệng niệm
ra tiếng lục tự, căn tai nghe tiếng lục tự. Khi ta đọc
lục tự ít ra ta đã nghe tiếng lục tự phát ra và căi tai
ta nghe, đó là động tác vạch sóng giữa dòng tâm thức mà
nắm bắt lục tự. Khi ta theo dõi tiếng lục tự là ta tập
trung vào tiếng đọc đó, dòng tâm thức ngoài lục tự đã
phủ định (tha tính không); nghĩa là khi ta niệm Phật là mọi
vọng tưởng tạm thới không quấy rối trong tâm ta, dù không
hoàn toàn ngăn chận hết tâm viên ý mã, ít ra ta đã thanh
lọc phần ý tưởng vẩn vơ và làm cho tâm bớt vọng động.
Niệm Phật theo Căn Trần là lối chủ thể tác động với
đối tượng là trần là hiện tượng (tướng) ở ngoà tâm.
Đối tượng ngoài là một thực tại giả lập, nó không có
tự tính và không chắn chắn, hay thay đổi nên nó dễ bị
vọng tưởng xen vào.
b.2.2.-
Niệm Phật bằng Thức.
Khi
ta niệm lục tự thầm trong tâm, tiếng được thầm hội chỉ
làTưởng Thức. Mặc dù tưởng thức cũng ở trong tâm được
ý tác động để tưởng niệm cũng cùng ở chung một tâm,
và dầu cho tưởng thức và ý tác động chung dòng nhất nguyên,
nhưng nó cũng chỉ là tưởng thức của lục tự là một thực
tại tùy thuộc ở chung dòng nhất nguyên tương đối mà thôi.
Tác dụng của cách niệm Phật nầy là ở chỗ xâm nhập,
tập trung và xoáy sâu trong dòng tâm thức đang trôi chảy mà
làm nổi bật lục tự để phá tan đám mây mờ của tâm trí.
Lợi ích thì nhiều hơn niệm bắng tiếng vì thuận trong tứ
oai nghi và khi đi ngũ.
b.2.3.-
Niệm Phật bằng Trí.
Thật
sự niệm Phật bằng Trí là chỉ dùng hai cách niệm Phật
trên rồi chuyển thành trí. Vì niệm Phật bằng căn trần
thức là niệm thực tại giả lập, và niệm Phật bằng thức
là niệm thực tại tùy thuộc, tất cả hai phép trên chỉ
niệm theo bóng dáng (thức) của lục tự mà thôi. Từ thực
tại giả lập hay tùy thưộc ta chuyển thành trí tức thực
tại tuyệt đối. Trí là cái biết của tâm nó toàn diện
và thường hằng, nhiều hơn cái biết của căn trần hay căn
thức vì bị giới hạn ở các căn. Văy khi ta niệm lục tự
ra tiếng hay niệm thầm, biết ta đang niệm. Biết (của Trí))
cái mình biết (của Căn), tức là Tri Thức Đúng (Trí) cái
tri thức sai làm của nhị nguyên (chủ khách) là đã giải
thoát mọi phiền não khổ đau.
b.3.
Pháp Niệm Chú:
Chúng
ta cần tìm hiểu hai thần chú nổi tiếng nhất của Tây Tạng
là thần chú Padmasambhava, gọi là thần chú kim cang thượng
sư (Vajra Guru Mantra):
OM
AH HUM VAJRA GURU PADMA SIDDNI HUM, và thần chú của Quán Thế Âm,
vị Phật của lòng bi mẫn, OM MANI PADME HUM. Hai thần chú nầy
cũng như phần đông thần chú, đều bằng phạn ngữ, cổ
ngữ thiêng liêng của Ấn Độ. (Trích trong Tạng thư Sống
Chết, tr 522-528)
Thần
Chú Kim Cang Thượng Sư:
Thần
chú nầy được giải thích căn cứ lời giảng dạy của hai
ngài Dudjom Rinpoche và Dilgo Rinpoche.
OM
AH HUM - Những âm Om Ah Hum có nghĩa ngoài, nghĩa trong và nghĩa
mật. Nhưng ở mỗi tầng như vậy, Om đều tiêu biểu cho thân.
Ah lời và Hum là ý. Cả ba âm tiêu biểu năng lực ân sủng
của chư Phật để chuyển hóa thân, lời, ý.
Theo
nghĩa ngoài, Om tịnh hóa mọi ác nghiệp của nhân, Ah của
thân, Ah của lời, và Hum của ý. Nhờ tịnh hóa thân, lời,
ý, Om Ah Hum đem lại ân sủng của thân, lời, ý chư Phật...
Khi đọc thần chú này, là ta tịnh hóa hoàn cảnh cũng như
bản thân và những người ở trong đó.
Theo
nghĩa trong, Om tịnh hóa những huyệt đạo vi tế, Ah tịnh
hóa nội phong hay khí lực, và Hum tịnh hóa chất sáng tạo.
Ở
tầng mức sâu hơn, Om Ah Hum biểu trưng ba thân của Liên Hoa
Bộ. Om là Pháp thân, Phật A Di Đà, Đức Phật của ánh sáng
vô lượng;Ah là Báo thân, Quán Thế Âm, vị Phật của Tâm
Đại Bi; và Hum là ứng hóa thân, Liên Hoa Sanh. Điều nầy
có nghĩa, trong trường hợp thần chú này, cả ba thân đều
thể hiện trong một vị là Padmasambhava, Liên Hoa Sanh. VAJRA
GURU PADMA Vajra được ví như kim cương, đá quí nhất và cứng
nhất. Cũng như kim cương có thể cắt bất cứ gì, mà chính
nó thì không gì phá hủy được, cũng thế trí tuệ bất nhị
bất biến của chư Phật không bao giờ bị hoại hay bị phá
hủy bởi vô minh, và có thể cắt được mọi vọng tưởng
chướng ngại. Những đức tính và hoạt động thân, lời,
ý của chư Phật có thể làm lợi lạc hữu tình với năng
lực sắc bén vô ngại như kim cương. Và cũng như kim cương
không tì vết, năng lực sáng chói của nó tuôn phát từ sự
chứng ngộ bản chất pháp thân của thực tại, bản chất
của Phật A Di Đà.
Guru
có nghĩa là sức nặng, chỉ một người tràn đầy đức tin
kỳ diệu, thể hiện trí tuệ, hiểu biết, từ bi và phương
tiện thiện xão. Cũng như vàng ròng là loại kim nặng nhất
quí nhất, cũng thế những đức không lỗi, không thể nghĩ
bàn của bậc thầy làm cho vị ấy không ai vượt qua được,
thù thắng hơn tất cả. Guru tương đương với Báo thân và
Quán Thế Âm, vị Phật của Tâm Đại Bi. Lại nữa, về Padmasambhava
(Liên Hoa Sanh) giảng dạy con đường mật tông, biểu tượng
là Kim Cương và nhờ thực hành mật tông mà Ngài đạt giác
ngộ tối thượng, cho nên Ngài được biết dưới danh hiệu
là Kim Cương Thượng Sư.
Padma
hoa sen, có nghĩa là Liên Hoa Bộ trong ngũ bộ và nhứt là khía
cạnh ngôn ngữ giác ngộ của chư Phật ấy. Liên hoa bộ là
dòng họ Phật mà con người thuộc vào. Vì Padmasambhava là
ứng thân trực tiếp của Phật A Di Đà, vị Phật nguyên ủy
của Liên hoa bộ, nên Ngài được gọi là Padma, hoa sen. Danh
hiệu Liên Hoa Sanh của Ngài kỳ thực ám chỉ câu chuyện Ngài
sinh ra trên một đóa sen nở. Khi những âm thanh Vajra Guru Padma
đi liền nhau, thì cũng có nghĩa là tinh túy và ân sủng của
Kiến, Thiền, Hành. Vajra nghĩa là tinh chất của chân lý bất
khả hoại, bất biến, cũng chắc như kim cương, mà chúng ta
cầu mong thực hiện được trong Kiến của chúng ta. Guru tiêu
biểu tính chất ánh sáng và sự cao quí của giác ngộ, mà
ta cầu cho kiện toàn trong thiền định của mình. Padma tiêu
biểu bi mẩn, mà chúng ta cầu thể hiện trong Hành Động của
chúng ta.
Vậy
nhờ tụng đọc thần chú nầy mà ta nhận được ân sủng
của tâm giác ngộ, những đức cao quí và lòng bi mẩn của
Padmasambhava và tất cả chư Phật.
SIDDHI
HUM Siddhi là thành tựu, đạt đến, ân sủng và chứng ngộ.
Có hai thứ thành tựu: tương đối và tuyệt đối. Nhờ nhận
được ân sủng tương đối, tất cả chướng ngại trong đời
như bịnh tật tiêu trừ, mọi thứ nguyện tốt được thành
tựu, những lợi lạc như sống lâu, tiền của tăng và mọi
hoàn cảnh đều được tốt lành, giúp cho tu tiến và chứng
ngộ, trạng thái thực chứng hoàn toàn của đấng Liên Hoa
Sanh, để tự lợi và lợi tha. Bởi thế nhờ nhớ đến và
cầu nguyện với những năng lực thân, lời, ý của Ngài,
mà chúng ta sẽ được những ân sủng tương đối và tuyệt
đối. Siddhi Hum được xem là thâu tóm vào tất cả ân sủng,
như nam châm hút sắt. Hum tiêu biểu tâm giác ngộ của chư
Phật, và là xúc tác thiêng liêng của thần chú. Giống như
tuyên bố lên quyền năng và chân lý của thần chú: Hãy là
như vậy! Ý nghĩa cốt yếu của bài là chú là: Con triệu
thỉnh Ngài, đấng Kim Cang Thượng Sư, với ân sủng của Ngài,
xin hãy ban cho con những thành tựu thế gian và xuất thế gian.
Dilgo
Khientse Rinpoche giải thích:
Mười
hai âm Om Ah Hum Vajra Guru Padma Siddhi Hum mang tất cả ân sủng
của mười hai bộ kinh giáo của Phật, tinh túy của tám mươi
bốn ngàn pháp môn. Bởi thế tụng một lần thần chú Kim
Cang Thượng Sư cũng có phước như là đã đọc mười hai
bộ kinh điển và thực hành các pháp môn khác. Mười hai bộ
kinh điển là phương thức giải cứu chúng ta khỏi mười
hai nhân duyên giam giữ chúng ta trong vòng sinh tử. Mười hai
móc xích nầy là guồng máy của luân hồi sanh tử làm cho
luân hồi tiếp nối. Nhờ tụng mười hai âm nầy của thần
chú Kim Cang Thượng Sư, mười hai nhân duyên được tịnh hóa,
tẩy sạch cấu uế của nghiệp cảm và giải thoát sanh tử.
Mặc
dù ta không thể trông thấy đức Liên Hoa Sanh, nhưng tâm giác
ngộ của Ngài đã thể hiện dưới hình thức thần chú này,
thần chú này có được toàn thể ân sủng của Ngài, Bởi
thế khi bạn kêu Ngài bằng cách tụng đọc mười hai âm thần
chú này, thì bạn sẽ được ân sủng và công đức vô lượng.
THẦN
CHÚ CỦA ĐẠI BI TÂM: OM MANI PADME HUM.
- Tạng
ngữ đọc là Om Mani Pémé hung. Thần chú nầy tiêu biểu tâm
đại bi và ân sủng của tất cả chư Phật, Bồ Tát, nhứt
là ân sủng của Quán Tự Tại, vị Phật của lòng bi mẩn.
Quán Tự Tại (hay Quán Thế Âm) là hiện thân của Phật trong
hình thức Báo Thân, và thần chú của Ngài được xem là tinh
túy của lòng bi mẩn của chư Phật đối với hữu tình. Nếu
Liên Hoa Sanh là bậc thầy quan trọng nhất của người Tây
Tạng, thì Quán Tự Tại là vị Phật quan trọng nhứt của
họ, là vị thần hộ mạng của dân tộc nầy. Có câu nói
nổi tiếng là vị Phật của lòng bi mẩn đã ăn sâu vào tiềm
thức Tây Tạng tới nổi một hài nhi vừa biết nói tiếng
mẹ là đã biết đọc thần chú nầy, om mani padme hum.
Kalu
Rinpoche viết: Một cách khác để giải thíchthần chú nầy
là, Om là tính chất của thân giác ngộ. Man Padme tiêu biểu
ngữ giác ngộ; Hum tiêu biểu ý giác ngộ. Thân ngữ ý của
tất cả chư Phật được tàng ẩn trong âm thanh của thần
chú này. Thần chú này tịnh hóa những chướng ngại của
thân lời ý, và đưa tất cả hữu tình đến trạng thái chứng
ngộ. Khi tụng thần chú này, và phối hợp với đức tin và
tinh tấn thiền định, thì năng lực chuyển hóa của thần
chú sẽ phát sinh và tăng trưởng.Quả vậy, chúng ta có thể
tịnh hóa bản thân bằng phương pháp ấy.
Đối
với những người đã quen thuộc với thần chú này, suốt
đời tụng đọc với nhiệt thành và niềm tin, thì Tử Thi
Tây Tạng, ở trong cõi Trung Ấm:
Khi
âm thanh của Pháp tánh gầm thét như ngàn muôn sấm sét, nguyện
cho tất cả tiếng này trở thành âm thanh của thần chú sáu
âm. Tương tự Kinh Lăng Nghiêm cũng nói: Mầu nhiệm thay là
âm thanh siêu việt của Quán Thế Âm. Đấy là âm thanh tối
sơ của vũ trụ...Đó là tiếng thì thầm ầm ỉ của thủy
triều trầm lắng. Tiếng mầu nhiệm ấy đem lại giải thoát
bình an cho tất cả hữu tình đang kêu cứu trong cơn đau khổ,
và đem lại một sự an trú thanh tịnh cho tất cả những ai
đang tìm sự thanh tịnh vô biên của niết bàn.
b.4.
Pháp Thiền:
b.4.1.
Thiền Tông với Thiền Tiểu Thừa (Trích trong Tự Gia Bảo,
T. Thanh Từ).
Thiền
Tiểu Thừa có nhiều lối tu, đại để đều căn cứ trên
hình thức hiện có của thân căn, trần cảnh và tâm thức.
Như pháp Thiền, tùy bệnh đói trị, người nặng bệnh tham
dục dùng quán quán bất tịnh đối trị, người nặng bệnh
sân hận dùng quán từ bi đói trị, người nhiều loạn tưởng
dùng quán sổ tức đối trị, người nhiều ngu si dùng quán
nhân duyên đối trị, người nhiều tham sân si đồng nhau dùng
pháp quán Phật tam muội đối trị. Đó là y cứ tâm bệnh
dùng pháp tu quán để đối trị. Hoặc lối quán tứ đại,
quán đất, quán nước, quán gió, quán lửa, từ một đóm
nhỏ cho đến trùm cả hư không. Hoặc lối quán màu sắc,
màu xanh, màu vàng, màu trắng, màu đỏ, cũng từ một điểm
nhỏ cho đến đày dẩy hư không. Hoặc trụ tâm vào một điểm
trên đàu cây hương hay một vòng tròn nhỏ trên vách cho đến
nó phát quang. Hoặc dùng chánh quán
Tứ
niệm xứ, quán Tứ đế, quán mười hai nhơn duyên v.v.. Đến
kết quả được tứ thiền, bát định và tiến lên tứ gia
hạnh, thành tựu tứ quả Thanh Văn. Bởi pháp thiền này cuộc
hạn trên hình thức và tu chứng từng thứ bậc, nên khác
hẳn với Thiền Tông. Thiền Tông chỉ thẳng tâm người thấy
tánh thành Phật, không thuộc hình thức cũng không thứ bậc.(tr
390)
b.4.2.
Thiền Nguyên Thủy hay Tiểu Thừa.
Lúc
thực tập bạn có thể ngồi kiết già, hay bán già hoặc ngồi
hai chân không chồng lên nhau. Nếu thấy ngồi dưới sàn nhà
khó định tâm hay làm bạn khó chịu, bạn có thể ngồi trên
ghế. Tóm lại, bạn có thể ngồi cách nào miễn thấy thoải
mái là được.
1.
Bài Tập Thứ Nhất
Hãy
chú tâm vào bụng. Nên nhớ là chú tâm, chứ không phải chú
mắt vào bụng. Chú tâm vào bụng bạn sẽ thấy được chuyển
động phồng xẹp của bụng. Nếu không thấy rõ được chuyển
động của bụng, bạn có thể đặt hai tay lên bụng để
"cảm giác" sự phồng xẹp. Một lúc sau, bạn sẽ nhận rõ
sự chuyển động vào ra của hơi thở. Bạn hãy ghi nhận sự
phồng lên khi hít vào và xẹp xuống khi thở ra. Mọi chuyển
động của bụng đều phải được ghi nhận. Từ bài tập
này bạn biết được cách chuyển động của bụng. Bạn không
cần để ý đến hình thức của bụng mà chỉ cần theo dõi
cảm giác, sức ép do chuyển động của bụng tạo nên mà
thôi.
Đối
với những người mới tập thiền, đây là phương pháp rất
có hiệu quả để phát triển khả năng chú ý, định tâm
và tuệ giác. Càng thực tập lâu càng thấy sự chuyển động
rõ ràng hơn. Khi tuệ giác phát triển trọn vẹn thì ta sẽ
nhận thức được những diễn tiến liên tục của tiến trình
tâm-sinh-lý qua mỗi giác quan. Vì là người sơ cơ hành thiền,
sự chú ý và khả năng định tâm còn yếu nên bạn sẽ thấy
khó giữ tâm trên những chuyển động phồng xẹp liên tục.
Do đó bạn có thể nghĩ rằng: "Ta chẳng biết cách giữ tâm
trên mọi chuyển động phồng xẹp này". Bạn cần nhớ rõ
đây là một tiến trình học hỏi vì vậy hãy yên tâm tiếp
tục hành thiền. Chuyển động phồng xẹp của bụng luôn
luôn hiện hữu, vì vậy ta không cần tìm kiếm chúng. Thực
ra, những thiền sinh mới chỉ cần đơn thuần chú tâm trên
hai chuyển động phồng xẹp mà thôi nên sự thực tập cũng
không khó khăn lắm. Bạn hãy tiếp tục thực tập bài tập
số một này bằng cách chú tâm vào chuyển động phồng xẹp.
Đừng bao giờ lập đi lập lại ra lời những chữ phồng
xẹp, chỉ cần niệm thầm mà thôi. Niệm thầm sẽ giúp quí
bạn dễ chú tâm vào đề mục. Nhưng nếu niệm thầm cản
trở sự chú tâm của bạn, thì bạn chỉ ghi nhận sự chuyển
động của bụng mà không cần niệm thầm cũng được. Nên
thở đều đặn tự nhiên tránh thở dài hay ngắn quá. Nhiều
thiền sinh muốn thấy rõ sự phồng xẹp nên hay thở dài hoặc
thở nhanh, làm như thế sẽ khiến bạn mệt.
2.
Bài Tập Thứ Hai
Trong
khi thực tập quan sát sự phồng xẹp của bụng những tư
tưởng khác sẽ phát sinh làm bạn quên mất sự chú tâm. Tư
tưởng, ham muốn, ý nghĩ, tưởng tượng, v.v... sẽ xuất hiện
giữa những "phồng xẹp". Bạn không nên bỏ qua những phóng
tâm hay vọng tưởng này mà phải ghi nhận từng phóng tâm
một khi chúng phát sinh.
Khi
tâm bạn tưởng tượng điều gì, bạn phải biết mình đang
tưởng tượng và ghi nhận: "tưởng-tượng, tưởng-tượng,
tưởng-tượng". Khi bạn chỉ đơn thuần nghĩ đến điều
gì phải ghi nhận: "nghĩ, nghĩ, nghĩ". Khi bạn suy gẫm, ghi
nhận: "suy-gẫm, suy-gẫm, suy-gẫm". Khi bạn có dự định làm
điều gì hãy ghi nhận: "dự-định, dự-định, dự-định".
Khi tâm bạn đi lang bạc không để ý đến phồng xẹp hãy
ghi nhận: "phóng-tâm, phóng-tâm, phóng-tâm". Khi tưởng tượng
hay đang đi đ?n một nơi nào phải ghi nhận: "đi, đi, đi".
Khi đến thì ghi nhận: "đến, đến, đến". Khi nghĩ đến
gặp người nào đó thì ghi nhận: "gặp, gặp, gặp". Khi nghĩ
đến nói chuyện với ai thì ghi nhận: "nói, nói, nói". Khi
bàn cãi thì ghi nhận: "bàn-cãi, bàn-cãi, bàn- cãi". Khi thấy
hình ảnh màu sắc ghi nhận: "thấy, thấy, thấy". Mỗi một
khi tâm thấy gì, nghĩ gì đều phải ghi nhận cho đến khi
chúng biến mất. Sau khi chúng biến mất ta lại chú tâm vào
sự phồng xẹp. Phải chú tâm hành trì đừng chểnh mãng.
Khi định nuốt nước bọt phải ghi nhận: "định, định,
định". Khi nuốt phải ghi nhận: "nuốt, nuốt, nuốt". Muốn
khạc nhổ, ghi nhận: "muốn, muốn, muốn" rồi lại trở về
sự phồng xẹp. Nếu bạn muốn khum cổ ghi nhận: "muốn, muốn,
muốn"; trong khi khum cổ ghi nhận: "khum, khum, khum". Khi bạn
định ngửng cổ lên, ghi nhận: "định, định, định". Khi
ngửng cổ lên ghi nhận: "ngửng, ngửng, ngửng". Tác động
ngửng cổ hay khum cổ phải làm từ từ.
Sau
khi đã chú tâm ghi nhận mỗi một động tác đó, ta lại trở
về với sự phồng xẹp.
3.
Bài Tập Thứ Ba
Vì
phải liên tục thiền trong một khoảng thời gian khá dài với
một tư thế ngồi hay nằm nên bạn sẽ cảm thấy mệt và
thấy mỏi tay chân. Trong trường hợp này, bạn hãy chú tâm
vào nơi mỏi mệt và ghi nhận: "mỏi-mệt, mỏi-mệt, mỏi-mệt".
Hãy ghi nhận một cách tự nhiên, không mau quá cũng không chậm
quá. Cảm giác mệt mỏi sẽ dần dần giảm đi và cuối cùng
hết hẳn. Nếu sự mệt mỏi kéo dài đến độ không chịu
đựng nổi, lúc bấy giờ bạn hãy thay đổi tư thế. Tuy nhiên
đừng quên ghi nhận "muốn, muốn, muốn" trước khi thay đổi
tư thế. Mỗi một chi tiết chuyển động nhỏ đều phải
được ghi nhận một cách trung thực và thứ tự.
Nếu
dự định đưa tay hay chân lên hãy ghi nhận: "dự-định, dự-định,
dự-định" trong khi đưa tay hay chân lên thì ghi nhận: "đưa-lên,
đưa-lên, đưa-lên". Duỗi tay, chân ra; ghi nhận: "duỗi, duỗi,
duỗi". Khi đặt tay xuống, ghi nhận: "đặt, đặt, đặt".
Khi tay hay chân tiếp xúc nhau ghi nhận: "tiếp-xúc, tiếp-xúc,
tiếp-xúc". Hãy thực hiện mọi động tác thật chậm để
dễ ghi nhận. Ngay khi bạn đã ở trong tư thế mới, bạn phải
tiếp tục chú tâm vào sự phồng xẹp của bụng ngay. Nếu
thấy tư thế mới không thoải mái, muốn đổi tư thế thì
cũng phải ghi nhớ như trên.
Nếu
thấy ngứa một chỗ nào đó, chú tâm vào chỗ ngứa và ghi
nhận: "ngứa, ngứa, ngứa". Sự ghi nhận phải tự nhiên đừng
quá mau cũng đừng quá chậm. Khi cảm giác ngứa biến mất
lại trở về với sự phồng xẹp. Nếu ngứa quá không chịu
được muốn gãi, ghi nhận: "muốn, muốn, muốn", rồi lại
từ từ đưa tay lên, ghi nhận: "đưa-lên, đưa-lên, đưa-lên".
Khi tay đụng chỗ ngứa, ghi nhận: "đụng, đụng, đụng".
Khi gãi nhè nhẹ vào chỗ ngứa, ghi nhận: "gãi, gãi, gãi".
Khi đã ngứa, không muốn gãi nữa và muốn đưa tay về, hãy
ghi nhận: "đưa-về, đưa- về, đưa-về". Khi tay trở về chỗ
cũ và tiếp xúc với tay hay chân, ghi nhận: "đụng, đụng,
đụng". Rồi tiếp tục quan sát s? phồng xẹp của bụng.
Nếu
thấy đau hay khó chịu, hãy chú tâm đến chỗ đau hay khó
chịu đó. Hãy ghi nhận một cách rõ ràng và chính xác mọi
cảm giác phát sinh, chẳng hạn, đau nhức, đè nặng, mệt,
tê, cứng, v.v... Cần nhớ là những sự ghi nhận này phải
tự nhiên; đừng vội vã quá cũng đừng trễ quá. Cơn đau,
nhức có thể chấm dứt hay gia tăng. Khi cơn đau gia tăng cũng
đừng hốt hoảng hay lo sợ gì cả mà chỉ cần tiếp tục
thiền và một lát sau cơn đau sẽ lắng đi. Nếu cơn đau nhức
vẫn kéo dài không thể chịu đựng nổi thì hãy bỏ qua sự
đau nhức và chú tâm vào sự phồng xẹp.
Khi
thiền của bạn tiến triển, bạn sẽ có những cảm giác
đau đớn khó chịu. Bạn có cảm giác khó thở, nghèn nghẹn,
có khi như bị kim chích, thấy nhột nhạt như có côn trùng
bò trên thân mình. Bạn cũng có thể thấy ngứa ngáy, đau
đớn như bị con gì cắn, bị rét run. Khi bạn ngưng thiền
thì những cảm giác trên biến mất ngay. Khi bạn tiếp tục
thiền trở lại và cứ mỗi khi bắt đầu định tâm thì những
cảm giác khó chịu trên lại xuất hiện. Những cảm giác
này không có gì đáng lo ngại. Đây không phải là dấu hiệu
của bệnh hoạn mà chỉ là những cảm giác bình thường vẫn
hiện diện trong cơ thể ta nhưng chúng bị che lấp vì tâm
ta đang mãi bận rộn với những đối tượng trước mắt.
Khi thiền tiến triển, tâm ta trở nên bén nhọn, tinh tế nên
dễ dàng nhận thấy những cảm giác này, khi mức độ thiền
tiến triển hơn bạn sẽ vượt qua tất cả những chướng
ngại này. Nếu tiếp tục và kiên trì thiền bạn sẽ không
còn gặp những cảm giác khó chịu này nữa. Nếu bạn thiếu
can đảm, thiếu quyết tâm và gián đoạn một thời gian thì
bạn lại sẽ chạm trán với chúng lần nữa mỗi khi thiền
của bạn tiến triển. Nhưng nếu gặp những cảm giác khó
chịu này mà bạn vẫn quyết tâm và kiên trì tiếp tục hành
thiền thì bạn sẽ chinh phục được chúng và bạn sẽ không
bao giờ gặp những cảm giác khó chịu này nữa trong lúc hành
thiền.
Nếu
bạn dự định xoay mình hãy ghi nhận: "dự-định, dự-định,
dự-định". Khi đang xoay ghi nhận: "xoay, xoay, xoay". Nhiều khi
trong lúc đang hành thiền, bạn thấy thân thể mình lắc lư
từ trước ra sau thì cũng đừng sợ hãi, đừng thích thú
hay mong muốn tiếp tục lắc lư. Sự lắc lư sẽ chấm dứt
nếu bạn chú tâm vào nó và tiếp tục ghi nhận: "lắc-lư,
lắc-lư, lắc-lư" cho đến khi hết lắc lư. Nếu đã ghi nhận
nhiều lần mà thân hình vẫn còn lắc lư bạn hãy dựa vào
tường hay nằm xuống một lát và vẫn tiếp tục hành thiền.
Khi thân bị lay chuyển hay run rẩy cũng chú tâm ghi nhận như
trên. Khi thiền tiến triển đôi khi bạn cũng sẽ cảm thấy
rờn rợn run lên hoặc ớn lạnh ở xương sống hay toàn thân.
Đó là trạng thái phỉ lạc, một thành quả đương nhiên
khi thiền được tiến triển tốt đẹp. Khi tâm an trụ trong
thiền thì bạn rất dễ bị giật mình bởi những tiếng động
nhỏ. Lý do là tâm của bạn bây giờ rất bén nhạy trước
mọi đối tượng của giác quan.
Trong
lúc thiền nếu bạn cảm thấy khát nước, hãy ghi nhận cảm
giác: "khát, khát, khát". Khi muốn đứng dậy, ghi nhận: "muốn,
muốn, muốn" và chú tâm ghi nhận mỗi một tác động chuẩn
bị đứng dậy, rồi chú tâm vào tác động đứng và ghi nhận:
"đứng, đứng, đứng". Sau khi đứng dậy mắt bạn nhìn về
phía có nước, ghi nhận: "nhìn, nhìn, nhìn". Khi muốn đi, ghi
nhận: "muốn, muốn, muốn". Bắt đầu bước từng bước,
ghi nhận: "đi, đi, đi" hay "trái, phải". Bạn phải tỉnh thức
trong mọi bước đi từ lúc bắt đầu đi cho tới khi đứng
lại. Khi đi tản bộ hoặc thiền hành bạn cũng phải theo
những nguyên tắc ghi nhận như trên. Hãy cố gắng ghi nhận
những bước chân qua hai tác động: "dở, đạp", "dở, đạp".
Khi bạn đã thuần thục với cách này, hãy chú tâm ghi nhận
ba tác động: "dở, bước, đạp", "dở, bước, đạp".
Khi
bạn thấy hoặc đi đến chỗ để nước phải ghi nhận: "thấy,
thấy, thấy" hay "nhìn, nhìn, nhìn".
Khi
dừng chân, ghi nhận: "dừng, dừng, dừng".
Khi
đưa tay ra, ghi nhận: "đưa, đưa, đưa".
Khi
tay đụng vào chén, ghi nhận: "đụng, đụng, đụng".
Khi
cầm chén, ghi nhận: "cầm, cầm, cầm".
Khi
thọc tay vào lu, ghi nhận: "thọc, thọc, thọc".
Khi
đưa chén lên môi, ghi nhận: "đưa, đưa, đưa".
Khi
chén đụng vào môi, ghi nhận: "đụng, đụng, đụng".
Khi
cảm thấy mát, ghi nhận: "mát, mát, mát".
Khi
nuốt, ghi nhận: "nuốt, nuốt, nuốt".
Khi
để chén xuống ghi nhận: "để-xuống, để-xuống, để-xuống".
Khi
thu tay về, ghi nhận: "thu-về, thu-về, thu-về".
Khi
thòng tay xuống, ghi nhận: "thòng, thòng, thòng".
Khi
tay đụng vào đùi, ghi nhận: "đụng, đụng, đụng".
Khi
muốn quay lui, ghi nhận: "muốn, muốn, muốn".
Khi
quay lui, ghi nhận: "quay, quay, quay".
Khi
đi, ghi nhận: "đi, đi, đi".
Khi
đến nơi, muốn dừng lại, ghi nhận: "muốn, muốn, muốn".
Khi
dừng lại ghi nhận: "dừng, dừng, dừng".
Nếu
đứng một thời gian lâu, thì hãy chú tâm vào sự phồng xẹp
của bụng. Nhưng khi bạn muốn ngồi hãy ghi nhận: "muốn,
muốn, muốn". Khi đi đến chỗ ngồi, phải ghi nhận: "đi,
đi, đi". Đến chỗ ngồi, ghi nhận: "đến, đến, đến". Xoay
người trước khi ngồi, ghi nhớ: "xoay, xoay, xoay". Ngồi xuống
ghi nhận: "ngồi, ngồi, ngồi". Phải ngồi xuống chầm chậm
và ghi nhận mọi chuyển động của sự ngồi. Bạn phải chú
ý đến từng tác động một của tay chân khi ngồi. Ngồi
xong lại tiếp tục theo dõi sự phồng xẹp của bụng.
Khi
bạn muốn nằm, ghi nhận: "muốn, muốn, muốn"; rồi lại ghi
mọi tác động của sự nằm: nghiêng người, chống tay, đặt
đầu, duỗi chân, nằm... tất cả những động tác này phải
làm chầm chậm. Lúc nằm xuống rồi lại tiếp tục theo dõi
sự phồng xẹp. Trong khi nằm nếu cảm thấy đau nhức, mệt
mỏi, ngứa ngáy... Đều phải ghi nhận. Ghi nhận mọi cảm
giác, suy nghĩ, ý kiến, cân nhắc, suy xét và mọi tác động
của tay chân và thân thể. Nếu thấy không còn cảm giác gì
đặc biệt đáng ghi nhận thì hãy tiếp tục ghi nhận sự
phồng xẹp. Khi buồn ngủ, ghi nhận: buồn ngủ. Nếu bạn
có đủ năng lực tập trung trong thiền, bạn có thể vượt
qua sự buồn ngủ và cảm thấy tươi tỉnh, lúc bấy giờ
bạn hãy tiếp tục theo dõi sự phồng xẹp, nếu bạn không
thắng được cơn buồn ngủ hãy tiếp tục niệm phồng xẹp
cho đến khi ngủ. Giấc ngủ là sự liên tục của luồng hộ
kiếp hay tiềm thức, giống như trường hợp của tâm lúc
tái sanh hay của tâm lúc chết, cái tâm lúc này rất yếu ớt
không thể nhận thức được gì cả... Khi bạn thức, tâm
này tiếp tục xuất hiện giữa những lúc bạn nhìn, nghe,
nếm, ngửi, xúc chạm và suy nghĩ. Nhưng tâm này xuất hiện
rất yếu và không tồn tại lâu nên khó nhận thấy. Tâm này
sẽ duy trì liên tục khi bạn ngủ. Khi bạn thức dậy, thì
mọi tư tưởng và mọi đối tượng sẽ được nhận thức
rõ ràng liền.
Vào
lúc thức giấc, bạn phải hành thiền ngay. Là thiền sinh mới
vì vậy bạn khó có thể tỉnh thức vào những giây phút đầu
tiên lúc mới thức dậy. Nhưng bạn phải giác tỉnh ngay lúc
bạn nhớ lại rằng mình đang hành thiền. Chẳng hạn lúc
thức dậy, bạn nghĩ tưởng đến điều gì thì phải tỉnh
thức mà ghi nhận ngay: "nghĩ-tưởng, nghĩ-tưởng, nghĩ-tưởng".
Rồi tiếp tục với phồng xẹp. Khi thức dậy bạn phải chú
tâm đến những chi tiết của hoạt động cơ thể. Mọi tác
động của tay chân và thân thể phải được ghi nhận một
cách tỉnh thức. Lúc thức dậy bạn có nghĩ rằng bây giờ
là mấy giờ không? Nếu nghĩ đến giờ thì phải ghi nhận:
"nghĩ, nghĩ, nghĩ". Bạn chuẩn bị rời khỏi giường ngủ
hãy ghi nhận chuẩn bị. Khi từ từ ngồi dậy phải ghi nhận:
ngồi dậy. Lúc đang ở tư thế ngồi, ghi nhận: "ngồi, ngồi,
ngồi". Nếu còn ngồi ở giường một lúc lâu mới đứng
dậy đi thì phải chú tâm đến phồng xẹp, tiếp theo đó.
Lúc rửa mặt hay tắm, cũng phải để tâm ghi nhận mọi chi
tiết; chẳng hạn, nhìn, ngắm, duỗi, cầm, nắm, ấm, lạnh,
chà xát, v.v... Lúc trang điểm, lúc làm giường, lúc đóng
cửa, cầm nắm vật gì đều phải chú tâm ghi nhận theo thứ
tự.
Bạn
cũng chú ý từng tác động một trong lúc ăn:
Khi
nhìn thức ăn ghi nhận: "nhìn, nhìn, nhìn".
Khi
múc thức ăn ghi nhận: "múc, múc, múc".
Khi
đưa thức ăn lên miệng ghi nhận: "đưa, đưa, đưa".
Khi
thức ăn đụng môi, ghi nhận: "đụng, đụng, đụng".
Khi
thức ăn vào đến miệng, ghi nhận: "vào, vào, vào".
Khi
miệng ngậm lại, ghi nhận: "ngậm, ngậm, ngậm".
Khi
bỏ tay xuống, ghi nhận: "bỏ xuống, bỏ xuống, bỏ xuống".
Khi
tay đụng dĩa, ghi nhận: "đụng, đụng, đụng".
Khi
nhai ghi nhận: "nhai, nhai, nhai".
Khi
biết mùi vị ghi nhận: "biết, biết, biết".
Khi
nuốt, ghi nhận: "nuốt, nuốt, nuốt".
Khi
thực phẩm vào trong cuống họng chạm vào cuống họng, ghi
nhận: "đụng, đụng, đụng".
Hãy
chú tâm theo dõi mỗi khi bạn múc một muỗng cơm cho đến
khi xong bữa ăn. Lúc mới thực hành sẽ có rất nhiều thiếu
sót. Đừng ngại điều đó, sau một thời gian kiên trì tập
luyện, sự thiếu sót ghi nhận sẽ giảm đi. Khi mức thiền
tập của bạn tiến triển đến mức độ cao hơn bạn sẽ
còn ghi nhận được thêm nhiều chi tiết hơn những điều
đã đề cập ở đây.
Bài
Tập Thiền Hành Căn Bản
Giữa
hai lần thiền tọa là khoảng thời gian từ bốn mươi đến
chín mươi phút để thiền hành. Thiền hành xen kẻ giữa thiền
tọa để quân bình năng lực và những yếu tố của sự định
tâm, đồng thời để tránh buồn ngủ. Bạn có thể thiền
hành trong phòng hay ngoài sân. Lúc thiền hành bạn nên đi chậm
hơn lúc bình thường và đi một cách tự nhiên. Trong lúc thiền
hành bạn phải chú tâm vào sự chuyển động của chân. Bạn
phải chú tâm khi bàn chân phải (mặt) bắt đầu nhất lên
khỏi mặt đất, ghi nhận: dở; Khi đưa chân tới ghi nhận:
bước; khi chân đặt xuống đất, ghi nhận: đạp. Chân trái
cũng làm như thế...
Cũng
như lúc ngồi thiền; khi đi, mọi phóng tâm hay cảm giác phải
được ghi nhận. Chẳng hạn chợt nhìn một vật gì đó trong
khi bạn đang đi hãy ghi nhận tức thì: "nhìn, nhìn, nhìn",
rồi trở về với những chuyển động của chân. Mặc dầu
trong khi đi những vật bạn nhìn thấy không liên quan gì đến
thiền hành nhưng nếu bạn vô tình để tâm đến nó thì phải
ghi nhận ngay: "nhìn, nhìn, nhìn".
Khi
đi đến mức cuối của đoạn đường kinh hành dĩ nhiên bạn
phải trở bước để đi ngược trở lại; lúc còn vài bước
đến bước cuối cùng đoạn đường, bạn phải ghi nhận:
"muốn quay, muốn quay, muốn quay". Ý định muốn quay có thể
khó ghi nhận lúc ban đầu nhưng khi thiền của bạn tiến triển,
bạn sẽ thấy dễ dàng. Sau khi ghi nhận ý định bạn phải
ghi nhận tất cả chi tiết của tư tưởng và tác động liên
quan đến việc quay.... ở bước cuối của con đường, bạn
bắt đầu quay mình, phải ghi nhận: "quay, quay, quay", khi chân
chuyển động phải kịp thời ghi nhận dở... bước... đạp,
v.v... Trong lúc quay thường vì sự cám dỗ của bên ngoài nên
bạn có ý định muốn nhìn xem chung quanh có cái gì lạ không,
phải ghi nhận ngay: "dự-định, dự-định, dự-định" hay
"muốn, muốn, muốn", rồi lại chú tâm đến bước chân.
Thông
thường đối với những thiền sinh mới, chú tâm đến ba
giai đoạn dở, bước và đạp rất có hiệu quả. Tuy nhiên,
tùy theo khả năng của từng người, thiền sư có thể khuyên
họ nên chú ý ít hay nhiều giai đoạn hơn. Nhiều lúc thấy
sự đi chậm bất tiện, nhất là lúc đi ra ngoài khu vực hành
thiền bạn có thể đi nhanh hơn và ghi nhận: trái, phải mỗi
khi chân trái hay chân phải đặt xuống đất. Ghi nhận nhiều
hay ít giai đoạn không quan trọng, điều cốt yếu là bạn
có chú tâm tỉnh thức trong từng bước đi hay không?
Thiền
Mức Cao Hơn
Sau
một thời gian hành thiền, định lực của bạn phát triển
và bạn đã dễ dàng theo dõi sự phồng xẹp của bụng, lúc
bấy giờ bạn sẽ nhận thấy có một thời gian, hay khoảng
hở giữa hai giai đoạn phồng xẹp. Nếu bạn đang ngồi thiền
bạn hãy ghi nhận: "phồng, xẹp, ngồi". Khi ghi nhận ngồi,
bạn hãy chú tâm vào phần trên của thân. Khi bạn đang nằm
thiền hãy ghi nhận: "phồng xẹp, nằm".
Nếu
bạn thấy có khoảng thời gian hở giữa phồng, xẹp, và xẹp,
phồng, bạn hãy ghi nhận: "phồng, ngồi, xẹp, ngồi". Nếu
bạn đang nằm hãy ghi nhận: "phồng, nằm, xẹp, nằm". Nếu
thực hành một lát mà thấy sự ghi nhận ba hay bốn giai đoạn
như trên không dễ dàng đối với bạn, hãy trở về với
hai giai đoạn phồng, xẹp.
Trong
khi chú tâm theo dõi chuyển động của cơ thể, bạn không
cần phải chú ý đến đối tượng thấy và nghe. Khi bạn
có khả năng chú tâm vào chuyển động phồng xẹp thì bạn
cũng có khả năng chú tâm vào đối tượng nghe và thấy. Tuy
nhiên, khi chú ý nhìn một vật gì đó thì bạn phải đồng
thời ghi nhận ba lần: "thấy, thấy, thấy" sau đó trở về
với sự chuyển động của bụng. Giả sử có một người
nào đó đi vào trong tầm nhìn của bạn, bạn để ý thấy
thì phải ghi nhận: thấy hai hay ba lần, rồi trở về với
sự phồng xẹp. Bạn có nghe tiếng nói không? Bạn có lắng
nghe không? Nếu bạn nghe hay lắng nghe thì phải ghi nhận: "nghe,
nghe, nghe" hay "lắng-nghe, lắng-nghe, lắng-nghe"; sau đó trở
về với sự phồng xẹp. Giả sử bạn nghe những tiếng động
lớn như tiếng chó sủa, nói chuyện to, tiếng hát bạn phải
tức khắc ghi nhận hai hay ba lần: nghe, rồi trở về với
bài tập phồng, xẹp. Nếu bạn quên không ghi nhận khi đang
phóng tâm vào sự nghe, điều này có thể khiến bạn suy tưởng
hay chạy theo chúng mà quên chú ý vào sự phồng xẹp. Lúc
bấy giờ sự phồng xẹp sẽ trở nên yếu đi hay không phân
biệt được rõ ràng. Gặp những trường hợp bạn bị lôi
cuốn bởi những phiền não chập chồng như thế, bạn hãy
ghi nhận hai hay ba lần: "suy-tưởng, suy-tưởng, suy-tưởng"
rồi trở về với sự phồng xẹp. Nếu quên ghi nhận những
chuyển động của cơ thể, tay chân, v.v.. thì phải ghi nhận:
"quên, quên, quên" rồi trở về với sự chuyển động của
bụng. Bạn có thể cảm thấy lúc bấy giờ hơi thở sẽ chậm
lại hay chuyển động phồng xẹp không rõ ràng. Nếu điều
đó xảy ra và lúc ấy bạn đang ngồi thì hãy chú tâm ghi
nhận: ngồi, đụng. Nếu lúc bấy giờ đang nằm hãy ghi nhận
nằm, đụng. Khi ghi nhận đụng, không phải bạn chỉ chú
tâm vào một điểm của cơ thể đang tiếp xúc, mà phải chú
tâm vào nhiều điểm kế tiếp nhau. Có nhiều chỗ đụng;
ít nhất sáu hay bảy chỗ bạn phải chú tâm đến. Một trong
những điểm đó là: đùi, đầu gối, hai tay chạm nhau, hai
chân đụng nhau, hai ngón cái đụng nhau, chớp mắt, lưỡi
đụng miệng, môi chạm nhau.
4.
Bài Tập Thứ Tư
Cho
đến bây giờ bạn đã hành thiền được nhiều giờ rồi.
Bạn có thể bắt đầu cảm thấy làm biếng khi nghĩ rằng
mình chưa tiến bộ được bao nhiêu. Đừng bỏ dở, hãy tiếp
tục ghi nhận: "làm biếng, làm biếng, làm biếng".
Trước
khi thiền của bạn đủ sức mạnh để phát triển khả năng
chú ý, định tâm và tuệ giác, bạn có thể nghi ngờ không
biết cách thức hành thiền như thế này có đúng, có hữu
ích không. Gặp trường hợp này hãy ghi nhận: "nghi-ngờ, nghi-ngờ,
nghi-ngờ". Bạn có ao ước hay mong muốn đạt được thành
quả tốt trong thiền không? Nếu bạn có tư tưởng như thế
thì hãy ghi nhận: "ao ước, ao ước, ao ước" hay "mong muốn,
mong muốn, mong muốn". Bạn có suy nghĩ xét lại cách thức
thực tập để bạn đạt được mức độ này không? Nếu
có, bạn hãy ghi nhận: "xét lại, xét lại, xét lại". Có trường
hợp nào bạn xem xét đối tượng thiền và phân vân không
biết đó là tâm hay vật chất không? Nếu có, bạn hãy ghi
nhận: "xem xét, xem xét, xem xét". Có khi nào bạn tiếc nuối
vì mình không đạt được sự tiến bộ nào không? Nếu có,
bạn hãy chú tâm ghi nhận cảm giác: "tiếc nuối, tiếc nuối,
tiếc nuối".
Ngược
lại, bạn có cảm thấy sung sướng khi mức độ thiền của
bạn tiến triển hay không? Nếu có, bạn hãy ghi nhận: "sung
sướng, sung sướng, sung sướng". Đấy là cách thức bạn
ghi nhận mỗi một trạng thái của tâm hồn, nếu không có
những tư tưởng hay quan niệm được ghi nhận thì bạn hãy
trở về với sự phồng xẹp.
Trong
một khóa hành thiền tích cực thì thời gian hành thiền bắt
đầu từ lúc thức dậy cho đến khi đi ngủ. Bạn cần nhớ
là phải luôn luôn thực hành hoặc bài tập căn bản, hoặc
là thực hành sự chú tâm liên tiếp suốt ngày cho đến đêm,
nếu bạn chưa buồn ngủ. Chẳng có nghỉ ngơi phút nào. Khi
thiền của bạn đạt được mức tiến bộ cao thì bạn sẽ
không còn cảm thấy buồn ngủ mặc dù bạn phải hành thiền
rất nhiều giờ; lúc bấy giờ bạn có thể tiếp tục thiền
cả ngày lẫn đêm.
Tóm
lại trong thời gian hành thiền, bạn phải để tâm ghi nhận
tất cả những trạng thái của tâm, dù đó là trạng thái
tốt hay xấu; bạn cũng phải chú tâm đến những sự chuyển
động của cơ thể, dù đó là những chuyển động lớn hay
nhỏ; bạn phải
chú
tâm đến mỗi một cảm giác, dầu cảm giác ấy dễ chịu
hay khó chịu. Trong suốt thời gian hành thiền nếu không có
những gì đặc biệt xảy ra khiến bạn phải ghi nhận, thì
hãy chú tâm vào sự phồng xẹp của bụng. Nếu bạn đi làm
một việc gì đó, chẳng hạn, đi uống nước, bạn phải
chú ý đến những tác động cần thiết của sự đi, bạn
phải chú tâm tỉnh thức ghi nhận từng bước đi một, chẳng
hạn: đi, đi, hay trái, phải. Lúc đến nơi bạn hãy niệm:
đ?ng, cầm, nắm, uống v.v... Nhưng khi bạn thực tập thiền
hành bạn phải chú ý đến ba giai đoạn của bước đi: dở,
bước, đạp. Thiền sinh phải nỗ lực tập luyện suốt ngày
đêm mới có thể sớm khai triển tâm định đến tuệ giác
thứ tư (tuệ biết được sự sinh diệt) và từ đó đạt
đến những tuệ giác cao hơn.
Hòa
Thượng Mahasi Sayadaw
Dịch
Giả: Tỳ khưu Khánh Hỷ
Hiệu
Đính: Tỳ Khưu Kim Triệu
b.4.3.
Thiền Tông với Thiền Đại Thừa.
Thiền
Đại Thứa cũng có nhiều lối tu, cần yếu từ tướng thẳng
vào bản tánh. Tuy có những đề mục đồng với Tiểu Thừa,
như Bồ Tát Tu Ngũ Pháp: Bồ Tát quán Phật tam Muội, Bồ Tát
quán bất tịnh tam muội, Bồ Tát quán Từ tam muội, Bồ Tát
quán nhơn duyên tam muội, Bồ Tát quán Lục diệu pháp môn.
Song đối mỗi pháp nầy, Bồ Tát quán từ tướng đi thẳng
vào tánh, tức là từ giả tướng đến Phật tướng. Hoặc
Thiền theo Tông Thiên Thai của Ngài Trí Giả Đại Sư, ứng
dụng pháp tam quán: quán không, quán giả, quán trung, y cứ
bài kệ trong quyển Trung Quán Luận của Bồ Tát Long Thọ.
Bài Kệ:
Nhơn
duyên sở sanh pháp Nhơn duyên sanh các pháp
Ngã
thuyết tức thị không
Diệc
danh vi giả danh
Diệc
danh trung đạo nghĩa
Dịch
nghĩa:
Ta
nói tức là không
Cũng
gọi là giả dang
Cũng
gọi là trung đạo
Thấy
các pháp do nhơn duyên sanh, thể tánh đều không, tức là quán
không. Thể tánh các pháp là không, song duyên họp giả có,
tức là quán giả. Không Giả đều buông, chỉ còn nhất tâm
chơn như, tức là Quán Trung Đạo đệ nhất nghĩa. Bồ Tát
tu nhơn như thế, đến kết quả sẽ chứng từng bậc từ
Thập tín, Thập Trụ, , Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập
Địa đến Đẳng Giác, Diệu Giác là Phật. Thiền Đại Thừa
đã gần với Thiền Tông, song Thiền Đại Thừa còn thấy
có pháp để tu, thấy có quả để chứng, nên còn khác biệt.
Bởi vì, Thiền Tông không thấy có pháp để dạy người,
không thấy có một quả để chứng. (Tự Gia Bảo, 391, 92)
b.4.4
và Thiền của Giáo Lý Nguyên Thủy
HT.
Thích Thanh Từ
Tất
cả chúng ta đều đồng ý là, pháp tu của Ðạo Phật, dù
phương tiện có thể khác song cứu cánh phải gặp nhau. Nếu
hai pháp tu mà phương tiện và cứu cánh đều khác biệt nhau
thì, pháp nầy là Ðạo Phật, pháp kia hẳn không phải Ðạo
Phật. Phật giáo Việt Nam đã mang sẵn hai pháp tu Thiền: Thiền
Tông và Thiền Nguyên Thủy. Vậy sự gặp gỡ nhau như thế
nào? Ðây là mục tiêu chúng ta phải nghiên cứu. Theo thiển
kiến chúng tôi thấy có những điểm gặp nhau, như dưới
đây:
A.-
Chủ Ðích Ban Ðầu Gặp Nhau
Thiền
Tông va Thiền Nguyên Thủy đều thừa nhận đức Phật Thích
Ca là Giáo Chủ, đồng kính thờ Ngài. Ðậm nét nhất là mục
đích xuất gia khi Ngài còn làm Thái Tử. Sau khi dạo bốn cửa
thành, hình ảnh sanh già bệnh chết đã đập mạnh vào mắt
Ngài, đã in sâu vào tâm não Ngài, sự bất lực của con người
với luật vô thường, khiến Ngài phải băn khoăn thắc mắc.
Ngài cương quyết tìm phương paháp giải thoát sanh già bệnh
chết. Ðây là vấn đề không tiền khoáng hậu, mà Ngài tự
đạt ra cho mình. Từ đây, "phương pháp giải thoát sanh già
bệnh chết" là vấn đề bức xúc nhất, thúc bách Ngài phải
tìm phương giải quyết. Chính là động cơ chủ yếu thôi
thúc Ngài vượt thành xuất gia. Sau khi xuất gia, Ngài gặp
các Ðạo Sĩ dạy tu Thiền định, cho đến cái định cuối
cùng là Phi tưởng phi phi tưởng, song vẫn chưa giải quyết
hoài bão Ngài cưu mang từ buổi ban đầu. Ngài từ giã họ,
rồi bao nhiêu năm dò dẫm săn tìm, đến phút giây quyết định
là đêm thứ 49, Ngài ngồi dưới cội Bồ Ðề được giác
ngộ viên mãn. Ðến đây, Ngài đã thấy tường tận manh mối
trói buộc lôi kéo chúng sanh vào đường sanh tử và biết
rành rẽ phương pháp diệt trừ cắt đứt mọi mối dây trói
buộc giải thoát sanh tử. Bài pháp Tứ Ðế Ngài giảng đầu
tiên tại vườn Lộc Uyển đủ minh chứng điều này. Thế
là Ngài giải quyết xong vấn đề ôm ấp từ thuở ban sơ,
tuyên bố thành Phật.
Thiền
Tông nhắm thẳng mục đích ấy, thực hiện theo sở hành của
Phật mà không hoàn toàn theo lời dạy của Phật. Lấy phương
châm "Giải thoát sanh tử" làm kim chỉ nam. Ðặt vấn đề
"Làm sao giải thoát sanh tử? " làm công án, trăn trở thao thức
nghiền ngẫm mãi vấn đề này, đến bao giờ vỡ tung mới
thôi. Phải đạt đến cứu cánh thành Phật là mục tiêu cuối
cùng. Vì thế, Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma (Bodhidharma) dõng dạc tuyên
bố: "Giáo ngoại biệt truyền bất lập văn tự, trực chỉ
nhân tâm, kiến tánh thành Phật ". Lấy "Giải thoát sanh tử"
làm chủ đề, đặt nghi vấn làm phương tiện tu, do dùi mài
hun đúc mãi vấn đề này, khiến mọi tâm niêm lăng xăng tự
phải dừng lại, đến khi thuần thục chín muồi vấn đề
nổ tung là giác ngộ "giải thoát sanh tử". Chỗ này rất thích
hợp với các nhà khoa học xưa nay, bởi nghi vấn nên tìm tòi
nghiên cứu đến lúc chín muồi liền phát minh. Có khi vấn
đề đặt ra chìm ngầm trong tiềm thức, như mạch nước chảy
ngầm dưới đất, nhờ công phu thiền định đến mức tột
cùng, bỗng dưng phát sáng, thấy rõ vấn đề mình ôm ấp
từ trước, như nhờ đào sâu xoi thủng trúng mạch thì dòng
nước vọt lên. Chính đây là hướng thực hành của Thái
Tử Tất Ðạt Ða thưở xưa.
Thiền
Nguyên Thủy cũng nhằm mục đích giải thoát sanh tử. Phương
tiện tiến tu dồn hết tư tưởng vào một đề mục, đi sâu
mãi cho đến chứng sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền,
bước sang tam minh, cuối cùng giác ngộ "giải thoát sanh tử",
cụ thể bằng thấy rõ Tứ Ðế. Như đoạn kinh Phật dạy:
"Với
tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền
não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như
vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị
ấy biết như thật: "Ðây là khổ", biết như thật: "Ðây
là nguyên nhân của khổ", biết như thật: "Ðây là sự diệt
khổ", biết như thật: "Ðây là con đường đưa đến diệt
khổ", biết như thật: "Ðây là những lậu hoặc", biết như
thật: "Ðây là nguyên nhân của lậu hoặc ", biết như thật:
"Ðây là đoạn trừ các lậu hoặc", biết như thật: "Ðây
là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc". Nhờ
hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy
thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô
minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi
lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết: "Sanh
đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm;
sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nưã " (Trung
bộ i., 278-279)
B.-
Giới Ðịnh Tuệ Gặp Nhau
Thiền
Tông đặt giới luật lên trên, cụ thể là Lục Tổ Huệ
Năng ngộ đạo rồi vẫn thọ giới, sau mới hoằng hóa.
Thiền
Tông ứng dụng theo hai lối tu:
1)
Ðặt nghi vấn để theo dõi
2)
Nhìn lại mình, không theo vọng tưởng.
Ðặt
nghi vấn để theo dõi là khán Công Án hay Thoại Ðầu. Khi
theo dõi công án, mọi niệm lự dễ dừng lặng. Như khi ta
đang thắc mắc về một vấn đề quan trọng thì mọi suy nghĩ
khác đều tan. Dồn hết tâm tư trong một công án thì đối
với dục lạc thế gian ta sẽ lơ là, giới luật đã nằm
sẵn ở đây. Giống như nhiều nhà khoa học khi mải mê nghiên
cứu một đề tài gì có lúc quên cả vợ con, ăn uống. Khi
vấn đề đã thành khối thì ý thức chết lịm trong ấy,
đấy là Ðịnh. Ðến lúc chín muồi gặp duyên khối nghi tan
vỡ, là thấu suốt được vấn đề mình bao năm theo dõi,
gọi là ngộ đạo. Tức là giác ngộ mục đích mình tìm kiếm,
đây là Huệ. Hầu hết những vấn đề đặt ra đều tối
quan trọng như: Thế nào là Phật? Thế nào là Ðại ý Phật
Pháp? Thế nào là Kiến tánh thành Phật? Thế nào là ý Tổ
Sư từ Tây sang?
Nhìn
lại mình "Không theo vọng tưởng" gọi là "Phản quan tự kỷ",
cũng gọi "Hồi quan phản chiếu", dùng trí quán sát tâm tư
của mình. Mọi người đều nhận ý nghĩ lăng xăng là tâm
mình, chạy theo nó tạo nghiệp không cùng. Ở đây hành giả
trong mọi oai nghi tỉnh táo quan sát tâm niệm mình, "Thấy nó
không theo", hoặc tìm xem nó phát xuất từ chỗ nào? Không
theo thì nó lặng, tìm lại thì nó mất. Vận dụng trí tuệ
quan sát thường xuyên khiến vọng tưởng không có cơ hội
dong chạy, là giữ Giới. Vọng tưởng cùng đường không lối
thoát, buộc chúng phải lặng yên là Ðịnh. Vọng tưởng đã
sạch, trí tuệ hiện tiền là Huệ. Chỗ này Thiền Sư Hoài
Hải (724-814) nói: "Tâm địa nhược không, huệ nhật tự chiếu".
Ðất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự sáng. Lối tu
này xuất phát từ Tổ Ðạt Ma chỉ dạy Ngài Huệ Khả. Huệ
Khả hỏi: "Tâm con không an, xin thầy dạy pháp an tâm". Tổ
Ðạt Ma bảo: "Ðem tâm ta an cho". Huệ Khả sửng sốt tìm tâm
không được, thưa: "Con tìm tâm không được". Tổ Ðạt Ma
bảo: "Ta an tâm cho ngươi rồi". Ngay đây Ngài Huệ Khả biết
được lối vào. (Sử 33 vị Tổ, tr. 163)
Thiền
Sư Ðức Sơn (780-865) dạy chúng: "Các ông chớ cuồng, khuyên
các ông không gì hơn Thôi Hết đi, Vô Sự đi. Tâm vừa khởi
một niệm tức là quyến thuộc nhà ma, là kẻ tục phá giới"
(Trung Hoa Chư Thiền Ðức ii, 138). Cụ thể hóa lối tu này
bằng hình ảnh "Mười Mục Chăn Trâu Thiền Tông" (Thập Mục
Ngưu Ðồ Thiền Tông).
Thiền
Nguyên Thủy lấy Giới Ðịnh Huệ làm căn bản. Thiếu giới
thì không định, không định thì chẳng phát huệ. Chúng ta
đọc đoạn này trong kinh Sa Môn Quả (Trường Bộ i, 71):
"Vị
ấy, với giới uẩn cao quý nầy, với sự hộ trì các căn
cao quý nấy, với chánh niệm tự giác cao quý nầy, với hạnh
biết đủ cao quý nầy, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch,
như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài
trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị
ấy ngồi kiết già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú
chánh niệm trước mặt"... Với tâm định tỉnh, thuần tịnh,
không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng,
vững chắc, bình thản như vậy, vị Tỳ Kheo dẫn tâm, hướng
tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: "Ðây là
Khổ"; biết như thật: "Ðây là nguyên nhân khổ"; biết như
thật: "Ðây là sự diệt khổ"; biết như thật: "Ðây là con
đường đưa đến diệt khổ", biết như thật: "Ðây là những
lậu hoặc"; biết như thật: "Ðây là nguyên nhân của lậu
hoặc"; biết như thật: "Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc".
Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị
ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi
vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy,
khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết:
"Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm
đã làm; sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác
nưã" (Trường Bộ i. 82-83).
Ðọc
hai đoạn trên, chúng ta thấy từ Giới luật đầy đủ mới
tu Thiền Ð?nh, từ Thiền Ðịnh đầy đủ mới phát Trí huệ
sáng suốt thấy đúng như thật cội nguồn sanh tử và xuất
ly sanh tử.
Thiền
Tông và Thiền Nguyên Thủy đều gặp nhau ở chỗ khai thác
Trí Vô Sư. Giáo lý nhà Phật chia hai thứ trí: Trí Hữu Sư
và Trí Vô Sư. Trí Hữu Sư do học hỏi mà được, là sản
phẩm của người khác truyền sang. Trí Vô Sư sẵn có nơi
mình, chỉ khi nào mọi tâm lự đình chỉ thì tự phát hiện.
Nếu con người tự mãn với Trí Hữu Sư mai kia chúng ta sẽ
không thông minh bằng người máy. Vì khoa học ngày nay đã
bắt chước tế bào não con người, chế biến các vi điện
tử cũng có khả năng ghi nhớ những dữ kiện như não bộ
con người. Nếu người ta phát vào não bộ người máy thật
nhiều dữ kiện, nó sẽ biết nhiều, nhớ nhiều hơn chúng
ta. Bao nhiêu kiến thức chúng ta thu thập được đều thuộc
bên ngoài đưa vào, không phải là sự phát minh của Trí Vô
Sư của chúng ta.
Thiền
Tông bắt buộc thiền giả phải phát minh Trí Vô Sư, mọi
kiến thức tiếp thu được bên ngoài đều thuộc vô thường,
thuộc người khác, không phải chính mình. Qua câu chuyện đối
đáp của hai Thiền Sư Nham Ð?u Toàn Khoát (826-887) và Tuyết
Nghĩa Phong Tồn (822-908) thấy rõ điều này.
- Tuyết
Phong nói: "Tôi thật còn chưa ổn".
- Nham
Ðầu bảo: "Nếu ông thật như thế cứ chỗ thấy của ông
mỗi mỗi thông qua, chỗ phải tôi sẽ chứng minh cho ông, chỗ
không phải tôi sẽ vì ông đuổi dẹp".
- Tuyết
Phong: "Khi tôi mới đến Diêm Quan thấy thượng đường nói
nghĩa sắc không liền được chỗ vào".
- Nham
Ðầu: "Từ đây đến ba mươi năm rất kỵ không nên nói đến".
- Tuyết
Phong: "Tôi thấy bài kệ của Ðộng Sơn qua sông: Thiết kỵ
tùng tha mích, điều điều dữ ngã sơ, cừ kim chánh thị ngã,
ngã kim bất thị cừ".
- Nham
Ðầu: "Nếu cùng ấy tự cứu cũng chưa tột".
- Tuyết
Phong, sau, hỏi Ðức Sơn: Việc trong tông thừa từ trước
con có phần chăng?
- Ðức
Sơn đánh một gậy hỏi: Nói cái gì? Tôi khi đó giống như
thùng lũng đáy.
- Nham
Ðầu nạt: Ông chẳng nghe nói: "Từ cửa vào chẳng phải của
báu trong nhà?"
- Tuyết
Phong: Về sau làm thế nào mới phải?
- Nham
Ðầu: Về sau, nếu muốn xiển dương Ðại Giáo, mỗi mỗi
từ trong hông ngực mình lưu xuất, sau nầy cùng ta che trời
che đất đi!
Tuyết
Phong nhơn câu ấy đại ngộ liền đảnh lễ, đứng dậy kêu
luôn: Sư huynh! Ngày nay mới là thành đạo ở Ngao Sơn (Trung
Hoa Chư Thiền Ðức ii. 203)
Thiền
Nguyên Thủy cũng do mọi tâm niệm đều lặng sạch mới phát
sanh trí tuệ. Trí tuệ này do định phát sanh nên thuộc Trí
Vô Sư. Chúng ta nghe một đoạn Phật kể lại sự tu chứng
của Ngài: "... Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ
trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc,
xả niệm thanh tịnh... với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không
cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ xử dụng, vững
chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến Túc
Mạng Minh. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một
đời, hai đời..." (Trung Bộ i. 247).
Sau
khi được xả niệm thanh tịnh, hướng tâm về quá khứ thì
thấy rõ nhiều đời của quá khứ... Trí tuệ thấy rõ này
không phải do suy xét mà được. Chỉ nhờ xả niệm thanh tịnh,
nên thuộc Trí vô Sư.
C.
Gặp Nhau Trên Lộ Trình Tu Tập
Thiền
Tông nghiên cứu công án hay đề khởi thoại đầu cốt phải
đến chỗ niêm mật, cho đến cô đọng thành một khối gọi
là nghi tình. Khi nghi tình tan vỡ là thành tựu đáp án, cũng
có nghĩa là ngộ đạo. Nếu dùng "Thấy vọng không theo" (phản
quan tự kỷ) cũng phải hằng tỉnh hằng giác cho đến khi
nào vọng niệm lặng hết thì kiến tánh ngộ đạo. Thiền
sư Triệu Châu Tùng Thẩm (778-897) nói: "Một tâm chẳng sanh
muôn pháp không lỗi. Ông cứ nghiên cứu lý này, ngồi quán
sát hai ba mươi năm, nếu chẳng hội, chặt đầu lão tăng
đi. Nhọc nhằn nắm bắt mộng huyễn không hoa, tâm nếu chẳng
khác thì muôn pháp nhất như". (Trung Hoa Chư Thiền Ðức i.
397)
Thiền
Nguyên Thủy quán Tứ Niệm Xứ phải chuyên tâm cột niệm
trong bốn Pháp sẽ được kết quả. Chúng ta nghe Phật dạy
trong bài kinh Tứ Niệm Xứ:
"Nầy
các Tỳ Kheo, đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh
tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu,
thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết Bàn. Ðó là Bốn Niệm
Xứ".
"Thế
nào là bốn? Nầy các Tỳ Kheo, ở đây vị Tỳ Kheo sống quán
thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để chế
ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, tinh cần
tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống
quán tâm trên tâm, tinh cần tỉnh giác, chánh niệm để chế
ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, tinh cần
tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời." (Trung
Bộ i. 56 -57).
Cũng
kinh Tứ Niệm Xứ Phật nói kết quả của Tỳ Kheo nào tinh
cần như sau:
"Nầy
các Tỳ Kheo, vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này như vậy trong
bảy năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây:
Một là chứng chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu
dư y, chứng quả Bất Hoàn.
Này
các Tỳ Kheo không cần gì bảy năm, một vị Tỳ Kheo tu Bốn
Niệm Xứ nầy như vậy trong sáu năm, trong năm năm, trong bốn
năm, trong ba năm, trong hai năm,