NHẤT NGUYÊN
LUẬN &
THỂ CÁCH TRI
NHẬN TÁNH KHÔNG
Phổ
Nguyệt
IV. TỪ NHẤT
NGUYÊN LUẬN
TỚI THỰC
TẠI TUYỆT ĐỐI LUẬN
A).
Nhất Nguyên Tuyệt Đối
Khi
đã đạt được nguyên lý Nhất Nguyên Tương Đối hay Vô
Không Gian, Cái còn lại là phải tiến hành làm cho Giác Trí
Đang Là đó không thể sanh Tư Tưởng vẩn vơ trong Tâm làm
cho Tâm vẩn đục. Quá khứ, đã qua, bất khả đắc vì tiền
ngũ căn không thể nắm bắt; tương lai chưa đến nên tiền
ngũ căn cũng không nắm bắt được; còn hiện tại là Cái
Đang Là, nó nối tiếp bằng những sát na sanh diệt, cũng không
nắm bắt được; chỉ có Cái Hiện Tiền hay Sát Na Hiện Tiền,
là một Thực Tại Điểm có thể nắm bắt được. Làm sao
nắm bắt ngay cái ĐiểmThực Tại đó?
Diễn
tiến Nhận thức Giác Trí Tuệ hay Thể cách Tri nhận Tự Tính
Tuyệt Đối
Nhất
niệm hay cái Thức nguyên sơ là Thực Tại Điểm trong tiến
trình nhận thức khởi đầu của Giác Thức Đang Là, cũng
là Nhị Nguyên tính của Năng Sở, Chủ Khách, Căn Trần;
Giác
Trí là tiến trình tri nhận đầu nguồn của Giác Thức Đang
Là, cũng là Nhất Nguyên Tính Tương Đối của Trí Thức hay
Tư Tưởng. Nhất Nguyên là vì khi Ý Tác Động của Căn (Ý
thức) tiếp xúc với đối tượng (thực tại giả lập), thành
Giác Thức (hay Tâm Thức), lập tức được Ý Tác Năng (Ý
Trí) ý niệm hóa Giác Thức thành Giác Trí (hay Tâm Trí). Tâm
Thức và Tâm Trí cùng một Tâm. Thức chuyển thành Trí. Giác
Trí Đang Là (hiện tại), dù nằm trong đạo lý nhất nguyên,
nhưng nó cũng huyễn hóa theo thời gian. Cái Đang Là là sự
nối tiếp những điểm sát na sanh diệt liên tục. Dòng Giác
Trí ấy trôi chảy làm cho Trí và Thức liên hợp sanh ra Tư
Tưởng. Còn tư tưởng là còn có sự thay đổi, nên chưa phải
là chân lý. Chân lý thì thường hằng bất biến. Do dó Giác
Trí Đang Là thuộc diện tương đối;
Chân
Trí hay Giác Trí Tuệ hay cái Trí Nguyên Sơ được nhận thức
ngay nơi thực tại điểm khởi đầu tiến trình của động
tác Giác Trí Đang Là, cũng là Nhất Nguyên Tính Tuyệt Đối
của Năng Sở song vong và vô Thời Không. Vậy Chân lý tối
hậu hay Tự tính tuyệt đối, hay đạo lý Nhất nguyên tuyệt
đối là Nhận thức vượt Thời Không, là Tánh Giác hay Tánh
Không. Không dùng Tư Tưởng suy nghĩ bàn luận mà dùng pháp
môn không hai, hay nói khác đi làThể hiện, là im lặng không
dùng ngôn ngữ mà là Hành là Thiền. Đó là pháp "Bất Khả
Tư Nghị", là Trung Đạo.
Tóm
Tắt:
+ Phủ
định nhận thức thực tại điểm của giác thức nguyên sơ
là đạt đến giác trí;
+ Phủ
định nhận thức thực tại điểm của giác trí nguyên sơ
là đạt đến Giác Trí Tuệ;
+ Nhị
Bội Phủ Định nhận thức Giác Thức Nguyên Sơ của sự vật
để Khẳng Định nhận thứcTánh Không của chúng, đó là
Nhất Nguyên Tính Tuyệt Đối, Chân Lý Tối Hậu, hay Trung Đạo,
là hai giai trình Hàng Phục Vọng Tâm và An Trụ Tâm.
B)
Thực Tại Tuyệt Đối hay Chân Lý Tối Hậu: Vô Thời Không
Đứng
trên phương diện chân lý tối hậu, thì tự tính tuyệt đối
của sự vật đều có tánh không. Nhắc lại, tánh Hư Không,
đức Phật giải thích: A Nan! Ngươi phải biết trong Tạng
Như Lai, Tánh giác tức là thiệt hư không, Hư Khôngtức là
Thiệt Tánh giác, thanh tịnh bản nhiên, đầy khắp thế giới...
Vậy Thiệt Tánh giác hay Tự Tính Tuyệt Đối được xét theo
hai khía cạnh sau đây:
1.-
Không Gian
Cái
không gian dung chứa sự vật và sự vật chiếm cứ không gian
là một.Nói gọn là sự vật và dung thể không của nó là
một. Chuyển Thức Thành Trí nên Thức và Trí là một. Sắc
không khác không, và không không khác sắc. Cái chân lý thì
nó chính là nó, không có tự tính nào áp đặt lên nó, không
thể dùng ngôn ngữ, công ước để cưỡng ép lên tánh chất
của nó. Nó là nó không có gì ngoài nó. Nó là dung thể không
của sự vật nên nó không vượt ra khỏi sự vật. Theo Tử
Thư Tây Tạng gọi là chân lý tự nó trống rỗng và trần
trụi như Hư Không vô biên và không có tỳ vết. Đó cũng
gọi là Chơn Không. Do đó Tánh giác là Thiệt Hư Không hay
Hư Không là Thiệt Tánh giác. Tánh Giác là Chân Trí hay là
cái dụng của Chơn Tâm. Vậy làm sao nắm bắt được Chơn
Tâm? Phương pháp nào? Trong kinh Kim Cang, đức Phật dạy cách
hàng phục vọng tâm:
- Độ
tất cả chúng sanh vào vô dư niết bàn, mà không thấy chúng
sanh nào được độ.
Độ:
là làm cho giác ngộ, giải thoát mọi vọng tưởng giả lập
để đạt thực tính.
Chúng
Sanh: Tất cả các loài, sự và vật có tri giác hoặc không
có tri giác ; là những thực tại giả lâp hay tùy thuộc, là
Giác Thức.
Vô
Dư Niết Bàn: Niết bàn tuyệt đối hay tự tính tuyệt đối,
là chơn không hay thiệt hư không.
Vậy
câu trên có nghĩa là: Đưa tất cả các các thực tại giả
lập vào thực tại tuyệt đối mà không còn thấy các thực
tại giả lập đó nữa. Đưa tất cả chúng sanh (Giác Thức)
vào Vô Dư Niết Bàn (Giác Trí) mà không còn thấy chúng sanh
đó nữa (đã phủ định Giác Thức). Vậy muốn hàng phục
vọng tâm, hành giả nên (Tâm) trực nhận thể không của sự
vật và ngay đó lìa tướng giả lập.(Ly bốn tướng:Ngả,
Nhơn, Chúng Sanh, Thọ giả).
2.
-Thời Gian
Ngay
khi thể nhận thực tướng của sự vật liền lìa ngay tướng
không của sự vật. Cho nên trong kinh Kim Cang, Phật bảo Tu
Bồ Đề cách thức an trụ tâm như sau: Khi chơn tâm được
hiển bày (hàng phục được vọng tâm), thì phải gìn giữ
chơn tâm bằng cách: Bồ Tát không có chỗ trụ mà bố thí,
tức là không trụ vào Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp mà
bố thí.
Trụ:
là bám vào, dựa vào
Bố
Thí: là ban bố, cho cái mình có, cái mình biết, xả bỏ. Muốn
an trụ tâm Bồ Tát không bám vào tất cả chỗ mà phải xả
bỏ xa lià chúng đi; nghĩa là không dựa vào các thực tại
giả lập (Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) mà phải xả
bỏ cái mình biết là giả lập đó. Phật đã chỉ rõ về
thân tướng không. Nếu hành giả không nương tựa vào đâu
mà xa lìa cái mình biết thì phước đức cũng như hư không.
Cho nên thân tướng là thực tại giả lập (hay tự tính giả
lập). Nơi nào có thân tướng là nơi đó còn có lường gạt
(không thật). Nếu thấy được tính cách không tướng của
các tướng tức là thấy được Như Lai. Đó tức là nhận
ngay thực tướng hay thể không của thân tướng. Mà muốn
an trụ tâm thì phải vô sở trụ tức là không bám vào sắc,
thinh... mà phải xả bỏ ngay khi mình biết thực thể của
sắc vì nếu trụ vào nó một sát na thì nó không còn là thật
nữa.Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Sắc tức thì
biến thành không..., thời gian huyễn hóa sự vật. Chân Trí
(hay Chân Tâm) được hiển lộ ngay nơi đối tượng hiện
quán. Bồ Đề Đạt Ma nói, Hiện tại là bồ đề, vì không
có quá khứ đầy đau khổ và không có tương lai để gây
thêm tội lỗi ; thì ngay bây giờ há không phải là bồ đề
sao! Trong khoảnh khắc hiện tại, chân lý xuất hiện tại
đó (không gian) và lúc đó (thời gian) mà thôi. Thực tướng
được hiện bày ở trạng thái vô thời không, vì có thời
gian chạy dài trong không gian thì mọi sự vật đều trở nên
huyễn hóa. Vậy muốn đạt được giác ngộ hay chân tâm thì
phải theo hai cách: Hàng phục tâm và An trụ tâm.Đó là để
đạt được chân lý tối hậu, là tự tính tuyệt đối, là
chân tâm, là thiệt tánh giác hay là hư không vv... Nhân:Ưng
vô sở trụ thì quả: Vô sở bất tại.
C).-VÀI
THÍ DỤ VỀ SỰ GIẢI THÍCH TÁNH GIÁC
1).-
Trung Đạo hay là Tánh Giác
Trong
phẩm Văn Thù Sư Lợi thăm bịnh Duy Ma Cật ;
...Ngài
Văn Thù Sư Lợi vào nhà ông Duy Ma Cật rồi, thấy trong nhà
trống rỗng không có vật chi, chỉ có một mình ông nằm trên
giường mà thôi. Khi ấy ông Duy Ma Cật chào rằng:
- Quí
quá thay! Ngài Văn Thù Sư Lợi mới đến! Tướng không đến
mà đến, tướng không thấy mà thấy.
Văn
Thù Sư Lợi nói:
- Phải
đấy, cư sĩ! Nếu đã đến thì không đến, nếu đã đi thì
không đi. Vì sao? Đến không từ đâu đến, đi không đi đến
đâu, hể có thấy tức là không thấy. Thôi việc đó hãy
để đó...
---
Tướng không đến: Tướng đến từ A1 đế A2 theo thời gian
huyễn hóa tướng rồi. Động tác đang đến (tướng đến)
nối tiếp những điểm sát na sanh diệt, không thể nắm bắt
được.Ngay lúc đến là khoảnh khắc hiện tại ta nhìn thấy
cái đến. Nhận thức ngay thực tại điểm trong động tác
đang đến lúc đó và tại đó (một điểm ở sát na). Nên
cái thấy đếnthật là ở điểm đến hiện hữu đó mà thôi.
Còn tướng đến từ A1 đến A2 (quá khứ), tướng ấy đã
huyễn hóa rồi, không thật. Thực Tại Điểm đó là Trung
Đạo, là Tánh Giác. Tánh giác (thấy) đó ở trong trạng thái
vô thời không. Cũng như thế, tướng đi, đi đến đâu (tương
lai), cũng không thật, chỉ thấy cái đi ngay ở khoảnh khắc
hiện hữu.
Do
đó Văn Thù Sư Lợi đáp: Đã đến (quá khứ) thì cái đến
không thật, đã đi thì cái đi không thật, đã thấy thì cái
thấy không thật. Vì đến không từ đâu đến (không xác
định), đi thì không đi đến đâu (không xác định), còn
có thấy thì không còn thật thấy đối tượng đó nữa, Sắc
tức thị không.
2).
Pháp Môn Bất Khả Tư Nghị
Cũng
trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh, Ông Duy Ma Cật nói:
"Ngài
Xá Lợi Phất! Chư Phật và chư Bồ Tát có pháp 'giải thoát'
tên là 'Bất khả tư nghị'. Nếu Bồ Tát trụ nơi pháp giải
thoát đó, lấy núi Tu di rộng lớn nhét vào trong hột cải
vẫn không thêm không bớt, hình núi Tu di vẫn y nguyên, mà
trời Tứ thiên vương và Đạo Lợi thiên vương không hay không
biết đã vào đấy, chỉ có người đáng được mới thấy
núi Tu di vào trong hột cải, đó là pháp môn 'bất khả tư
nghị giải thoát'...
Lại
nữa, "Ngài Xá lợi Phất! Hoặc có chúng sanh nào ưa ở lâu
trong đời mà có thể độ được, Bồ Tát liền kéo dài bảy
ngày làm một kiếp để cho chúng sanh kia gọi là một kiếp;
hoặc có chúng sanh nào không ưa ở lâu trong đời mà có thể
độ được, Bồ Tát liền thâu ngắn một kiếp làm bảy ngày,
để cho chúng sanh kia gọi là bảy ngày..."
Đó
là hai thí dụ tiêu biểu trong kinh trên về Phật và Bồ Tát
khi đã đắc đạo thì các Ngài đã vượt khỏi thời không,
đạt được chân lý tối hậu, có đầy đủ thần thông để
thể hiện mọi sự biến hóa ở mọi cảnh giới, "Bất Khả
Tư Nghị."
Phật
và Bồ Tát đã Giác ngộ rồi thì thông đạt Thực Tướng
của vạn hữu, tức là Tướng Không. Tướng Không của núi
Tu di và Tướng Không của hột cải đều đồng một thể;
đó là "vạn vật đồng nhất thể". Thí dụ, hình ảnh trong
vòng tròn nhỏ với bán kính 1 mm ta vạch trên màn ảnh computer
và ta phóng đại nó thành vòng lớn lên 1 dm, rồi ta thâu vào
và giảm thiểu hình ảnh núi Tu di vừa trong vòng tròn đó.
Ta dùng kỷ thuật điện toán để thiết kế hình ảnh sự
vật theo ý muốn. Ở đây, Phật và Bồ Tát đã trực nhận
Thực Tướng hay Tánh Không của sự vật, đã giải thoát khỏi
sự ràng buộc của nhân duyên và vượt khỏi mọi hiện tượng
và Sự Sự Vô Ngại, Chơn Không Diệu Hữu, đó là Bất Khả
Tư Nghị.
Trong
pháp giải thoát 'Bất Khả Tư Nghị', Phật và Bồ Tát đứng
ngoài sự chi phối của thời gian nên có đủ năng lực kéo
dài hay rút ngắn thời gian theo ý muốn. Như Bồ Tát có thể
kéo dài 7ngày ra làm một kiếp để cho chúng sanh kia gọi là
một kiếp, hoặc Bồ Tát thâu ngắn một kiếp làm bảy ngày
để cho chúng sanh kia gọi là bảy ngày. Thí dụ như chiếu
một cuốn phim của một vụ lúa mùa từ khi làm đất cày
bừa chọn giống lúa, gieo mạ, mạ lên cao, cấy lúa, đến
khi lúa chín, tới mùa gặt lúa, hoạt động của nông phu thu
hoạch lúa v.v..., cả một mùa lúa như vậy hơn ba tháng, chỉ
thu hình lại và chiếu ra chỉ ba tiếng đồng hồ mà thôi.
Còn như một hình ảnh quang cảnh một người sắp chết tại
nhà thương diễn ra chừng 30 phút trước khi chết, ta có thể
thâu hình và quay lại thời gian dài hơn gấp mấy lần; có
thể năm sau chiếu lại cũng còn thấy cảnh ấy. Thật là
tuyệt diệu khi ta có kỷ thuật khoa học để biến đổi sự
vật, một đối tượng vật chát thành dụng cụ (phương tiện)
để phát huy sự sống của mình ở trong Không gian và Thời
gian, nhưng chỉ ở bình diện hiện tượng mà thôi. Hiện tương
vật chất thì vô thường do Thời Không chi phối; luật sanh
diệt đối với vạn hữu, và sanh tử đối với con người
không thể tránh được. Riêng đối Phật và Bồ Tát đã vượt
khỏi Thời Không nên chi phối được Thời Không có nghĩa
là có thể vượt khỏi ràng buộc của luật sanh diệt. Sự
biến hóa, thần thông là điều Bất Khả Tư Nghị của Chư
Phật và Bồ Tát trong thế giới Giác ngộ, Niết bàn. Thường
hằng. Cũng như chúng ta phát minh kỷ thuật khoa học tuyệt
diệu trong thế giới hiện tượng vô thường.
Nghĩa
'Bất Khả Tư Nghị' có thể diễn dịch như sau:
- Nghĩa
đen là Không Thể Nghĩ Bàn. Hiểu theo thường tình là Pháp
Phật không thể nghĩ bàn được vì nó quá sức tư duy của
con người, không thể tưởng tượng được! Nếu xét về
chân lý tuyệt đối, thì pháp 'Không Thể Nghĩ Bàn' nầy là
pháp diệt đoạn tư tưởng vẫn vơ, những suy tư vô ích hay
là hý luận, mà phải thể hiện Giác Trí Tuệ.
D).-
CÁC LOẠI TRÍ
1-
Trí Phân Tích
Qua
không gian, nhìn từ trí phân tích, sự vật hay hiện tượng,
hay thực tại kiến lập chỉ là quả của những chủng tử
sinh ra, hoặc giả dùng thực nghiệm (thí nghiệm) bằng kỷ
thuật khoa học, hoặc do suy luận mà phân tích các thành phần
kết hợp thành sự vật hay hiện tượng. Như nước, phân
tích thành ra Hydrô và Oxy, cái bàn thì do cây, đinh, sơn...hợp
thành.
Dùng
Trí phân tích phải trải qua nhiều giai đoạn suy luận, qua
phân tích, qua thí nghiệm, hoặc qua tưởng tượng mà nhận
diện được sự vật là không có thực thể mà do các thành
phần khác tạo ra nó. Kỳ thực, trên mặt lý thuyết ta thấy
cái bàn, nước ngay trước mặt thì cái gì không thật là
chúng nó?Ta chỉ tưởng tượng rằng cái bàn, nước chỉ là
giả lập vì dựa trên sự phân tích thì đúng như thế. Phân
tích sự vật là tiến trình trở về quá khứ của chủ khách.
Thời gian bất khả đắc.
2-
Trí Phân Biệt
Cái
nhìn từ Trí Phân Biệt qua Thời tính, ta thấy ngay và rõ ràng
tính chất của sự vật.
Thí
dụ: Ở T1 (thời gian) ta thấy ông A1, Ở T2 ta thấy ông A2
không phải là A1 nữa.
Nếu
ta nhìn ông A từ thời điểm T1 đến T2 thì ông A đã biến
đổi theo thời điểm (T2 - T1) ; ông A đã thêm (T2-T1) tuổi
rồi.
Vậy
ông A2 không thật là A1, và A3 không thật là ông A 2, cứ như
thế tiệm tiến thành ra huyển hoá sự vật theo thời gian.
Dùng
Trí Phân Biệt thì nhìn hấy sự vật chỉ là thực tại giả
lập, huyển hóa hay tướng hoa đốm theo thời gian mà thôi.
Đó là lịch trình huyển hóa sự vật qua Trí Phân Biệt. Phân
biệt dữ kiện ở tương lai là thấy tướng giả lập của
nó mà thôi, cũng là quá trình tri nhận của chủ khách. Thời
gian bất khả đắc.
3.-
Trí Vô Phân Biệt
(Trí
Vô Phân Biệt hay Vô Thời Không): Vượt qua chủ khách, Tánh
Giác (Hư không) hay Tâm trực nhận thể không của sự vật.
Tánh không của Tánh Giác thể nhập hay đồng nhứt với thể
không của sự vật, mà không qua tiền ngũ căn.
Nhìn
một vật trong không gian, thật ra nhìn ảnh của nó ở nhãn
căn, tức là thấy hiện tượng giả lập, vì phân biệt được
ý thức (biết) vật đó qua cảm quan (chủ tri). Cái biết của
cảm quan thì còn sai lầm, vì nhận hình ảnh của sự vật
cho là sự vật. Còn như dùng Tâm trực giác (không do cảm
quan) mà thể nhận ngay tánh không hay thể không của sự vật
chiếm cứ không gian --- thì tánh không của (Tâm) trực giác
và tánh không của vật là đồng một thể, thì có gì phân
biệt nữa. Lúc đó Tánh không (Hư không) là thiệt tánh giác
vì thiệt tánh giác là Hư không.Sở dĩ nói Thiệt Hư không
là nói đến đồng thể của Tướng không của sự vật. Thể
không của Trực giác, Tánh giác hay Chơn tâm hay sự vật đều
thật là Hư không. Còn thể không của hình ảnh của sự vật
trong võng mạc mà ta thấy là không thật là ảo ảnh. Cho nên
Phật đã nói, Tánh Giác là Thiệt Hư không và Hư không là
Thiệt Tánh giác là ý đó. Đó là Tánh Toàn Giác vì Tánh Giác
có nhiều bực như Tánh Giác từng phần... Tánh Giác toàn diện
là Tự Tính Tuyệt Đối của Tâm, là Chơn Trí hay Chơn Tâm
vậy.
E.-
TRUYỆN NÀNG BHADDA
(Trích
trong tập Truyện Cổ Phật Giáo do N.H. Lộc chép)
Câu
truyện nầy rất hay có tình có lý, diễn tả đầy đủ từ
Lý Duyên Khởi, Thực Tại Giả Lập hay Giả Danh đến Thực
Tại Tuyệt Đối, một triết lý cốt lõi của Phật Pháp về
phủ định tính của vùng trời Sở Tri để nắm bắt Thực
tướng của vạn hữu. Đó là Trung Đạo hay Tự Tính Tuyệt
Đối tức là Chân Lý Nhất Nguyên, Tối Hậu.
Thuở
xưa, tại Vương Xá Thành có cô con gái, con quan đại thần,
nàng mang sắc đẹp lộng lẫy, thông minh và kiêu hảnh. Đến
tuổi gieo cầu, không có vị vương tôn công tử nào lọt vào
cặp mắt xanh của nàng. Vã chăng, con tạo vốn trớ trêu,
nàng lại si tình một chàng trai vũ phu, có học nhưng lại
là tên cướp khét tiếng, can tội tử hình, không có ai giúp
đở cho nàng trước mối tình vô vọng ấy. Thế là Bhadda,
tên nàng, nằm lăn trên giường bệnh.
Thương
con, vị quan đại thần lo lắng chạy chữa thuốc thang nhưng
thảy đều vô hiệu.
---
Cha ôi! Nàng nói thều thào --- Buổi sáng con tim nó nói gì
với cha?
---
Nó nói rằng, nó xót xa lắm con ơi!
---
Cha ôi! Buổi tối con tim nó nói gì với cha?
---
Nó nói rằng con ơi! Con đau thì nó cũng đau.
Yên
lặng giây lát, một hạt lệ rỉ ra từ đôi mắt uyên ương,
nàng thì thầm: Cha ôi! Con tim con cũng đau buổi sáng, buổi
tối và cả ban đêm nữa. Thì ích gì những thuốc thang hở
cha?
---
Phải rồi, ích gì những thuốc thang này khi con tim nó đau!
Nhưng mà nó nói gì hả con?
Nàng
Bhadda với nhập đề như vậy, với chuyển đề như vậy,
rồi đưa vị cha già nua vào một chiếc thòng lọng:
---
Nó có tâm sự riêng của nó chứ, phải vậy không hả cha?
---
Phải lắm, nó có tâm sự của nó mà!
---
Vậy thì cha ôi! Nàng khóc lớn--- khi mà chiếc đao tử thần
rơi xuống đầu Satthuka, tên cướp, thì trái tim con vĩnh viễn
bị tử thương không bao giờ lành nữa!
Vị
quan già nua thoát hiểu, đứng bật dậy, những sợi tóc dựng
ngược trên đầu.
---
Con nói sao? Satthuka ư? Tên đại tướng cướp ấy? Và tim con...?
---
Phải! nàng Bhadda cứng cỏi đáp: Cha ôi! Sự sống của chàng
chính là sự sống của con. Cha phải cứu chàng. Đôi mắt
của vị quan đại thần đại diện như mê sảng giây lát,
nhưng vì thương con, trái tim ông xót xa rung động.
---
Nhưng mà con ơi! Sáng mai y lên máy chém rồi, ta làm sao cứu
được?
Cô
gái thấy cha mềm lòng, bèn ngồi dậy, đôi mắt xanh tươi
cười, khẻ ôm chiếc đàu bạc phếu của cha.
---
Cha yêu quý! Tiền bạc bước lọt dễ dàng vào các cửa đóng
kín. Nó làm hữu lý những cái gì phi lý, nó là vị quan tòa
vạn năng, tha tội tử hình dẫu đã bị tuyên án. Thương
con, cứu con, cha chỉ quẳng cho quỷ ăn một chút xíu linh hồn
thôi mà! Vị đại thần rưng giọt lệ, tự nghĩ: Dẫu có
mất môt nửa linh hồn để đánh đổi sự sống cho con thì
cũng nên lắm, huống hồ là một chút xíu thôi.
Sau
đó, ông lấy tiền bạc đút lót cho quan ngục, và lính áp
giải, tên cướp Satthuka được thả ra môt cách dễ dàng.
Bhadda
trang điểm rực rở chói ngời bằng bảy loại ngọc nụ cười
dịu hiền như đóa hoa nở trong cuộc gặp gở lần đầu với
Satthuka. Tên cướp như mê đi, nhưng bảy loại ngọc trang điểm
trên người nàng Bhadda lại càng làm cho y mê hơn. Đôi mắt
của Satthuka không rời đi đâu được nữa. Một mưu kế thâm
hiểm đã đến với hắn. Y nói:
---
Bhadda nàng hởi! Vinh quang thay là những hạnh phúc bất ngờ
nầy. Số mệnh của anh từ nay do em an bày. Em là Thượng Đế
chí tôn của anh. Nhưng trước khi chung hưởng hạnh phúc, em
hãy hứa khả cho anh được thỏa một ước nguyện chưa tròn.
---
Hãy nói đi! Satthuka! Con sư tử lông vàng của em. Bhadda hởi
lòng dạ, trái tim nàng như nở ra trong nụ hoa màu hồng thắm.
Satthuka là tên cướp vũ phu nhưng có học, y hiểu tất cả
những điều ấy bèn nói xa xôi:
---
Mỗi người có quyền có một tín ngưỡng, hay có quyền không
có một tín ngưỡng nào phải thế không, nàng Bhadda trí tuệ?
---
Phải rồi Satthuka?
---
Như vậy mỗi người vốn có một vùng đất thánh ở bên
trong tâm hồn hay ở ngoài tâm hồn. Cái đó là tự do thiêng
liêng chứ, phải không Bhadda--- con mèo diễm lệ của anh!
---
Chí lý thay! Satthuka.
---
Cho nên dẫu là một tên cướp, nhưng cũng có một vùng đất
thánh thiêng liêng để tôn sùng và ngưỡng mộ. Vùng đất
ấy ở phía tây Vương Xá Thành, mọi người thường gọi
là Hòn núi của kẻ trộm, nhưng đây là nơi tôn thờ vị
tổ sư của các anh, vị tổ sư đạo tặc.
---
Và sao nữa Satthuka?
---
Trước khi bị bắt, anh có phát thệ như sau, kính lạy vị
tổ sư chí thiêng chí kính! Con đang lâm nạn, Ngài hãy cứu
con, Ngài hãy dùng mọi oai lực làm cho con thoát khỏi tử hình,
con sẽ đến lễ tạ Ngài 100 con cừu, 100 dê, cùng vàng bạc
10 mâm, Bhadda yêu quý! Nếu thương anh, nếu muốn cùng anh chung
hưởng hạnh phúc, em hãy giúp anh thỏa nguyện lời hứa thiêng
liêng ấy!
---
Hãy thực hiện đi, Satthuka, lời hứa của anh chính là lời
hứa của em. Vàng bạc không phải là hạnh phúc. Cái mà vàng
bạc đánh đổi mới là hạnh phúc.
Sau
khi triết lý ba hoa như vậy chàng cùng nàng mang lễ vật lên
đường. Đến chân Hòn núi của kẻ trộm, Satthuka cho tôi
tớ trở về, chỉ có chàng và nàng leo lên đỉnh núi cao.
Suốt cuộc hành trình Satthuka chẳng có một lời thân ái với
nàng. Đôi mắt của Satthuka như dán chặt vào bảy loại ngọc
mà nàng trang điểm trên người. Cho dầu nàng mệt lã hoặc
vấp té mà Satthuka vẫn không nhìn thấy huống hồ là một
lời vỗ về an ủi. Một thoáng nghi ngờ khởi lên, Bhadda hỏi:
---
Satthuka, tại sao chàng lại cho chúng về? Vậy ai là người
giữ cừu dê và vàng bạc?
Satthuka
lầm lì không nói. Nàng đâu có hiểu rằng thủ hạ của y
đã làm việc ấy. Đến đỉnh, sát môt bờ vực Satthuka quay
lại:
---
Bhadda hãy cởi áo ra!
Vị
tiểu thơ con quan đại thần mặt tái ngắt, nói không ra lời:
---
Satthuka! Anh...Anh định làm gì?
---
Làm gì nữa! Người ngọc tuy quý, nhưng không quý bằng bảy
loại ngọc mà người ngọc đang mang trên người. Đừng hỏi
nữa! Hãy cởi áo ra và gói tất cả đồ trang điểm ấy lại.
Đến
đây thì Bhadda không còn lý do gì mà không hiểu, nhưng nàng
cũng hỏi:
---
Satthuka, em có lỗi gì với chàng? Phải chăng yêu chàng là
một cái tội hở Satthuka? Bảy loại ngọc nầy...
---
Nàng tưởng ta mang bảy loại ngọc đó là để cúng dường
vị tổ cướp thiêng liêng ở núi nầy chăng? Thông minh như
nàng mà cũng có lúc ngu si mù quáng vậy thay; vị tổ sư tướng
cướp thiêng liêng ấy chính là ta đây Ha, ha, ha...
Bhadda
với tình yêu chết ngắt trong lòng: Sự thông minh bừng sáng
nơi nàng như mặt trời vừa ra khỏi hang thẳm tối tâm. Trấn
tỉnh phi thường, nàng nói:
---
Vậy thì Satthuka chàng hởi! Bảy loại ngọc nầy phần nào
của chàng và phần nào của em?
---
Của ta hết.
Bhadda
giả vờ nhìn Satthuka một cách đấm đuối ngây dại, rồi
thở dài nói:
---
Vậy thì chàng hởi! Dẫu thế nào em cũng yêu chàng cho đến
chết. Trước khi vĩnh biệt anh hãy cho em thỏa một ước nguyện
cuối cùng.
---
Hãy nói đi--- Tên cướp bực bội nói lớn: Hãy nói đi cô
gái si tình ngu ngốc kia. Nói rồi chết.
Bhadda
cất giọng thản nhiên:
---
Chàng hãy cho phép em hôn chàng với nguyên vẹn bảy loại ngọc
trang điểm trên người.
Satthuka
cười nhạt:
---
Thôi nhanh đi!
Thế
là nàng thực hiện được mưu kế. Nàng ôm hôn Satthuka dẫu
như ôm cục đá cũng phải tỏ ra dịu dàng âu yếm. Nàng hôn
mắt, hôn má, rồi lần lượt hôn đến tai đến gáy, phía
sau lưng. Dù là tên tướng cướp đã mất hết nhân tính,
nhưng sự vuốt ve vòng tay thơm hương của người ngọc, cũng
làm cho y ngây ngất. Lợi dụng cơ hội hiếm có ấy, Bhadda
dùng hết sức bình sanh đẩy tên cướp xuống vực thẳm trước
mặt. Satthuka biết ra thì đã muộn rồi. Thân thể to lớn
của y băng băng rơi xuống và đập đầu vào đá, cây vọng
lên như tiếng núi và một hồi chẳng còn tăm hướng rồi
đời một tên cướp.
Một
vị thiên trên núi chứng kiến từ đầu đến cuối câu chuyện,
cảm thán thốt lên bài kệ:
Mưu
kế tự mưu kế
Kẻ
ác phải đền tội
Nhân
quả lạnh lùng thay,
Biết
chăng thế gian hởi!
Nàng
Bhadda thấy lòng mình nguội lạnh như đóng tro tàn. Nàng ngõ:
Vô vọng, dối trá, và rỗng không thay là lòng người--- là
tình yêu! Trái đắng và mật đen đã quyện lên đầu lưỡi
ta. Đời người vui ít, khổ nhiều. Từ rày, ta không còn mặt
mũi nào trở lại gia đình nữa.
Từ
núi cao, quên bẳng ngoại giới, nàng chìm trong tư duy suốt
mấy ngày đêm. Từ núi cao, cuộc phản tĩnh kỳ lạ đã chuyễn
hướng cuộc đời nàng. Bình minh hôm kia, nàng đứng bật
dậy như loài mãnh sư sau giấc ngủ ngàn năm, nàng quăng bỏ
y trang ngọc ngà châu báu, khoác manh áo vải tầm thường tìm
thầy học đạo.
Đầu
tiên nàng đến một nhóm khổ hạnh phái Ni Kiền Tử
---
Hãy cho tôi xuất gia!
Chúng
tò mò nhìn co gái trẻ tuổi dáng dấp tiểu thư khuê các một
hồi rồi nói:
---
Phép tu khó lắm, nữ nhân tay yếu chân mềm như nàng làm sao
kham nỗi cuộc đời gió mưa khổ ải?
---
Tôi kham nhẫn được.
---
Đến mức độ nào?
---
Vào hạng tối thượng!
Nhóm
khổ hạnh sư thấy vẻ mặt đanh rắn, ẩn tiềm một nghị
lực sắt thép của nàng, bèn chấp thuận. Vì nàng xuất gia
vào hàng tối thượng nên chúng đã nhổ từng sợi tóc của
nàng thay vì cạo bằng nứa.
Y áo
rách rưới, mặt mày chân tay đầy máu me và bùn đất ; nàng
bắt đầu học hỏi giáo lý và thực hành Con đường thoát
khổ với ý chí tối thượng. Tuy thế, một thời gian sau không
còn học hỏi gì ở đây được nữa, các bậc thầy của
chúng bất lực và bối rối trước những câu hỏi của nàng.
---
Chẳng có gì đặc biệt - nàng nghĩ. Cái mớ giáo lý lẫn
thực hành nầy chỉ đưa đến rỗng không và hạ liệt, nó
không rành rẽ cho kẻ trí, nó chỉ rành cho kẻ ngu.
Từ
đây nàng Bhadda lang thang từ xứ nầy đến xứ khác để tìm
kiếm, tham vấn các bậc minh sư. Nàng xuất hiện trước họ
như những gì sâu sắc của trí tuệ, nói thẳng vào những
tối tăm và ngu dốt của giới Bà La Môn truyền thống và
kinh viện. Không ai tranh luận nỗi với nàng. Có những đống
cát được nàng vun lên rồi cắm ở đây một nhánh diêm phù
đề (nhành dương liễu) trên lối vào các thành. Đấy là
dấu hiệu thách thức khiêu chiến, luận tranh của nàng đối
với thiên hạ đạo học.
Suốt
một tuần như thế, nhánh diêm phù đề vẫn sừng sững ngạo
mạn. Chẳng có vị giáo chủ minh sư nào dám nhổ lên để
chấp nhận cuộc luận chiến nầy.
---
Ở đây không có người - nàng nghĩ "Ôi! Thiên hạ mênh mông
nhưng đâu là bậc thầy tối thượng, soi sáng con đường
thoát khổ cho ta?"
Thế
rồi, Bhadda lại nhổ lên...đi phương khác, trên lối đi vào
thị trấn, làng mạc, xứ nầy, xứ kia, nhánh diêm phù đề
của nàng vẫn nghiễm nhiên bất khả xâm phạm.
Đã
ngày tháng tuyết sương mòn mỏi, hôm kia nàng đã du hành Xá
Vệ. Đức Thế Tôn lúc đó đang thuyết giảng tại tịnh xá
Kỳ Hoàn, chúng đệ tử vây quanh. Buổi sáng tôn giả Xá Lợi
Phất đắp y mang bát đi vào cổng thành. Thấy nhánh diêm phù
đề trên đóng cát trên cao, Ngài dừng chân lại.
---
Của ai thế? Ngài hỏi một người.
---
Của nàng Bhadda, một khổ hạnh Ta Bà Ni Sư tối thượng. -
Người ta trả lời.
Tôn
giả đa mắt tìm kiếm, không bao xa dưới cội cây một Ta
Bà nữ đang ngồi kiết già, với gậy với bát bên chân, dung
sắc phi phàm, cao ngạo lạnh lùng.
Có
xứng đáng cho ta nhổ nhánh cây để tranh luận chăng? Ngài
Xá Lợi Phất thầm nghĩ- Nhưng mà dược gì? Ích lợi gì?
Giáo lý tối thượng nầy không phải để luận chiến, đấu
khẩu hơn thua tại các ngã ba đường, nơi chợ búa, nơi đám
đông. Giáo lý nầy, giáo lý vô dục, tịch tịnh chỉ để
dành cho nhân duyên, kẻ có tai, mắt và trí tuệ. Nghĩ xong,
tôn giả bước đi. Những kẻ hiếu sự xung quanh la lên:
---
Đệ tử ông Thích Ca Đại Sa Môn thua rồi!
---
Ta Bà Ni Sư khổ hạnh nghiễm nhiên vô địch
Vẫn
không quay lại, Tôn giả Xá Lợi Phất cất giọng điềm đạm
với đám đông: Chưa có ai dám đánh bại ta về tư tưởng,
kiến thức, trí tuệ...lẫn sở chứng... cho dẫu là các bậc
minh sư, giáo chủ...cho dẫu là vua quan, chư thiên, Phạm thiên...huống
hồ Ta bà Ni nầy. Trên trời dưới đất, duy nhất chỉ có
Đức Tôn Sư của ta là bực thầy ưu việt và tối thắng.
nhưng thật rỗng không và vô vị là những cuộc tranh luận,
khẩu tranh, được danh và mất danh nầy chỉ tự ta biết là
ta thắng hay bại mà thôi.
Tôn
giả dươn chân bước đi, nhưng Ngài phải dừng lại. Nàng
Bhadda đã để ý đến vị Sa Môn trẻ tuổi từ khi Ngài xuất
hiện. Nàng nghĩ: Chẳng có ai mang vẻ đẹp khác phàm và thanh
thoát đến thế! Chàng Sa Môn trẻ tuổi nầy đã làm cho ta
bị nhiếp phục bởi dung mạo, dáng đi, cử chỉ. Lại càng
bị nhiếp phục hơn bởi thái độ và ngôn ngữ. Vậy thì
người nầy, đấng nầy phải có một trí tuệ phi thường?
---
Đứng lại, ông Sa Môn! Nàng nói-Nếu ông không tự ý nhổ
nhánh diêm phù đề luận chiến thì tự ta thách thức một
cuộc luận chiến vậy.
---
Để làm gì hởi Ta Bà Ni Sư?
Bhadda
cất giọng như tiếng vua loài chim giữa núi cao:
---
Này chàng Sa Môn đáng kính trọng, ta khao khát tri thức và
hiểu biết, lại càng khao khát hơn là những tri thức và hiểu
biết dẫn đến tịch lặng và chân phúc. Nhưng đã mòn trán,
ta bà khắp thế gian, chưa ai cho ta một câu trả lời đúng
đắn, hoàn hảo, chỉ là những tri thức phù phiếm rỗng không
dẫn đến ngu độn và hạ liệt. Ở nơi tôn giả, ta thấy
toát ra cái gì khác thế, biết đâu đó là hào quang trí tuệ
thượng đẳng? Ta cần biết, vậy hãy luận tranh cùng ta,
Tôn
giả Xá Lợi Phất tự nghĩ: Nghe nói rằng tri thức cùng lý
luận của nàng như lưỡi dao sắc nhọn đi đến xứ nầy
xứ khác như chỗ không người. Đức Thế Tôn đã giáng thế,
khi mặt trời vừa lên, không còn ai mà cầm đèn đi giữa
ban ngày. Vậy hãy nhiếp phục nàng. Đặt nàng vào chánh đạo.
Đặt nàng vào quy giới. Đấy cũng là lợi ích cho nàng, tăng
trưởng đức tin cho tứ chúng và thắp lên ngọn đuốc trí
tuệ của giáo pháp thù thắng vô địch.
Thế
là tôn giả Xá Lợi Phất cho nhổ nhánh diêm phù đề, bá
cáo một cuộc tranh luận sẽ khởi vào buổi chiều.
Nàng
Bhadda nghĩ rằng cuộc luận chiến sẽ không mang lại khết
quả nếu như không có sự tham dự đông đủ của Sa Môn,
Bà La Môn, các tầng lớp gia chủ, trưởng giả cùng quần
chúng hâm mộ. Vã chăng đại danh đệ tử trưởng của Phật
cùng với lời đồn đãi về Ta Bà Ni Sư khổ hạnh đủ để
tạo một cơn lốc hiếu kỳ rầm rộ.
Với
đại y ngang vai, tôn giả Xá Lợi Phất xuất hiện giữa đám
đông như ngôi sao rực rỡ, vàng chói, khuôn mặt bình an, tự
tin đến độ làm cho nàng Bhadda phải rung động.
Lần
đầu tiên nàng cảm thấy sợ hãi trước một đối thủ trẻ
tuổi. Tuy thế nàng đã trấn tĩnh kịp thời, lấy lại bản
lảnh để đi vào cuộc tranh luận có mộtkhông hai nầy.
---
Thưa tôn giả, nàng nói --- Trước tiên tôi xin được hỏi
cuộc tranh luận nầy lập ngôn ở đâu? Lập ý ở đâu? Lập
nghĩa ở đâu? Xin Ngài cho biết?
Chỉ
một câu hỏi mở đầu, đám đông quần chúng đã nín thở,
hồi hợp. Chỉ một câu hỏi người ta đã tiên liệu cuộc
đụng độ sẽ hào hứng cho tri thức và luận lý dường bao.
Chàng Sa Môn kia quá trẻ tuổi, quá non nớt, sợ rằng chỉ
một câu nầy thôi chàng sẽ xin rút lui, đầu hàng vô điều
kiện.
Nhưng
kìa. Khuôn mặt vị Sa Môn vẫn bình an tự tại và dường
như trên môi có thoáng nụ cười.
---
Này Ni Sư khổ hạnh -Tôn giả Xá Lợi Phất chậm rãi đáp---
Bần đạo xin được trả lời.
---
Ngôn lập tại ý, ý lập tại nghĩa, nghĩa lập tại ngôn.
Nó tương quan, lập, duyên khởi lập. Cái nầy sanh thì cái
kia sanh, cái nầy diệt, thì cái kia diệt, thưa bà.
Ồ!
Mọi người chợt reo lên một tiếng thoải mái, bởi câu hỏi
dường như kiêu kỳ, tối tăm, khó hiểu. Câu trả lời không
những chính xác mà làm cho câu hỏi trở nên sáng nghĩa hơn.
Nàng Bhadda giật thót mình, nàng không thấy một khe hở nào,
dầu chỉ bằng sợi tóc để đả phá nó. Tuy thế, sẽ tung
ra những câu hỏi hóc búa, không có đường mà đón đở,
nàng nghĩ:
---
Tôn giả đã đáp rất tuyệt vời--- nàng nói--- Vậy giờ
xin được hỏi:
---
Tôi đang hân hạnh nói chuyện với ai đây? Đó là câu hỏi
thứ hai.
---
Câu hỏi này đáng lý bần đạo không trả lời--- Ngài Xá
Lợi Phất nói--- vì nó thuộc lý luận, phù phiếm luận, không
đưa đến yếm ly giác ngộ thắng trí, niết bàn. Nhưng Ta
Bà Ni Sư đã hỏi, bần đạo sẽ trả lời cho tuyệt bặt
mọi tư duy tương tự, làm cho rỗng không mọi tri thức xa
rời mục đích thực tế của Sa Môn hạnh. Mọi câu hỏi đi
sau cũng thế. Nàng Bhadda! Bây giờ bần đạo xin được vào
câu trả lời. Người ta gọi bần đạo là Xá Lợi Phất!
Hãy nghe cho kỹ đây! Giáo pháp của đức Thế Tôn soi rọi
cái rỗng không của các pháp, dẫu tâm hay vật, làm cho vô
tự tính mọi thực tại tính, làm cho vô ngã tính mọi hữu
tồn dẫu là Atman, Brahman hay đại ngã. Hãy nghe cho kỹ đây!
Giáo
lý ấy không trườn uốn như con lươn, không chẻ sợi tóc
làm tư, không sợ kẹt trên ngôn ngữ rằng đây là thường
kia là đoạn, giáo lý ấy dành cho người tu chứng, kẻ có
trí nghe ắt hiểu. Hãy nghe cho kỹ đây! Không những là Xá
Lợi Phất, cái tên gọi giả danh nhằm chỉ vào cái thực.
Nhưng mọi cái thực ấy, dẫu là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành,
Thức phải được nhìn cho rõ ràng bằng trí tuệ như thực,
như chơn là nó không phải ta, không phải là ta, không phải
của ta, không phải tự ngã của ta. Này nàng Bhadda! Câu hỏi
của nàng thuộc lý luận rỗng không phù phiếm, câu trả lời
của bần đạo đã đặt chúng trên thực tế, chánh đạo,
hãy nghe và hãy thọ trì.
---
Chưa ai dám tự tin như thế Nàng Bhadda thầm nghĩ. Người nầy
đã có sẵn những cái kết luận ở đâu đó, như từ một
kho tàng, bây giờ chỉ việc đưa ra, không cần dựa theo một
suy luận nào đó của sở tri. Tuy thế mọi khe hở đều được
bịt kín. Y có tu chứng của mình. Vậy thì ta sẽ hỏi ngay
nơi cái thực ấy.
---
Này ông Sa Môn! Câu trả lời của ông chẳng phải xa lạ gì.
Ta đã từng nghe những con vẹt cũng đã hót lên như thế,
chỉ có điều ông tự tin và vững chãi hơn, do ông có cái
thực ở nơi sự tu chứng của mình.Hãy nghe đây! Bây giờ
ta sẽ hỏi ngay chính nơi cái thực ấy. Hy vọng rằng ông
không trườn uốn như kiểu là không phải ta, không phải của
ta. Hy vọng rằng ông trả lời khác, giản dị và uyên áo
hơn. Hãy nghe đây! Đây là câu hỏi thứ ba. Cái thực ấy
còn bị định luật nhân quả chi phối hay không, còn bị định
luật nhân quả chi phối? Hãy trả lời ngay đi. Hãy trả lời
mà đừng hủy hoại ngôn ngữ, như dao chém nước.
---
Này nàng Bhadda!--- Tôn giả Xá lợi Phất vẫn kiên định như
phong thái của con mảnh sư--- chẳng cần phải lớn lối như
thế. Hãy nghe đây, nếu cái thực ấy mà còn định luật
nhân quả chi phối thì cái thực ấy chỉ là khổ đau, nhiệt
não, tử sanh. Nếu cái thực ấy không còn bị định luật
nhân quả chi phối thì đồng nghĩa với hư vô, cái không thực
hữu, cái vô tự tính, cái ngoang không niết bàn.
Này
nàng Bhadda, hãy nghe đây! Đây là cái dao chém nước như nàng
muốn. Cái thực ấy là cái sáng suốt, mặt trời đại huệ.
Cái thấy từ tâm, trí, tư tưởng trí mà có, từ tuệ, tuệ
minh, cái tuệ minh ấy nó có trong tâm của bậc giác ngộ,
bậc A La Hán, kẻ đã đoạn tận lậu, hoặc giải thoát khổ
đau và phiền não ; này nàng Bhadda cứ như thế mà thọ trì!
---
Chưa thể thọ trì được--- Ta Bà Ni chợt hét lên như con
thú bị tử thương--- Ta chưa chấp nhận điều ấy, hởi ông
Sa Môn đại ngôn kia. Hãy nghe đây! Đây không phải là câu
hỏi thứ tư mà đây chỉ là phản vấn. Ông nói rằng có
một cáituệ minh, xin lỗi tôi có lầm chăng, một cái tuệ
minh? Văy thì giáo lý vô ngã, vô tự tính của Đức Tôn Sư
của ông sẽ không còn chỗ đứng, bất khả lập, bất khả
thuyết, và nó đã mâu thuẫn tự tiền căn? Vậy phải trả
lời làm sao cho kẻ học nữ Ta Bà khổ hạnh nầy: một giáo
thuyết thường kiến vậy kia?
---
Hãy bình tĩnh! Hãy bình tĩnh! Này nàng Bhadda đừng tự buộc
vào mình những thằng thúc! Đừng tự bịt mắt trước ngọn
đèn sáng suốt tự tâm. Hãy nghe đây! Cho bần đạo hỏi một
câu, với một câu thôi nàng sẽ tự giải quyết cho chính
mình. Câu hỏi như thế nầy: Cáng của ngọn đèn trước mắt
nó thường hay nó đoạn.
---
Chẳng phải thường--- Nàng nghĩ--- Thường sao được khi nó
sinh diệt từng giây từng khắc! Chẳng phải đoạn, đoạn
sao được khi nó đang hiện hữu!
Thấy
nàng Bhadda im lặng, tôn giả Xá Lợi Phất tung câu hỏi thứ
hai:
---
Này nàng Bhadda! đây là câu hỏi thứ hai nhằm gợi ý cho nàng
để nàng bước ra khỏi cái lẩn quẩn, loanh quanh của các
luận lý Thường, đoạn, có, không. Đây là câu hỏi:Thuở
nàng 5 tuổi, nàng thấy một bông hoa. Thuở 30 tuổi nàng thấy
một bông hoa. Nàng có thay đổi cái hoa dẫu có khác, quan niệm
đẹp xấu dẫu có khác, nhưng cái thấy của nàng có thay đổi
không?
---
Không thể thay đổi, thưa tôn giả.
---
Nó chẳng phải là thường không?
---
Bất khả thuyết --- Nàng Bhadda buộc miệng trả lời như vậy
rối tự nghĩ: Ta đã tự trói mình, vậy thì hãy vùng vẫy
khi còn vùng vẫy được. Gã Sa Môn nầy đã bủa vây ta bằng
một chiếc lưới quá kiên cố và quá chặt chẻ. Nhưng dễ
gì ta chịu hạ phong.
---
Khá lắm, này ông Sa Môn hãy nghe đây! Ta sẽ chịu dừng với
ông chung một vùng đất. Mặt đối mặt để trổ tài sở
tri Ta tạm thời chấp nhận cái thuyết tụê minh ấy, nhưng
ta muốn hiểu cái sở tri về bậc A La Hán ở nhiều phươngdiện
khác nhau. Vị ấy làm thế nào bước ra khỏi giòng bộc lưu
sanh tử.
---
Bước tới là lăn trôi. Dừng lại là chìm đắm. Bậc A La
Hán không bước tới, không dừng lại, vị ấy ra khỏi giòng
bộc lưu sanh tử! Này nàng Bhadda cái đáp số ấy thậm thâm
vi diệu, vi tế, vượt ngữ ngôn, vượt suy luận, dành cho
kẻ trí, kẻ thâm đại pháp, dành cho kẻ tu chứng. Có lên
đường ai ăn mới biết no, chứ không phải để cho nàng--kẻ
ngoại gio, kẻ đứng ngoài cuộc, kẻ với tri thức thuần
túy--muốn dùng cái hiểu biết nông cạn, cái tự ngã kiêu
căng và đa dục của mình, để nắm bắt cái siêu việt không
thời gian, cái bất tử, cái chân phức, cái niết bàn vô dục
và tịch tịnh. Này nàng Bhadda!
Này
nàng Bhadda! Nàng có kham nhẫn tịch lặng để lắng nghe những
lời như vậy không?
Ta
Bà Ni Sư tức giận đến tím mặt, run lẩy bẩy, những lời
những chữ kia như lưỡi kiếm tàn bạo đục khoét vào tim
cật nàng. Tuy thế, với trấn tĩnh phi thường, nàng mĩm cười:
---
Chớ có nương tay, thưa tôn giả--- Nàng nói--- Tạm thời ta
chấp thuận rằng điều đó là có thực, nhưng điều đó
thuộc vùng đất khác, tư duy khác, quan niệm khác, ta không
biết lấy gì kiểm chứng. Bây giờ tôn giả có dám bước
qua vùng đất của tôi, thuộc giáo lý khác, để đi cho cùng
tận chân trời sở tri?
---
Dám lắm--- Ngài Xá Lợi Phất bình tĩnh trả lời--- Là đệ
tử của Đức Tôn Sư vô năng thắng, ta sẵn sàng luận tranh,
không khoan nhượng bất cứ một giáo pháp nào trong thiên hạ.
im lặng thì im lặng như chánh pháp, nói năng thì nói năng
như chánh pháp. Đây là chân ngôn của các đệ tử Đức Tôn
Sư.
Thế
là nàng Bhadda bắt đầu hỏi, Ngài Xá Lợi Phất tuần tự
trả lời. Đầu tiên nàng mang ra ba tập Phệ Đà, đặt những
câu hỏi thuộc lãnh vực tri thức thuần túy. Từ chương kinh
viện, truyền thống, ngay cả danh nghĩa lễ nghi, giữ nguyên
chú giải ngữ pháp, văn phạm, lịch sử. Người hỏi đã
chứng tỏ một tri thức quãng bác thâm sâu. Người trả lời
lại càng chứng tỏ thông hội vấn đề một cách minh bạch.
Những điều thuận thế luận, đại nhân tướng, chiêm tinh,
thiên văn, địa lý, bùa chú. Ngài Xá Lợi Phất lại càng
chứng tỏ cho nàng Bhadda Thấy rõ sự nghèo nàn, hời hợt
nông cạn, thô thiển của mình.
Ngài
không những hiểu qua danh lý mà còn là nhà bác học về chúng
đến cội nguồn. Hơn nữa điều quan trọng và đáng nói hơn,
Ngài đã quẳng chúng mà đi như quẳng một mớ giẻ rách...Từng
vấn đề, từng vấn đề...từng lúc, từng tế nhị, khó
nắm bắt và khó lãnh hội. Nó đi từ gần đến xa, xa đến
vô tận. Từ vô tận nó trở về và nhỏ lại như vi trần
như mảnh lau vi trần, hư không, tư tưởng tâm niệm, sát na...
Thính
chúng bàng hoàng, ngơ ngẩn nàng Bhadda bàng hoàng ngẩn ngơ.
Nàng không biết hỏi gì nữa. Nàng không còn nhìn thấy một
đốm lửa nào nữa khi mặt trời kia đã chói lọi. Nàng đã
hoàn toàn bị nhiếp phục.
Tôn
giả Xá Lợi Phất với thiên nhản, Tha tâm thông, thấy rõ
tâm địa nàng, đưa ra một câu hỏi kết thúc. Một câu hỏi
vứt bỏ sở tri để dẫn nàng về với giáo lý thiết thực
hiện tại.
---
Bây giờ tới phiên ta hỏi, này nàng Ta Bà Ni Sư khổ hạnh:
Thế nào gọi là Một?
Thời
gian lặng lẻ trôi qua khi câu hỏi được đặt xuống. Quần
chúng nín hơi, nghẹt thở. Vừng trán nàng Bhadda từng hạt
mồ hôi to bằng hạt bắp không ngớt tuôn ra. Mái tóc lún
phún đã bắt đầu điểm bạc. Một triệu kiếp tư duy cũng
không trả lời được câu hỏi tầm thường, giản dị kia.
Chỉ với một câu hỏi mà nàng Bhadda của chúng ta đã già
đi ngàn năm.
---
Này nàng Bhadda! Nàng hỏi ta một câu, mười câu, trăm câu,
ta đã trả lời nàng đầy đủ cả chặng đầu, chăng giữa,
chặng cuối, thế mà ta chỉ hỏi một câu, nàng cũng không
trả lời ta Một là gì? Một là thế nào? Mà nàng cũng không
hiểu, không biết. Thế mà nàng lại đòi biết cho kỳ được
cổ kim thiên hạ sự, đòi hiểu cho hết chuyện trên trời
dưới đất. Kinh như núi, chử như rừng...thế đấy! Là trí
tuệ của người đi cắm nhánh diêm phù đề khắp cả thiên
hạ.
Như
thân cây bị chặt đứt, nàng Bhadda chợt phủ phục xuống
bên chân bậc trí tuệ bậc nhất.
---
Kính lạy tôn giả con chịu thôi, không một câu hỏi nào mà
con dám trả lời nữa. Với một tự ngã kênh kiệu vô tư,
con đã đi đánh trống khắp cửa mọi nhà, để bây giờ biết
rằng đất trời vô lượng. Tôn giả đã kham nhẫn, từ bi
soi sáng cho con, chỉ đường cho con, đem đèn vào trong bóng
tối để ai có mắt có thể nhìn thấy sắc. Cũng vậy, xin
Ngài xá tội cống cao ngả mạn của con, cho con trọn đời
quy ngưỡng.
Nàng
Bhadda phủ phục năm vóc sát đất. Quần chúng reo hò. Chư
thiên hoan hỷ.Ngài Xá Lợi Phất chợt đứng cao 10 tầm thốt
nốt, thò tay đụng mặt trời, mặt trăng, cất giọng phạm
âm với tâm tuyệt hảo:
---
Này hởi Bhadda! mừng thay cho nàng vứt bỏ được sở tri và
tự ngã, mừng thay cho nàng thức tĩnh sau đêm trường mộng,
hé mở con mắt pháp để thấy rõ giáo lý vô dục thực tiển,
thậm thâm, có khả năng làm yên lặng khổ đau, phiền não.
Hãy hướng đến Đức Tôn Sư của ta cùng tăng chúng thánh
hạnh.Bậc cao cả đang ở tại tịnh xá Kỳ Hoàn. Nàng hãy
đến nghe pháp rồi quy y với Ngài.
Sau
đó nàng Bhadda đến kỳ viên đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi
nép một bên phải lẻ. Thấy căn cơ nàng đã thuần thục,
Đức Thế Tôn chỉ nói vắn tắt một kệ:
Dầu
nói ngàn câu kệ,
Nhưng
không chút lợi ích
Tốt
hơn nói một câu
Nghe
xong được tịnh lạc.
Và
tức khắc, ngay sát na ấy, nàng Bhadda đã chứng quả A La Hán
với pháp Tín Thọ, nghĩa là tín thọ.
Đức
Thế Tôn tự thân trao đại giới cho nàng. Nàng Bhadda được
biết là vị tỳ kheo A La Hán im lặng, thiền duyệt và đi
ta bà cả khắp quốc Độ.
Lý
Giải:
Câu
1.
Hỏi:
Cuộc tranh luận nầy lập Ngôn ở đâu? Lập Ý ở dâu? Lập
Nghĩa ở đâu?
Đáp:
Ngôn lập tại Ý, Ý lập tại Nghĩa, Nghĩa lập tại Ngôn.
Nó tương quan lập, duyên khởi lập. Cái nầy sanh thì cái
kia sanh, cái nầy diệt thì cái kia diệt.
* Câu
nầy nói lên lý Duyên Khởi, thực tại do nhân duyên kiến
lập.
Câu
2.
H:
Tôi đang hân hạnh nói chuyện với ai đây?
Đ:
Người ta gọi bần đạo là Xá Lợi Phất. Hãy nghe cho kỹ
đây! Giáo pháp của đức Thế Tôn Sư rọi cái rỗng không
của các pháp, dẫu Tâm hay Vật, làm cho vô tự tính mọi thực
tại tính, làm cho vô ngả tính mọi hữu tồn, dầu là Atman,
Brahman hay Đại Ngả. Hãy nghe đây!
Giáo
lý ấy không trườn uốn như con lươn, không chẻ sợi tóc
ra làm tư, không kẹt trên ngôn từ rắng đây là thường rằng
kia là đoạn, giáo lý ấy dành cho người tu chứng, kẻ có
trí nghe ắt hiểu. Hãy nghe cho kỹ đây! Không những là Xá
Lợi Phất, cái tên gọi giả danh nhằm chỉ vào cái thực,
nhưng mọi cái thực ấy, dẫu là sắc thọ tưởng hành thức
phảỉ đươc nhìn cho rõ ràng bằng trí tuệ như thực, như
chơn, là nó không phải là ta, không phải của ta, không phải
tự ngả của ta. Này nàng Bhadda! Câu hỏi của nàng thuộc
lý luận rỗng không phù phiếm, câu trả lời của bần đạo
đã đặt chúng trên thực tế, chánh đạo, hãy nghe và thọ
trì.
**---
Câu hỏi về Ngã nầy được Ngà Xá Lợi Phất giải nghĩa
rất rõ ràng. Xá Lợi Phất là một thực tại gỉả lập,
ngay trong nó có cái thực. Thực tướng của thân ngũ uẩn
là không.Sắc không khác không....Thể không của thân ngũ uẩn
là thực tướng của nó.
Câu
3.
H:
Này ông Sa Môn! Câu trả lời của ông chẳng phải xa lạ gì.
Ta đã từng nghe những con vẹt cững đã hót lên như thế,
chỉ có điều ông tự tin và vững chãi hơn, do ông có cái
thực ở nơi sự tu chứng của mình. Hãy nghe đây! Bây giờ
ta sẽ hỏi ngay chính nơi cái thực ấy. Hy vọng rằng ông
không trườn uốn như kiểu là không phải ta không phải của
ta! Hy vọng rằng ông trả lời khác, giản dị và uyên áo
hơn. Hãy nghe đây! Cái thực ấy còn định luật nhân quả
chi phối hay không? Còn định luật chi phối? Hãy trả lời
ngay đi. Hãy trả lời đừng hủy hoại ngôn ngữ, như dao chém
nước.
Đ:
Này nàng Bhadda! Nếu cái thực ấy mà còn định luật nhân
quả chi phối thì cái thựcấy chỉ là khổ đau, nhiệt não,
tử sanh. Nếu cái thực ấy không còn định luật nhân quả
chi phối thì đồng nghĩa với hư vô, cái không thực hữu,
cái vô tự tính, cái ngoang không niết bàn.
Này
nàng Bhadda, hãy nghe đây! Đây là cái dao chém nước như nàng
muốn. Cái thực ấy là cái sáng suốt, mặt trời đại huệ.
Cái thấy từ Tâm, Trí, tư tưởng Trí mà có, từ tuệ, tuệ
minh ấy nó có trong tâm của bậc giác ngộ, bậc A La Hán,
kẻ đã đoạn tận lậu, hoặc giải thoát khổ đau và phiền
não, này nàng Bhadda cứ thế mà thọ trì!
***--
Câu nầy Xá Lợi Phất giải minh hai loại thực tại. Thực
tại tương đối là thực tại giả lập hay tùy thuộc như
khổ đau, nhiệt não, sanh tử v.v...đều phải bị định luật
nhân quả chi phối. Còn thực tại tuyệt đối, không sanh không
diệt, tự nó đày đủ, không có gì áp đặt lên nó như hư
không, vô tự tính v.v..., nên nó không bị định luật nhân
quả chi phối. Thực tại tuyệt đối cũng là thiệt tánh giác
(tuệ minh). Cho nên, đối với các bậc giác ngộ, bậc A La
Hán, hoặc những kẻ đã giải thoát khổ đau và phiền não,
hoặc kẻ có trí, thì trong tâm họ có cái sáng suốt, cái
tuệ minh, cái thực tại tuyệt đối, mà cái thực tại tuyệt
đối nầy không bị định luật nhân quả chi phối.
Câu
phản vấn.
---
Ta Bà Ni chợt thét lên như con thú bị tử thương: chưa thể
thọ trì được! Ta chưa chấp nhận điều ấy, ông Sa Môn
đại ngôn kia. Hãy nghe đây! Đây không phải là câu hỏi thứ
tư mà đây chỉ là phản vấn. Ông nói rằng có cái tuệ minh,
xin lỗi tôi có lầm chăng, một cái tuệ minh? Văy thì giáo
lý vô ngả, vô tự tính của đức Thế Tôn Sư của ông sẽ
không còn chỗ đứng, bất khả lập, bất khả thuyết và
nó đã mâu thuẩn từ tiền căn? Vậy phải trả lời làm sao
cho kẻ học nữ Ta Bà khổ hạnh nầy: một giáo lý thường
kiến vậy kia?
---
Hãy bình tĩnh! Hãy bình tĩnh! Này nàng Bhadda đừng tự buộc
mình vào những thằng thúc! Đừng bị bịt mắt trước ngọn
đèn sáng suốt tự tâm. Hãy nghe đây! Cho bần đạo hỏi một
câu, với một câu thôi nàng sẽ tự giải quyết cho chính
mình. Câu hỏi như thế này: Cáng của ngọn đèn trước mắt
nó thường hay đoạn?
---
Chẳng phải thường--- Nàng nghĩ--- Thường sao được khi nó
sinh diệt từng giây từng khắc! Chẳng phải đoạn, đoạn
sao được khi nó đang hiện hữu!
Thấy
nàng Bhadda im lặng, tôn giả Xá Lợi Phất tung câu hỏi thứ
hai:
---
Này nàng Bhadda! Thuở nàng 5 tuổi, nàng thấy một bông hoa.
Thuở nàng 30 tuổi nàng thấy một bông hoa. Nàng có thay đổi
dẫu cái hoa có khác, quan niệm đẹp xấu có khác, nhưng cái
thấy của nàng có thay đổi không?
---
Không thể thay đổi, thưa tôn giả.
---
Nó chẳng phải thường không?
***--
Câu nầy tả tánh thấy và cái bị thấy. Tánh thấy thường
hằng bất biến, đó là năng tri. Cái bị thấy hay đối tượng
là những thực tại giả lập, hay thay đổi, vô thường tức
là cái sở tri.
Câu
4.
H:
Ta muốn hiểu cái sở tri về bậc A La Hán ở nhiều phương
diện khác nhau. Vị ấy làm thế nào bước ra khỏi giòng bộc
lưu sanh tử đang xiết chảy?
Đ:
Bước tới là lăn trôi. Dừng lại là chìm đắm. Bậc A La
Hán không bước tới, không dừng lại, vị ấy ra khỏi giòng
bộc lưu sanh tử! Này nàng Bhadda, cái đáp số ấy thậm thâm
vi diệu, vi tế, vượt ngữ ngôn vượt suy luận, dành cho kẻ
trí, kẻ thâm đại pháp, dành cho kẻ tu chứng. Có lên đường
ai ăn mới biết no, chứ không để cho nàng --- kẻ ngoại giáo,
kẻ đứng ngoài cuộc, kẻ với tri thức thuần túy --- muốn
dùng cái hiểu biết nông cạn, cái tự ngả kiêu căng và đa
dục của mình, để nắm bắt cái siêu việt không thời gian,
cái bất tử, cái chân phúc, cái niết bàn vô dục và tịch
tịnh. Này nàng Bhadda! Nàng có đủ kham nhẫn tịch lặng để
lắng nghe những lời như vậy không?...
****--Câu
thứ tư nầy diễn tả rất thâm diệu về thiệt tánh giác
trong hai giai đoạn, hàng phục vọng tâm và an trụ tâm.
Hỏi:
Làm thế nào ra khỏi giòng bộc lưu sanh tử đang xiết chảy?
Trả
lời: Bước tới là lăn trôi. Dừng lại là chìm đắm ; cho
nên, không bước tới, không dừng lại ra khỏi giòng bộc
lưu sanh tử đang chảy xiết.
*-Bước
tới: tiến về phía trước mặt: tương lai, khoảng không gian
phía trước.
Bước
tới là lăn trôi theo thời gian huyễn hóa, hay lăn trôi theo
trần cảnh giả lập. Bước tới là lăn trôi theo sự vật
huyễn hóa, nhân duyên chằng chịt, sanh tử luân hồi khổ
đau phiền não. Phủ định tương lai (bước tới) và phủ
định quá khứ (dừng lại) là Trung Đạo, là vượt khỏi
Thời Không.
Không
bước tới là giai đoạn đầu của nhận thức đúng đối
tượng giả lập và không chạy theo những ảo tưởng tức
là giải thoát được khổ đau và phiền não (phủ định những
sự vật giả lập).
Không
bước tới là tri thức đúng được thực tại giả lập,
đó là sự hiểu biết suông. Trong giai đoạn nầy chỉ thấy
mọi sự giả vọng là không thật mà tránh nó đi, thì trạng
thái tâm lúc bấy giờ thanh thản, không còn bận bịu, dính
dáng gì đến phiền não khổ đau.Tuy nhiên, tri cũng chưa đủ
mà cần phải hành.Trước tiên, khai mở đường đi đến thế
giới chơn thật, thấy được con đường rồi tức là giai
đoạn khai thị của tri thức. Đến giai đoạn hành, thì phải
ngộ nhập như phải đi thì mới đến, ai ăn mới no. Tri thức
đúng thực tại giả lập và phải thể nhập thực tướng
của thực tại giả lập đó, là hai giai đoạn giác ngộ niết
bàn tuyệt đối. Đó là trực nhận ngay thể không của sự
vật.Sắc không khác không, Đưa tất cả thực tại giả lập
vào thực tại tuyệt đối mà không còn thấy thực tại giả
lập đó nữa.
* Dừng
lại: Chận giòng thời gian phía sau lưng, là quá khứ. Dừng
lại là trụ vào cái thực tại giả lập (quá khứ) mà chìm
đắm trong vọng tưởng triền miên, trong sanh tử luân hồi
của giòng sống đang xiết chảy theo thời gian không ngừng.
Không
dừng lại là không trụ vào quá khứ cũng như không trụ vào
tất cả các chỗ, vào các thực tại giả lập mà phải xa
lìa bốn tướng (Ngả tướng, Nhơn tướng, Chúng sanh tướng,
Thọ giả tướng).
Không
bước tới và không dừng lại là vượt ra khỏi giòng bộc
lưu sanh tử.
Tương
lai hay quá khứ không thể nắm bắt, bất khả đắc. Cho nên
không nghĩ đến tương lai mà lăn trôi theo ảo giác, mà cũng
không hồi tưởng quá khứ hay trụ vào vọng tưởng hoặc
là thực tại giả lập mà phải xa lìa bốn tướng. Vô thời
không là thể trạng của một sát na hiện tiền, một khoảnh
khắc hiện tại, thắp sáng được cái hiện hữu ấy cũng
là khai mở con đường đi đến chân nguyên. Do đó, khi chúng
ta không bước tới là dứt bặt nhân duyên sanh diệt, và không
dừng lại là không trụ vào cái giả lập, thì ngay đó vượt
qua thời không rồi. Ngay lúc nắm bắt được cái vô thời
không là giác ngộ niết bàn tuyệt đối, cũng là lúc ra khỏi
giòng bộc lưu sanh tử đang chảy xiết. Thực vậy, người
có đi ắt có đến, người có ăn ắt có no, chớ tri thức
thuần túy chỉ là hí luận mà thôi.
Tôn
giả Xá Lợi Phất với thiên nhản, Tha tâm thông, thấy rõ
tâm địa nàng, đưa ra một câu hỏi kết thúc. Một câu hỏi
vứt bỏ sở tri để dẫn nàng về với giáo lý thiết thực
hiện tại.
---
Bây giờ tới phiên ta hỏi, này nàng Ta Bà Ni Sư khổ hạnh:
Thế nào gọi là Một?
Thời
gian lặng lẻ trôi qua khi câu hỏi được đặt xuống. Quần
chúng nín hơi, nghẹt thở. Vừng trán nàng Bhadda từng hạt
mồ hôi to bằng hạt bắp không ngớt tuôn ra. Mái tóc lún
phún đã bắt đầu điểm bạc. Một triệu kiếp tư duy cũng
không trả lời được câu hỏi tầm thường, giản dị kia.
Chỉ với một câu hỏi mà nàng Bhadda của chúng ta đã già
đi ngàn năm.
---
Này nàng Bhadda! Nàng hỏi ta một câu, mười câu, trăm câu,
ta đã trả lời nàng đầy đủ cả chặng đầu, chăng giữa,
chặng cuối, thế mà ta chỉ hỏi một câu, nàng cũng không
trả lời ta Một là gì? Một là thế nào? Mà nàng cũng không
hiểu, không biết. Thế mà nàng lại đòi biết cho kỳ được
cổ kim thiên hạ sự, đòi hiểu cho hết chuyện trên trời
dưới đất. Kinh như núi, chử như rừng...thế đấy! Là trí
tuệ của người đi cắm nhánh diêm phù đề khắp cả thiên
hạ.
Như
thân cây bị chặt đứt, nàng Bhadda chợt phủ phục xuống
bên chân bậc trí tuệ bậc nhất.
---
Kính lạy tôn giả con chịu thôi, không một câu hỏi nào mà
con dám trả lời nữa. Với một tự ngã kênh kiệu vô tư,
con đã đi đánh trống khắp cửa mọi nhà, để bây giờ biết
rằng đất trời vô lượng. Tôn giả đã kham nhẫn, từ bi
soi sáng cho con, chỉ đường cho con, đem đèn vào trong bóng
tối để ai có mắt có thể nhìn thấy sắc. Cũng vậy, xin
Ngài xá tội cống cao ngả mạn của con, cho con trọn đời
quy ngưỡng.
*****
Xá Lợi Phất muốn nàng Bhadda vướt bỏ Sở Tri, dòng Tri Thức
Vụn Vặt để trở về Tri Thức Nguyên Thủy hay Giác Trí Tuệ,
hay Nhất Nguyên Tính Tuyệt Đối, tức là Chân Lý Tối Hậu.
-ooOoo-
xk