NHẤT NGUYÊN
LUẬN &
THỂ CÁCH TRI
NHẬN TÁNH KHÔNG
Phổ
Nguyệt
III. CHUYỂN
THỨC THÀNH TRÍ
Cái
Tâm là dòng tâm thức lưu chuyển từ đời nầy sang đời
khác. Nó không có khởi đầu cũng không có chấm dứt vì sự
nhận thức không đến từ sự bất động hay không có nguyên
nhân.
A).
TÂM THỨC KHÔNG CÓ THẬT
Mỗi
lần nhìn một trần cảnh là có một thức qua sự ghi nhận
của Tâm. Hiện thức ấy chỉ xuất hiện lúc ấy và dứt
liền ngay, thức ấy là chơn thức; qua 1 sát na thức ấy lập
lại, đó là vọng thức chứ không phải là cái thức đầu
tiên. Thấy một hình ảnh chiếc dép quăng trên cao rơi xuống,
sau nhớ lại, ảnh thức (dép) sau là vọng là giả. Nếu cái
hiện hữu ấy khi mới thấy liền biến mất ngay, nó sẽ hiện
hữu (trong tàng thức) không bao giờ chấm dứt. Hiện tượng
vô thường không phải đột biến, nó nối liền nhiều điểm
li ti của sát na biến dịệt liên tục. Những điều mà Phật
gọi là vọng chấp mê lầm, với thuyết Tánh Không, chúng
chỉ là những hiện tượng như huyễn như mộng. Đối tượng
của của Tri Giác không là gì khác hơn là giả tượng. Bản
chất của Tri Giác đã được cấu tạo bằng nhiều giả tượng
như thế; chỉ khi những giả tượng nầy bị hủy diệt, bản
chất Tri giác mới trở thành Chân Trí. Lúc ấy sự thể mới
xuất hiện như là đối tượng hiện quán. Do vậy kết cấu
của Tri Giác (Perception) được hình thành bằng những Cảm
Giác (Sensation), kinh nghiệm hay quan niệm con người và va chạm
của Ý Thức theo thời gian lập đi lập lại, chúng ta mới
có Tri Giác rõ ràng. Cái Trí nhận thức về Tri Giác gọi là
Tri Thức (Cognition); đó là theo danh từ trong Tâm lý học. Tương
đương với danh từ theo Phật học thì Thức là Cảm Giác,
Giác Thức là Tri Giác, Giác Trí là Tri Thức.
- THẾ
GIỚI HIỆN TƯỢNG CỦA TÂM (Theo Shamar Rinpoche, Lục Thạch
dịch):
"Trong
sự nhận biết có hai thành phần: chủ thể nhận biết và
vật được nhận biết. Hiển nhiên là có sự liên quan giữa
hai bên, vì có hiệu ứng của các đối tượng trên Tâm. Đối
tượng xinh đẹp sinh ra tham muốn, đối tượng không hấp
dẫn gây ra ghét bỏ và đối tượng trung tính mang lại sự
vô tâm. Vậy, hoặc tâm và các đối tượng có cùng tính chất
chính yếu, hoặc có một liên hệ nhân quả giữa hai bên,
như liên hệ giữa khói và lửa.
Phái
Sautrantika đã nói rằng tâm muốn nhận biết một vật gì
thì vật đó phải có cùng tính chất với tâm. Nếu đối
tượng có bản thể là vật chất thì tâm làm sao có thể
nhận biết? Tâm phi vật chất và vô tướng, tính chất của
nó không thể diển tả được, vì nó không có hình dạng,
màu sắc hay cái gì khác. Do sự khác biệt hoàn toàn về tính
chất và phi vật chất nên không có vấn đề liên lạc giữa
hai bên. Thị giác không bao giờ có thể liên lạc với hình
dạng, thính giác và các giác quan khác cũng không liên lạc
với các đối tượng. Sự khác biệt về tính chất nầy cũng
loại trừ liên hệ nhân quả. Hoàn toàn khác tính chất thì
làm sao các đối tượng vật chất có thể xuất hiện như
kết quả của tâm, hay làm sao tâm lại có thể được sinh
ra bởi vật chất?
Vậy
chỉ có một kết luận: đối tượng chính là tâm thức, như
vậy những vấn đề trên không hiện hữu. Tuy nhận biết
đối tượng vì chúng là sản phẩm của tâm, và tâm có thể
sinh ra tâm. Thí dụ trong giấc mộng: nếu một người mơ thấy
con ngựa, người đó có thể cảm nhận con ngựa, vì nó là
vật do tâm tạo. Nó được sinh ra bởi tâm và có cùng tính
chất với tâm. Cũng vậy, tất cả những đối tượng khác
nhau và những cảm giác v ề chúng đều nạp vào dòng tâm
thức đều do tâm tạo.
Nếu
xét kỹ hơn chúng ta sẽ thấy thuyết thế giới vật chất
được tạo bằng các hạt bất khả phân là không thể chấp
nhận được, vì những hạt nầy không thể có thật. Một
"nguyên tử" được định nghĩa là phần tử nhỏ nhất, tới
mức không thể chia nhỏ hơn. Một vật có tính chất không
thể phân chia được thì nó sẽ không có kích thước gì cả,
nhưng như vậy làm sao các nguyên tử có thể gắn vào nhau
để tạo ra những khối lớn? Vì không có kích thước, một
nguyên tử không có bề mặt hay khía để một nguyên tử khác
gắn vào nó, hoặc trực tiếp, hoặc bởi sự trung gian của
lực nào đó. Các phần tử từ tâm, các khoảnh khắc tâm
trí được coi là tạo nên tâm cũng có thể được phản bác
bằng cách nầy. Vậy thuyết nguyên tử là vô lý.
Chúng
ta khó có thể chấp nhận ý tưởng thế giới vật chất được
làm bằng các hạt tử. Thí dụ, một cái nhà là tập hợp
những hạt tử bằng đá, xi măng và những vật khác. Một
đứa trẻ trên bãi biển xây một tòa lâu đài bằng những
hạt cát. Đối với tâm vô minh thì sự vật có vẻ như vậy,
nhưng sự thật không phải như vậy. Tâm vô minh rối loạn,
hay sai lầm thì giống như cái tâm trong mộng tưởng sự vật
đang diễn ra là thật. Trong giác mộng về một đứa trẻ
xây lâu đài cát trên bãi biển, thì cả tòa lâu đài lẫn
những hạt cát đều không có thật; chúng chỉ có vẻ là
thật đối với tâm mê muội trong mộng, Cũng vậy, theo chân
lý tuyệt đối thì các vật hình như làm bằng các hạt tử,
nhưng theo chân lý tuyệt đối thì không có đối tượng của
các cảm giác nào là có sự thật vật chất.
Khi
nói về các đối tượng cảm giác, chúng ta phải nhớ rằng
tâm cũng có khả năng riêng của nó với sự nhận biết nầy
kiến lập ý niệm từ thông tin mà tâm nhận được qua năm
khả năng cảm giác kia(nhãn thức, nhĩ thức v.v...). những
đối tượng của tâm hay ý thức (thức thứ sáu) thì được
gọi là "Pháp", một pháp trong trường hợp nầy được định
nghĩa là một sự vật gì có thể nhận biết bởi khả năng
tâm.Thí dụ sau đây cho thấy sự liên quan giữa một trong
năm cảm giác và ý thức.
Khi
trông thấy một cái ly, trước hết cái ly là một hình thể
tự lộ diện với khả năng thị giác; nó được nhận ra
một hình thể (nhưng chưa là một cái ly) bởi vì nhận thức
và nó được truyền tới ý thức như một pháp (một hiện
tượng). Ý thức sẽ ghi nhận nó và tâm bắt đầu tiến trình
loại trừ để có ý niệm về đối tượng cần được biết
nầy. Do có kinh nghiệm quá khứ, tâm có thể nhận ra rằng
hình ảnh mà nó nhận được không phải là một cái chén,
một cái muỗng hay mộtcái gì khác, mà là một cái ly. Khi
đã nhận xét và gọi tên đối tượng, tâm biết hình ảnh
được truyền bởi nhãn thức là một cái ly.
Vậy
ý thức và sự biết của ý thức có chức năng ý niệm hóa
các vật đối tượng và cảm nhận chúng là vật nầy hay
vật kia bằng cách phân biệt một vật với những vật khác.
Ý thức cũng đánh giá các đối tượng, phán xét chúng là
đáng ưa thích, không đáng hài lòng, hay trung tính, từ đó
sinh ra những phản ứng tham muốn hay tránh né.
Sự
nhận biết của năm cảm giác kia không liên can gì tới việc
ý niệm hóa này, chúng chỉ biết về sắc, thanh, hương, vị,
xúc. Vì vậy việc ý niệm hóa của ý thức chịu trách nhiệm
cho sự cảm nhận thế giới quanh chúng ta. Thí dụ, cọp cái
chỉ có tính chất hấp dẫn đối với con cọp đực, chứ
không với một người hay một con vật nào khác, vì sự hấp
dẫn đó phát sinh từ sự ý niệm hóa từ ý thức của con
cọp đực.
Vậy,
thế giới quanh chúng ta được vẽ lên bởi hoạt động ý
niệm hóa của tâm.
- TÂM
THỨC KHÔNG CÓ THẬT. Chúng ta đã nhận xét rằng không có
vật chất nào hiện hữu độc lập, dù nó nhỏ như hạt tử
hoặc lớn như quả núi. Vạn vật chỉ hiện hữu một cách
tương đối, trong sự tương quan với những vật khác. Nếu
có trái, ắt có phải, không có trái thì không có phải. Nếu
không có nóng ì không thể có lạnh, không có dài không có
ngắn, không có "ta" thì không có "người".
Do
đó, nếu không có đối tượng biết thật, thì không có gì
thật để biết đối tượng đó: Nếu đối tượng của cảm
thức không có thật, thì tâm cảm nhận nó cũng không có thật.
Những khoảnh khắc tri thức tạo nên tâm không có thực thể
độc lập nào cả. Sự hiện hữu của những khoảnh khắc
tri thức này tùy thuộc vào các đối tượng của chúng. Nếu
không có âm thanh thì không có nhĩ thức hay thính giác v.v...Thế
giới bên ngoài được phát họa bởi sự biết bằng quan niệm
hóa của ý thức, nhưng cả sự biết đó cũng không có sự
độc lập nào của riêng nó. Cả sự biết lẫn đối tượng
của nó đều không thật và không là gì khác hơn những sự
phóng chiếu của tâm thức. Tâm là nguyên nhân của mọi sự
vật, nhưng tâm không có thật theo ý nghĩa nào."
Trong
cuốn sách "Đối thoại giữa Triết Học & Tôn Giáo của
đồng tác giả Jean Francois Revel & Mathieu Ricard, do B/S Hồ
hữu Hưng biên soạn", Mathieu cho rằng " Cái Ngã có hiện hữu
trong giòng tâm thức của chúng ta hay không? Giòng tâm thức
có thể chia thành những tư tưởng về Quá khứ, Hiện tại
và Vị lai. Cái Ngã không thể là tổng số các thời liệu
đó, vì lẽ nó không hề có vào bất cứ thời điểm đặc
biệt nào. Quá khứ đã qua không còn nữa, làm sao cái tôi
thuộc về Ký ức. Tương lai chưa đến, thì làm sao có cái
Tôi được. Chỉ còn hiện tại. Để tồn tại, cái tôi cần
phải có đặc tánh rõ ràng. Nhưng nó không có hình thể, màu
sắc nơi chốn. Càng tìm, càng không tìm ra nó. Cái Tôi chỉ
là một cái nhãn hiệu dán lên một sự hiện hữu liên tục.
Nhận định như vậy giúp con người giảm nhẹ đi ý niệm
xem "cái Tôi" như là một thực thể tối thượng bắt buộc
chúng muốn những gì chúng ta thích và ghét bỏ những gì chúng
ta không ưa. Cảm giác về cái Tôi đó khiến cho con người
tách rời ra khỏi thiên hạ. Và cũng chính từ những tình
cảm yêu ghét sai lạc đó, dấy lên những tư tưởng và tình
cảm khởi điểm cho những lời nói và hành động đưa đến
Đau Khổ. Khám phá bằng kinh nghiệm trực tiếp, bằng phân
tích, bằng thiền định rằng cái "Ngã" không thật có, sẽ
là một diẽn trình đi đến giải thoát. Những phương cách
đó thật sự hữu ích, nhất là có rất nhiều kỹ thuật
để tác động lên tư tưởng, khiến ta không còn nô lệ chúng
nữa." (tr 51, 52)
B).
NHỊ NGUYÊN TÍNH
Chủ
thể gồm có lục căn: nhãn nhĩ tĩ thiệt thân và ý. Lục
căn là căn để chủ yếu tiếp xúc đối tượng ngoài và
trong tâm, là nguồn gốc, là nhân khi có điều kiện gặp đối
tượng, sinh ra cảm giác. Lục căn kết hợp với lục trần,
là đối tượng, là duyên để tạo ra cảm giác hay là Thức.
Thức nầy do căn Ý Tác Động với đối tượng vừa sinh ra
chơn Thức hay Cảm giác thì đồng thời Ý Tác Năng ý niệm
hóa nên ta liền có Tri giác hay gọi là Giác Thức. Thí dụ,
khi ta thấy cô gái, đầu tiên mắt ta thấy một hình ảnh,
chỉ thuần là một hình thể được hội tụ trong võng mạc
của mắt mà thôi, sau đó được dây thần kinh truyền đến
não bộ và ý thức (hay biết được hay Tri Giác) được cô
gái. Sở dĩ Tri giác được cô gái là vì Căn Ý Tác Động
tiếp xúc với cô gái chỉ nhận được hình ảnh thuần túy
mà chưa biết được cô gái. Ý Tác Động chỉ ghi nhận, Ý
Tác Năng hay Tâm bắt đầu chọn lọc để có ý niệm về
đối tượng ghi nhận cần được biết nầy. Ý Tác Năng có
sẳn trong Tàng Thức và Ký ỨƯc (Kinh nghiệm) nên nó có thể
nhận ra hình thể cảm giác ghi nhận là cô gái. Vậy Thức(Cảm
giác) và Giác Thức (Tri giác) có chức năng ý niệm hóa đối
tượng, nhận ra tên đối tượng qua kinh nghiệm cùng những
đặc tính của chúng theo quan niệm con người.
Vậy,
Chủ Thể (Lục Căn), Đối Tượng (Lục Trần) kết hợp nhờ
Căn Ý (thường gọi là Ý Thức) mới sanh ra Lục Thức. Thức
và Giác Thức còn gọi là Tâm Thức. Tâm thức nầy được
hình thành bởi Nhị Nguyên Tính của Chủ Thể và Khách Thể.
C).
CHUYỂN THỨC THÀNH TRÍ
1).
Nhất Nguyên Tương Đối
Dòng
tâm thức luôn trôi chảy không ngừng nghỉ vô thủy vô chung
chạy dài theo thời gian và lăn trôi trong không gian vô tận.
Dòng tâm thức ấy hiện diện trong quá khứ, ngay cả hiện
tại và cả tương lai không lúc nào nó vắng mặt. Ở ngoại
giới (không gian) hay trong nội tâm (tâm khảm) không nơi nào
mà dòng tâm thức không bị ảnh hưởng. Sáu Thức ra vào sáu
Căn, nhân đó có tham trước muôn cảnh tạo thành Nghiệp dữ
(Vô minh), che khuất Bổn thể Chơn như. Do ba độc (Tham Sân
Si) sáu giặc (Lục Thức hay Lục Tặc), nên chúng ta bị mê
hoặc và rối loạn thân tâm, trôi giạt trong sanh tử luân
hồi, lăn lóc trong sáu đường (Lục đạo: Thiên, Nhơn, A Tu
La, Súc Sanh, Ngạ Quỷ và Địa Ngục), chịu cảnh khổ đau.
Nghiệp Thức như có hấp lực, lôi kéo Thân Khẩu Ý chạy
theo Tâm viên Ý mã của mình. Tâm thức theo Thời Gian kết
tụ. Dòng Tâm Thức bị chi phối bởi Nhị Nguyên Tính hay là
sự lăn trôi của Giác Thức. Giác Thức là Vô Minh là Tâm
Bất An. Muốn ra khỏi vòng kiềm tỏa của Vô Minh ta phải
có Giác Trí cũng như ta muốn ra khỏi bóng tối (Vô Minh) thì
phải có ánh sáng (Giác Trí). Làm sao đạt được Giác Trí?
Dòng
Giác Thức (Tâm Thức) trôi lăn từng sát na liên tục. Trong
Hiện Tại nầy ta không thể nắm bắt được. Dù cho ta nắm
bắt được một điểm nào trên dòng Tâm Thức đang trôi chảy,
thì chỉ là một điểm của Tâm Thức. Dù một điểm không
có kích thước không có ba chiều đi nữa thì Giác Thức đó
trở thành Nhất Niệm cũng còn nằm trong Nhị Nguyên Tính mà
thôi (Chủ Khách, Căn Trần). Thấy cô gái dù thấy cô gái
trong một sát na thời gian rồi ta duyên qua đối tượng khác,
thì Giác Thức ấy cững lưu lại trong Ký Ức (Mạt Na thức
và Tàng Thức). Vậy thì phải dùng Giác Trí (Ý Tác Năng) tri
nhận Giác Thức nguyên sơ tại thực tại điểm của Giác
Thức Đang Là. Vì lẽ nếu không nắm ngay khởi điểm của
Giác Thức Nguyên Sơ thì Giác Thức của đối tượng mà ta
ghi nhận đã huyễn hoá rồi qua một sát na. Nên không thể
nắm một điểm khác hơn là đầu nguồn. Nhị Nguyên biến
thành Nhất Nguyên khi Chủ Thể và Đối Tượng hiệp lại
làm một; nghĩa là Giác Thức đã được Tâm ý niệm hóa đối
tượng là Cái Biết của Căn. Cái Biết ấy là do Tâm Biết
nên gọi là Tâm Thức. Cái Biết của Trí do Ý Tác Năng, nó
ở sẵn trong Tâm (Tàng Thức) và Cái Biết của Thức cùng
một Tâm, cùng ở trong một nhà, cùng ở trong Không Gian của
Tâm (Tâm Khảm), không còn hai bên, đối tượng và chủ thể,
không còn khoảng không gian ngoài nào xen vào Giác Trí), cùng
một cội nguồn, nên Giác Trí xóa hết dòng Tâm Thức, Vô
Minh. Đó là thể cách CHUYỂN THỨC THÀNH TRÍ.Tuy vậy Giác
Trí nầy cũng sẽ huyễn hóa theo Thời Gian. Do đó Giác Trí
Đang Là lưu chuyển mãi thành ra Tư Tưởng, hayTrí Thức cũng
còn bị ràng buộc của vọng tưởng theo Thời Gian. Giác Trí
là đạo lý Nhất Nguyên Tương Đối.
2).
Năng Sở Song Vong
Căn
Ý có hai phần, một phần hướng ra ngoài là Ý Tác Động
với đối tượng thành Ý Thức hay Tâm Thức, phần hướng
sâu vào trong có sẳn trong Tâm là Ý Tác Năng, khi ý niệm hóa
Ý Thức hay Tâm Thức thành Ý Trí hay Tâm Trí. Lúc Ý Thức
ở cùng chung một nhà với Ý Trí, thì Năng Sở đã song vong,
căn trần đã phủ định, là Thức được chuyển thành Trí
rồi, tức Nhất Nguyên Tính Tương đối. Đó cũng là Pháp
Môn Không Hai.
Thí
Dụ:
Trong
Kinh Duy Ma Cật (do Thích Huệ Hưng Việt dịch), Phẩm Vào "Pháp
Môn Không Hai" được giải lý như sau.
Bấy
giờ ông Duy Ma Cật bảo các vị Bồ Tát rằng:
- Các
nhân giả! Thế nào là Bồ Tát vào "pháp môn không hai"? Cứ
theo sở thích của mình mà nói.
Trong
Pháp hội có Bồ Tát tên là Quán Tự Tại nói:
- Các
nhân giả! "Sanh", "diệt" là hai. Pháp vốn không sanh cũng không
diệt, đặng vô sanh pháp nhẫn, đó là vào "pháp môn không
hai".
Bồ
Tát Đức Thủ nói:
- "Ngã",
"Ngã Sở", là hai. Nhân có ngã mới có ngã sở, nếu không
có ngã thời không có ngã sở, đó là vào "pháp môn không
hai"....
Bồ
Tát Đức Đảnh nói:
- "Nhơ",
"Sạch" là hai. Thấy được tánh chơn thật của nhơ, thì không
có tướng sạch, thuận theo tướng diệt, đó là vào "pháp
môn không hai".
Bồ
Tát Thiện Túc nói:
- "Động",
"Niệm" là hai. Không động thời không niệm, không niệm thời
không phân biệt; thông suốt lý ấy là vào "pháp môn không
hai"...
Bồ
Tát Sư Tử nói:
- "Tội",
"Phước" là hai. Nếu thông đạt được tánh của tội, thì
tội cùng phước không khác, dùng tuệ kim cang quyết liễu
tướng ấy, không buộc không mở, đó là vào "pháp môn không
hai"...
Bồ
Tát Thiện Ý nói:
- "Sanh
tử", "Niết bàn" là hai. Nếu thấy được tánh sanh tử thời
không có sanh tử, không buộc không mở, không sanh không diệt,
hiểu như thế đó là vào "pháp môn không hai"v.v...
Khi
đó Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật rằng:
- Chúng
tôi ai ai cũng nói rồi, đến lượt Nhân giả nói thế nào
là Bồ Tát vào "pháp môn không hai?
Ông
Duy Ma Cật im lặng không nói. Ngài Văn Thù Sư Lợi khen rằng:"Hay
thay! Hay Thay! Cho đến không có văn tự ngữ ngôn, đó mới
thật là vào "pháp môn không hai". Chân lý thì không phải dùng
ngôn ngữ mà được! Tuy vậy, nếu không có ngôn ngữ thì
không thể mô tả chân lý. Ngôn ngữ là phương tiện để
diễn đạt chân lý. Ngón tay chỉ mặt trăng. Từ ngón tay để
thấy mặt trăng, chứ ngón tay không phải là mặt trăng!
* "Pháp
môn không hai" là lý thuyết hướng dẫn làm thế nào nắm
bắt thực tướng của sự vật tác động trong dòng tâm thức
của chúng ta, là sự thấy biết đối tượng, là chánh kiến,
hướng dẫn để trầm tư tĩnh lặng định tâm hay là thiền,
đồng thời cũng hướng dẫn hành động trong sinh hoạt hàng
ngày.
Không
hai ở đây có nghĩa là không có chủ và khách, năng sở song
vong, nhất nguyên tính hay là chân lý tương đối, là Tánh
không.
-ooOoo-
xk