Phần
Ba :
Nhận Thức
Và Không Tánh
18.
Nhận Thức Và Không Tánh
Sau khi thành
đạo, đức Phật mở rộng tâm Ðại Bi sử dụng tập quán
suy tư và nhận thức của chúng sinh, dùng ngôn ngữ và luận
lý thông thường để truyền giảng con đường giải thoát
mà Ngài đã tự thân chứng ngộ. Vì hạnh phúc hay khổ đau
đều tự mỗi người quyết định cho chính mình nên Ngài
áp dụng phương pháp truyền giảng thích nghi với bối cảnh
và xứng hợp với căn cơ và trình độ hiểu biết của mỗi
hạng chúng sinh. Toàn bộ giáo lý của Ngài nói lên một chân
lý sống rất đơn giản nhưng thiết thực hiện tại. Ðó
là "Khổ và Con đường Diệt khổ". Ðức Phật phản bác tất
cả các vấn đề siêu hình không lợi ích gì đối với sự
giải thoát khổ đau mà con người phải gánh chịu. Vô minh
là nguồn gốc của tất cả mọi khổ đau. Vô minh là thấy
biết không đúng như thật. Do vô minh mà chúng sinh nhận lầm
sự vật vốn không có thật tính mà tưởng là có thật tính,
vốn không có tự tính mà tưởng là có tự tính, vốn không
có ngã mà tưởng là có ngã. Vì chấp ngã và ngã sở nên
có ái, có ái nên có thủ, có thủ mới có hữu, mới tạo
nghiệp, mới có sinh, lão, bệnh tử, mới luân hồi sinh tử.
Vạn pháp không có tự tính vì thường xuyên biến chuyển,
đủ duyên thời sinh khởi, hết duyên thời đoạn diệt. Hiện
hữu thân, xứ, thức là một dòng sinh diệt liên tục. Tính
cách chuyển hóa vô thường của vạn pháp chính là tự thân
của luân hồi. Do đó, đức Phật giảng dạy đủ mọi pháp
môn tu học để chúng ta sử dụng tùy theo căn cơ và trình
độ giác ngộ của mình nhằm thức tỉnh cái "tính giác" tức
giác quan nội tại hằng tiềm ẩn trong bản tính sâu thẳm
nhất của chúng ta. Chừng nào đạt được cái tính giác ấy,
thời chừng đó chúng ta mới có thể vượt lên trên kiến
giải phân đôi về hiện hữu để nhìn thấy tường tận
vạn pháp không thật, như huyễn như hóa, và chừng đó chúng
ta mới nhỗ hết gốc rễ mọi khổ đau và vô minh vi tế nhất
ra khỏi tâm trí để giải thoát hết khổ. Ðó là giáo lý
từ bi cứu khổ của đạo Phật.
Chủ đích
của Trung quán luận là lý giải nhằm làm sáng tỏ giáo nghĩa
thâm sâu của lời Phật dạy. Khi luận giải Trung luận, ngài
Nguyệt Xứng cho rằng bộ luận này được tạo ra là để
nêu rõ sự khác biệt giữa những đoạn kinh liễu nghĩa và
bất liễu nghĩa (Tam tạng kinh điển Tây tạng, Ấn bản Bắc
kinh, 1961, D. T. Suzuki chủ biên). Trên phương diện tu dưỡng,
hành giả phải biết nương theo kinh liễu nghĩa, nghĩa là kinh
chứa ý nghĩa đầy đủ, rốt ráo, bao quát, chân thật thời
mới mong chóng thành tựu đạo quả. Theo ngài Long Thọ, chỉ
có giáo lý về Trung đạo, về Chân Không, mới thật liễu
nghĩa, bởi thế cho nên Trung luận đưa ra rất nhiều thí dụ
luận chứng phân tích thực tại thường gọi là biện chứng
pháp Trung quán để chứng minh tánh vô tự tính tức tánh Không
của vạn pháp.
Trong bộ
luận này, Bồ tát Long Thọ thiết lập nền tảng triết học
Trung quán tựa trên kinh nghiệm: "Chưa từng thấy có bất cứ
pháp nào không sinh từ nhân duyên. Thế nên tất cả các pháp
đều Không." [Vị tằng hữu nhất pháp/ Bất tùng nhân duyên
sinh./ Thị cố nhất thiết pháp/ Vô bất thị không giả.//
(Bài tụng Trung luận, XXIV.19)] Không ở đây là vô tự tính,
nghĩa là không có yếu tính quyết định, không có tánh, tướng,
và dụng đích xác. Ngài phân tích những hiện tượng mà kinh
nghiệm thông tục hay nhiều luận thuyết triết học cho rằng
hiện hữu có tự tính và dùng phép biện chứng bác bỏ hết
thảy mọi trường hợp hiện hữu có tự tính như vậy.
Thông thường
khi nói đến cái thấy chẳng hạn, ta hay phân biệt một chủ
thể thấy, một đối tượng bị thấy, và sự thấy tức
là sự tương quan liên hệ giữa chủ thể thấy và đối tượng
thấy. Bảo rằng chủ thể thấy có tự tính tức là muốn
nói rằng chủ thể ấy hiện hữu dẫu nó có thấy đối tượng
bị thấy hay không. Chủ thể ấy hiện hữu trước và/hay
sau khi thấy đối tượng ấy. Cũng như vậy, bảo rằng đối
tượng bị thấy có tự tính nghĩa là đối tượng hiện hữu
trước và/hay sau khi được chủ thể thấy. Nói cách khác,
nếu tôi là chủ thể thấy và tôi thực hữu (hữu có tự
tính) thời tôi có thể không cần thấy đối tượng bị thấy
và đi làm một chuyện khác, chẳng hạn như nghe một bài nhạc
hay suy tư về một vấn đề nào đó. Cũng như vậy, nếu một
đối tượng bị thấy thực hữu thời nó vẫn hiện hữu
ở ngay đó dẫu tôi không thấy nó, và sau này có thể có
người khác thấy nó.
Ngài Long
Thọ cho rằng nói đến một chủ thể thấy mà không thấy
một đối tượng, hoặc nói đến một đối tượng bị thấy
mà không có chủ thể thấy, hoặc nói đến một sự thấy
ở đâu đó mà không có chủ thể thấy và đối tượng thấy
là một điều phi lý.
Giả thử
ta cho rằng chủ thể thấy không hiện hữu trước khi có đối
tượng bị thấy và sự thấy đối tượng ấy. Nhưng làm
thế nào một chủ thể phi hữu có thể làm hiện khởi một
sự thấy và một đối tượng bị thấy? Hoặc giả ta cho
rằng đối tượng bị thấy không hiện hữu cho đến khi có
chủ thể thấy nó, thời thử hỏi làm thế nào một đối
tượng phi hữu mà có thể được một chủ thể thấy?
Bây giờ
ta thử cho rằng chủ thể thấy và đối tượng bị thấy
cả hai đồng thời hiện khởi. Trong trường hợp này, hoặc
chủ thể và đối tượng là một và không dị biệt, hoặc
chúng là hai sự thể khác nhau. Nếu là một và không dị biệt
thời đó không phải là trường hợp thấy, vì sự thấy đòi
hỏi phải có một chủ thể thấy, một đối tượng bị thấy,
và sự thấy đối tượng. Ta không thể bảo rằng con mắt
tự thấy nó. Nếu là hai sự thể khác nhau, thời mỗi sự
thể đều có tự tính, tự sinh tự hữu. Như vậy ngoài sự
thấy có thể có rất nhiều tương quan liên hệ khác giữa
hai sự thể riêng biệt và độc lập ấy. Nhưng ta không thể
bảo rằng chủ thể thấy "nghe" một đối tượng bị thấy.
Chỉ có một chủ thể nghe mới nghe được một âm thanh.
Ðến đây
chỉ còn cách là chấp nhận cả ba sự thể, chủ thể thấy,
đối tượng bị thấy, và sự thấy đều không thể tự sinh
tự hữu độc lập nhau mà trái lại đồng thời cả ba hòa
hợp tạo thành một sát na thức có thực, và sát na thức
ấy chính là thực tại tối hậu. Nhưng làm thế nào mà ba
sự thể phi hữu hợp lại tạo thành một sự thể thực hữu?
Thật vậy, làm thế nào có thể nói rằng một sát na thực
hữu khi mà điều kiện thực hữu là phải không tùy thuộc
các sát na trong quá khứ và trong tương lai? Thêm nữa, một
sát na chỉ là một hành tướng của thời gian. Vậy sát na
thức nói trên hiện hữu riêng biệt độc lập với thời
gian và do đó thời gian cũng phải hiện hữu độc lập đối
với sát na ấy!
Những thắc
mắc như vậy làm ta bàng hoàng khi nghĩ rằng cả ba sự thể,
chủ thể, đối tượng, và sự thấy đều không hiện hữu.
Càng vô nghĩa hơn nữa nếu ta chấp nhận một chủ thể phi
hữu hoặc thấy hoặc không thấy một đối tượng phi hữu
tại một thời điểm phi hữu thay vì tin rằng thực có một
chủ thể thấy! Thật ra, ngài Long Thọ không có ý xác quyết
là sự thể không hiện hữu hay sự thể hiện hữu. Ngài chỉ
muốn nói sự vật sinh khởi là do nhân duyên. Chúng đều có
tính cách tương đối, không có thực chất, không có yếu
tính quyết định, không có tự tính. Bảo rằng "không có
X" có thể hiểu rằng "không có một thực tại khách quan,
thường còn, tương ứng với cái sự vật có danh xưng là
X", hay ngắn gọn hơn, "không có vật thể thường còn X", hay
"không có vật tự hữu X", hay "danh xưng không tương ứng với
thực tại", hay "thấy vậy mà không phải vậy". Một câu hỏi
được đặt ra: "Tại sao kinh văn không nói thẳng ra như vừa
giải thích?" Nên hiểu kinh văn không bao giờ có dụng ý trình
bày một lý thuyết. Tác dụng của kinh văn là kích thích nhận
thức, suy tư, và xác định.
Luận chứng
Trung quán nhằm phản bác mọi kiến chấp ngược lại với
thuyết duyên khởi thường chú trọng vào ba loại đề mục:
chủ thể và đối tượng của chúng; sự vật và thuộc tính
của chúng; và nhân và quả của chúng. Luận chứng có thể
tóm tắt như sau.
1. Nếu chủ
thể và đối tượng liên hệ, sự vật và thuộc tính của
chúng, và căn nhân và kết quả tương ứng hiện hữu độc
lập nhau như ta thường tưởng, hay tự hữu một cách tuyệt
đối như là những yếu tố căn bản dùng làm lý chứng cho
sự phân tích, thời tất nhiên chúng không phụ thuộc vào
bất cứ điều kiện hay quan hệ nào. Nói cách khác, theo định
nghĩa, mọi vật chỉ và chỉ độc lập, có tự tính, hay tính
chất tuyệt đối khi nào chúng không phụ thuộc vào bất cứ
cái gì khác; chúng phải có một tự thể vượt ra ngoài những
quan hệ của chúng.
2. Kinh nghiệm
cho thấy không tìm đâu ra được những thực thể như vậy.
Cùng một nhận xét, mọi công trình nghiên cứu khoa học cũng
nhằm một mục tiêu là phát hiện những nhân duyên đã làm
sinh khởi thế giới vật chất. Ngài Long Thọ đi xa hơn. Không
những giải thích quan hệ nhân duyên giữa chủ thể, đối
tượng, và hành động, Ngài còn xét đến cái tâm của chủ
thể đang nhận thức, nghĩa là cách thức chủ thể thu nạp
những yếu tố nhân duyên để tạo nên những khối kiến
trúc của một ngoại giới giả thiết là khách quan, và một
nội giới giả thiết là chủ quan.
3. Do đó,
mọi sự thể, tâm hay vật đều do duyên sinh. Nói theo thuật
ngữ Phật giáo, mọi pháp đều vô tự tính, đều Không.
Tuy nhiên,
theo quan điểm Trung quán, mặc dầu các hiện tượng là duyên
khởi như huyễn, không có tự tính, nhưng theo quy ước thế
tục, chúng có, chúng là giả hữu, là danh tự giả tướng.
Ðó là điểm
đặc biệt của Trung quán luận. Thuyết Nhị đế, thế tục
đế và Chân đế, được thiết lập để giải thích hai mặt
có và không của mọi hiện tượng. Khi đứng trên lập trường
thế tục đế ta có thể đề cập thế giới hiện tượng
mà không làm điên đảo thế giới chân như. Khi đứng trên
lập trường Chân đế ta có thể siêu việt lên trên tất
cả vọng chấp hữu - vô, vươn tới thế giới chân như mà
không làm xáo trộn thế giới giả danh. Phi hữu cũng là hữu.
Danh hình tướng sắc đồng thời là Không và Không cũng tức
thị hình danh sắc tướng. Trung luận cho rằng chính theo thế
tục đế mà đức Phật giảng rằng tất cả các pháp mà
có là do nhân duyên; nhưng theo Chân đế thời tất cả các
pháp đều Không. Trong Luận Ðại trí độ, có đoạn: "Vì
theo tục đế nên có, theo đệ nhất nghĩa nên phá. Vì tục
đế có nên không rơi vào tà kiến chấp đoạn diệt. Vì theo
đệ nhất nghĩa phá nên không rơi vào tà kiến chấp thường."
Xa lìa tà kiến chấp thường chấp đoạn, đó là ý nghĩa
vô cùng thâm diệu của chân lý duyên khởi.
Thế tục
đế hay chân lý tương đối là "sự thật" hiểu theo ngôn
ngữ và lý luận thông tục và thường được kiểm chứng
bằng tri thức thường nghiệm. Ðó là mục tiêu của sự phát
triển tưởng tri, thức tri, và ý tri nhằm mở rộng kiến
thức về khoa học, kỹ thuật, triết học, mỹ thuật, đạo
đức học, v.. v... Theo thế tục đế, vạn hữu hoàn toàn
bị chi phối bởi nguyên lý tương đối tính và được nhận
thức từ quan điểm hữu và vô. Mọi sự vật đều có đối
thể của nó, mỗi A đều kèm theo cái phi A của nó. Trong bối
cảnh sinh hoạt thường nhật mọi lượng quả do trực giác
hay do suy luận đều được công nhận chính xác nếu thuận
hợp với những mục tiêu thực dụng. Chẳng hạn, giá trị
chính xác của từ "thật" trong câu "cỗ xe này thật" là do
cỗ xe ấy có chuyên chở một khối lượng hàng hóa từ điểm
a đến điểm b như ta kỳ vọng hay không. Cũng có thể vì
từ ấy chỉ vào một đương thể hiện hữu, chứ không chỉ
vào một cỗ xe ở trong đầu óc của một kỹ sư đang trù
tính chế tạo nó. Ngoài hai ý nghĩa đó, vọng tưởng phân
biệt thường gán cho từ một ý nghĩa siêu hình thoát ra khỏi
hoàn cảnh thực tế trong đó từ đang được sử dụng. Ðây
là trường hợp hai triết gia, một thiên lý trí, một thiên
lý tưởng, chuyện trò với nhau. Khi người này nói "cỗ xe
này thật", người kia hiểu rằng cỗ xe ấy có một bản thể
siêu hình. Nếu chúng ta có ý muốn xác định vị trí của
cái bản thể ấy bằng mọi cách, chúng ta không tìm thấy
nó ở đâu cả. Theo thế tục đế, dẫu không minh định được
sự hiện hữu của một bản thể như vậy, nhưng vì những
mục tiêu thực dụng của đời sống hàng ngày, ta vẫn chấp
nhận theo quy ước cỗ xe là một tên gọi đặt ra căn cứ
sở y trên các thành phần tạo nên nó. Như thế, khái niệm
"cỗ xe" có giá trị chính xác vì nó qui chiếu một vật thể
có thật theo quy ước. Và một hữu có thật là khi nào đương
thể có khả năng tính tác động. Tóm lại, trên lập trường
thế tục đế, ta vẫn có thể phân biệt thế nào là phát
biểu đúng hay phát biểu sai.
Như vậy,
Thế gian giới, thế giới của tương đối và cá biệt, là
một thế giới có trật tự vì do nguyên lý duyên sinh chi phối.
Bởi vậy cho nên khoa học mới khai triển được ở trong đó
và thành quả khoa học gặt hái được minh chứng tính cách
phi lý của nhiều tư tưởng siêu hình. Nhưng khoa học nghĩ
như thế nào về quan điểm "nhất thiết pháp Không" của Trung
quán?
Trong Vật
lý học, phương pháp dùng hàm sóng mô tả khái niệm lượng
tử, sự phát hiện tánh "pha bất tương ly" (phase entanglement),
và sự chứng minh tánh nối kết phi cục bộ của thế giới
lượng tử bằng phương pháp toán học, tất cả đều nói
lên tánh Không của vạn hữu. Vạn vật trong vũ trụ khởi
lên đồng thời, tương thành tương hủy, hỗ tương giao thiệp
ảnh hưởng và đồng nhất hòa hợp.
Trong Sinh
học, nương vào những bằng chứng tìm thấy nơi các vật
hóa thạch (fossils), nhờ phân tích những kết quả mô phỏng
trên máy tính (computer simulation), và tựa trên các khám phá
về cấu trúc và chức năng của tế bào và chuỗi xoắn DNA
và RNA, đa số khoa học gia tin vào sự thành tựu tự nhiên
những hệ thống tiêu tán có đặc tính liên tục tự phối
trí. Các hệ này ví như những mạng lưới biến chuyển không
ngừng, nghĩa là không có bản thể thường tại, và tiến
hóa theo luật chọn lọc tự nhiên của Darwin để trở thành
những hệ thống sinh sống có mức phức tạp gia tăng. Do đó,
sinh mệnh và sự nguyên khởi của sinh mệnh hoàn toàn do nguyên
lý duyên sinh chi phối.
Về nhận
thức tánh Không, ngoài hai ngành trên, tưởng cũng nên nói
đến một ngành khoa học hiện đại đang trên đà phát triển
lấy tư tưởng vô ngã làm ý niệm căn bản trong mọi công
trình nghiên cứu. Ðó là khoa học Tánh Biết (Cognitive Science).
Khoa này tổng hợp nhiều ngành bấy lâu xem như riêng biệt:
ngôn ngữ học, thần kinh học, tâm lý học, nhân chủng học,
và triết học về tâm thức (mind). Trọng tâm của khoa này
là thông minh nhân tạo (artificial intelligence; AI), tức là dùng
máy tính để mô phỏng tâm thức.
Ðại để,
thông minh nhân tạo được nghiên cứu theo hai chiều hướng.
Một là theo chiều hướng tâm lý và sinh lý học nhằm tìm
hiểu bản chất của tư tưởng con người (human thought), và
hai là theo chiều hướng phát triển kỹ thuật chế tạo các
hệ thống máy tính càng ngày càng đa năng đa nhiệm, xử lý
dữ kiện càng nhanh, và cất giữ số lượng dữ kiện càng
lớn. Nói chung thời có hai phương pháp nghiên cứu bản chất
của tư tưởng con người. Phương pháp thứ nhất là xử lý
ghép song song (parallel processing) tức là kết nối và đồng
qui các vận hành máy tính. Phương pháp thứ hai là dùng miếng
tích hợp (computer chip) lập thành những mạng lưới thần
kinh nhân tạo (artificial neural networks) còn được gọi là máy
tính thần kinh (neurocomputer) mô phỏng theo các mạng kết nối
và tương giao tác dụng giữa các tế bào thần kinh (neuron)
của não (biological neural networks).
Não người
gồm độ 100 tỉ neuron nối kết với nhau. Mỗi neuron thường
nối kết với khoảng chừng 10 ngàn neuron khác, nhưng cũng
có loại nối kết với hơn 200 ngàn neuron. Do số lượng neuron
rất lớn và sự nối kết các neuron rất dày đặc nên não
người có khả năng thực hiện một số phép tính toán vô
cùng lớn trong một thời hạn vô cùng ngắn. Trong não không
có một vị trí nào có thể xác định là nơi cất giữ thông
tin hay qui tắc vận hành, hoặc là trung tâm của Bộ Xử
lý Trung ương (Central Processing Unit; CPU). Chính các biến đổi
trong mạng lưới dày đặc gồm những nối kết hai chiều
giữa các neuron mới là nguyên nhân của sự vận hành của
não.
Thay vì được
hình dung như một hệ nhất thống hoạt dụng dưới sự chỉ
đạo của một chủ tể, tâm não được biểu tượng như
bao gồm nhiều cá thể, mỗi cá thể là một máy tính thần
kinh có chức năng và tác dụng riêng biệt, nhưng kết hợp
thành một mạng lưới tương giao hỗ tác biến chuyển không
ngừng. Mỗi cá thể lại có chức năng tham gia vào việc sản
xuất hay biến đổi các cá thể khác của mạng lưới. Do
đó mạng lưới vừa là sản phẩm của các bộ phận của
nó, vừa là nguồn sản xuất các bộ phận ấy. Mỗi thành
phần cũng như toàn bộ mạng lưới hết thảy đều là những
tiến trình hoạt dụng của những tương quan hỗ tác vô hình,
không trưng dẫn một bằng chứng nào về sự hiện hữu một
chủ thể nhận thức, về một cái "ngã" thực hữu.
Mỗi máy
tính thần kinh là một hệ thống động lực học gồm nút
(node) biểu tượng neuron và mép (edge) biểu tượng khớp thần
kinh (synapse; diện tiếp hợp). Máy chuyển đổi nhập kiện
(inputs) thành xuất kiện (outputs). Không có vấn đề thảo
chương trình chỉ thị để điều khiển máy tính thần kinh.
Tuy nhiên, ta có thể dạy máy tính thần kinh học hỏi. Chẳng
hạn để dạy nhận ra mặt của một người trong một tập
ảnh, cứ mỗi lần đưa cho máy thấy các ảnh có chụp mặt
của người ấy thời ta tìm cách "thưởng" bằng tác dụng
trên máy một tín hiệu hồi tiếp dương (a positive feedback
signal) và những khi đưa cho máy thấy các ảnh không chụp
mặt của người ấy thời ta tìm cách "phạt" bằng tác dụng
một tín hiệu hồi tiếp âm (a negative feedback signal). Dạy
máy tính học hỏi theo cách này được gọi là theo phương
pháp tương quan (by correlation), nghĩa là dạy máy tri nhận một
loạt thí dụ để máy ghi nhớ mô dạng của từng thí dụ
hầu về sau có thể tìm sự tương quan giữa những mô dạng
ấy với một hình ảnh mới.
Trên phương
diện sinh lý học, khi các tín hiệu thần kinh đổ dồn vào
một neuron gây đủ tác động thế (action potential; khả năng
truyền dẫn điện tín hiệu) thời neuron bị kích động và
qua trung gian của diện tiếp hợp (synapse) phát sinh tác động
thế trong neuron kế tiếp. Các diện tiếp hợp trong một mạng
lưới thần kinh và trong não cất giữ các ức niệm và các
thông tin mô dạng. Tương tự như vậy, máy tính thần kinh
tác dụng như một bộ nhớ cất giữ song song (associative memory)
những dữ kiện tương hợp giữa nhập kiện và xuất kiện,
giữa kích thích và phản ứng. Chẳng hạn, muốn cất giữ
nhiều ảnh mặt người thời nó chồng mặt này lên mặt kia
tại cùng một chỗ của bộ nhớ, khác hẳn với bộ nhớ
truy dụng tùy thời (RAM; random access memory) trong các máy điện
toán cá nhân cất giữ mỗi dữ kiện vào một vị trí chính
xác. Vì thế khi truy dụng dữ kiện, máy tính thần kinh không
tìm đến địa chỉ đích xác, mà chỉ cần hợp xứng tương
đương vật cần nhận diện với một trong những vật tương
tợ được cất giữ song song trong môi chất mang dữ liệu.
Theo thuyết
hệ thống, tùy theo mức độ phức tạp, khi một số yếu
tố cần thiết hội đủ thời chúng tạo thành căn cứ sở
y của một phẩm tính gọi là xuất hiện tánh (emergent property).
Ðây là phẩm tính đặc biệt chỉ xuất hiện khi hệ thống
ở vào một mức xác định và phẩm tính này không tìm thấy
trong các yếu tố tạo thành hệ ấy. Theo thuật ngữ Phật
giáo, xuất hiện tánh là một pháp hữu vi. Dùng ngôn ngữ
của khoa học tánh Biết, ta có thể ví thức uẩn tức tám
thức tâm vương như xuất hiện tánh khi hội đủ những tâm
sở pháp liên hệ. Bốn uẩn kia cũng vậy, có thể ví như
những xuất hiện tánh khi tụ tập đầy đủ các pháp tương
ứng cùng loại thành nhóm. Chẳng hạn, sắc uẩn là xuất
hiện tánh căn cứ sở y trên tứ đại năng tạo, tứ đại
sở tạo, và vô biểu sắc; thọ uẩn là xuất hiện tánh căn
cứ sở y trên thọ tâm sở; tưởng uẩn là xuất hiện tánh
căn cứ sở y trên tưởng tâm sở; hành uẩn là xuất hiện
tánh căn cứ sở y trên tất cả năm mươi mốt pháp tâm tương
ưng hành ngoại trừ sắc, thọ, tưởng, tư, thức và hai mươi
bốn pháp tâm bất tương ưng hành.
Ở mức tâm
sở ta cũng có những xuất hiện tánh, chẳng hạn như năm
xuất hiện tánh biến hành tâm sở: tác ý, xúc, thọ, tưởng,
và tư. Tác ý là xuất hiện tánh căn cứ sở y trên quá trình
kích thích cho nhận thức phát hiện hay khi nhận thức đã
phát hiện thời khiến cho nhận thức tập trung vào đối tượng.
Xúc là xuất hiện tánh căn cứ sở y trên quá trình tiếp
giáp giữa giác quan và đối tượng, giữa căn và trần. Quá
trình "xúc" có thể mô tả như vừa nhân vừa quả. Là nhân
thời xúc là sự đem lại với nhau giác quan thô phù (phù trần
căn) và đối tượng (trần). Là quả thời xúc là sự xúc
chạm giữa căn và trần. Ở đây ta có thể nhận thấy ý
nghĩa của xuất hiện tánh là một quá trình mô tả vừa nhân
vừa quả. Thọ là xuất hiện tánh căn cứ sở y trên quá
trình tiếp giáp ấn tượng cảm quan với giác quan vi tế (thắng
nghĩa căn; thần kinh cảm giác và trung tâm tiếp nhận ấn
tượng cảm quan trong não bộ). Tưởng là xuất hiện tánh
căn cứ sở y trên quá trình cấu tạo khái niệm. Tư là xuất
hiện tánh căn cứ sở y trên quá trình phát sinh những hiện
tượng tâm lý như các tâm sở dục (ước muốn), trạo cử
(sự lay động), tuệ (sự hiểu hiết), v.. v... Năm tâm sở
biến hành hiệp với một số tâm sở biệt cảnh (dục, thắng
giải, niệm, định, và tuệ) và tâm sở bất định (hối,
miên, tầm, và tứ) là nguyên nhân của sự phát hiện những
sát na nhận thức.
Như vậy,
đối với khoa học Tánh Biết dòng tiếp nối của những chuỗi
cảm giác mà ta gọi là thức là một xuất hiện tánh căn
cứ sở y trên sự tiếp nối của những chuỗi xúc chạm giữa
cảm quan sinh lý và đối tượng vật lý của chúng. Uẩn là
những xuất hiện tánh tạo thành một trạng thái toàn bộ
gồm những mô dạng cọng hưởng trong mạng neuron, thành trụ
hoại diệt trong sát na, do sự tương giao hỗ tác hai chiều
giữa các neuron, và do phản ứng của các neuron đối với
những kích thích từ môi trường. Bởi vậy, khoa học Tánh
Biết định nghĩa tánh biết là sự xuất hiện trong từng
sát na trạng thái toàn bộ của một mạng gồm những thành
phần đơn giản. Vì mạng được mô tả bằng một hệ thống
phương trình vi phân (a dynamical system) hay bằng một cơ quan
tế bào tự động [cellular automaton; một toán thể gồm những
thành phần gọi là "tế bào", mỗi tế bào tiến hóa theo một
số qui tắc đơn giản, nhưng khi ghép lại với nhau thời chúng
vận hành một cách hết sức phức tạp khó lường] cho nên
ý nghĩa (meaning) được bao hàm trong cách thức trạng thái
toàn bộ của mạng vận hành, và được liên kết với hiệu
suất thực hiện trong một lãnh vực hoạt dụng, như học
hỏi hay nhận diện chẳng hạn.
Hiện nay,
một số chuyên gia về Tánh Biết nêu ra vấn đề khó hiểu
là do quan sát và phân tích vừa bằng phương pháp thí nghiệm
trực tiếp trên cơ thể và tế bào, vừa bằng phương pháp
toán học thực hiện trên máy tính thời mọi người đều
nhận thấy không có tác giả, không có thọ giả, chỉ có
tác nghiệp, thế mà tại sao vẫn còn vô số khoa học gia tin
tưởng vào một cái "ngã" thực hữu? Về vấn đề này, Francisco
J. Valera, giám đốc ngành Khảo cứu tại Trung tâm Nghiên cứu
Khoa học ở Pháp và giáo sư khoa học Tánh Biết và Nhận thức
học tại Trường Bách khoa ở Paris, ghi lại ý nghĩ của ông
trong quyển sách The Embodied Mind do ông và hai giáo sư Ðại
học khác viết, như sau: "Ta tạo một niềm tin hay một tâm
ý thật có một cái ngã (ego-self) nơi thân ta không phải vì
chung cánh tâm thức (mind) ta không có cái ngã đó mà tại vì
cái tâm chấp ngã của ta là do cuộc sống hàng ngày điều
phối. Hay nói theo thuật ngữ tỉnh thức (mindfulness/awareness),
niềm tin ấy bắt rễ từ sự huân tập ngày này qua ngày khác
những cố ý hành động đượm nhuần những tâm sở bất
thiện làm tăng trưởng ái dục và chấp trước. Ta cứ tiếp
tục tin và tự nhủ là có ngã không phải vì cái ngã tự
nó không có; tin và tự nhủ như vậy là phản ứng tình cảm
đối với tánh vô ngã. Vì thường tưởng chừng có một cái
ngã cho nên khi suy luận không tìm thấy cái ngã mà ta tin là
có thời ta cảm thấy có sự mất mát. Ta cảm thấy như mất
một vật gì quý báu và thân thiết, và lập tức tìm cách
trám vào chỗ trống ấy một niềm tin có ngã. Nhưng làm thế
nào ta (ở đây, "ta" tạm có nghĩa là xuất hiện tánh "ta")
có thể mất một vật mà ta không có? Và nếu từ trước
đến nay ngay từ đầu ta chưa bao giờ có một cái ngã, thử
hỏi tiếp tục tìm cách duy trì một cái ngã ở bên trong ta
là để làm gì? Nếu ta nói chuyện với ta thời tại sao cần
phải nói ra tất cả những điều ấy trước mọi chuyện?
Mặc dầu
cái cảm giác mất mát có vẻ tự nhiên khi còn ở trong giai
đoạn suy luận tra tầm, nó gia tăng và kéo dài thêm khi sự
khám phá tánh vô ngã vẫn còn trong vòng lý thuyết. Theo truyền
thống thiền định, sự thức tỉnh ban đầu bằng luận chứng
chuyển hóa sâu vững hơn thành tự chứng tự giác về tánh
vô ngã. Qua một tiến trình tu tập tọa thiền, hành giả thức
tỉnh chuyển đổi từ cách lượng biết bằng suy luận qua
cách thông suốt trực tiếp bằng tri giác đơn thuần. Kinh
nghiệm thể nghiệm tánh vô ngã của nhiều thế hệ hành giả
cho thấy chứng quả không mang lại một cảm giác mất mát
đòi hỏi phải thay thế bằng một niềm tin hay tâm ý mới.
Trái lại đây là khởi đầu của một cảm giác về tự do
giải thoát khỏi trói buộc của những định kiến vì phát
hiện tánh khai phóng (openness) và hư không (space) trong đó những
gì ngay chủ đề đang là hay đáng lý phải là trở nên có
thể biến đổi được."
F. J. Varela
phát biểu giống hệt như vị lạt ma nổi tiếng Pabongka Rinpoche
khi chỉ dẫn pháp môn Quán Không thuật lại lời bàn của
Tsong-ka-pa, tổ sáng lập tông phái Phật giáo Mũ vàng Geluk
ở Tây tạng: "... Như vậy ngã được giả thiết là một
cái gì tự nó biệt lập, vì nó không là hậu quả của những
điều kiện khác. Nó cũng được gọi là một thực thể tự
tồn, vì nó không lệ thuộc vào bất cứ gì khác, cũng không
là hậu quả của một cái gì khác.
Bạn có thể
sử dụng những lời này trong cuộc tranh luận để bắt bí
đối phương, nhưng nếu bạn chưa xác định được nó bằng
kinh nghiệm thì bạn vẫn chưa nhận diện ra đối tượng của
sự bác bỏ. ... Bạn sẽ không hiểu được đối tượng này
qua sự mô tả của người khác hoặc qua những hình ảnh trong
tâm do danh từ gợi lên. Bạn phải nhận ra đối tượng của
sự bác bỏ nhờ những kinh nghiệm tâm linh cá nhân sống động
và thực thụ, qua một tiến trình phân tích. Nếu bạn chưa
xác định đối tượng sự bác bỏ thì bạn có nguy cơ rơi
vào cái bẫy là phản chứng lý duyên sinh của các pháp, mặc
dù có sử dụng nhiều luận cứ để chứng minh chúng thiếu
thực hữu." (Giải thoát trong lòng tay. Tập II. Thích nữ Trí
Hải dịch)
Ðức Phật
đã nhiều lần nhấn mạnh trên sự tự chính mình thấy, biết,
và hiểu rõ, vì đó là phương cách hữu hiệu để giải tỏa
mình ra khỏi tà kiến. Ngài khuyên những người thuộc bộ
tộc Kalama ở Kesaputta: "Này các Kalama, chớ có tin vì nghe lời
thuật lại, chớ có tin vì theo truyền thống, chớ có tin vì
nghe những lời đồn. Ðừng để bị dẫn dắt bởi uy quyền
của kinh điển, bởi luận lý siêu hình, hay bởi sự xét đoán
bề ngoài. Ðừng để bị lôi cuốn bởi những gì có vẻ
đáng tin, bởi thích thú trong những quan niệm võ đoán, hay
bởi ý nghĩ 'Ðây là thầy ta... Nhưng này các Kalama, khi nào
các người tự mình biết rằng các pháp ấy là thiện, là
tốt, được người có trí tán thán, các pháp này nếu được
chấp nhận và thực hiện thì sẽ đem lại hạnh phúc và an
lạc " (Tăng Chi Bộ Tập I, Kinh Các vị ở Kesaputta).
Ngài giải
thích vì sao không thể dùng ngôn ngữ và lý luận để thông
suốt tánh vô ngã hay tánh Không: "Chính thực tại hay pháp
tánh không phải hữu tướng, cũng không phải vô tướng; thể
của nó như hư không, vượt ngoài tri kiến và liễu giải;
pháp ấy vi diệu, khó lấy văn tự mà diễn nói. Tại sao thế?
Bởi vì nó
siêu quá hết thảy cảnh giới của văn tự; siêu quá hết
thảy cảnh giới của ngôn thuyết; siêu quá hết thảy các
cảnh giới ngữ nghiệp vận hành; siêu quá hết thảy các
cảnh giới của hý luận, phân biệt tư lương; siêu quá hết
thảy các cảnh giới của tầm tư và tính toán; siêu quá cảnh
giới sở tư của tất cả chúng sinh ngu muội; siêu quá cảnh
giới của hết thảy phiền não tương ưng ma sự; siêu quá
hết thảy cảnh giới của tâm thức; không bỉ không thử,
vô tướng, ly tưởng, siêu quá hết thảy cảnh giới hư vọng;
vì trụ nơi tịch tĩnh vô trụ xứ vốn là cảnh giới của
các Thánh giả.
Này thiện
nam tử, cảnh giới tự chứng của các Thánh giả ấy không
có sắc tướng, không có cấu tịnh, không có thủ xả, không
có trược loạn; thanh tịnh tối thắng; tánh thường bất
hoại; dù chư Phật xuất thế hay không xuất thế, ở nơi
pháp giới tánh, thể thường nhất." (Thiền luận. D. T. Suzuki.
Tập Trung).
Theo thuyết
Nhị đế, mặc dầu nhận thức chính xác về tánh Không không
thể hoàn toàn bằng vào những phân tích của tư tưởng, mà
đòi hỏi một công trình thực chứng, nhưng muốn đi về Tuyệt
đối, không thể hiểu một cách hời hợt là phải loại bỏ
triệt để mọi hình thức của ngôn ngữ. Lý do: Ngôn ngữ
và luận lý là con đường để khai hiển và chỉ thị Thật
tướng. Nếu không có con đường để khai hiển và chỉ thị
thời không có con đường để thể ngộ và chứng nhập. Nói
cách khác, muốn trình bày về Thật tướng thời phương cách
duy nhất là phát biểu trên bình diện tục đế. Những ngôn
từ và khái niệm như vô thường, vô ngã, duyên sinh, v..v...
rất cần thiết để giải thích tánh Không. Tất cả đều
thuộc phạm vi của tri thức thường nghiệm, của tục đế.
Với mục
đích biện giải thuyết Nhị đế Trung luận đưa ngay bốn
song thế phủ định trong bốn câu đầu bài tụng tán khởi.
Sau đây là bản văn chữ Hán.
Bất sinh diệc bất diệt
Bất thường diệc bất đoạn
Bất nhất diệc bất dị
Bất lai diệc bất xuất
Dịch là:
Chẳng sinh cũng chẳng diệt
Chẳng thường cũng chẳng đoạn
Chẳng đồng cũng chẳng khác
Chẳng đến cũng chẳng đi
Mở đầu
bài tụng, nhằm minh định một cách khái lược toàn bộ yếu
chỉ của Trung quán luận, ngài Long Thọ sử dụng tám phủ
định (bát bất) biểu dương đạo lý Duyên Khởi của đức
Thế Tôn nhìn dưới lăng kính Nhị đế. Như vậy là báo trước
trong toàn bộ luận không có một khẳng định nào xác quyết
chân tướng của sự vật. Ở đây, chân lý chỉ có thể khám
phá bằng các quan điểm phủ định về sự hữu có tự tính.
Một mặt,
tám "bất" đả phá tập quán quan sát và phân tích thế giới
theo lối nhị biên, sinh/diệt, thường/đoạn, một/khác, và
đi/lại, và lối phân biệt yếu tố chủ quan, yếu tố khách
quan, với những quan hệ nhân duyên giữa chúng. Mặt khác,
tám "bất" nhằm mục đích định nghĩa về một cái gì mà
ngôn ngữ và suy luận không đủ khả năng mô tả. Thực ra,
chỉ cần một "bất sinh" (anutpàda) cũng đủ để nói lên
không những các "bất" khác được nêu ra trong bài tụng, mà
còn vô số "bất" liên hệ đến mọi phẩm tính có thể áp
dụng vào cái Thực tại bất khả thuyết mà ta muốn định
nghĩa.
Quả vậy,
bất sinh (anutpàda), một trong những ý niệm căn bản nhất
của Phật giáo Ðại thừa, có thể diễn tả bằng những
từ ngữ tương đương, như là Không (sùnyatà), vô tự tính
(asvabhàva), bất nhị (advaita), thực tế (bhùtakoti), Niết bàn
(Nirvana), vô tướng (animitta), vô nguyện (apranihita), v..v...
Trong kinh Lăng già, đức Phật thường nói đến bốn tướng
pháp vô ngã: Không, bất sinh, bất nhị, và vô tự tính là
để hiển bày tự tính, chẳng rơi vào có không.
"Này Ðại
Huệ! Không, bất sinh, bất nhị, vô tự tính, khắp vào tất
cả kinh điển chư Phật. Phàm có kinh đều nói nghĩa này.
Vì các kinh điển thảy đều tùy theo tâm hy vọng của chúng
sanh, vì họ phân biệt nói hiển bày nghĩa ấy, mà không phải
chơn thật tại ngôn thuyết. Ví như một con nai khát nước
tưởng nước, rồi làm mê lầm cả bầy nai. Như thế, tất
cả kinh điển nói ra các pháp vì khiến kẻ ngu phát hoan hỷ,
chẳng phải thật thánh trí ở nơi ngôn thuyết. Thế nên phải
y nơi nghĩa chớ chấp ngôn thuyết."
Ðại ý:
Vì tự tính vọng tưởng chấp trước nên nói Không, bất
sinh, bất nhị, vô tự tính. Nếu hay chứng biết tự tính
vọng tưởng, liền lìa chấp trước, ngay nơi đó lặng lẽ.
Thế mới biết, Không, bất sinh, bất nhị, vô tự tính, là
ngôn từ và khái niệm để chỉ ra chủ yếu, chẳng phải
hiển thẳng đệ nhất nghĩa. Hiển bày nghĩa kia, là do ngữ
mà vào nghĩa, như ngọn đèn soi sự vật, mà chẳng phải chơn
thật ở lời nói. Cho nên không thể y ngữ mà nhận nghĩa.
Phải y nơi nghĩa chớ y nơi ngôn thuyết.
Khi mà tính
cách hiện hữu của một sự vật không được một thiên
kiến nào của tứ cú xác định, khi nó vượt ra ngoài lưỡng
cực hữu và vô, và không bị chi phối bởi nguyên lý tương
đối tính, thời khi ấy không còn cách nào khác để mô tả
sự hiện hữu của sự vật ngoài cách gọi nó là bất sinh.
Bất sinh không có nghĩa là thường tại vì thường tại đối
nghịch với vô thường. Bất sinh cũng không có nghĩa là 'không
được tạo tác ra' vì không được tạo tác ra đối nghịch
với 'được tạo tác ra'. Bất sinh tức là đã vượt qua thế
giới được kiến thiết bằng lưỡng nguyên tính. Nói đơn
giản hơn, sự vật bất sinh không thuộc một phạm trù nào
có chứa mâu thuẫn, đối đãi, và tương phản.
Trung luận
đưa ra bốn luận chứng để thuyết minh tính bất sinh.
A) Không có
chủ thể của sinh khởi. Ðiều này được đề cập trong
các bài tụng Trung luận I.6 và 7:
6. Quả tiên ư duyên trung
Hữu vô câu bất khả
Tiên vô vi thùy duyên
Tiên hữu hà dụng duyên.
Dịch giải:
6. Hữu hay
phi hữu nhờ vào duyên là điều không hợp lý. Vì làm sao
một phi hữu mà cần đến duyên và làm sao một hiện hữu
mà còn cần đến duyên?
7. Vì chẳng
có hữu sinh, cũng chẳng có phi hữu sinh, cũng chẳng có hữu-phi
hữu sinh, thời làm thế nào mà có duyên sinh?
B) Không có
nhân của sinh khởi. Ðiều này được đề cập trong bài tụng
Trung luận I.1:
1.
Chư pháp bất tự sinh
Diệc bất
tòng tha sinh
Bất cọng
bất vô nhân
Thị cố
tri vô sinh.
Dịch là:
1. Các pháp
chẳng tự sinh ra từ tự thể, chẳng sinh ra từ một vật
thể khác, chẳng sinh ra từ tự và tha cọng lại, chẳng sinh
ra mà không có nguyên nhân. Do đó biết các pháp vốn vô sinh.
C) Sự vật
không thể thành lập vì không thành lập được tính đồng
nhất hay dị biệt của chúng. Ðiều này được đề cập
trong bài tụng Trung luận II.21:
21. Khứ khứ giả thị nhị
Nhược nhất dị pháp thành
Nhị môn câu bất thành
Vân hà đương hữu thành.
Dịch
giải: 21. Nếu tính đồng nhất hay tính dị biệt của một
sự vật (ở đây, động tác và kẻ chuyển động) không thể
thành lập thời làm sao có thể thành lập sự vật được.
D) Sự vật
hiện ra tuồng như cái này tương hợp với cái kia và ngược
lại. Chúng tuồng như dị biệt nhưng kỳ thật chúng không
có tự tính nên tính dị biệt của chúng là vô tự tính.
Ðiều này được đề cập trong các bài tụng Trung luận XIV.5-7:
5. Dị nhân dị hữu dị
Dị ly dị vô dị
Nhược pháp tùng nhân xuất
Thị pháp bất dị nhân.
6. Nhược ly tùng dị dị
Ưng dư dị hữu dị
Ly tùng dị vô dị
Thị cố vô hữu dị.
7. Dị trung vô dị tướng
Bất dị trung diệc vô
Vô hữu dị tướng cố
Tắc vô thử bỉ dị.
Dịch giải:
5. Một sự vật dị biệt đối với một sự vật dị biệt
tươngỳ hệ là do tính dị biệt. Tách rời tính dị biệt,
thời sự vật dị biệt không còn dị biệt. Một sự vật
không dị biệt với một sự vật từ đó nó xuất sinh. Nghĩa
là: Nếu tính dị biệt thực sự là có tự tính, thời phải
thành lập được độc lập riêng rẽ tính đồng nhất và
bản tính của mỗi sự vật dị biệt tương hệ. Ðó là điều
không thể thực hiện.
6. Nếu tách
khỏi cái dị biệt mà tính dị biệt vẫn hiện hữu, thời
khi tách khỏi tính dị biệt cái dị biệt vẫn dị biệt.
Theo bài tụng trên (bài số 5) điều này không xảy ra.
Do đó, tách khỏi cái dị biệt thời tính dị biệt không
còn nữa. Vì thế nên tính dị biệt không có tự tính.
7. Tính dị
biệt không tìm thấy như là quan hệ giữa sự vật hay ở
trong mỗi cá thể sự vật. Vậy tính dị biệt là vô tự
tính. Nhưng vì cho rằng tính dị biệt có tự tính cho nên
mới có vấn đề tương hợp. Vì tính dị biệt là vô tự
tính nên không có những sự vật đồng nhất hay những sự
vật dị biệt.
Ðiều này
cũng được đề cập trong các bài tụng Trung luận XVIII.10-11:
10. Nhược pháp tùng duyên sinh
Bất tức bất dị nhân
Thị cố danh thực tướng
Bất đoạn diệc bất thường.
11. Bất nhất diệc bất dị
Bất thường diệc bất đoạn
Thị danh chư Thế tôn
Giáo hóa cam lộ vị.
Dịch giải:
10. Nếu pháp do duyên sinh, thì nó chẳng đồng nhất với nhân
mà cũng chẳng sai khác với nhân. Vì thế gọi là thật tướng.
Không đoạn cũng không thường,
11. không
đồng nhất cũng chẳng dị biệt, không thường cũng không
đoạn, đó chính là những vị cam lồ (giáo pháp bất tử)
mà chư Phật đã giảng dạy để hóa độ.
Dùng duy một
"bất sinh" để nói lên Thực tại bất khả tư nghì bất khả
đắc thời chỉ mô tả mới được một khía cạnh, khía cạnh
tĩnh, của Thực tại vô ngôn. Trong trường hợp này, Chân
đế có ý nghĩa như một chân lý cứu cánh. Sử dụng ngôn
ngữ theo lối này không làm sáng tỏ khía cạnh linh động
của ngôn ngữ.
Bát bất
là Trung đạo, là một vận động hướng đến một cái bất
khả tư nghì bất khả đắc. Chúng là phương tiện sử dụng
ngôn ngữ bằng đặc tính động của ngôn ngữ. Nói không,
không nhất thiết là không. Nói có không nhất thiết là có.
Cách nói có và không như vậy là đã nói mà không nói. Ðó
chính là lối nói "tức phi, thị danh" của kinh Kim Cang. Trong
trường hợp này, Chân đế có ý nghĩa như là một viễn tượng
chân lý. Nhưng dù nhìn Chân đế như một chân lý cứu cánh
hay như một viễn tượng chân lý, Chân đế cũng như tục
đế là một chân lý giả định. Nhưng tục đế thời khẳng
định mà Chân đế thời phủ định. Phủ định triệt để,
phủ định không hàm dung một khẳng định nào cả. Trung luận
viết: "Thật tướng của các pháp thì đoạn bặt, cắt đứt
cả tâm hành (tư duy) lẫn ngôn ngữ, không sanh cũng không diệt,
tịch diệt như Niết bàn" (Bài tụng Trung luận XVIII.7).
Bát bất
bao hàm cả tục đế lẫn Chân đế. Do đó, ta phải nhìn bất
sinh bất diệt qua tương quan với sinh diệt. Ðó là tương
quan giữa phủ định và khẳng định. Sinh diệt, thường đoạn,
nhất dị, lai xuất là những khẳng định do áp dụng những
định luật phổ quát của luận lý trên căn bản nhân quả.
Thừa nhận tiến trình sinh hóa của hiện thực, có khởi lên
và có biến mất, mà thừa nhận qua lý duyên khởi, thời chính
là phủ định hiện thực đó. Bởi vì hiện thực do duyên
khởi nên nó không có yếu tính quyết định. Vô tự tính
tức bản tánh của nó là Không. Vậy sinh diệt chính là bất
sinh bất diệt. Sinh diệt, nhưng là bất sinh bất diệt, đó
là ý nghĩa của Không. Ngược lại, bất sinh bất diệt chính
là sinh diệt, đó là ý nghĩa của Giả danh. Ta thấy ngay lối
phát biểu những định luật phổ quát trên căn bản tri thức
thường nghiệm bằng đặc tính tĩnh chỉ của ngôn ngữ làm
cho Thực tại trở thành phi lý, như mộng huyễn, tức là Không.
Nhưng nếu nhận thức chính xác về ý nghĩa Giả danh, thời
Thực tại mà ta thấy có biến mất có khởi lên, kỳ thực
là không có biến mất hay khởi lên, bởi vì ta gọi nó là
Giả danh. Ðã là Giả danh thời không thể sinh diệt. Và Thực
tại mà khởi lên như mộng, biến mất cũng như mộng, thời
sinh diệt chính là bất sinh bất diệt và bất sinh bất diệt
chính là sinh diệt. Ðó là ý nghĩa của Trung đạo.
Như vậy,
dù nói hiện thực khởi lên và biến mất hay không khởi lên
và biến mất, gián đoạn và thường tồn hay không gián đoạn
và thường tồn, đồng nhất và dị biệt hay không đồng
nhất và dị biệt, hiện đến và hiện đi hay không hiện
đến và hiện đi, dù nói cách nào đi nữa, Thực tại vẫn
là Thực tại, nó như vậy là như vậy, không là gì cả. Ðó
là lối định nghĩa độc đáo của tánh Không bằng bát bất.
Thuyết
Nhị đế phân cách tánh Không là Lý tánh tuyệt đối với
vạn hữu là những sự thể cụ thể. Theo triết lý Hoa nghiêm,
Lý tánh và sự thể tương tức, và không chướng ngại, hỗ
tương nhiếp nhập mặc dù chúng vẫn phân lập và đối đầu
nhau. Nói như thế có nghĩa là, thứ nhất, Lý tánh tức tánh
Không tức vô tự tính đều ở nơi mỗi mỗi sự thể. Nói
cách khác, mọi sự thể đều vô thường. Thứ hai, lý tánh
của bất kỳ một sự thể riêng biệt nào cũng đồng nhất
với lý tánh của hết thảy mọi sự thể. Nên hiểu chữ
"của" ở đây là "bao dung lẫn nhau", như nói màu xanh của
trời; vì màu của trời là màu xanh. Chữ "của" diễn tả
sự bao dung theo nghĩa tương tại và tương thị. Tương tại
là cái lớn ở trong cái nhỏ và cái nhỏ ở trong cái lớn.
Vậy cái này chính là cái kia: tương tại tức tương thị.
Từ chỗ tương dung của Lý và Sự, của cái Lớn vô hạn
và cái Nhỏ hữu hạn, bởi vì Lý tức Sự và Sự tức Lý,
do đó tiến đến chỗ tương dung của vạn hữu.
Pháp
giới, trong ý nghĩa vừa là cảnh giới của lý tắc vừa là
cảnh giới của tất cả sự tướng, đồng nghĩa với Như
Lai Tạng và cũng đồng nghĩa với vũ trụ hay thế giới hiện
thực. Như vậy, Pháp giới một mặt khác với Thế gian giới,
nhưng một mặt cũng là Thế gian giới.
Trong bốn
cách nhìn Pháp giới bao gồm Nhị đế (sự pháp giới, lý
pháp giới, lý sự vô ngại pháp giới, và sự sự vô ngại
pháp giới) do ngài Trừng Quán đề ra, đặc sắc nhất là
sự sự vô ngại pháp giới. Sự sự vô ngại pháp giới là
một thế giới trong đó có một sự hỗ tương giao thiệp
toàn diện. Những thực tại cá biệt được bao hàm trong một
Thực tại bao la và Thực tại bao la này lại tham dự trong
từng mỗi thực tại cá biệt. Không duy chỉ có thế. Mỗi
mỗi sự vật bao hàm trong chính nó mỗi mỗi sự vật khác.
Ðó là một thế giới của kinh nghiệm tâm linh thực thụ,
không đạt được bằng suy lý hay tưởng tượng mà do trực
tiếp cảm nghiệm. Dù tràn ngập thiên hình vạn trạng, nhưng
rất có trật tự. Trật tự đó được thiết lập trong những
phản chiếu trùng trùng vô tận, mỗi sự thể tự phản chiếu
và phản chiếu tất cả mọi sự thể, như được diễn tả:
"Asya kùtàgàràvyùha
anyonyà sambhinnà anyonyà maitribhùtà anyonyà sankirnàh pratibhasyogena
bhàsamagamannekasminnàrambane yathà caikasminnàrambane tathà, sesarvàrambaneusu"
Dịch thoát:
Mọi vật được phối trí làm cho không có sự hỗ tương
gián cách của chúng, vì tất cả đều hỗn hợp, nhưng mỗi
vật không vì vậy mà mất cả biệt tính, bởi hình ảnh của
kẻ sùng một đức Di Lặc được phản chiếu trong mỗi vật
đó, và không chỉ phản chiếu trong một phương hướng riêng
biệt mà trong mọi hướng của Lầu các, tạo thành sự tương
giao phản chiếu toàn diện giữa các ảnh tượng" (Thiền luận.
D. T. Suzuki. Tập Hạ).
Một cái
thế giới có trật tự tương tợ như sự sự vô ngại pháp
giới thật đang cần thiết cho các nhà vũ trụ học, sinh học,
sinh lý học, thần kinh học, tâm lý học, khoa học tánh Biết,
để họ tựa trên đó mà giải thích những dữ kiện thu thập
trong các công trình nghiên cứu và thí nghiệm.
Từ năm 1714,
toán học và triết gia G. W. von Leibniz [người khám phá toán
vi tích phân, và công nhận sự mã hóa nhị phân (binary code)
mà ông đặt ra đã được vua Phục Hy dùng biểu trưng lẽ
biến hóa của vũ trụ trong 64 quẻ Dịch năm ngàn năm về
trước] đã phát biểu là có một thực tại siêu hình cội
nguồn của thế giới vật chất. Hơn hai trăm năm sau, vào
năm 1947, nhà vật lý học Anh gốc Hung gia lợi Dennis Gabor áp
dụng toán vi tích phân của Leibniz tiên đoán và mô tả một
cách chụp ảnh kích thước ba chiều gọi là phép ghi ảnh
toàn ký (holography). Năm 1969, Emmett Leith và Juris Upatnicks báo
tin thực hiện thành công phép ghi ảnh toàn ký bằng tia laser
vừa mới được phát minh. Vì sự khám phá phép ghi ảnh toàn
ký có nhiều ứng dụng lợi ích nên Gabor được trao giải
Nobel Vật lý năm 1971. Thế nào là phép ghi ảnh toàn ký?
Ðây là một
cách chụp ảnh không dùng thấu kính (lens) như trong các máy
ảnh thông thường. Ánh sáng là một chùm tia laser chiếu
đến một tấm gương mạ bạc nửa phần để chùm laser có
thể chia thành hai phần, một phần tạm gọi là phần 1 phản
chiếu trên gương rồi đến chiếu sáng vào vật thể ta muốn
chụp ảnh và một phần khác tạm gọi là phần 2 đi thông
suốt qua mặt gương đến chiếu vào tấm phim ghi ảnh. Ánh
sáng phần 1 sau khi chiếu vào vật thể sẽ phản chiếu trở
lại về hướng tấm phim ghi ảnh và giao thoa với ánh sáng
phần 2 trên tấm phim ghi ảnh để tạo nên một hình ảnh
của vật thể, gọi là ảnh toàn ký (hologram). Muốn nhìn ảnh
toàn ký thời phải sử dụng ánh sáng laser và khi nhìn vào
ảnh, một ảnh với kích thước ba chiều hiện ra rõ ràng
như khi ta nhìn cảnh vật qua cửa sổ. Ðiểm đặc biệt và
mới lạ của ảnh toàn ký là như thế này. Thí dụ ta chụp
ảnh toàn ký hình toàn thể một con voi, và sau đó ta cắt
vụn ảnh ra. Khi đem một mảnh vụn, bất kỳ mảnh nào, phóng
đại lên theo độ lớn của ảnh nguyên thủy thời điều
làm ngạc nhiên là mảnh vụn ấy chứa hình của toàn thể
con voi. Mỗi mảnh vụn chứa thông tin về toàn thể sự vật.
Như vậy, hình tướng và cấu trúc của toàn thể sự vật
đã được thu nhiếp trong mỗi một vùng của ảnh toàn ký.
Khi chiếu ánh sáng vào bất cứ vùng nào thời hình tướng
và cấu trúc ấy mở bày phóng khai trở lại tái tạo hình
ảnh của toàn thể sự vật như trước. Trong trường hợp
này, có một thứ trật tự mới: mọi sự vật thu nhiếp trong
mọi sự vật.
Nhà vật
lý học David Bohm, giáo sư Ðại học London, người đã từng
làm việc với Einstein, gọi đó là trật tự thu nhiếp (implicate
order). Ông phân biệt hai thứ trật tự tùy theo lối nhìn vào
thực tại: trật tự thu nhiếp tương phản với trật tự
phóng khai (explicate order). Trong vật lý học, trật tự phóng
khai có nghĩa là mỗi mỗi sự vật chiếm cứ một vùng không
thời riêng biệt của nó và nằm ngoài những vùng các sự
vật khác chiếm cứ. Ðó là lối nhìn cổ điển qua thấu
kính (lens) chú trọng vào sự phân tích chia chẻ ra thành phần
riêng biệt. Lối nhìn thứ hai mà ông đề nghị thay thế lối
nhìn kia là qua phép ghi ảnh toàn ký (holography) nhìn thực tại
như toàn thể vị phân hóa (unbroken wholeness). Nói cho đúng,
ảnh toàn ký chỉ là một dụng cụ có chức năng "bắt chộp"
(snapshot) ghi lại một hình ảnh tĩnh. Trật tự thu nhiếp được
ghi lại như vậy thật ra nằm trong chuyển động truyền dẫn
của các điện từ trường dưới dạng sóng ánh sáng. Sóng
ánh sáng chuyển động truyền dẫn khắp nơi và trên nguyên
tắc, sự chuyển động truyền dẫn đó thu nhiếp toàn thể
không thời gian của vũ trụ vào trong mỗi một vùng. Chỉ
cần dùng mắt thật tốt hay một viễn vọng kính là có thể
thấy mọi sự vật thu nhiếp phóng khai trở lại.
Ngoài chuyển
động truyền dẫn của ánh sáng, trật tự thu nhiếp và phóng
khai có thể nằm trong chuyển động của các sóng khác, như
trong sóng âm thanh hay sóng âm điện tử, sóng dương điện
tử, v..v... Tất nhiên còn nhiều loại sóng mới lạ sau này
có thể khám phá thêm. Nhưng danh từ sóng dùng ở đây là
chỉ vào loại sóng tuân theo những định luật của cơ học
lượng tử. Nghĩa là có tính gián đoạn và phi cục bộ. Các
định luật này về sau có thể trở nên những trường hợp
đặc biệt của những định luật tổng quát hơn nữa. Như
thế, toàn bộ chuyển động thu nhiếp và phóng khai có thể
vượt xa khỏi tầm mức thấy biết của chúng ta. Bohm gọi
toàn bộ ấy là toàn lưu (holomovement). Theo ông, mọi cái đương
là (what is) chính là toàn lưu và mọi sự vật phải được
hiểu như là sự tướng dẫn xuất từ toàn lưu mà có. Theo
thuật ngữ Phật giáo toàn lưu của Bohm là sự sự vô ngại
pháp giới của Hoa nghiêm. Bohm còn gọi nó là vũ trụ toàn
ký (holographic universe).
Trước đó
khoảng chừng hai năm (1969), Karl Pribram, giáo sư chuyên về
não bộ tại Ðại học Stanford, khởi xướng một thuyết mới
về não quan hệ nhiều phạm trù hoạt dụng của thức. Theo
ông, cơ cấu làm toán của não phụ thuộc những hỗ tương
tác dụng nơi diện tiếp hợp (synapse) các neuron do các sợi
trục (axons; các nhánh truyền xung động thần kinh) của mạng
chuyển đến. Các làn sóng xung động truyền dẫn chậm dọc
theo các sợi trục có khả năng thực hiện các phép toán.
Thông tin trong não có thể được phân phối giống như trong
một ảnh toàn ký và được xử lý song song (parallel processing).
Như vậy, không có chỗ nào xác định là nơi trú sở của
bộ nhớ. Các mắc nối là gồm những tuyến truyền dẫn ánh
sáng. Não bộ tính toán và dựng lên những cấu trúc cụ thể
về thực tại bằng cách phiên giải những tần số đến
từ một thế giới khác, thế giới này vượt ra ngoài không
gian và thời gian. Ðến ngày nhờ người con cũng là một nhà
vật lý học cho biết công trình nghiên cứu của Bohm, Pribram
đồng ý ngay với Bohm quan niệm thế giới này chính làvũ
trụ toàn ký của Bohm. Tóm lại, não là một ảnh toàn ký
phiên giải một vũ trụ toàn ký có đủ mọi đặc tính của
sự sự vô ngại pháp giới của Hoa nghiêm. Do đó Pribram đã
kết liên hai lãnh vực nghiên cứu sai biệt, khoa học về não
và vật lý lý thuyết. Cả Bohm lẫn Pribram đều công nhận
thiền định là phương pháp chân thực và chánh đáng để
thể nghiệm vũ trụ toàn ký.
Tóm lại,
đối với số càng ngày càng đông khoa học gia có kinh nghiệm
về tánh Không như Varela, Bohm, và Pribram, thời mọi quán sát
và phân tích khoa học phải tựa trên hai lập trường Chân
đế và tục đế. Họ đồng ý với ngài Long Thọ: "Do tánh
Không mà tất cả pháp được thành tựu và hợp lý" (Bài
tụng Trung luận XXIV.14). Tánh Không là bản thể của lý duyên
khởi và đối với các nhà khoa học duyên khởi có nghĩa là:
"Không có tác giả, không có thọ giả, chỉ có tác nghiệp".
Ðạo lý duyên khởi Trung đạo nay trở thành lý tắc căn bản
cho những công trình nghiên cứu khoa học có tính cách tiến
bộ và lợi ích nhất trên khắp thế giới. Chính lý duyên
khởi là động cơ thúc đẩy Stuart Kauffman, nhà nghiên cứu
rất nổi tiếng về sự thành lập và hoạt động của sinh
vật, đặt ra một số câu hỏi định hướng cho công việc
nghiên cứu của ông trong thiên kỷ mới này. Như là, ngoài
ba định luật Nhiệt động học bấy lâu áp dụng giải thích
hoạt dụng của mọi hệ thống kín, có thể nào tìm ra một
định luật Nhiệt động học thứ tư điều hành mọi hệ
thống hở như các sinh quyển (biosphere) trong khắp vũ trụ
hay không? Những điều kiện nào khiến một hệ thống vật
lý hiện thành một tác nhân tự quản? Ông cần biết trả
lời câu hỏi thứ nhất để định nghĩa thế nào là chu kỳ
vận hành của hệ thống hở. Và biết chu kỳ vận hành là
để trả lời câu hỏi thứ hai, vì ông mường tượng câu
trả lời, đại để, một tác nhân tự quản là một hệ
thống tự sanh có khả năng thực hiện ít nhất là một chu
kỳ vận hành. Rồi chu kỳ vận hành dẫn đến khái niệm
chế ngự, vì vận hành tức là sự giải phóng năng lượng
có chế ngự (constrained release of energy) để làm ra công (work).
Và công lại được dùng để tạo những chế ngự trong sự
giải phóng năng lượng, và cứ thế mà tuần hoàn diễn tiến
vận hành. Do đó, nảy sinh ra khái niệm mới là khái niệm
"tự phối trí" (self organization). Khái niệm này không những
bao gồm các khái niệm về vật chất, năng lượng, entropy,
hay thông tin (information), mà còn liên quan đến sự xuất hiện
những chế ngự trong vũ trụ và trong sinh quyển cần thiết
cho sự giải phóng năng lượng để làm ra công, và công để
tạo chế ngự giải phóng năng lượng, ... Phải hiểu rõ ràng
những khái niệm này thời mới có thể hiểu làm thế nào
các sinh quyển tự cấu thành và làm thế nào vũ trụ tự
cấu thành. Sau đó là câu hỏi làm thế nào khuếch trương
sự phối trí thành những chức năng mới, như nghe, thấy,
bay, nói. Tiếp tục đặt ra những câu hỏi như vậy tất nhận
ngay ra rằng không thể nào xác định đầy đủ hết thảy
mọi yếu tố cấu thành sinh quyển. Bởi vậy mọi định luật
khoa học hiện có và các thứ toán học như cơ học thống
kê hay vi tích phân đều bất lực vì không thể nào mô
tả sinh quyển là hệ thống không có biên giới, vô thủy
vô chung. Ông nghĩ rằng ông phải tìm cách để giải đáp
những câu hỏi vô cùng khó hiểu ấy.
Stephen Wolfram,
một nhà toán học kỳ tài, chỉ trong vòng một năm hoàn thành
luận án tiến sĩ về Vật lý lý thuyết tại Ðại học Caltech,
một trong những Ðại học lớn nhất thế giới, vào năm hai
mươi tuổi, và được mời giảng dạy ngay tại trường ông
tốt nghiệp, sắp viết xong một quyển sách tựa đề là A
New Kind of Science, mà người đủ mọi giới, chính trị, kinh
tế, xã hội, khoa học, toán học, tôn giáo, v..v... chờ
đợi hơn bốn năm nay. Trong một cuộc phỏng vấn, ông cho
biết vào khoảng năm 1984 ông nhận ra trước đó ông phạm
một lỗi lầm là giả định các hệ thống thiên nhiên tiến
hóa từ tình trạng hỗn mang đến một tình trạng có trật
tự. Ông tự hỏi tại sao không đảo ngược lại vấn đề,
khởi xuất từ những điều kiện có trật tự để tìm những
qui luật dẫn đến những hệ thống phức tạp nhiều hơn.
Ông áp dụng thuyết cơ quan tế bào tự động của Von Newmann
và tìm các qui luật biến hóa cơ quan một chiều (one dimensional
cellular automata) thành một cái máy tính vạn năng có thể phát
hiện tướng trạng của vạn hữu, từ thiên thể, bão tố,
sinh vật, cánh hoa, đến thị trường chứng khoán, ... Trên
phương diện diễn tả, ông thay đổi hẳn ngôn ngữ toán học
được dùng bấy lâu trong khắp mọi ngành khoa học. Về mặt
khoa học, ông không cần luật chọn lọc tự nhiên của Darwin
mà vẫn chứng minh một cách cụ thể là sinh vật khoác một
tướng trạng khả hữu theo những qui tắc của cơ quan tế
bào tự động. Một vài điểm chứng minh khác là tại sao
thời gian di chuyển một chiều, làm thế nào để chế tác
những cơ thể nhân tạo, thị trường chứng khoán vận hành
như thế nào, làm thế nào các hệ phức tạp như thiên hà
hay giông tố biểu lộ thông minh, những phương pháp mới về
chế tạo mạch tổ hợp và máy tính ở mức nguyên tử, tại
sao cây, lá, vỏ ốc biển, hoa tuyết, ... có những hình thể
như hiện nay. Ðiều đáng lưu ý trong cuộc phỏng vấn này
là ông tuyên bố trong khoa học tân kỳ của ông không có chỗ
đứng cho "God" (dịch là Ðấng tạo hóa).
Những công
trình nghiên cứu như vừa trình bày trên không phải là những
suy đoán siêu hình học. Một phần là do tính hiếu kỳ tự
nhiên của số khoa học gia có khả năng kinh nghiệm tánh Không
của vạn hữu. Nhưng phần chính yếu là bằng những phương
pháp khoa học hiện đại và với những máy móc, dụng cụ
tân tiến mới phát minh họ gia công tìm hiểu cách thức "diệu
hữu" sinh khởi từ cái "chân không" bất khả thuyết mà họ
tin là có. Ðối với những người con Phật, quán triệt lý
duyên khởi Trung đạo không những như pháp tắc vận hành
trong Thế gian giới mà còn là phương cách để đạt được
trí tuệ như thực tri kiến. Có như thế mới thể hiện lý
tưởng tối cao của con người là lý tưởng giải thoát. Ðức
Phật không những đã thấy được pháp duyên khởi, Ngài còn
đem phân biện thuyết minh để chỉ cho mọi người đều thấy
suốt 45 năm truyền bá chánh pháp. Trong bài tụng đầu của
Trung luận Bồ tát Long Thọ tán thán công đức cao dày và
sâu rộng đó, ca tụng đức Phật là bậc Vô Thượng Sư,
và đồng thời muốn nói lên rằng sự thống hợp tánh Không
với lý uyên khởi cũng như thuyết Nhị đế Trung đạo có
mục đích biện giải, chứ không phải là lý giáo, nghĩa là
nguyên lý mà Phật giảng dạy. Xin kết luận bài này với
bài tụng tán khởi ấy.
Bất sinh diệc bất diệt
Bất thường diệc bất đoạn
Bất nhất diệc bất dị
Bất lai diệc bất xuất
Năng thuyết thị nhân duyên
Thiện diệt chư hý luận
Ngã khể thủ lễ Phật
Chư thuyết trung đệ nhất.
Tháng
giêng, 2001