13.
Tánh Không phủ định cái gì?
Không tánh,
chủ đề của triết học Trung quán, là một phủ định tuyệt
đối, nghĩa là không hàm ý một khẳng định nào đằng sau.
Nhưng phủ định cái gì? Từ khi Trung luận của Bồ tát Long
Thọ giải thuyết tánh Không và lý duyên khởi gắn liền nhau
bằng con đường nhị đế vào cuối thế kỷ thứ hai cho đến
nay, các học giả, triết gia, cũng như luận sư Phật giáo
từ Ðông qua Tây không ngớt bàn cãi về câu hỏi đó. Có
rất nhiều cách trả lời tùy theo lập trường của người
giải đáp. Ðiều này chứng tỏ tánh Không của Trung quán
là một chân lý rất khó hiểu khó bàn và đòi hỏi một công
trình tu chứng kiên trì và tinh tiến mới mong chứng ngộ.
Cũng vì lý do ấy Bồ tát Long Thọ lên tiếng cảnh cáo: "Vì
căn tánh ám độn, không có khả năng chánh quán Không tánh,
nên tự hại, chẳng khác nào không giỏi về chú thuật bắt
rắn nên không thể bắt những rắn độc một cách thiện
nghệ (Trung luận XXIV.11). Ðức Thế tôn biết rõ pháp này
là pháp sâu xa mầu nhiệm, chẳng phải là pháp mà kẻ độn
căn có thể hiểu được vì thế mà Ngài không muốn dạy
(Trung luận XXIV.12)."
Trước hết
có quan điểm tất cả mọi hiện tượng đều bị phủ
định. Sự phủ định căn cứ trên những luận chứng
phân tích thực tại tức biện chứng pháp Trung quán. Biện
chứng pháp Trung quán, hay nói gọn lại, biện chứng, là dùng
tứ cú để xác định bản thể của sự vật, phân tích xem
vật thể tự hữu tức là có tự tính hay không, hoặc xem
vật thể hòa đồng thành một hay có tự tính dị biệt với
danh sở y của nó hay không. Biện chứng thường được sử
dụng trong lúc hành thiền tích không quán, một lối quán Không
dùng quán sát và phân tích để triển khai loại trí tuệ thông
hiểu giáo pháp liễu nghĩa. Sau đây là những lý do dẫn chứng.
1. Sử dụng
biện chứng pháp Trung quán để tìm một dấu hiệu về sự
hữu khả dĩ thấy biết hay nắm bắt được thời kết quả
là không tìm thấy. Nói theo thuật ngữ biện chứng, mọi hiện
tượng đều không đương đầu nổi với biện chứng; như
thế, theo quan điểm này tất cả mọi hiện tượng đều bị
tri thức phủ định.
2. Không
có hình thái nhận thức (pramàna) nào thấy biết hiện tượng
tục ước cả. Bởi vậy mọi hiện tượng tục ước đều
bị phủ định.
3. Trung luận
phủ định tất cả bốn thiên kiến của tứ cú -hữu, vô,
cả hai hữu và vô, và không cả hai hữu và vô - và không
có một hiện tượng nào nằm ngoài bốn thiên kiến ấy.
4. Sự hiện
khởi có thể giới hạn trong bốn nguyên nhân - từ chính
nó, từ cái khác, từ cả hai hợp lại, và không do nhân duyên
nào - và tất cả bốn nguyên nhân đều bị Trung luận bác
bỏ.
Tsong-ka-pa,
tổ sáng lập tông phái Phật giáo Mũ vàng Geluk ở Tây tạng
vào thế kỷ 14, phản bác những luận chứng ấy như sau.
1. Ðúng
như thế, mọi hiện tượng đều không đương đầu nổi với
biện chứng. Nhưng không phải vì vậy mà mọi hiện tượng
đều bị tri thức phủ định. Bởi vì cần biết rằng sự
"không đương đầu nổi với biện chứng" khác biệt với
sự "bị tri thức phủ định", và sự "không được tri thức
thấy biết" khác biệt với sự "được tri thức nhận ra là
phi hữu".
Chẳng hạn,
năm căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân có cảnh giới sai khác,
có hành giới sai khác, không có thọ lãnh cảnh giới, hành
giới lẫn nhau. Nhãn thức do nhãn căn duyên với sắc trần
mà phát khởi. Nhĩ thức do nhĩ căn duyên với thanh trần mà
phát khởi. v..v... Thức là liễu biệt cảnh thức, nghĩa là
liễu tri mỗi mỗi cảnh riêng biệt. Nhãn thức liểu tri sắc,
nhĩ thức liễu tri thanh, v..v... Nhãn thức không thấy biết
âm thanh nhưng như vậy không có nghĩa là âm thanh bị nhãn
thức phủ định hay bị nhãn thức nhận ra là phi hữu. Trái
lại, trong trường hợp nhãn thức tìm kiếm một hình tướng
thuộc cảnh giới thấy biết của mình, nếu nhãn thức không
thấy dấu hiệu nào của hình tướng đó, thời sự hữu của
hình tướng ấy bị nhãn thức phủ định và tại nơi tìm
kiếm, hình tướng ấy phi hữu đối với nhãn thức.
Tương tợ
như thế, cảnh giới hoạt dụng của biện chứng là xác nhận
sự có hay không có tự tính của sự vật. Nếu biện chứng
tìm kiếm và nắm bắt được tự tinh thời tự tính hiện
hữu. Trên thực tế, bởi vì biện chứng không tìm thấy tự
tính ở đâu cả cho nên mới bảo rằng tự tính bị tri thức
phủ định và nhận ra là phi hữu. Mặt khác, hiện tượng
tục ước tuy không đương đầu nổi với biện chứng nhưng
không nằm trong cảnh giới hoạt dụng của biện chứng nên
không phải vì không được thấy biết mà hiện tượng tục
ước bị biện chứng phủ định và nhận ra là phi hữu.
Thêm nữa,
mỗi khi biện chứng đi tìm một dấu hiệu gì về sự hữu
khả dĩ nắm bắt được tại một nơi tưởng có sự hữu
mà không tìm ra, thời nơi chỗ ấy và vào lúc ấy biện chứng
tìm ra được Không tánh, sự không có mặt của cái tự
tính mình đi tìm kiếm. Tuy nhiên, Không tánh được biện
chứng tìm thấy không có nghĩa là Không tánh khả dĩ đương
đầu nổi với biện chứng. Bởi vì đây là trường hợp
tri thức đi tìm tự tính mà không thấy tự tính cho nên mới
tìm thấy được tánh Không của cái tự tính ấy. Thay vì
đi tìm tự tính, nếu áp dụng biện chứng để tìm Không
tánh, thời Không tánh không đương đầu nổi với biện chứng,
nghĩa là không tìm thấy tánh Không mà lại tìm thấy được
tánh Không của Không. Do đó, sự tìm thấy được do biện
chứng và sự đủ khả năng đương đầu với biện chứng
là hai chuyện khác nhau.
2. Vấn đề
thấy biết sự hữu của hiện tượng tục ước liên hệ
đến sự tương quan mật thiết giữa bản thể luận và nhận
thức luận. Một sự vật hiện hữu chỉ khi nào nó là đối
tượng của nhận thức. Và sự hiện hữu phải được một
chân tri lượng tức một hình thái nhận thức đúng bảo chứng.
Ngay cả tánh Không cũng vậy. Nếu hiện hữu thời tánh Không
phải là một đối tượng nhận thức và phải được một
hình thái nhận thức đúng tri nhận. Thí dụ: tánh Không có
trí Bát nhã (Prajnàpàramità) chứng nghiệm; sắc tướng có
nhãn thức nhìn biết, âm thanh có nhĩ thức nghe biết, ...
Kẻ cho rằng
không có một hình thái nhận thức nào thấy biết hiện tượng
tục ước đã đưa ra hai lý do sau đây và vin vào đó mà kết
luận hiện tượng tục ước bị phủ định. Lý do thứ nhất
giải thích trí Bát nhã tuy chứng ngộ tánh Không nhưng trong
giây phút chứng ngộ không thấy xuất hiện những hiện tượng
tục ước như sắc tướng, sinh khởi, hoại diệt, .... đồng
thời với tánh Không của chúng. Do đó, trí Bát nhã không
chứng kiến và tri nhận các hiện tượng tục ước. Lý do
thứ hai viện lời Phật dạy trong kinh Vương Tam muội (Samàdhiràja
Sùtra): "Nhãn thức, nhĩ thức, và tỷ thức không phải là
chân tri lượng; thiệt thức, thân thức, và ý thức không
phải là chân tri lượng".
Trên phương
diện nhận thức luận, tuy các hiện tượng tục ước không
hiện ra đồng thời với tánh Không của chúng trong giây phút
chứng ngộ, nhưng không phải vì thế mà nói rằng các hiện
tượng tục ước phi hữu. Trí Bát nhã không tri nhận hiện
tượng tục ước là vì trí Bát nhã chỉ thực chứng đối
tượng cứu cánh mà thôi, như tánh Không chẳng hạn. Vấn
đề trí Bát nhã không trực ngộ cùng một lúc cả thế tục
đế (hiện tượng) lẫn chân đế (tánh Không của hiện tượng)
là do đối với toàn thể cảnh giới sở tri, trí Bát nhã
chưa phải là cái trí thấy biết tinh tế không còn vướng
mắc không còn chướng ngại. Ðây là trí Bát nhã thành tựu
ở Bồ tát địa thứ sáu, Hiện tiền địa. Trên lộ trình
Bồ tát đạo, sau khi hoàn tất sáu sự tu học: thí độ, giới
độ, nhẫn độ, tiến độ, định độ, và tuệ độ, Bồ
tát chứng Bát nhã Ba la mật tức trí Bát nhã. Kinh Bát nhã
chấm dứt ở đỉnh cao là trí Bát nhã. Kinh Hoa nghiêm đi xa
hơn. Nhằm thực hiện tinh thần Ðại thừa chơn không diệu
hữu, thượng cầu bồ đề hạ hóa chúng sinh, kinh Hoa Nghiêm
triển khai thêm bốn pháp Ba la mật: phương tiện, nguyện,
lực, và trí. Theo kinh Giải thâm mật, bốn độ này làm sự
hỗ trợ cho sáu độ kia, thành cái gọi là Thập Ba la mật.
Phương tiện độ làm sự hỗ trợ cho ba độ đầu (thí độ,
giới độ, nhẫn độ) là vì lợi ích chúng sinh, Bồ tát dùng
các nhiếp pháp làm phương tiện mà thu nhận chúng sinh, đặt
họ vào thiện pháp. Nguyện độ làm sự hỗ trợ cho tiến
độ tức giúp thực hành tinh tiến quán Trung đạo, tu từ
bi, nói pháp vi diệu, biện tài vô ngại, khiến chúng sinh không
thối chuyển với quả Phật. Lực độ làm sự hỗ trợ cho
định độ, trừ hẳn phiền não, thành đạt tịnh lự biết
cả tục đế lẫn chân đế và tịnh lự dẫn ra lợi ích
chúng sinh. Cuối cùng, trí độ làm sự hỗ trợ cho tuệ độ
và do trí độ mà Bồ tát hiểu rõ các pháp, giữ vững Trung
đạo, không chán sinh tử, không ham niết bàn, có đại
xả tâm, thương xót chúng sinh. Từ đó mới có thể dẫn ra
cái tuệ xuất thế tức Phật trí (Jnàna). Khác với trí
thuần lý của Bồ tát chứng Bát nhã Ba la mật ở địa thứ
sáu, "trí tuệ nơi quả vị Phật trí thấy hết mọi sự trong
không thời gian, vượt ngoài cảnh giới tương đối và sai
biệt vì nó thâm nhập khắp mọi biên tế của vũ trụ và
trực nhận cái chân thường trong chớp mắt" (Thiền luận,
D. T. Suzuki, Tập Hạ). Chỉ có Phật trí mới đủ khả năng
trực nhận đồng thời tục đế lẫn chân đế, thấy biết
cùng một lúc mọi hiện tượng tục ước và tánh Không của
chúng. Chỉ có chư Phật mới có một cái nhìn viên dung kết
hợp hiện tượng và bản thể, tục đế và chân đế, không
thiên chấp.
Trong kinh
Vương Tam muội, lời đức Phật nói sáu thức không phải
là chân tri lượng thời đó là nói đối với thực tại cứu
cánh chứ không phải đối với hiện tượng tục ước. Giả
như ngược lại, nếu sáu thức là chân tri lượng đối với
thực tại thời phàm phu với tâm thức ô nhiễm tất thấy
biết thực tại ngay, không cần phải tinh tấn tu dưỡng để
khai triển tuệ quán xuất thế chứng ngộ thực tại tối
hậu nữa.
3. Theo Tsong-ka-pa,
nhằm nhận diện rõ ràng thể cách hiện hữu của sự vật,
tứ cú hay một phần gồm hai thiên kiến đầu, hữu và vô,
được sử dụng để hạn định một số trường hợp khả
hữu hay bất khả hữu tùy thuộc trạng huống của vấn đề.
Thí dụ: Vấn đề sự hữu hạn định chỉ có hai thiên kiến,
hữu và vô. Một là sự hữu-có-tự-tính tức tự hữu; hai
là sự hữu vô tự tính tức duyên khởi. Bác bỏ duyên khởi
tức chấp nhận tự hữu và ngược lại, bác bỏ tự hữu
tức chấp nhận duyên khởi, ngoài ra không còn sự lựa chọn
nào khác. Do hạn định chỉ có hai sự hữu, sự hữu-có-tự-tính
và sự hữu vô tự tính, Trung luận phủ định sự hữu-có-tự-tính
để thuyết minh sự hữu vô tự tính đúng như cái thế hiện
hữu của vạn pháp.
Một trường
hợp khác: Bàn đến vấn đề sự hiện-khởi-có-tự-tính
thời chỉ có bốn trường hợp bất khả hữu mà thôi: từ
chính nó, từ cái khác, từ cả hai, và không có nguyên nhân.
Nếu cả bốn thiên kiến đều bị khước từ, tất nhiên
sự hiện-khởi-có-tự-tính bị phủ định và sự vắng mặt
tự tính được xác nhận. Ðối với một số luận sư Trung
quán, họ không công nhận có sự vắng mặt tự tính. Họ
cho rằng phủ định là đủ rồi không cần phải khẳng định
thêm là có cái này hay cái kia. Theo họ, phủ định cả bốn
thiên kiến là một phương cách dẹp bỏ ngôn ngữ và luận
lý nhằm hướng dẫn tâm thức nhảy vọt lên một bình diện
nhận thức cao hơn, siêu quá tư duy phân biệt.
Ngược lại,
đối với giáo phái Mũ vàng Geluk, muốn phát sinh loại tuệ
quán đặc biệt phân tích tánh Không thời không cần phải
dẹp bỏ ngôn ngữ và luận lý. Luận lý rất cần thiết để
tránh lâm vào tình trạng nghi hoặc và để triển khai một
mức độ minh sát, từ đó nhờ không ngừng tinh tấn khéo
tu tập, khi phân tích, khi minh sát, nhờ luôn luôn giữ quân
bình Chỉ Quán, và nhờ năng lực của thói quen mà tri thức
chuyển dần thành tuệ giác hoạt dụng trong một lãnh vực
vượt ngoài lưỡng cực hữu và vô, khả dĩ thành tựu cái
thấy vạn pháp như thực. Ðể giải thích tứ cú mà không
phạm lỗi tự mâu thuẫn, giáo phái này thấy cần dựa trên
sự kiện thực tế, phân biệt giữa 'có sự hữu', 'có sự
tự hữu', 'không có sự tự hữu', và 'sự hoàn toàn phi hữu'.
Theo họ, phủ định hữu (thiên kiến thứ nhất) tức là xác
quyết không có sự tự hữu. Phủ định vô (thiên kiến thứ
hai) tức là xác quyết không có sự hoàn toàn phi hữu. Như
thế, nói hiện tượng chẳng phải hữu chẳng phải vô tức
là xác quyết hiện tượng chẳng phải tự hữu (tức vô tự
tính) chẳng phải hoàn toàn phi hữu (tức có). Vậy hiện tượng
được xác quyết có theo tục ước nhưng có mà vô tự tính.
4. Nên hiểu
rằng sự hiện khởi nói đến trong bốn thiên kiến: từ chính
nó, từ cái khác, từ cả hai hợp lại, và không do nhân duyên
nào là sự hiện-khởi-có-tự-tính chứ không phải là sự
hiện khởi suông mà thôi. Ðối với phái chủ trương Trung
luận phủ định hết thảy mọi hiện tượng, nếu sự hiện
khởi mà có (hữu), thời không kể có hay không có tự tính,
nó phải là một cái gì có thể tìm thấy được khi tra tầm.
Do đó, nó phải nằm trong phạm vi bốn thiên kiến của tứ
cú. Phái Mũ vàng phản bác chủ trương ấy, nói rằng bất
kỳ sự hiện khởi nào tìm thấy được trong bốn trường
hợp khả hữu của tứ cú, thời theo chân đế hay ngay cả
theo tục đế, chúng là hiện-khởi-có-tự-tính. Lý do: Hiện
tượng tục ước không cần phải phân tích bằng biện chứng
vì chúng là đối tượng của thế tục trí tức là cái trí
của người phàm phu trong thế tục. Trí này thông thường
tri nhận biểu diện của sự vật hiện tiền theo truyền thống,
tập quán, và công ước, không mảy may lưu ý phân tích tra
tầm thật thể của sự vật. Thế tục trí là chân tri lượng
đối với hiện tượng tục ước. Trái lại, đối với hiện-khởi-có-tự-tính,
biện chứng tứ cú là một hình thái nhận thức phân tích
tìm kiếm sự hiện khởi có hay không có tự tính. Tuy nhiên,
không tìm thấy được sự hiện-khởi-có-tự-tính không có
nghĩa là sự hiện khởi không hiện hữu. Tất cả mọi thiên
kiến về sự hiện-khởi-có-tự-tính đều bị bác bỏ trên
cả hai phương diện chân đế và tục đế. Do đó, sự hiện-khởi-có-tự-tính
bị bác bỏ, nhưng sự hiện khởi không bị phủ định, nghĩa
là vẫn có hiện khởi mà vô tự tính.
Tóm lại,
Trung luận không phải là một thứ hư vô luận phủ nhận
hết thảy mọi hiện tượng. Trung luận chỉ phủ nhận tính
chất khả thủ khả đắc của những danh tự giả tướng
mà thôi. Có ba lý do để biện minh các hiện tượng có theo
tục ước mà vô tự tính. Thứ nhất, hiện tượng tục ước
có tức là có đối với thế tục trí. Thứ đến là tỷ
lượng dùng trí phân biệt, so sánh, loại suy để biết. Chính
nhờ tỷ lượng mà quán sát và phân tích nhận ra các pháp
không tự có, do nhân duyên hòa hợp tạo thành. Cuối cùng,
biện chứng pháp Trung quán là một phương tiện tuyệt xảo
rất cần thiết để chứng minh tính phi thực của vạn hữu.
Chung cuộc, mọi hiện hữu tục ước đều như huyễn, như
mộng, và giả danh.
Một quan
điểm khác cho rằng đối tượng bị phủ định là tư
duy phân biệt. Theo quan điểm này, tư duy phân biệt là
vô minh (avidyà) chính cống. Vô minh không chỉ có nghĩa hẹp
là thiếu kiến thức mà là nguồn gốc của phương cách tư
duy thông tục, thiết lập lối giải thích phân đôi sự hữu
thành có và không, rồi từ đó phát sinh si, ái, và sân hận.
Vì thế, vô minh là gốc rễ của mọi phiền não, là căn nguyên
sự xoay vần trên bánh xe sinh tử. Muốn được giải thoát
tất nhiên phải đoạn diệt vô minh, nghĩa là phủ định hết
thảy mọi hình thức tư duy phân biệt.
Phái này
còn viện dẫn kinh luận thường nhắc nhở rằng nền tảng
của Bát nhã ba la mật không tựa trên ngôn ngữ và luận lý,
mà tựa trên những trực giác. Nói cách khác, Không là thành
quả của trực giác chứ không phải hậu quả của suy luận.
Thêm vào đó, Giác ngộ là cốt ở cái thấy sự vật đúng
như thực, không vướng ngờ vực, không kẹt kiến thức, hoặc
kiến chấp. Thấy như thực tức là không thấy có cái ngã
tự xác định như đối lập với cái phi ngã, nhưng thấy
cái nhất nguyên siêu việt lên tất cả những cái đối hiện
và đối lập, mà tự thân vẫn dung thông tất cả mọi đối
thể. Ðó là cái tuệ giác bất nhị của chư Phật tuyệt
đối lìa xa mọi vọng tưởng phân biệt. "Cái thấy của Phật
nhãn là thấy cái một trong cái nhiều, là thấu rõ rằng hai
tư tưởng nghịch đảo nhau không có nghĩa là tương sanh tương
thuộc nhau, mà chính cả hai đều bình đẳng như nhau ứng
hóa từ một nguyên lý duy nhất; và chính đó là xứ sở của
tự do tuyệt đối. Tâm có điêu luyện đến mức đó mới
thấy cả khẳng định và phủ định đều không áp dụng
được cho thực tại, vì cái thực là cái thấy biết sự
vật đúng như thực, hoặc nói đúng hơn, đúng như cái thế
duyên khởi của chúng." (Thiền luận, D. T. Suzuki. Tập thượng.
Trúc Thiên dịch)
Ðó là những
nguyên nhân của quan điểm phải đoạn trừ mọi tư duy phân
biệt. Theo quan điểm này, mọi ý nghĩ, mọi tư tưởng phát
hiện nơi tâm trí đều sai lầm nên không ngộ được chân
tâm. Vậy ngưng hẳn và chấm dứt niệm niệm thời mới đoạn
tuyệt hoặc chướng thoát ra khỏi vòng trói buộc trở nên
tự tại. Ðối với Tsong-ka-pa, nếu chấm dứt suy tư là giải
thoát thời khi ngủ mê hóa ra được giải thoát hay sao? Vả
lại, chấm dứt tư duy phân biệt ngay trong giai đoạn chuẩn
bị của đạo lộ thời không làm sao thấy rõ đường dẫn
đến tánh Không. Phân biệt và biện chứng rất cần thiết
để hiểu biết tánh Không vì ba lý do sau đây.
Một là phải
nhớ rằng Bát nhã tuy chủ trương trên phương diện nhận
thức luận, tất cả hiện tượng đều là biểu tượng của
tâm, ngoài tâm ra tất cả đều không, nhưng cái không đó
không phải là cái không trống rỗng, hư vô, chỉ có phủ
định, mà là cái không linh động, cái không "diệu hữu",
cái "không tức thị sắc". Mặt khác, về phương diện tu dưỡng,
cái không tuy phủ định để thấy không có tự tính nhưng
vì thế mà khẳng định thấy không có gì để chấp trước.
Không chấp trước không phải là xa lánh thế gian, sinh hoạt
tiêu cực, mà là để phát huy cái tinh thần hoạt động tự
do vô ngại, vận dụng tất cả mọi hoạt động vô vi, vô
tác để thực hiện từ bi cứu khổ trong tinh thần bình đẳng,
vô sai biệt.
Hai là phải
hiểu rằng muốn đoạn trừ vô minh, không thể bằng hành
vi tiêu cực chấm dứt suy tưởng trừu tượng mà trái lại
phải tích cực bằng vào nổ lực của ý chí vận dụng tâm
năng để chứng nghiệm cái đối nghịch với cái hình tượng
huyễn ảo do vô minh sai lầm vọng tạo. Vô minh là cái thấy
biết điên đảo, ngược lại với trí tuệ căn bản. Vô minh
phủ nhận Giác ngộ, nhưng ngược lại Giác ngộ không phải
là một khái niệm tiêu cực chỉ vỏn vẹn có nghĩa là đoạn
diệt Vô minh. Giác ngộ không phủ nhận gì hết. Giác ngộ
là một khẳng định, như lời Phật dạy: "Thấy Pháp tức
thấy Phật, thấy Phật tức thấy Pháp". Dứt bỏ khái niệm
về sự hữu-có-tự-tính để đến tánh Không mà chỉ bằng
cách ngưng hoạt động ý thức thời giống như trường hợp
đức Phật trước khi thành đạo đã từng tu tập với hai
vị đạo sĩ là ràda Kàlàma và Udraka Ràmaputra cả hai pháp
thiền Diệt tận định và Ly thức định, diệt hết mọi
cảm thọ, dứt bặt mọi tư tưởng và ý thức khi nhập định,
biến thân xác tựa hồ thành gỗ đá. Ðức Phật nhận ra
đó là một hình thức tu tập quá tiêu cực không thể nào
đưa đến giác ngộ.
Ba là cần
biết rằng lúc khởi đầu đạo lộ đưa đến thực chứng
tánh Không phương tiện duy nhất để hiểu biết là tư duy
phân biệt. Quả vậy, các pháp có thể phân thành hai loại:
loại hiện pháp (abhimukhì), như sắc, thanh, hương, ..., được
hiện lượng tức tri giác đơn thuần thấy biết ngay trong
sát na hiện tại và loại ẩn pháp (paroksa), tùy thuộc tỷ
lượng, một tiến trình so sánh loại suy để do những dấu
hiệu được thấy biết mà suy ra những sự kiện không hiện
tiền. Sự phân loại kiểu này không để lọt bất cứ một
pháp nào ra ngoài hai loại đó. Bất kỳ pháp nào nếu không
hiện thời ẩn hay ngược lại. Tánh Không theo Tsong-ka-pa là
một pháp như mọi pháp khác và cố nhiên thuộc loại ẩn
pháp. Giả như tánh Không là hiện pháp thời ai ai cũng thấy
biết ngay được. Trong thực tế, đâu có trường hợp như
vậy xảy ra. Tri thức thường nghiệm không thể nào trực
nhận tánh Không. Cách độc nhất tìm đến tánh Không trong
giai đoạn đầu của đạo lộ là sử dụng tập quán suy tư
và nhận thức thông tục.
Kinh nói:
"Vì có danh nên có thủ trước. Vì có tướng nên có thủ
trước". Gọi tên và nhận ra tướng dạng là tác dụng của
tư duy phân biệt. Chấp trước và cố chấp thường đi đôi
với tư duy phân biệt. Tư duy phân biệt thật ra vô hại, nhưng
khi nó đi đôi với chấp trước và cố chấp thời sinh ra
vọng tưởng hý luận gây nguy hại rất lớn. Theo quan điểm
Trung quán, thay vì tư duy phân biệt, vọng tưởng hý luận
mới là đối tượng phủ định. Vọng tưởng ở đây
được hiểu theo nghĩa nói đến trong Ðại thừa nghĩa chương:
"Kẻ phàm phu mê tối đối với sự thật bèn khởi ra các
tướng của các pháp, chấp lấy tướng mà cho ra danh, y theo
danh mà giữ lấy tướng, bởi chỗ giữ lấy chẳng chân thật,
nên kêu là vọng tưởng". Ngài Nguyệt Xứng giải thích
thêm vọng tưởng là "cái sự tô lên một ý nghĩa sai lầm
rằng có tự tính". Như vậy, phủ định vọng tưởng hý
luận tức là phủ định sự hữu-có-tự-tính mà vọng
tâm lầm tưởng là chân thực. Bồ đề tâm luận chỉ rõ
lý do tại sao phải đoạn tận mọi vọng tưởng hý luận:
"Cái pháp của đường mê là từ nơi vọng tưởng mà sanh
ra, nó lần lượt nảy nở ra cho đến thành vô lượng, vô
biên các phiền não".
Về vấn
đề này, Trung luận viết: "Nếu không y tục đế thời không
thể đạt được chân đế. Nếu không đạt được chân đế,
thời không thể hiểu được Phật pháp". Trên phương diện
nhận thức luận, tục đế ở đây là ngôn ngữ và luận
lý. Chính nhờ khéo sử dụng ngôn ngữ và luận lý mà nhận
ra những vọng tưởng hý luận, áp dụng những biện pháp
đối trị, và chấm dứt tính tương tục của vọng tưởng
hý luận trên đường đến tánh Không. Trung luận đả phá
triệt để mọi vọng tưởng hý luận để minh giải cho thấy
giá trị của ngôn ngữ và luận lý không ở chỗ thành công
mà là ở chỗ thất bại của nó trong sự diễn đạt Tuyệt
đối. Chính do sự thất bại này mà ngôn thuyết tựu thành
được Trung đạo qua phép biện chứng. Ðiều này tương quan
liên hệ mật thiết đến nguyên nhân đường lối Trung quán
dùng thiền phân tích luyện tâm bằng khái niệm và dịch hóa
pháp. Nói đến sự thành tựu trí Bát nhã theo phép thiền
phân tích, đức Phật đã có lần cắt nghĩa: "Này Kashyapa,
thí dụ, ông cọ xát hai que củi với nhau làm sinh ra lửa thời
hai que củi ấy bị thiêu rụi ngay trong tiến trình sinh lửa.
Cũng như thế, này Kashyapa, phân biệt đích thực làm phát
sinh năng lực thành đạt trí Bát nhã và trí Bát nhã chứng
ngộ tức thì tiêu diệt phân biệt đích thực." (Bảo Tích
kinh; Ratnakùta Sùtra).
Mục đích
chính yếu của Trung quán luận là chỉ đường tu tập để
giải thoát và giác ngộ. Vì vậy Trung quán đả phá và bác
bỏ mọi chướng ngại che lấp, ngăn bít con đường thực
chứng tánh Không. Sự đả phá nhắm trước hết vào cái nhân
của phân biệt sự thức nghĩa là những vọng tưởng chấp
trước huân tập trong tâm từ vô thủy, những cảm nhiễm
thâm căn cố đế kết thành tập quán vô minh trong sinh hoạt
nhận thức sai lầm của hành giả. Như đã trình bày ở trên,
có hai đối tượng cần phủ định: một khách thể, sự
hữu-có-tự-tính tức yếu tính quyết định và một chủ
thể, vọng tưởng hý luận tức sự chấp giữ một cách sai
lạc cái chẳng chân thật. Do đó, có hai cách đối trị
tương ứng. Một là dùng biện chứng pháp tức là một hình
thức ngôn ngữ và luận lý để phủ định sự hữu-có-tự-tính.
Hai là tu tập thực nghiệm, nỗ lực thực hành một tiến
trình luyện tâm triển khai tuệ quán đặc biệt lãnh ngộ
tánh Không.
Sự hữu-có-tự-tính
không phải là một đối tượng hiện hữu. Bởi vì nếu nó
hiện hữu thời không thể bác bỏ nó được. Tuy nhiên, mặc
dầu nó không hiện hữu, nhưng vì cái đương thể bị tập
khí vọng tưởng tô trét lên một lớp hình tướng hư ảo,
cái mà ta gọi là tự tính, làm trí phàm phu tưởng lầm như
có thật, cho nên cần phải bác bỏ loại trừ cái hình tướng
hư ảo đó. Sự bác bỏ này không giống như lấy búa đánh
vỡ một cái bình, mà đây là thực hiện một quá trình chuyển
biến tâm thức trở nên thấy biết như thật, thấy rõ cái
không có là không có. Khi tâm thức chuyển biến tốt đẹp
như vậy thời đương nhiên cách đối trị thứ hai là tu chứng
tánh Không cũng đồng thời thành tựu.
Ngôn ngữ
và luận lý sở dĩ đóng một vai trò quan trọng và cần thiết
trong tiến trình thanh luyện tâm thức để chứng ngộ tánh
Không là vì trên phương diện nhận thức luận, tánh Không
là một pháp (dharma) như mọi pháp khác. Nó được xem như
đồng nghĩa với những danh từ như: đối tượng nhận thức
(visaya; cảnh), hữu (bhàva), hay khả đắc (jneya; hữu sở đắc).
Thường nói đến tánh Không tức là tánh Không của một sự
vật, nghĩa là bản thể của sự vật ấy không có yếu tính
quyết định tự nó hiện hữu được. Sự vật (tục đế)
và tánh Không của nó (chân đế) thực ra là một, cái đương
thể tức không của sự vật, hay nói theo Tâm kinh, 'bất
dị, tức thị'. Nhưng đối với tư duy phân biệt thời đó
là hai sự thể sai khác có thể tách lìa nhau ra. Chẳng hạn
như một cái bình và tánh Không của nó đồng thời hiện
hữu cùng ở một chỗ, bất tương ly và vô sai biệt. Nhưng
tư duy phân biệt tách chúng thành hai chẳng những là để
dễ bề thuyết minh cho kẻ phàm phu thông đạt, mà hơn nữa
hành giả có thể chỉ chọn tánh Không của cái bình làm đề
mục tu tập Ðịnh không cần đồng thời phải quán tưởng
cái bình.
Theo thuật
ngữ của nhận thức luận Trần Na - Thiên Chủ, cái bình là
một hiện tượng định chắc (vidhi), do tạo tác mà có và
tùy thuộc nhân duyên. Ngược lại, tánh Không của cái bình
là một hiện tượng khiển trừ (pratisedha) giống như mọi
tánh Không khác. Cả hai đều hiện hữu vì là đối tượng
của chân tri lượng, tỷ lượng và hiện lượng. Bản thể
của chúng đều Không tức vô tự tính giống nhau. Sự tri
nhận hai thứ hiện tượng sai khác như vậy là do cách thức
biểu hiện của chúng đối với tư duy phân biệt chứ không
dựa vào cách thức tồn tại của chúng. Hiện tượng khiển
trừ thường được tri nhận bằng cách tuyên bố khiển trừ
đối tượng phủ định. Thí dụ: Muốn lãnh ngộ 'không-bò'
thời phải tuyên bố khiển trừ 'bò', nhưng muốn lãnh ngộ
'bò', thời không cần phải tuyên bố khiển trừ 'không-bò'
vì thực ra, 'không-bò' đã ngầm bị khiển trừ rồi. Như
vậy không-bò là một hiện tượng khiển trừ và bò là một
hiện tượng định chắc. Lý do: Nếu không tuyên bố khiển
trừ mà chỉ khiển trừ ngầm là đủ để hiện tượng là
hiện tượng khiển trừ thời hóa ra hết thảy mọi hiện
tượng đều là hiện tượng khiển trừ.
Hiện tượng
khiển trừ được chia thành khiển trừ quả quyết và khiển
trừ không quả quyết. Khiển trừ không quả quyết hàm chứa
một ý niệm sót lại sau khi khiển trừ. Thí dụ câu nói khiển
trừ không quả quyết "Chú mập Devadatta không ăn gì trong ngày"
có nghĩa là chú mập ăn trong đêm. Khiển trừ quả quyết
không hàm chứa một khẳng định nào sau khi phủ định. Tánh
Không là một hiện tượng khiển trừ quả quyết bởi vì
dứt khoát chỉ phủ định sự hữu-có-tự-tính mà thôi.
Ðiểm phân
biệt giữa khiển trừ quả quyết và không quả quyết rất
quan trọng đối với giáo phái Mũ vàng Geluk. Giáo phái này
dùng biện chứng để phủ định sự hữu-có-tự-tính. Một
khi mọi dấu vết của tự tính được tẩy trừ sạch bằng
phương pháp suy luận thời tánh Không hiển hiện. Giả như
tánh Không là một hiện tượng khiển trừ không quả quyết
thời mặc dầu đã bạch hóa mọi dấu vết của tự tính
nhưng vẫn còn có một cái gì sót lại cần phải tiếp tục
tra tầm. Như thế, hành giả chẳng bao giờ đạt đến điểm
chứng ngộ tánh Không. Thêm nữa, nếu xảy ra trường hợp
cái sót lại là cái bình thời hóa ra cái bình là bản tính
chân thực của nó và biện chứng đưa đến kết luận cái
bình là một chân hữu! Vì những lý do ấy mà giáo phái Geluk
minh xác tánh Không là một hiện tượng khiển trừ quả quyết.
Chừng nào tánh Không là khiển trừ quả quyết thời thế
nào biện chứng cũng dẫn đến điểm lãnh ngộ tánh Không
bởi vì tánh Không chỉ đơn thuần khiển trừ tự tính (svabhàva),
đối tượng phải phủ định.
Tánh Không
là tánh không có tự tính. Cái đối tượng 'tự tính' cần
phải bác bỏ thực ra là phi hữu, không tìm thấy đâu trong
thực tại. Nhưng vọng tưởng của phàm phu coi là có thật
mọi khi suy tư, nói năng, và hành động. Trái lại, sự không
có tự tính là một hiện hữu và được gọi là tánh Không.
Ngài Nguyệt Xứng đồng nhất nghĩa Thật tướng với tánh
Không. Vậy Thật tướng là tánh vô tự tính. Tự tính là
do tiếng Phạn svabhàva dịch ra. Svabhàva có nhiều nghĩa và
được dịch ra nhiều cách khác nhau. Theo ngài Nguyệt Xứng,
chữ svabhàva trong hai bài tụng Trung luận XV.1-2 có hai nghĩa
đối nghịch nên phải dịch ra hai cách khác nhau:
1. Svabhàva
dịch là tự tính, là một đối tượng phi hữu cần phải
bác bỏ. Nó có nghĩa là yếu tính quyết định của một vật
thể tự hữu, tự lập, tự tồn, và dị biệt.
2. Svabhàva
dịch là thật tướng hay tánh Không, là một hiện hữu. Nó
có nghĩa là bản tánh chân thực, là chân lý cứu cánh, là
pháp tánh của một hiện tượng.
Ðể chứng
minh sự hiện hữu của tánh Không, Tsong-ka-pa dựa vào hai bài
tụng đầu Phẩm XV: Quán Hữu Vô của Trung luận và lời chú
giải của ngài Nguyệt Xứng.
1.
Chúng duyên trung hữu tính
Thị sự
tắc bất nhiên
Tính tùng
chúng duyên xuất
Tức danh
vi tác pháp.
2. Tính nhược
thị tác giả
Vân hà hữu
thử nghĩa
Tính danh
vi vô tác
Bất đãi
dị pháp thành.
Thường
được dịch là:
1. Có tự
tính (svabhàva) trong các duyên, đó là một sự sai lầm. Tự
tính (svabhàva) mà từ các duyên phát sanh thì tự tính ấy
chính là pháp hữu vi sinh diệt.
2. Làm thế
nào có thể có ý nghĩa nếu tự tính (svabhàva) là một cái
gì được tạo tác? Tự tính (svabhàva) chính là cái không
do tạo tác, không nhờ vào pháp khác mà thành.
Thể hội
ý ngài Nguyệt Xứng, Tsong-ka-pa dịch chữ svabhàva trong bài
tụng XV.1 với nghĩa là tự tính. Nhưng trong bài tụng XV.2
chữ svabhàva dịch với nghĩa là thật tướng hay tánh Không.
Do đó, hai câu cuối của bài tụng này mô tả hai phẩm tính
của tánh Không, 'không do tạo tác, không nhờ vào pháp khác
mà thành'. Cũng vậy, bài tụng Trung luận XV.7:
7.
Nhược pháp thực hữu tính
Hậu tắc
bất ưng dị
Tính nhược
hữu dị tướng
Thị sự
chung bất nhiên.
Thường
được dịch là:
7. Nếu pháp
thật có tự tính (prakrti) thì sau đó lẽ ra không có sự biến
dị. Tự tính (prakrti) nếu còn có tướng biến dị thì hoàn
toàn không hợp lý.
Theo Tsong-ka-pa
chữ prakrti (thường dịch là bản tánh, và xem như đồng nghĩa
với svabhàva) phải dịch theo nghĩa là thật tướng hay tánh
Không. Do đó, 'không biến dị' trở thành phẩm tính thứ ba
của tánh Không. Dựa vào ba bài tụng trên, Tsong-ka-pa giải
thích tánh Không hiện hữu và có ba phẩm tính: không do
tạo tác mà thành, không nhờ vào pháp khác mà thành, và bất
biến dị. Ðoạn văn dẫn chứng sau đây là lời chú giải
của ngài Nguyệt Xứng.
"Cái bản
tính như được (Long Thọ) Ðại sư mô tả (trong hai câu cuối
của XV.2) có hiện hữu hay không? Ðức Tối Thắng tôn từng
tuyên thuyết rằng thật tướng hiện hữu: 'Dù Như Lai có
ra đời hay không, thật tướng các pháp là thường trụ nhất
tướng'. Vậy thì thế nào là thật tướng? Ðó là chân tánh
của mắt này, vân vân. Và thế nào là chân tánh của mắt
này, ... ? Là cái không do tạo tác, không nhờ vào pháp khác
mà thành, được thể nghiệm bằng thứ tuệ giác đoạn bặt
vô minh. Chân tánh có hiện hữu hay không? Nếu chân tánh không
hiện hữu, thử hỏi lịch trình xả thân tu thiện của các
vị Bồ tát có ý nghĩa gì? Vì nguyên nhân nào các vị Bồ
tát chấp nhận biết bao gian khổ để tựu thành sự chứng
ngộ thật tướng?"
Theo Tsong-ka-pa,
'do tạo tác mà thành' có nghĩa là trước đó không có mà
nay được thành lập mới có. Vậy 'không do tạo tác mà thành'
có nghĩa là không phải từ vô mà lập thành hữu, không phải
từ diệt mà có sinh. Nói cách khác, chính ngay trong khi sinh
đã có diệt, vậy sinh ấy không phải là thật sinh. Do đó,
bất sinh. Cũng vậy, trong khi diệt đã có sinh, nên diệt mà
không phải thật diệt. Do đó, bất diệt. Phẩm tính thứ
nhất của thật tướng hay tánh Không như vậy là bất sinh
bất diệt.
Giải thích
phẩm tính thứ hai của tánh Không có phần tinh tế hơn. Nếu
bảo 'không nhờ vào pháp khác' có nghĩa là không tùy thuộc
nhân duyên, thời làm sao cắt nghĩa được tánh Không là một
pháp do duyên sinh như mọi pháp khác? Bởi thế cho nên 'không
nhờ vào pháp khác mà thành' được giải thích là không nhờ
vào sự thi thiết khái niệm và định danh mà thành. Ngoài
ra, có một cách giải thích khác dùng phép đối đãi. Thí
dụ: Thường có nóng là vì có lạnh, có dài là vì có ngắn,
... Ðối với một vật, cảm giác nóng có thể đổi thành
cảm giác lạnh khi so sánh tiếp xúc với một vật khác nóng
hơn, cảm giác dài có thể đổi thành cảm giác ngắn khi so
sánh tiếp xúc với một vật dài hơn. Tánh Không tức vô tự
tính không bao giờ được tri nhận là có thể thay đổi thành
một pháp khác có tự tính, nghĩa là tánh Không độc lập
đối với mọi sự so sánh.
Phẩm tính
thứ ba 'không biến dị' được định nghĩa là 'không sát
na hoại diệt'. Thí dụ: Tánh Không của một cái chén hiện
khởi khi cái chén được tạo tác thành hình và diệt mất
khi cái chén bị phá hủy. Như vậy tánh Không của cái chén
không thường còn và tùy thuộc vào sự hữu của cái chén.
Tuy nhiên, từng mỗi một sát na tánh Không của cái chén không
hoại diệt và không biến thể từ một vật này thành một
vật khác nên được gọi là 'không sát na hoại diệt'.
Vì lý do
gì mà Tsong-ka-pa chấp nhận lời giải thích của ngài Nguyệt
Xứng xem hai câu cuối của bài tụng XV.2 là mô tả phẩm tính
của tánh Không chứ không phải là của tự tính? Lý do sau
đây được nêu ra. Tự tính là pháp hư vọng bắt nguồn từ
vô minh, từ sự ngu dốt, mê lầm đã huân tập vào tâm thức
từ vô thủy. Trái lại, ba phẩm tính - không do tạo tác, không
nhờ vào pháp khác, và không biến dị - là do học hỏi hay
giả thiết mà có. Bởi vậy, nếu ba phẩm tính ấy được
coi như là mô tả tự tính thời phủ định tự tính trở
thành phủ định ba phẩm tính ấy. Một sự phủ định như
vậy không đối trị vô minh đúng mức và do đó, hành giả
không được giải thoát ra khỏi vòng sinh tử luân hồi. Phải
triệt để phủ định tự tính hiểu theo nghĩa là do vô minh
từ vô thủy mà chấp trước sự vật tự hữu, tự lập,
và tự tồn thời mới đoạn tận vô minh, tự do giải thoát.
Vì thế mà ba phẩm tính ấy phải được xem như mô tả tánh
Không.
Sau khi hiểu
biết thế nào là cái đối tượng phủ định, câu hỏi "Tại
sao cần phải nhận rõ đối tượng phủ định?" đương nhiên
được đặt ra. Theo Tsong-ka-pa, lỗi lầm không xác định đúng
cái gì phải bác bỏ là do hoặc phủ định chưa đến mức
hoặc do phủ định quá mức. Phủ định ba phẩm tính, không
do tạo tác, không nhờ vào pháp khác, và không biến dị, là
phủ định chưa đến mức dẫn đến cực đoan thường kiến.
Phủ định tất cả mọi hiện tượng hay phủ định tư duy
phân biệt là phủ định quá mức đưa đến cực đoan đoạn
kiến. Trong trường hợp này, thế giới trở thành một ảo
giác, cuộc sống hóa ra không có giá trị, nên nảy sinh tư
tưởng có thể hành động tùy sở thích mà khỏi chịu trách
nhiệm về các hành vi của mình. Do đó, thường xuyên tạo
nghiệp, rồi bị nghiệp lực kéo dẫn, phải chịu sinh tử
luân hồi. Như vậy sự biết rõ đối tượng phủ định là
điều kiện cần để thông đạt đạo lý duyên khởi Trung
đạo.
Lúc mới
phát bồ đề tâm, hành giả không thể nào nhận thấy sự
sai biệt giữa sự hữu và sự hữu-có-tự-tính. Chấp thủ
sự hữu-có-tự-tính không bắt nguồn từ sự học hỏi mà
chính do tập khí lâu đời lâu kiếp tạo ra. Trong tiềm thức
của hành giả luôn luôn có tập quán mê lầm nhận cái chỉ
có danh tướng giả dối không hề thật có thành cái thật
có. Mỗi khi tự tính bị đả phá hành giả tưởng chừng
như chính sự hữu bị đả phá. Bởi mù quáng chấp thủ mọi
sự hữu đều có tự tính như vậy mà hành giả bị buộc
vào vòng luân hồi sinh tử.
Ðể tự
giải mọi dây trói buộc của vọng tưởng mê lầm, hành giả
một mặt, tinh tấn tích lũy công đức, thanh lọc bản thân,
cúng dường, tinh tấn trong việc thực hành sáu ba la mật.
Mặt khác, tu tập quán Không tức là quán các pháp đều Không,
tuy chúng hiện ra sờ sờ trước mắt. Ðiểm then chốt của
quán Không là phải xác định cái gì phải bác bỏ, nghĩa
là phải biết nhận diện bằng những kinh nghiệm tâm linh
sống động cái vật thể phi hữu thường bị nhận lầm là
tự tính hay ngã. Vì nếu không nhận biết rõ cái ngã phải
bác bỏ thời sau một loạt phủ định sẽ không thể nào
hiểu biết được cái gì còn lưu lại là vô ngã. Ví như
trường hợp không thể bắt trộm nếu không nhận ra kẻ trộm
hay không thể bắn một mũi tên nếu không thể thấy mục
tiêu. Thêm nữa, nếu không biết nhận diện cái ngã đối
tượng của sự bác bỏ, hành giả có thể đi tìm một cái
ngã khác bằng cách khiển trừ dần dần tất cả những gì
tưởng là thành phần của ngã như lột bẹ chuối để tìm
lõi cứng. Kết quả là bác bỏ một cái ngã giả danh giả
lập chứ không phải cái ngã được cho là thật có tự tính,
và cuối cùng rơi vào trong cái không trống rỗng toàn diện.
Sau khi nhận
rõ đối tượng phủ định thời hành giả bắt đầu giai
đoạn tìm kiếm cái đối tượng ấy. Ðây cũng là lúc hành
giả phải khám phá ra cái hình thức chấp ngã tức là cái
cách tâm bám lấy một đối tượng được xem là thật có
tự tính. Trong trạng thái thiền định tập trung hành giả
dùng tư duy suy lý sử dụng đủ mọi hình thức luận lý phân
tích để tìm cho ra cái đối tượng phải bác bỏ ấy. Khi
vận dụng trí giác sắc bén đến tận cùng mà vẫn không
thành công, hành giả triển khai một niềm xác tín sống động
rằng đối tượng phủ định hoàn toàn phi hữu. Tính phi hữu
sau đó được quảng diễn để bao trùm hết thảy mọi pháp.
Cuối cùng, nhờ năng lực của sự quen thuộc sử dụng vừa
tịnh chỉ vừa tuệ quán, vừa thiền tập trung vừa thiền
phân tích, hành giả thành tựu phối hợp tâm tịnh chỉ với
tuệ quán đặc biệt trực chỉ vào tánh Không của vạn pháp.
Sau giây phút chứng ngộ tánh Không, hậu đắc trí thấy biết
rõ vạn hữu là duyên khởi nên vô tự tính. Mọi đương hữu
đều là danh tự giả tướng theo tục ước.
Tóm lại,
nhận rõ đối tượng phủ định là yếu tố căn bản để
hiểu rõ nguyên nhân và ý nghĩa của những giai đoạn tiến
triển trong lộ trình tu tập. Quá trình tu dưỡng ấy chuyển
mê thành ngộ, rồi do ngộ mà thông đạt giá trị của sự
nghiệp tự lợi, lợi tha ngay trong thế gian hư giả này, đã
được Bồ tát Long Thọ tuyên thuyết một cách ngắn gọn
nhưng rất đầy đủ trong bài tụng XXIV.18:
"Các pháp
do Duyên khởi, nên ta nói là Không, là Giả danh, và cũng chính
là Trung đạo".
Tháng sáu, 2000