11.
Toán ngữ và Tứ Cú
Trong
các bản văn chữ Phạn thời nguyên thủy, zero được gọi
là "sùnya". Theo F. Th. Stcherbatsky, Phật giáo nguyên thủy dùng
chữ "sùnya" để gọi tên điểm giới hạn của thế giới
thường nghiệm (bhùtakoti). Vậy trên phương diện tục
đế, là giới hạn của các số hay tổ hợp số, "sùnya" tức
zero không có yếu tính quyết định, tức vô tự tính giống
như các số hay tổ hợp số. Nhưng "sùnya" lại đồng nghĩa
toán học với từ ngữ "ambara". Vì chữ này còn có nghĩa khác
là thiên không hay hư vô (sky; empty space) nên về sau thường
xảy ra trường hợp lầm lẫn "sùnya" có nghĩa là trống rỗng,
ngoan không. Do đó nếu dùng toán ngữ để diễn tả và phát
biểu thời không thể lẫn lộn nghĩa nguyên thủy của zero
là vô tự tính với nghĩa của từ ambara là trống rỗng, ngoan
không.
Sau đây sẽ ứng
dụng toán ngữ để giúp hiểu ý nghĩa biện chứng pháp qua
bốn thiên kiến của tứ cú Trung quán và mối quan hệ giữa
tứ cú Trung quán và tánh Không. Theo một số đông học giả
thời phép biện chứng đã xuất hiện trong giáo pháp của
đức Phật rất lâu trước khi Zeno ở Hy lạp, được Aristotle
thán phục coi như triết gia đã sáng tạo phép biện chứng,
đề ra nhiều nghịch lý (paradox) để chống lại và thách
đố những chủ trương số nhiều (pluralism), sự hiện hữu
của chuyển động (motion) và biến dịch (change). "Achilles chạy
đua với con rùa" là tên một nghịch lý của Zeno có liên hệ
đến đặc tính của tập hợp thực số. Achilles chấp cho
rùa chạy trước một khoảng x1 mét. Khi Achilles chạy đến
mức x1 mét thời rùa đã chạy thêm một khoảng x2 mét. Cứ
như thế mà tiếp diễn lý luận không ngừng thời thấy rằng
Achilles chẳng bao giờ bắt kịp rùa.
Luận chứng của
Zeno là bằng vào sự chia đoạn đường chạy thành một số
vô hạn đoạn nhỏ theo thứ tự có độ dài là x1, x2, x3,
... Có một cách giải quyết nghịch lý đó là bảo rằng Achilles
bắt kịp con rùa sau khi chạy X mét, X là thực số bé nhất
trong số các thực số lớn hơn những thực số x1, x1 + x2,
x1 + x2 + x3, ... Nhưng lời giải nghịch lý như vừa trình bày
hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiện hữu của thực số X, tức
là thực số bé nhất trong số các thực số lớn hơn những
thực số x1, x1 + x2, x1 + x2 + x3, ... Sự hiện hữu một thực
số X như vậy là do đặc tính liên tục của tập hợp thực
số.
Nhưng thực số
là gì? Mọi đường thẳng có thể dùng để tượng trưng
tập hợp thực số với điều kiện là chọn một điểm trên
đường thẳng, bất kỳ là điểm nào, làm điểm gốc O và
chọn một điểm thứ hai không xa điểm gốc làm điểm đơn
vị 1. Một đường thẳng vô tận ở hai đầu như vậy gọi
là đường thẳng số. (Xem hình 1)
Hình 1: Ðường
thẳng số
|
- Số âm
|
0 |
Số dương
+
|
|
| ------------------------- |
|---------- |
|------------------------ |
---------------------> |
| Vô
cực âm |
0 |
1 |
Vô
cực dương
|
Hướng
mũi tên chạy theo chiều từ O đến 1 gọi là hướng dương.
Mỗi một điểm trên đường thẳng tượng trưng một thực
số. Bên trái của O là thực số âm, bên phải của O là thực
số dương. Ðiểm O tượng trưng số zero. Các số tăng dần
khi đi theo hướng dương của đường thẳng số và giảm dần
nếu chạy ngược lại theo hướng âm. Trong nhiều trường
hợp số âm, số dương, và zero có thể dùng biểu diễn thời
gian, quá khứ, vị lai, và hiện tại. Trong những trường hợp
khác, mọi dãy số dương giảm dần hay mọi dãy số âm tăng
dần có thể dùng biểu diễn quá trình tu chứng phá chấp,
chấp có hay chấp không, để triển khai loại tuệ quán siêu
thế là tuệ quán đặc biệt phân tích ý nghĩa tánh Không.
Tính chất đặc
biệt của tập hợp thực số là giữa bất kỳ hai thực
số nào cũng có một thực số thứ ba. Ðó là đặc
tính liên tục của các thực số. Bởi tại đặc tính
liên tục này mà ta không thể nói rõ thực số nào là số
theo sau hay đứng trước một thực số khác. Nhưng chính nhờ
có tính chất liên tục ta mới có thể dùng một đoạn thẳng
số để hình dung một chuỗi sát na sinh diệt tương tục,
hai sát na kế tiếp không có khoảng cách, chúng khác nhau và
tương ứng với hai thực số kề và khác nhau.
Tập hợp số
nguyên (natural numbers; integers) là một tập hợp con của
tập hợp thực số, tại vì số nguyên nào cũng là thực số.
Tuy vậy số nguyên rất khác với thực số. Ði từ một số
nguyên này qua một số nguyên kế tiếp thời phải "nhảy",
như nhảy từ 1 qua 2, qua 3, ... Tính chất đó gọi là tính
chất gián đoạn của các số nguyên. Trái lại, ta
có thể từ từ đi một cách liên tục qua hết thảy
các thực số của một khoảng cách không bị gián đoạn,
chẳng hạn từ số zero đến số 1. Trong khoảng [0,1]
(tức là khoảng từ 0 đến 1, kể cả 0 và 1) có vô số thực
số nhưng không có số nguyên nào.
Một quan hệ nhân
quả rất quan trọng gọi là hàm số đếm (counting function)
thường được thiết lập giữa tập hợp số nguyên với
một tập hợp vật thể mà ta muốn đếm số lượng. Thí
dụ: Ta có thể thiết lập một hàm số đếm trên chính tập
hợp số nguyên. Cứ mỗi số nguyên, ta tương hợp số nguyên
chính nó. Vậy tập hợp số nguyên thuộc loại vô hạn
đếm được (khả lượng). Trái lại, không thể thiết
lập hàm số đếm trên tập hợp thực số. Bởi vì không
thể nào tách biệt một thực số với thực số kề nó để
tương hợp một số nguyên. Vậy tập hợp thực số thuộc
loại vô hạn không đếm được (bất khả tư lường).
Ðại lượng vô hạn đếm được tất nhiên bé thua đại
lượng vô hạn không đếm được bởi tập hợp số nguyên
nằm chứa trong tập hợp thực số.
Kinh Kim Cang có
câu "dĩ hằng hà sa đẳng thân bố thí" dịch là 'đem
thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí' và câu "thị
kinh hữu bất khả tư nghì bất khả xứng lượng vô biên
công đức" dịch là 'kinh này có công đức vô biên không
thể nghĩ, không thể lường' (Kinh Kim Cang giảng giải. Ðoạn
Trì kinh công đức. Thích Thanh Từ). Trong hai câu ấy đức
Phật so sánh hai đại lượng: số cát sông Hằng là đại
lượng vô hạn đếm được so sánh với công đức thọ trì
đọc tụng kinh Kim Cang là đại lượng vô biên chẳng thể
cân lường. Theo Toán học nói số cát sông Hằng đếm được
tức là có thể thiết lập một hàm số đếm, nghĩa là cứ
từng hạt cát ta tương hợp một số nguyên bắt đầu từ
số 1. Sở dĩ đếm được vì cát là hạt gián đoạn có thể
phân biệt hạt này với hạt kia. Trái lại công đức thọ
trì kinh không đếm được vì không thể phân biệt từng phần
tử công đức. Lẽ dĩ nhiên, đại lượng vô hạn cát không
làm sao sánh bằng đại lượng vô hạn công đức vì đại
lượng trước đếm được mà đại lượng sau không đếm
được.
Trong Thiền luận,
Tập Hạ, Tuệ Sĩ chú dịch, khi luận về bốn cách nhìn Pháp
giới của Hoa Nghiêm tông thiền sư Suzuki có nói cách nhìn
thứ tư là đặc sắc nhất của giáo thuyết Hoa Nghiêm khác
hẳn với các tông phái Phật giáo khác. Theo cách này, "Pháp
giới như là một thế giới trong đó mỗi một vật thể riêng
biệt của nó đồng nhất với mọi vật thể riêng biệt khác,
mà tất cả những giới hạn phân cách giữa chúng thảy đều
bị bôi bỏ". Khái niệm liệt số được dùng để giải
thích cách nhìn thứ tư này và theo thiền sư Suzuki đó chính
là cách nhìn theo quan điểm của ngài Pháp Tạng.
Bây giờ ta lặp
lại phép dùng liệt số để tìm hiểu loại Pháp giới thứ
tư của Hoa Nghiêm tông. Trong thí dụ sau đây, giả thử liệt
số có dạng {2n}. Ký hiệu {2n} biểu tượng một
dãy số tương ứng với những trị số của n, bắt đầu
là n = 1 thời tính số 2 x 1 = 2, đến n = 2 thời tính
số 2 x 2 = 4, đến n = 3 thời tính số 2 x 3 = 6,
... ...
Như vậy {2n}
là dãy số gồm vô số hạng từ: {2n} = 2, 4,
6, ..., 2n, ... ... ...
Muốn khai triển
một liệt số thành một dãy số vô tận, ta cần biết đến
tạo sinh từ (generator) sinh ra nó. Trong thí dụ này, tạo
sinh từ của liệt số là 2n.
Theo Pháp Tạng,
mỗi hạng từ 2n, có thể được coi là có tương quan
với những hạng từ khác trên hai phương diện: tồn tại
và tác dụng. Quả vậy, hạng từ 2n có thể hiểu theo
hai nghĩa khác nhau như thế.
Trên phương diện
tương quan tồn tại hay tĩnh, mối tương quan đó gọi là tương
tức, nghĩa là đồng nhất. Theo nghĩa này, tạo sinh từ 2n
đồng nhất với bất cứ hạng từ nào của liệt số.
Nếu n = 1, thì ta có hạng từ 2 x 1 = 2. Nếu n = 2, thời
ta có hạng từ 2 x 2 = 4, v..v...
Tạo sinh từ 2n
cũng đồng nhất với toàn thể liệt số. Toàn
thể liệt số thâu nhiếp lại trong một hạng từ mà ta gọi
là tạo sinh từ 2n. Do đó, mỗi hạng từ có ý
nghĩa là do bởi liệt số và liệt số có ý nghĩa là do bởi
tạo sinh từ.
Trên khía cạnh
tương quan tác dụng hay động, mỗi hạng từ đóng góp cho
thể cách tổng quát của liệt số. Nếu gạt một hạng từ
nào đó ra khỏi liệt số thời liệt số không còn tác dụng
như là một liệt số nữa. Khi tách ra khỏi liệt số, hạng
từ không có nghĩa gì cả; do đó, hạng từ không tồn tại
bởi vì 2n được gọi là hạng từ chỉ khi nào nó nằm trong
liệt số mà thôi. Khi 2n đồng nhất với mỗi một hạng từ
của liệt số, thì nó hữu cùng; khi 2n đồng nhất với toàn
thể liệt số thì nó vô cùng. Tóm lại, mỗi hạng từ 2n
được coi như bao dung trong nó toàn thể liệt số và nó không
phải là một phần tử độc lập và tách biệt khi nằm trong
liệt số. Ðó chính là đặc tính của "sự sự vô ngại pháp
giới".
Theo những trường
hợp vừa kể trên toán ngữ có thể thay thế ngôn ngữ và
luận lý để diễn tả và phát biểu. 'Số' có thể thay thế
'từ ngữ' để thành lập mệnh đề. Mỗi số hay mỗi tổ
hợp số (tổng số, hiệu số, tích số, hay thương số) đều
hiện hữu theo định thức duyên khởi, nghĩa là tương quan
tương duyên với nhiều số khác. Ý nghĩa của chúng suy ra
từ khoảng cách chúng với số zero và tất cả chúng đều
quy chiếu về số zero.
Zero tọa ngay ở
gốc O trên đường thẳng số. Gốc O tức số zero là điểm
giới hạn khi các thực số dương hay khi các thực số âm
tiến về phía nó. Thuyết thực số có một định lý tối
quan trọng gọi là định lý về sự hiện hữu giới hạn:
"Nếu một liệt số tăng mà bị chận trên hay giảm mà bị
chận dưới thời liệt số hội tụ tại một điểm gọi
là điểm giới hạn của liệt số". Trong trường hợp quá
trình tu chứng của một hành giả được biểu diễn bằng
một liệt số tăng hay giảm và tiến đến zero thời theo định
lý về sự hiện hữu giới hạn, vì quá trình ấy có điểm
chận là điểm zero nên quá trình ấy chắc chắn hội tụ
tại điểm chứng đắc. Nói cách khác, theo thuyết thực số,
hành giả được bảo đảm thành tựu nếu tinh tấn tích lũy
công đức, thanh lọc bản thân, cúng dường, tinh tấn trong
việc thực hành sáu ba la mật.
Bây giờ đã đến
lúc dùng thuyết thực số để giải thích tứ cú. Tứ cú
khẳng định có thể viết theo dạng luận lý hình thức như
sau:
| (1) |
A |
có |
| (2) |
-A |
không
có |
| (3) |
A
* -A |
cả
hai, có và không có |
| (4) |
-A
* -(-A) |
chẳng
phải có chẳng phải không có |
Mỗi
thiên kiến: có, không có, có và không có, chẳng phải có
chẳng phải không có, được xem như thuộc từ gán cho một
chủ thể. Có thể ví đó là bốn kiến giải khác nhau của
bốn triết gia đối với chủ thể ấy. Như vậy, sự vật
chủ thể được mô tả dưới bốn khía cạnh khác nhau. Một
mặt, chỉ một trong bốn kiến giải là cần và đủ để
mô tả tính cách hiện hữu như vậy của nó. Mặt khác, mỗi
một thiên kiến trong tứ cú triệt để loại trừ hỗ tương
(complete mutual exclusion) ba thiên kiến kia. Triệt để loại
trừ hỗ tương có nghĩa là có cái này thì không có cái kia,
ngoái ra không có cái gì khác. Thiên kiến nào cũng bị ba thiên
kiến kia phản bác. Do đó, vin vào bất cứ một trong bốn
thiên kiến mà luận xét sự vật thời không hợp lý. Kết
quả của tứ cú là tất cả bốn thiên kiến đều bất lực
không mô tả được yếu tính quyết định của sự vật.
Thiên kiến nào cũng là Không. Bài tụng Trung luận XVIII.9 kết
luận rằng Thật tướng (tattvasya laksana; Thatness; Absolute Reality)
là vô tướng (animitta), nghĩa là không có ngôn ngữ và luận
lý để diễn tả (prapancair aprapancita).
Trên phương
diện Chân đế, zero giống như Thật tướng, không có ngôn
ngữ và luận lý để diễn tả nó. Zero là siêu việt đối
đãi, vô tướng, không tùy thuộc vào số hay nhân duyên nào
khác (tự tri bất tùy tha), không phát biểu một tích lượng
nào cả (tịch diệt vô hý luận), và không là số âm không
là số dương (vô dị vô phân biệt).
Sau đây, các số
hay tổ hợp số sẽ thay thế các từ ngữ để diễn tả bốn
thiên kiến của tứ cú. Kết quả cần chứng minh là cả bốn
thiên kiến đều là zero, tức là Không. Nghĩa là trên phương
diện Chân đế, chúng là vô tướng, và trên phương diện
tục đế, chúng không có yếu tính quyết định, không có
tự tính, tự ngã.
Trước tiên thay
vì một từ ngữ, ta chọn ngẫu nhiên một tổ hợp số, (+3
+ 5) chẳng hạn, để biểu tượng một sự thể. Vì khẳng
định là xác nhận sự thuộc vào một tập hợp gồm các
sự thể đồng phẩm, cho nên thiên kiến thứ nhất khẳng
định A có thể viết theo dạng phương trình sau:
(1)
(+3 +5) = 8
Phương trình (1)
xem như mệnh đề xác nhận sự quan hệ giữa hai khái niệm
theo luật đồng quy nhất (tàdàtmya; Principle of Identity), hay
còn gọi là trực quán tổng hợp phán đoán (intuitive synthetic
judgment). Nó có ý nghĩa giống câu nói : "Tại đây có cây
vì có lau sậy". Khái niệm (+3 +5) và khái niệm 8 đều quy
chiếu về cùng chung một thực tại điểm, một căn bản hữu
pháp. Trong trường hợp này căn bản hữu pháp có thể gọi
tên là 8 và xem 8 như một uẩn (skandha), tập hợp của những
cái gọi là (+3 +5), là (+2 +6), là (1+7), ... Trên hình thức
luận lý có hai tên khác nhau là 8 và (+3 +5). Nhưng tự thể
của chúng chỉ là một. Do đó, viết lại phương trình (1)
bằng cách đưa tất cả về một vế thời ta thấy tự thể
của chúng là zero:
(1')
[(+3 +5) - 8] = 0
Phương trình (1')
là một lối phát biểu phương trình (1) theo nguyên lý nhất
đa tương tức của Hoa Nghiêm tông.
Kết luận:
Khẳng định A là zero. Như vậy có nghĩa là mọi khẳng định
đều vô tướng trên phương diện Chân đế và vô tự tính
trên phương diện tục đế.
Cùng một lối
lý luận như trên, thiên kiến thứ hai phủ định -A
có thể viết theo dạng phương trình sau:
(2)
- (+3 +5) = - 8
bởi vì phủ định
là khẳng định cái đối nghịch.
Ðưa tất cả
về một vế:
(2')
[- (+3 +5) + 8] = 0
Kết luận:
Phủ định -A là zero. Như vậy có nghĩa là mọi phủ định
đều vô tướng trên phương diện Chân đế và vô tự tính
trên phương diện tục đế.
Thiên kiến thứ
ba, A * - A, khẳng định liên hợp hai thiên kiến
đầu (vừa khẳng định vừa phủ định) có thể viết theo
dạng phương trình sau:
(3)
(+3 +5) + - (+3 +5) = 8 + (-8)
Kết quả sau khi
làm tính:
(3')
(+3 +5) + - (+3 +5) - [8 + (-8)] = 0
Kết luận:
Khẳng định A * - A liên hợp cả hai thiên kiến đầu
là zero. Như vậy có nghĩa là mọi khẳng định liên hợp cả
hai thiên kiến đầu đều vô tướng trên phương diện Chân
đế và vô tự tính trên phương diện tục đế.
Cùng một lối
lý luận như trong thiên kiến thứ ba, thiên kiến thứ tư,
-A * -(-A), phủ định phân ly hai thiên kiến đầu (chẳng
khẳng định chẳng phủ định) có thể viết ra theo dạng
phương trình như sau:
(4)
- (+3 +5) + -(-(+3 +5)) = -8 + -(-8)
Kết quả sau khi
làm tính là:
(4')
- (+3 +5) + - (- (+3 +5)) - [-8 + -(-8)] = 0
Kết luận:
Phủ định phân ly hai thiên kiến đầu, -A * -(-A), là
zero. Như vậy có nghĩa là mọi phủ định phân ly hai thiên
kiến đầu đều vô tướng trên phương diện Chân đế và
vô tự tính trên phương diện tục đế.
Tổng kết:
Tất cả bốn thiên kiến của tứ cú đều vô tướng
trên phương diện Chân đế và vô tự tính trên phương diện
tục đế.
Ðiều phải chứng
minh đã được chứng minh.
Tháng 11, 2000