10.
Biện chứng pháp Trung quán
Trước
hết nên nhắc lại sự cần thiết phân biệt hai thứ chân
lý, Chân đế hay Chân lý tuyệt đối và tục đế hay chân
lý tương đối. Chân lý tuyệt đối là lý pháp nhất quán,
tối thượng, hay còn gọi là thực tại cứu cánh (Absolute
Reality). Pháp này là cái sở đắc của thánh trí tự giác,
không phải là cảnh giới do lời nói và lý trí suy luận mà
biết được. Chân lý tương đối là "sự thật" hiểu theo
ngôn ngữ và lý luận thông tục và thường được kiểm chứng
bằng tri thức thường nghiệm. Phía bên này, Chân lý tuyệt
đối là mục tiêu của sự luyện tâm và triển khai tuệ quán
đặc biệt phân tích ý nghĩa của tánh Không. Phía bên kia,
chân lý tương đối là mục tiêu của sự phát triển tưởng
tri, thức tri, và ý tri, ba loại hiểu biết thông thường của
thế gian nhằm mở rộng kiến thức về khoa học, kỹ thuật,
triết học, mỹ thuật, đạo đức học, chính trị học v.v...
Trung luận nói
rằng đức Phật thuyết pháp bằng phương thức Nhị đế.
Như vậy tục đế dưới hình thức ngôn thuyết là giáo lý
của Ngài phát xuất từ tâm Ðại Bi, nhằm chỉ cho chúng sanh
con đường đưa đến an lạc và hạnh phúc. Ngài Nguyệt Xứng
(Candrakìrti) hiểu Nhị đế theo nghĩa rộng hơn, xem đó là
bản tính hai mặt của các đối tượng nhận thức. Một mặt
là chân lý tối hậu hiển lộ như đối tượng đặc biệt
của tuệ giác siêu thế. Mặt kia là chân lý thế gian tức
tục đế hiển lộ như đối tượng của sự thấy biết thông
tục do tập quán và công ước quy định. Vì vô minh nên trong
sự thấy biết thông tục cái biết tách biệt sự biết, và
người biết tách biệt cái được biết, ngoại giới biệt
lập với nội tâm, nghĩa là luôn luôn có những cặp mâu thuẫn
đối lập nhau. Ðó là cốt cách tự nhiên của tri thức hiếu
biện: hễ thấy biết là có Vô minh gắn liền theo hành vi
thấy biết. Vô minh không có nghĩa là thiếu kiến thức, hoặc
không am tường một lý thuyết, một học thuật, hay một luật
lệ nào đó. Vô minh, phản nghĩa của Giác Ngộ, chính là sự
thấy biết điên đảo: trong thế gian, các pháp đều vô thường
mà cho là thường; chúng sinh chịu mọi thứ khổ đau mà cho
là vui, sướng; vốn không có cái ta, cái của ta mà chấp là
có ngã, có ngã sở; các pháp đều bất tịnh mà cho là tịnh.
Ðối với Phật
tử trọng tâm hành giải không phải tìm hiểu cơ cấu sự
thật thế gian mà là siêu việt thế gian đế để giải thoát
và giác ngộ. Nói như vậy có nghĩa là hành giả phải đoạn
diệt mọi hý luận tức mọi hoạt dụng của tri thức hiếu
biện thời chân lý tối thượng mới hiển bày. Tuy nhiên,
điều kiện cần thiết để đoạn diệt hý luận lại là
sự hiểu biết rành rẽ những đặc tính của ngôn ngữ và
luận lý, sự thông đạt vai trò và giới hạn của suy luận
và phát biểu, cùng sự tri tường mọi phương thức luận
chứng nhằm mục đích tự ngộ và ngộ tha. Ðó là ý nghĩa
của bài tụng XXIV.10:
Nhược
bất y tục đế
Bất đắc Ðệ
nhất nghĩa
Bất đắc Ðệ
nhất nghĩa
Tắc bất đắc
Niết bàn.
Hành giả phải biết
nương nhờ và khéo tận dụng mọi phương tiện thế gian trên
bước đường tu học.
Thường do khuynh
hướng cực đoan nên mới có kiến chấp mê muội hoặc nhận
lầm tục đế làm Chân đế hoặc tách riêng hai mặt tục
đế và Chân đế của chân lý thành hai thực thể khác biệt.
Qua hình ảnh Niết bàn (Nirvàna) và Luân hồi (samsàra) Trung
luận mô tả Chân đế không những là sở y của tục đế
mà hơn nữa chính là bản thể của tục đế. Ðó là ý nghĩa
của ba bài tụng Trung luận XXV.9, 19, và 20:
9. Thọ
chư nhân duyên cố
Luân chuyển sinh
tử trung
Bất thọ chư
nhân duyên
Thị danh vi niết
bàn.
19. Niết bàn dữ
thế gian
Vô hữu thiểu
phân biệt
Thế gian dữ
niết bàn
Diệc vô thiểu
phân biệt.
20. Niết bàn chi
thực tế
Cập dữ thế
gian tế
Như thị nhị
tế giả
Vô hào ly sai
biệt.
Dịch là:
9. Vì thọ
chấp các nhân duyên nên luân chuyển trong sanh tử. Không thọ
các nhân duyên, đó chính là niết bàn.
19. Niết bàn và
thế gian không có mảy may khác biệt. Thế gian và niết bàn
cũng không có chút gì khác biệt.
20. Cái gì là
biên giới của niết bàn cũng là biên giới của thế gian.
Không có mảy may sai biệt giữa hai biên giới đó.
Theo nhận thức luận
Phật giáo, không có hình thái nhận thức nào đúng ngoài hiện
lượng tức trực nhận tự tướng bằng cảm giác đơn thuần
và tỷ lượng tức tư duy suy lý để khái niệm hóa và định
danh tổng tướng. Ðức Phật thường khuyến khích quán sát
và phân tích để thấy rõ con đường đến Giác Ngộ:
"Này các tu
sĩ! Ðừng bao giờ chấp nhận lời dạy của ta chỉ vì do
lòng tôn kính! Hãy để cho các bậc có học phân tích lời
dạy của ta như thể vàng được công nhận sau khi đốt, cắt,
và chà xát." [Theo Th. Stcherbatsky, Buddhist Logic,
tu sĩ Tây tạng nói trích đoạn này trong Kinh Ghana Sutra. Nhiều
tác giả khác nói dẫn trích từ bài kệ Jnànasàrasamuccaya,
31].
Sự quán sát và
phân tích mà Ngài thường xuyên khuyến lệ cuối cùng dẫn
ta đến biên tế của thực tại (bhùtakoti), mà cũng là chân
trời vô tự tính của thế tục.
Trong kinh Cù Mặc
Mục Kiền Liên (Trung A-Hàm, Kinh số 145), theo lời tôn giả
A Nan nói cho đại thần Vũ Thế nước Ma kiệt đà biết, thời
đức Thế Tôn có dạy về mười pháp đáng tôn kính. Pháp
thứ hai được kể ra là:
"Lại nữa, này
Vũ Thế, Tỳ kheo học rộng, nghe nhiều, ghi nhớ không quên,
tích lũy sự bác văn, đối với những pháp sơ thiện, trung
thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, cụ túc thanh tịnh, hiển
hiện Phạm hạnh, đối với các pháp như vậy, học rộng,
nghe nhiều, tụng thuộc cho đến hằng nghìn, chuyên ý tư duy
quán sát, thấy rõ, hiểu sâu. Này Vũ Thế, khi chúng tôi thấy
Tỳ kheo nào tích cực đa văn, thì chúng tôi cùng ái kính,
tôn trọng, cúng dường, tôn phụng, lễ bái, hầu hạ Tỳ
kheo ấy."
Trong tiến trình
tra tầm, quán sát, và phân tích thực tại, tứ cú (catuskoti)
là định thức tư duy và phát biểu rất cần thiết cho sự
nỗ lực thọ trì, suy nghĩ, và tu tập. Nói đến tứ cú tức
là nói đến biện chứng pháp. Thế nào là biện chứng pháp?
Biện chứng pháp được hệ thống hóa từ khi Bồ tát Long
Thọ quan tâm phân tích sự im lặng cao thượng của đức Phật
không trả lời 16 câu hỏi siêu hình liên quan đến Thật tướng
của các pháp. Bài tụng Trung luận XVIII.7 xác quyết Thật
tướng không có ngôn ngữ:
Chư pháp
thực tướng giả
Tâm hành ngôn
ngữ đoạn
Vô sinh diệc
vô diệt
Tịch diệt như
Niết bàn.
Dịch là: Thật tướng
của các pháp thì đoạn bặt, cắt đứt cả tâm hành (tư
duy) lẫn ngôn ngữ, không sanh cũng không diệt, tịch diệt
như Niết bàn.
Sau đó, hai bài
tụng 11 và 12 thuộc Phẩm XXII: Quán Quán Như Lai lại nói đến
sự bất khả thuyết của tánh Không, đồng thời dùng tứ
cú phủ định để vén mở cho trực giác tâm linh một cái
nhìn siêu việt tất cả bốn thiên kiến của tứ cú:
11. Không
tắc bất khả thuyết
Phi không bất
khả thuyết
Cọng bất cọng
phả thuyết
Ðản dĩ giả
danh thuyết.
12. Tịch diệt
tướng trung vô
Thường vô thường
đẳng tứ
Tịch diệt tướng
trung vô
Biên vô biên
đẳng tứ.
Dịch là:
11. Ðã
Không (không tự tánh) thì không thể luận thuyết mà phi Không
thì cũng không thể nói năng bàn cãi. Vừa Không vừa phi Không,
chẳng phải Không chẳng phải phi Không cũng đều không thể
bàn thảo được, nên chỉ sử dụng giả danh để nói.
12. Ngay trong tướng
tịch diệt (thật tướng -- không tánh) vốn không có thường
và vô thường, vân vân ..., bốn điều (tứ cú: thường, vô
thường, vừa thường vừa vô thường, chẳng phải thường
chẳng phải vô thường). Ngay trong tướng tịch diệt cũng
không hề có biên, vô biên, vân vân ..., bốn điều (tứ cú:
hữu, vô, vừa hữu vừa vô, chẳng phải hữu chẳng phải
vô biên).
Khi chú giải bài
tụng Trung luận XXII.12, ngài Nguyệt Xứng nói đức Phật xếp
16 câu hỏi siêu hình vào loại "avyàkrta" nghĩa là không thể
dùng lời nói mà trả lời được. Ngài kê 16 câu hỏi ấy
theo thứ tự như sau:
1. bốn
câu hỏi về Thế gian là thường còn, vô thường, là cả
hai, không phải cả hai;
2. bốn câu hỏi
về Thế gian là hữu biên, vô biên, là cả hai, không phải
cả hai;
3. bốn câu hỏi
về Như Lai tồn tại sau khi chết, không tồn tại, là cả
hai, không phải cả hai và
4. bốn câu hỏi
về mạng sống và thân thể là một, là khác, không phải
khác không phải không khác, là không có mạng không có thân.
Như vậy 16 câu hỏi
được xếp thành bốn nhóm. Mỗi nhóm gồm bốn thiên kiến.
Bốn thiên kiến này tạo thành cơ sở của tứ cú Trung
quán. Hai thiên kiến đầu được xem như căn bản: một
khẳng định tôn chỉ và một phủ định tôn chỉ. Thiên kiến
thứ ba là khẳng định sự liên hợp hai thiên kiến căn bản
và thiên kiến cuối cùng là phủ định sự phân ly hai thiên
kiến căn bản. Theo đức Phật đối với những câu hỏi ấy
trả lời "phải" hay "không phải" đều không giúp ta thấy
rõ chân lý chút nào.
Ngay khi đặt ra,
câu hỏi đã có dạng có-không đối hiện và đối lập. Ðó
là bằng chứng của sự hay biết về những xung đột sẵn
có bên trong Lý tính (Reason). Cốt cách tự nhiên của Lý tính
là luôn luôn hiện hành nhị phân, khái niệm luôn luôn là
khái niệm đối hiện và đối lập lẫn nhau. Nghĩ đến cái
A thời tức khắc cái phi A hiện khởi. Ngôn ngữ và luận
lý vì thế mà không thể nhận thức, diễn đạt, và truyền
đạt tướng bất nhị (advaya) của muôn vật. Vả lại, tri
thức thường nghiệm không thể dùng để giải quyết những
xung đột siêu quá kinh nghiệm thông tục. Cùng một vấn đề
siêu hình, nếu có kiến giải chủ trương là có thời không
chóng thời chầy xuất hiện kiến giải đối nghịch chủ
trương là không.
Quả vậy, kinh
Phạm Võng, Trường A-hàm, có ghi lại tất cả sáu mươi hai
luận chấp thịnh hành, bao hàm tất cả các vấn đề và giải
đáp những vấn đề ấy vào thời đức Phật đắc Ðạo.
Như lời giải thích trong kinh, tất cả những sai lầm căn
bản của các luận chấp là do những khuynh hướng chấp thủ
cực đoan. Ð?c Phật kêu gọi:
"Các
vị khất sĩ! Ðừng đi vào trong cái lưới mê hồn ấy để
mất hết thời giờ và cơ hội tu tập đạo giải thoát. Ðừng
đi vào cái lưới của sự hý luận..."
Trong kinh Ananda (Tương
Ưng bộ, IV.400) đức Phật giải thích cho tôn giả Ananda thái
độ im lặng của Ngài khi du sĩ Vacchagotta hỏi là có tự ngã
hay không.
"Này
Ananda, nếu được hỏi: 'Có tự ngã không?', và Ta trả lời
là 'Có tự ngã', như vậy, này Ananda, thuộc về phái các Sa
môn, Bà la môn chấp thường kiến.
Và này Ananda,
nếu được hỏi: 'Có phải không có tự ngã?', và Ta trả
lời là 'Không có tự ngã', như vậy, này Ananda, thuộc về
phái các Sa môn, Bà la môn chấp đoạn kiến.
Lại nữa, này
Ananda, nếu được hỏi: 'Có tự ngã không?', và Ta trả lời
là 'Có tự ngã', như vậy, câu trả lời của Ta có phù hợp
với trí khởi lên rằng: 'Tất cả các pháp là vô ngã'?
-- Thưa không,
bạch Thế tôn.
Lại nữa, này
Ananda, nếu được hỏi: 'Có phải không có tự ngã?', và Ta
trả lời là 'Không có tự ngã', như vậy, này Ananda, lại
làm cho du sĩ Vacchagotta càng ngơ ngác bối rối hơn nữa: 'Trước
đây ta có tự ngã, nay không có tự ngã nữa'".
Muốn biết đức
Phật giải quyết như thế nào những vấn đề chấp thường
chấp đoạn, chấp có chấp không, hãy nghe lời Ngài dạy tôn
giả Kaccàyanagotta:
"Này
Kaccàyana, thế giới này phần lớn y chỉ vào hai cực đoan
này: có và không có. ...
"Tất cả là
có", này Kaccàyana, là một cực đoan.
"Tất cả là
không có" là cực đoan thứ hai.
Xa lìa hai cực
đoan ấy, này Kaccàyana, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo."
(Kinh Ca Chiên Diên
Thị (Kaccàyanagotta), Tương Ưng Bộ)
Bằng vào những
dữ kiện trên Bồ tát Long Thọ nhận xét sở dĩ đức Phật
im lặng không trả lời các câu hỏi liên hệ thực tại cứu
cánh là vì thực tại cứu cánh siêu việt mọi hình thức
tư duy và phát biểu. Bốn thiên kiến đức Phật thường nói
đến những khi thuyết pháp được Ngài hệ thống hóa thành
phương tiện thiện xảo dùng đưa Lý tính (Reason) vào ngõ
cụt đường cùng, từ đó xoay chuyển (paràvrtti) toàn bộ
tâm thức, siêu việt trí thức, chuyển Lý tính thành Ngộ
tính (Understanding) tức trí tuệ thấy biết như thực, như
thị. Ngài phát hiện những xung đột, những mâu thuẫn mà
Lý tính không thể tránh khỏi những khi nó dùng phương tiện
của Thế gian giới để thuyết minh những vấn đề thuộc
Pháp giới.
Tóm lại, biện
chứng pháp, còn gọi là dịch hóa pháp, là sự vận
hành của dòng tâm thức nhờ quán sát và phân tích hai phía
thuận (pros) và nghịch (cons) của một vấn đề mà phát hiện
tịnh thức thấy biết những mâu thuẫn nội tại đương nhiên
hiện ra làm Lý tính sa lầy không giải quyết nổi, và cuối
cùng bày giải phương cách thoát khỏi ngõ bí là vượt ngoài
qui tắc của Lý tính. Mục tiêu của biện chứng pháp Trung
quán là nhằm khai thông con đường Trung đạo đến trí Bát
nhã Ba la mật, nhằm thức tỉnh giác quan nội tại nơi phần
sâu thẳm trong thể tánh hầu thực chứng tánh Không. Nói cách
khác, biện chứng pháp Trung quán có vai trò giáo hóa chỉ đường
thức
tỉnh (sambodhi; giác ngộ) tức chuyển y (paràvritti).
Chỉ khi nào vứt bỏ hẳn lối giải thích hiện hữu với
cách phân tích nhị nguyên hữu và vô, A và phi A thời bản
tướng của như thực tính (yathàbhùtatà) mới hiển
lộ. Chính là lúc tánh Không tức A = phi A được
"thấy" một cách trung thực (yathàbhùtam).
Nhiều học giả
Tây phương hiểu lầm rằng ngài Long Thọ không hề hay biết
những quy luật cơ bản của logic Aristotle (chữ logic dành riêng
cho luận lý hình thức Aristotle). Ðó là:
1. Luật
đồng nhất: Mọi sự vật luôn luôn đồng nhất với nó.
A là A, B là B.
2. Luật phi mâu
thuẫn: Một sự vật không thể vừa là nó lại vừa không
phải nó. A không thể vừa là A vừa là phi A.
3. Luật triệt
tam: Không thể có trường hợp thứ ba. Nghĩa là: hoặc là
A, hoặc không phải là A, chứ không thể cái nào khác.
Chắc chắn không
phải như vậy. Trước hết Phật giáo không chấp nhận luật
đồng nhất của logic Aristotle. Theo lý duyên khởi mọi sự
thể đều sinh diệt trong sát na. Hai sự thể hình thành trong
hai sát na khác nhau là hai sự thể khác biệt nhau. Cùng một
cây tùng mà ở vào hai thời điểm khác nhau thời được xem
như là hai vật thể hoàn toàn khác biệt, tuy cả hai được
biểu tượng chung bằng một khái niệm chung là cây tùng. Hai
sát na sinh diệt của cây tùng quan hệ theo luật nhân quả
(tadutpatti; Principle of Causality; Non-identity of the underlying Reality)
giống như trường hợp giữa "khói" và "lửa". Ngoài luật
nhân quả, luận lý Phật giáo còn có một luật nữa gọi
là luật đồng quy nhất (tàdàtmya; Principle of Identity; Identity
of the underlying Reality) để giải thích sự quan hệ giữa hai
khái niệm cùng chung một căn bản hữu pháp (dharmì; substratum)
[Hữu pháp là chỉ vật tự thân, còn gọi là tự
tính, tự thể của sự vật]. Như giữa hai khái niệm
"cây" và "lau sậy" trong mệnh đề: "Tại đây có cây vì có
lau sậy". "Cây" và "lau sậy" đều quy chiếu về cùng chung
một thực tại điểm, chung một căn bản hữu pháp.
Luật phi mâu thuẫn
được hàm ý trong hai thí dụ sau đây.
1. Hai câu cuối
bài tụng Trung luận VII.31:
Bất ưng
ư nhất pháp
Nhi hữu hữu
vô tướng.
Dịch là: Không lẽ
ở nơi một pháp mà có cả hai tướng hữu và vô?
2. Hai câu cuối
bài tụng Trung luận VIII.7:
Hữu vô
tướng vi cố
Nhất xứ tắc
vô nhị.
Dịch là: Vì Có
và Không trái nghịch nhau cho nên trong cùng một chỗ thì không
thể có hai thứ ấy được.
Luật triệt tam
xuất hiện trong hai thí dụ sau đây.
1. Bài tụng Trung
luận II.8:
Khứ giả
tắc bất khứ
Bất khứ giả
bất khứ
Ly khứ bất khứ
giả
Vô đệ tam khứ
giả.
Dịch là: Người
đi thì không đi và người không đi thì cũng không đi. Ngoài
người đi và người không đi, không có người đi thứ ba
nào khác.
2. Hai câu cuối
bài tụng Trung luận XXI.13:
Ðương
tri sở thọ pháp
Vi thường vi
vô thường.
Dịch là: Nên biết
rằng các pháp được cảm thọ hoặc là thường hoặc là
vô thường.
Tuy gồm toàn luận
chứng đả phá và đối tránh nhưng Trung luận không hề nêu
đích danh bất cứ cá nhân hay tông phái đối lập nào. Mục
đích thiết thực mà Trung luận nhắm thành đạt là bác bỏ
những biên kiến và tà kiến không phải của một đối phương
có chủ trương đối lập mà chính ngay của hành giả. Do vô
minh từ vô thủy nên hành giả mải mê với hý luận mà không
hay biết. Tứ cú thức tỉnh hành giả ý niệm chính xác về
tánh Vô tự tính của vạn pháp, về tính cách vạn pháp
hiện hữu như thật, hiện hữu đúng như cái thế
duyên khởi của chúng. Trong phần sau đây khi nói đến
đối phương tức là nói đến cái nhìn mê muội sai lầm của
hành giả.
Ngài Long Thọ
luận chứng theo phép
hệ quả (prasanga; consequence)
phi lý còn gọi là
phép phản chứng (reductio ad absurdum).
Bắt đầu là lập tôn tức tổ chức một mệnh đề
(tôn thể) biểu tượng quan hệ nhân quả giữa hai
tôn y, nghĩa là hai yếu tố y cứ vào đó mà tổ chức
mệnh đề. Ngài thường thuận theo lý lẽ của đối phương,
đưa ra những lý do mà đối phương công nhận dù Ngài không
đồng ý để phản bác chủ trương đối nghịch của họ.
Trong số 446 bài tụng của Trung luận, có hơn 80 bài do các
mệnh đề tôn cấu thành hay chứa những mệnh đề tôn như
vậy. Công dụng chính yếu của các bài tụng còn lại là
để phụ giải các mệnh đề tôn.
Ðể hiểu một
cách tổng quát phương thức luận chứng của ngài Long Thọ,
hãy lấy bốn bài tụng đầu của Phẩm II: Quán Khứ Lai làm
thí dụ. Trước hết bài tụng II.1:
1. Dĩ khứ
vô hữu khứ
Vị khứ diệc
vô khứ
Ly dĩ khứ vị
khứ
Khứ thời diệc
vô khứ
Dịch là: 1. Cái
đã đi qua không đang đi. Cái chưa đi qua không đang đi. Ngoài
cái đã đi qua và cái chưa đi qua, cái đang đi qua cũng không
đang đi (quan niệm đang đi vì thế mà không thể suy diễn
phát biểu được).
Trong bài tụng
này, hai tôn y dùng để lập tôn là "động tác đang đi" và
"đoạn đường phải đi qua". Ðể thiết lập mệnh đề tôn
mô tả quan hệ giữa một động tác và sở y của động tác
ấy, ngài Long Thọ đem chia tôn y "đoạn đường phải đi qua"
thành hai phần bổ sung nhau: "phần đoạn đường đã đi qua"
và "phần đoạn đường chưa đi qua". Hội (union) hai
phần bổ sung ấy tạo thành "đoạn đường phải đi qua"
tức vũ trụ ngôn thuyết (universe of discourse) trong thí dụ
này. Nói như thế có nghĩa là ngoài hội hai phần bổ sung
ấy, không còn có điểm hay đoạn đường nào khác trên đoạn
đường phải đi qua gọi là cái đang đi qua. Bằng cách chia
đôi một tôn y ra làm hai phần bổ sung như vậy ngài Long Thọ
chứng minh mệnh đề "cái đang đi qua không đang đi" với lý
do là cái đang đi qua không hiện hữu.
Ðến đây xin
mở dấu ngoặc để đưa ra một thí dụ tương tợ trong logic
Aristotle. Ðó là nghịch lý (paradox) "mũi tên" của Zeno: trên
đường bay, thử hỏi mũi tên chuyển động hay đứng yên
vào một sát na bất kỳ nào đó? Nếu chuyển động thời
làm sao có sự chuyển động được trong một sát na! Nếu
đứng yên thời mũi tên đâu có bay!
Trong bài tụng
II.2 kế tiếp:
2. Ðộng
xứ tắc hữu khứ
Thử trung hữu
khứ thời
Phi dĩ khứ vị
khứ
Thị cố khứ
thời khứ
Dịch là: 2. Nơi
nào chuyển động thì nơi đó có cái đi. Vì lẽ có chuyển
động trong động tác đang đi và không có chuyển động nơi
cái đã đi qua hay nơi cái chưa đi qua, nên cái đi thật có
trong động tác đang đi.
Trong bài tụng
này, đối phương đồng ý rằng nơi cái đã đi qua không có
chuyển động và nơi cái chưa đi qua cũng không có chuyển
động. Nhưng họ chủ trương "cái đi thật có trong
động tác đang đi". Ngài Long Thọ bác bỏ quan điểm ấy trong
hai bài tụng II.3-4 bằng một phương pháp khác với phương
pháp đã dùng trong bài tụng II.1.
3. Vân
hà ư khứ thời
Nhi đương hữu
khứ pháp
Nhược ly ư khứ
pháp
Khứ thời bất
khả đắc
4. Nhược ngôn
khứ thời khứ
Thị nhơn tắc
hữu cữu
Ly khứ hữu khứ
thời
Khứ thời độc
khứ cố
Dịch là:
3. Làm
thế nào có cái đi trong động tác đang đi? Nếu tách biệt
cái đi thì không thể có cái gọi là động tác đang đi.
4. Nếu ai chủ
trương rằng có cái đi trong động tác đang đi thì kẻ đó
sai lầm, vì tách biệt cái đi mà vẫn có động tác đang đi;
nhưng thực tế thì chính động tác đang đi tự nó đơn độc
đi.
Theo bài tụng II.3,
nếu nghĩ rằng cái đi có yếu tính quyết định, tự nó hiện
hữu độc lập tách biệt đối với mọi pháp khác, và nếu
nghĩ rằng cái đi là phẩm tính của cái động tác đang đi
thời vì có tự tính nên cái đi tương tục tồn tại. Phía
kia, khi cái động tác đang đi tách biệt cái đi thời có nghĩa
là không đi nữa. Trong trường hợp này nó vẫn tiếp tục
được gọi là cái động tác đang đi vì cái đi là phẩm
tính của nó!
Trong bài tụng
II.4, ngài Long Thọ chỉ trích quan niệm của đối phương cho
rằng cái đi vừa là phẩm tính của động tác đang đi vừa
độc lập tách biệt với động tác này. Từ một quan niệm
như vậy ta có hệ quả là cái động tác đang đi tách biệt
với cái đi, nghĩa là không đi nữa. Ðiều này phi lý vì cái
đi vẫn là phẩm tính của nó!
Ngài Long Thọ
ứng dụng ngay lý lẽ của đối phương là "cái đi thật có
trong động tác đang đi". Rồi Ngài nêu ra hệ quả: câu nói
đó đúng chỉ khi nào thật có một cái đi tách biệt với
động tác đang đi. Hệ quả này là một điều phi lý. Tại
vì theo Ngài, cái đi chỉ hiện hữu khi có động tác đang
đi và không có cái đi tách biệt với động tác đang đi.
Phương pháp chứng
minh vừa đề cập gọi là phép hệ quả phi lý hay phép phản
chứng (reductio ad absurdum).Theo phép này muốn chứng minh một
mệnh đề M
là đúng [trong thí dụ này, mệnh đề M
= "cái đi chỉ hiện hữu khi có động tác đang đi và không
có cái đi tách biệt với động tác đang đi"], thời phải
lấy câu phản nghịch ~M để lập tôn. Trong thí dụ
này, mệnh đề phản nghịch ~M = "Cái đi thật có trong
động tác đang đi". Sau đó chứng minh mệnh đề ~M không
đúng với những lý lẽ như trình bày trong các bài tụng II.3-4.
Chứng minh mệnh đề phản nghịch ~M sai tức là đã
chứng minh mệnh đề M đúng.
Trong những thí
dụ trên, một tôn y được chia thành hai thiên kiến đối
nghịch. Thật ra, một, cả hai tôn y, hay quan hệ giữa hai tôn
y trong mệnh đề tôn thường được đem phân chia thành hai,
ba, hay bốn thiên kiến.
Tứ cú chính là trường hợp phân
tôn y thành ba hay bốn thiên kiến. Trường hợp phân thành
ba thiếu một thiên kiến vẫn còn gọi là tứ cú nhưng đó
là loại tứ cú không trọn.
Biện chứng pháp
Trung quán kết cấu theo tứ cú thường có một trong hai dạng
sau đây.
Dạng I: Tứ
cú phủ định.
Một sự thể
nào đó hoặc chẳng A, hoặc chẳng phi A, hoặc chẳng cả hai
A và phi A, hoặc không phải chẳng A không phải chẳng phi A.
Tất cả bốn
thiên kiến đều phủ định, và trường hợp này thiết lập
một chiều độ (dimension) mới có tính cách siêu nhiên (transcendental),
phản bác toàn thể hay mỗi một bốn thiên kiến. Tứ cú phủ
định, một hình thức mô tả tánh Không, thường được dùng
trong những luận chứng liên hệ đến thực tại cứu cánh.
Dạng II: Tứ
cú khẳng định.
Một vật thể
nào đó hoặc là A, hoặc là phi A, hoặc là cả hai A và phi
A, hoặc là không phải A không phải phi A.
Hai thiên kiến
đầu là luận lý nhị biên thông thường, hoặc khẳng định
(có) hoặc phủ định (không). Thiên kiến thứ ba khẳng định
liên hợp hai thiên kiến đầu (vừa khẳng định vừa phủ
định), và thiên kiến thứ tư phủ định phân ly hai thiên
kiến đầu (chẳng khẳng định chẳng phủ định).
Thí dụ Dạng
I. Bài tụng I.1:
Chư pháp
bất tự sinh
Diệc bất tòng
tha sinh
Bất cọng bất
vô nhân
Thị cố tri vô
sinh.
Dịch là: Các pháp
chẳng hiện khởi từ chính nó, cũng chẳng hiện khởi từ
một cái khác, cũng chẳng hiện khởi từ cả hai cọng lại
hay không do nhân duyên nào cả (vô nhân). Vì thế biết rằng
các pháp vốn vô sanh.
Thí dụ Dạng
II. Bài tụng XVIII.8:
Nhất thiết
thực phi thực
Diệc thực diệc
phi thực
Phi thực phi phi
thực
Thị danh chư
Phật pháp.
Dịch là: Hết thảy
mọi pháp đều thật, hay phi thật, hay vừa thật vừa phi thật,
hay không phải thật không phải phi thật. Ðó chính là giáo
pháp của chư Phật.
Cũng nên lưu ý
rằng trong bài tụng này vấn đề thường đặt ra một cách
mơ hồ vô hạn định khi dùng chữ "nhất thiết" bao gồm hết
thảy mọi pháp nay được giới hạn lại trong bốn thiên kiến
hỗ tương mâu thuẫn của tứ cú mà thôi.
Trong số hơn 80
bài chứa những mệnh đề tôn hay do các mệnh đề tôn cấu
thành có khoảng trên dưới 30 bài trong đó tôn y phân thành
tứ cú. Phải giải thích như thế nào về thiên kiến thứ
ba trong tứ cú "cả hai A và phi A" để khỏi hiểu lầm là
trái nghịch với luật phi mâu thuẫn? Trường hợp thiên kiến
thứ tư cũng cần giải thích. Bởi vì thông thường một sự
thể chỉ có thể hoặc là A hoặc là phi A. Ðây lại thêm
trường hợp một sự thể là "không phải A không phải phi
A". Hóa ra nghịch lại với luật triệt tam hay sao?
Ðể dễ hiểu
hãy lấy một số bài tụng Trung luận làm thí dụ phân tích
hai thiên kiến thứ ba và thứ tư của tứ cú theo logic Aristotle.
Thí dụ 1: Tứ
cú phủ định loại 1.
Trong thí dụ Dạng
I kê trên, bốn thiên kiến bài tụng Trung luận I.1 có thể
viết lại như sau.
1. Các
pháp chẳng hiện khởi từ chính nó, và
2. Các pháp chẳng
hiện khởi từ một cái khác, và
3. Các pháp chẳng
hiện khởi từ cả hai cọng lại (nó và cái khác nó), và
4. Các pháp chẳng
hiện khởi không do nhân duyên nào cả (vô nhân).
Nói cách khác, các
pháp chẳng hiện khởi từ nhân chính nó, từ nhân cái khác
nó, từ nhân cả hai nó và cái khác nó, và từ vô nhân. Nói
một cách vắn tắt, các pháp là vô sanh nghĩa là chẳng hiện
khởi.
Trong thí dụ này,
nó và cái khác nó là hai sự vật triệt để
loại trừ hỗ tương (complete mutual exclusion), nghĩa là
có nó thời không có cái khác nó và ngược lại, ngoài ra
không có cái thứ ba nào khác. Do đó, hai tập hợp, tập
hợp đồng phẩm với nó và tập hợp đồng phẩm
với cái khác nó, bổ sung (complementary) nhau. Hội
(union) của chúng tạo thành vũ trụ ngôn thuyết (universe
of discourse) tức là tập hợp nhân của tất cả mọi sự vật.
Giao (intersection) của chúng là tập hợp rỗng (null
set Æ
). Sau đây là hình vẽ tượng trưng bốn thiên kiến: tập
hợp đồng phẩm với nó, tập hợp đồng phẩm với cái khác
nó, tập hợp vũ trụ ngôn thuyết hội hai tập hợp ấy, và
tập hợp giao rỗng của hai tập hợp ấy.
Hình I tượng trưng
tập hợp T, tập hợp đồng phẩm với nó tức tập
hợp mọi pháp hiện khởi từ chính nó.
Hình II tượng
trưng tập hợp (~T), tập hợp đồng phẩm với cái khác
nó tức tập hợp mọi pháp hiện khởi từ cái khác nó. (~T)
và T bổ sung nhau.
Hình III tượng
trưng tập hợp T È
(~T), hội hai tập hợp T và (~T). Tập hợp T È
(~T) là vũ trụ ngôn thuyết tức bao gồm mọi pháp hiện
khởi hoặc từ chính nó hoặc từ cái khác nó, ngoài ra không
có nhân nào khác. Trong thí dụ 1 này, chữ "cả hai" không hàm
ý hiện khởi đồng thời từ chính nó và từ cái khác nó.
Vũ trụ ngôn thuyết tương ứng với "các pháp hiện khởi
từ cả hai, nó và cái khác nó".
Hình IV tượng
trưng tập hợp T Ç
(~T), giao của hai tập hợp bổ sung T và (~T).
Tập hợp này rỗng Æ
, tương ứng với "các pháp hiện khởi chẳng phải từ chính
nó chẳng phải từ cái khác nó". Nói cách khác, không có pháp
nào hiện khởi vô nhân.
Trường hợp thiên
kiến thứ tư thực ra được hiển nghiệm ngay sau khi hai thiên
kiến đầu phủ định sự hiện khởi từ chính nó cũng như
từ cái khác nó. Cũng thế, trường hợp thiên kiến thứ ba
là một sự xác nhận những gì đã phủ định trong hai thiên
kiến đầu.
Thí dụ 2: Tứ
cú phủ định loại 2.
Tứ cú phủ định
Dạng I trong thí dụ 2 này không thuộc loại 1 có bốn thiên
kiến: "từ chính nó, từ cái khác nó, từ cả hai, và vô nhân"
như thí dụ 1. Tứ cú loại 2 trong thí dụ 2 này thường nằm
trong những bài tụng ở vào phần cuối của Trung luận và
có dạng thức: "hữu, vô, cả hai hữu và vô, và phi hữu phi
vô". Hai bài tụng sau đây đề cập đến hữu (bhàva) và phi
hữu tức vô (abhàva) là hai thiên kiến triệt để loại trừ
hỗ tương.
Bài tụng XXV.10:
Như Phật
kinh trung thuyết
Ðoạn hữu đoạn
phi hữu
Thị cố tri niết
bàn
Phi hữu diệc
phi vô
Dịch là: Như trong
kinh đức Phật từng dạy là hãy đoạn diệt cả hữu và
vô. Do đó biết rằng niết bàn là chẳng phải hữu chẳng
phải vô.
Bài tụng XXV.13:
Hữu vô
cộng hợp thành
Vân hà danh niết
bàn
Niết bàn danh
vô vi
Hữu vô thị
hữu vi.
Dịch là: Làm thế
nào hữu và vô cộng hợp mà cấu thành niết bàn? Niết bàn
là vô vi mà hữu và vô thì là hữu vi.
Hãy bàn đến
sự bác bỏ thiên kiến thứ ba "cả hai hữu và vô" trong bài
tụng XXV.13 trước khi bàn đến sự không chấp nhận thiên
kiến thứ tư "chẳng phải hữu chẳng phải vô" trong bài tụng
XXV.10. Tại sao lần này không thể giải thích thiên kiến thứ
ba giống như trong trường hợp thí dụ 1? Tại vì do luật
phi mâu thuẫn hữu và vô không thể cùng ở một chỗ là niết
bàn, như được nói đến trong bài tụng XXV.14:
Hữu vô
nhị sự cộng
Vân hà thị niết
bàn
Thị nhị bất
đồng xứ
Như minh ám bất
câu.
Dịch là: Làm thế
nào hữu và vô hai thứ cộng hợp mà cấu thành niết bàn?
Vì hữu và vô như sáng và tối không cùng ở một nơi.
Trong thí dụ 2
chủ thể trong các mệnh đề là niết bàn. Niết bàn là một
thực thể không phân chia được. Do đó không thể bảo rằng
có phần niết bàn hữu hay có phần niết bàn vô. Mặt khác,
giao của hai tập hợp, tập hợp các pháp hữu và tập hợp
các pháp vô, là tập hợp rỗng. Hội của chúng tạo thành
vũ trụ ngôn thuyết bao gồm hết thảy mọi pháp hữu vi vì
pháp dù hữu hay vô tất cả đều hữu vi. Niết bàn trái lại
là pháp vô vi nên không thể bảo là do cả hai hữu vô cộng
hợp.
Thế thì niết
bàn là "chẳng phải hữu chẳng phải vô"? Ðây là trường
hợp thiên kiến thứ tư nói đến trong bài tụng XXV.10. Ngài
Long Thọ không chấp nhận thiên kiến này, theo như bài tụng
XXV.15:
Nhược
phi hữu phi vô
Danh chi vi niết
bàn
Thử phi hữu
phi vô
Dĩ hà nhi phân
biệt.
Dịch là: Nếu chẳng
phải hữu chẳng phải vô gọi đó là niết bàn, thế thì
cái chẳng phải hữu và chẳng phải vô này lấy gì để phân
biệt?
Quả vậy, bởi
vì muốn phân biệt phi hữu và phi vô, trước hết cần biết
cái thực hữu và cái thực vô thời sự phủ định cái hữu
và cái vô mới hợp lý. Nhưng ngài Long Thọ đã bác bỏ hai
thiên kiến đầu -- "niết bàn là thực hữu; niết bàn là
vô" -- theo những luận cứ trình bày trong các bài tụng XXV.4-9
trước đó. Vậy mọi sự bàn luận xem như đã chấm dứt
ngay khi hai thiên kiến đầu bị gạt bỏ. Lý do là vì không
biết thế nào là cái 'niết bàn thực hữu' hay cái 'niết
bàn vô'. Ngoài ra, thiên kiến thứ ba hàm ý có một tự tính
(svabhàva) sở y của tổng hợp hai khái niệm đối nghịch,
hữu và vô. Ðó là điều không thể chấp nhận. Cái mà Ngài
bác bỏ là kiến chấp cho rằng niết bàn "là một sự hữu"
hay niết bàn "là một sự vô".
Nói tóm lại,
thiên kiến thứ ba của tứ cú Trung quán tùy theo trường hợp
có thể giải thích như trong thí dụ 1 là hội của hai tập
hợp đồng phẩm với hai khái niệm triệt để loại trừ
hỗ tương tạo thành vũ trụ ngôn thuyết. Nhưng cũng có trường
hợp như trong thí dụ 2 này thiên kiến thứ ba bị coi như
phạm luật phi mâu thuẫn phải bác bỏ. Thiên kiến thứ tư
là một phủ định triệt để, có nghĩa là chân lý tối hậu
không có ngôn ngữ và luận lý để tư duy và phát biểu nên
cần chấm dứt mọi tranh luận bàn cãi phù phiếm (hý luận).
Thí dụ 3: Tứ
cú phủ định không trọn, thiếu thiên kiến cuối.
Sau đây là thí
dụ tứ cú không trọn, nghĩa là chỉ có ba thiên kiến đầu,
thiếu thiên kiến cuối.
Bài tụng VII.21:
Hữu pháp
bất ưng sinh
Vô diệc bất
ưng sinh
Hữu vô diệc
bất sinh
Thử nghĩa tiên
dĩ thuyết.
Dịch là: Pháp hữu
chẳng sanh khởi. Pháp vô cũng chẳng sanh khởi. Cả hai pháp
vừa hữu vừa vô cũng chẳng sanh khởi. Ý nghĩa này như trước
đây đã được đề cập.
Hai thiên kiến
đầu trong bài tụng này giống hệt trong thí dụ 1 và 2. Nhưng
thế nào là ý nghĩa của thiên kiến thứ ba biểu hiện trong
câu "Cả hai pháp vừa hữu vừa vô"? Một vật thể không thể
nào đồng thời vừa hữu vừa vô. Bởi vậy thiên kiến thứ
ba là sự xác nhận khái niệm mâu thuẫn. Tuy nhiên trên khía
cạnh tách biệt pháp hữu và pháp vô, vẫn có thể quan niệm
câu nói đó liên quan đến hai tập hợp bổ sung, tập hợp
các pháp hữu (sat) và tập hợp các pháp vô (asat). Hội hai
tập hợp ấy tạo thành vũ trụ ngôn thuyết bao gồm hết
thảy pháp hữu và pháp vô (sadasat). Ngài Long Thọ đã nghĩ
như thế nào về hai cách nhìn thiên kiến thứ ba như vừa
trình bày? Chúng ta khó mà tìm thấy ý nghĩ của Ngài qua mấy
trăm bài tụng được thuật lại bằng những câu văn cực
kỳ súc tích và hàm hồ. May thay điều này ảnh hưởng không
mấy quan trọng trên tính xác định của các luận cứ dùng
trong Trung luận. Luận thức Trung quán đặt trọng tâm nơi
hai thiên kiến đầu mà thôi. Hai thiên kiến sau phụ thuộc
hoàn toàn vào hai thiên kiến đầu.
Thí dụ 4: Tứ
cú phủ định không trọn, thiếu thiên kiến thứ 3.
Xin nhắc lại
bài tụng II.1 dùng làm thí dụ trong phần trình bày phương
thức luận chứng của ngài Long Thọ ở đoạn trên: "Cái đã
đi qua không đang đi. Cái chưa đi qua không đang đi. Ngoài cái
đã đi qua và cái chưa đi qua, cái đang đi qua cũng không đang
đi"
Ðây là thí dụ
một trường hợp tứ cú không trọn, thiếu thiên kiến thứ
ba. Ba thiên kiến, thứ nhất, thứ hai, và thứ tư theo thứ
tự là "cái đã được đi (gata)", "cái chưa được đi (agata)"
và "cái đang được đi (gamyamàna)". Hình vẽ I, II, và IV trong
thí dụ 1 có thể dùng để diễn tã tứ cú không trọn này.
Hình I là tập hợp
T các cái đã được đi, hình II
là tập hợp (~T)
các cái chưa được đi. Hội T È
(~T) là vũ trụ ngôn thuyết bao gồm toàn thể đoạn
đường phải đi (gantavya). Không có phần tử nào khác ngoài
đoạn đường phải đi (vũ trụ ngôn thuyết) ấy. Vậy tập
hợp các cái đang được đi hoàn toàn không có. Ðó là ý
nghĩa của hình IV.
Thí dụ 5: Tứ
cú khẳng định.
Xin nhắc lại
bài tụng XVIII.8 đã nói ở đoạn trên trong thí dụ Dạng
II: tứ cú khẳng định: "Hết thảy mọi pháp đều thật,
hay phi thật, hay vừa thật vừa phi thật, hay không phải thật
không phải phi thật. Ðó chính là giáo pháp của chư Phật".
Trái với những
thí dụ 1 - 4 trong đó mọi thiên kiến đều phủ định, lần
này bốn thiên kiến trong bài tụng XVIII.8 đều là mệnh đề
khẳng định. Theo câu cuối của bài tụng thời những mệnh
đề khẳng định trong bốn thiên kiến chính là lời dạy
của chư Phật. Nói như vậy có nghĩa khẳng định ở đây
tương ứng với phần hậu đắc của Vô phân biệt trí, sau
khi ngôn ngữ đã được thanh lọc bằng phủ định qua phần
gia hành của Vô phân biệt trí. Nói cách khác, đây là ngôn
ngữ của Bồ tát sau khi thể nghiệm giác ngộ tối thượng
trở lại hoạt động trên thế gian, thiện dụng ngôn ngữ
và luận lý của thế gian để hướng dẫn chúng sinh thể
nghiệm Phật tánh.
Nhưng tại sao
có thể khẳng định "Hết thảy mọi pháp đều thật" trong
thiên kiến thứ nhất và đồng thời khẳng định điều ngược
lại là "Hết thảy mọi pháp đều phi thật" trong thiên kiến
thứ hai? Theo các luận sư chú giải Trung luận, cần phải
tìm hiểu bốn thiên kiến trong tứ cú khẳng định này trên
nhiều bình diện khác nhau, như trên hai bình diện Chân đế
và tục đế chẳng hạn. Thiên kiến đầu khẳng định "Hết
thảy mọi pháp đều thật" là đứng trên phương diện tục
đế. Thiên kiến thứ hai khẳng định "Hết thảy mọi pháp
đều phi thật" là đứng trên phương diện Chân đế. Vì trên
phương diện này, các pháp đều không thể gọi tên là gì
được (ly danh tự tướng), không thể dùng lời nói luận
bàn (ly ngôn thuyết tướng), và không thể dùng tâm suy nghĩ
được (ly tâm duyên tướng). Thiên kiến thứ ba khẳng định
"Hết thảy mọi pháp đều vừa thật vừa phi thật" là đứng
trên phương diện Nhị đế. Thiên kiến cuối cùng khẳng định
"Hết thảy mọi pháp đều không phải thật không phải phi
thật" là theo quan điểm của hành giả thành đạt tuệ quán
đặc biệt trực chỉ vào tánh Không. Trên phương diện nhận
thức luận, nếu giải thích bốn thiên kiến trên bốn bình
diện khác nhau như vậy thời không có sự mâu thuẫn giữa
bốn thiên kiến ấy.
Loại tứ cú khẳng
định như vừa trình bày rất hiếm thấy trong Trung luận.
Chỉ còn một bài tụng nữa là có loại tứ cú khẳng định
này nhưng là tứ cú không trọn. Ðó là bài tụng XVIII.6:
Chư Phật
hoặc thuyết ngã
Hoặc thuyết
ư vô ngã
Chư pháp thực
tướng trung
Vô ngã vô phi
ngã.
Dịch là: Chư Phật
hoặc dạy về ngã hoặc dạy về vô ngã. Thật tướng của
các pháp thời không phải ngã không phải vô ngã.
Trên con đường
tu Phật, tứ cú Trung quán không những chỉ là phương tiện
đối trị tà chấp. Hơn nữa, tứ cú chính là hiện thân của
Trung đạo. Thật vậy, phủ định một thiên kiến hay tà kiến
đồng thời cũng là khẳng định một chánh kiến (phá tà
hiển chánh). Khi chánh đối lập với tà, thời chánh này là
một chánh phản đề (đối thiên chánh), nghĩa là cái
chánh với tư cách đối nghịch với tà. Mối tương quan giữa
chánh với tà này gọi là đối thiên trung. Ðến khi
tà hoàn toàn bị phá hủy, bấy giờ xuất hiện cái chánh
không lệ thuộc phản đề (tận thiên chánh), nghĩa là
cái chánh siêu việt. Cảnh giới vượt ngoài sự tương quan
giữa hai thái cực tà và chánh gọi là tận thiên trung.
Cuối cùng, khi cả chánh lẫn tà hoàn toàn bị triệt hạ,
bấy giờ hiển lộ cái chánh tuyệt đối (tuyệt đãi chánh),
nghĩa là chân lý. Lúc này ý tưởng phân biệt hai thái cực
chánh và tà hoàn toàn bị xóa bỏ (A = phi A). Cảnh giới này
là cảnh giới tuyệt đối được gọi là tuyệt đãi trung.
Như vậy tuyệt đãi chánh và tuyệt đãi trung không một không
khác (phi nhất phi dị). Khi chư Phật đem tuyệt đãi trung ra
giáo hóa chúng sinh, nó trở thành một thứ Trung đạo hay chân
lý giả tạm gọi là thành giả trung.
Tứ cú Trung quán
còn được giải thích theo một trình tự quán tưởng khác
nữa gồm có bốn tầng như sau.
1.
Ở tầng thứ nhất, Hữu đối lập với Không nên Hữu
là tục đế và Không là Chân đế.
2. Lên tầng thứ
hai, Hữu và Không đối lập với phi Hữu phi Không. Vậy Hữu
và Không là tục đế, phi Hữu phi Không là Chân đế.
3. Lên tầng thứ
ba, cả bốn quan điểm đối lập, Hữu, Không, Hữu và Không,
và phi Hữu phi Không thảy đều thuộc tục đế. Quan điểm
'phi phi Hữu phi phi Không' phủ định chúng được xem là chân
đế.
4. Tất cả những
quan điểm được diễn tả trong ba tầng đầu sẽ là tục
đế khi có sự phủ định chúng ở tầng thứ tư: 'phi phi
bất Hữu phi phi bất Không' là chân đế.
Sự phủ định tiếp
diễn mãi khi các quan điểm còn được diễn tả bằng lời
nói, vì chúng vẫn chỉ là phương tiện thi thiết, do đó vẫn
chỉ là tục đế. Sự tiếp diễn phủ định sẽ vô cùng
cho đến khi màu sắc của tục đế được tẩy sạch hoàn
toàn. Khi ấy, ta đến cửa thực tại vô ngôn (bhùtakoti). Chân
lý cứu cánh thành đạt bằng biện chứng pháp theo thuyết
phủ định toàn diện được gọi là Nhị đế Trung đạo.
Bồ tát Long Thọ
quả đã có công đem thuyết Chân Không của Bát nhã thành
lập trên cơ sở biện chứng pháp lấy tứ cú làm căn bản.
Ngài không sử dụng nghịch lý có tính chất siêu hình "sắc
tức thị không" mà trái lại dùng ngôn ngữ và lý luận thông
tục để dạy cách tận diệt hý luận (nhân ngôn khiển ngôn)
và chỉ vào con đường đến tánh Không tức Thật tướng
của hết thảy mọi pháp. Trong suốt hai mươi bảy phẩm của
Trung luận, bốn thiên kiến của tứ cú được áp dụng tổng
quát cho hết thảy mọi quan niệm sai lầm về bản thể các
hiện tượng (nhân duyên, vận hành tính, sáu tình thức, năm
ấm, sáu đại, ái dục, ba tướng hữu vi), sai lầm về thân
tâm và bản chất của kinh nghiệm tự thân (tác nghiệp và
tác giả, thần ngã, chủ thể và thuộc tính, nguyên thủy
và chung cánh, khổ, hành), sai lầm về thế giới bên ngoài
và quan hệ chủ thể - đối tượng (hòa hợp, tự tính, trói
và giải, nghiệp và quả báo, ngã và pháp, thời gian, nhân
quả, thành hoại), và sai lầm về thực tại cứu cánh (Như
lai, điên đảo, Tứ đế, Niết bàn, Mười hai nhân duyên,
tà kiến). Như vậy, bốn thiên kiến tứ cú không những tương
quan tương duyên với nhau mà còn là yếu tố nhân duyên tạo
thành con đường Trung đạo. Bài tụng XXIV.18 thu gọn triết
học về biện chứng pháp Trung quán như sau: "Các pháp do
duyên khởi, nên ta nói là Không, là Giả danh, và cũng chính
là Trung đạo".
Tháng
tư, 2000