8.
Trung quán luận: phá tà hiển chánh
Bồ tát Long
Thọ viết rất nhiều sách, nhưng bộ sách căn bản chuyên
về tánh Không là bộ Trung quán luận (Mùlamadhyamakakàrikà;
Học thuyết Trung đạo). Còn có hai bộ luận khác bàn về
tánh Không hiện lưu hành ở Tây tạng là Lục thập tụng
Như lý luận (Yuktisasthikà-kàrikà) và Thất thập tụng Không
tính luận (Sunyatàsaptatikàrikà).
Bộ Trung
quán luận gồm 27 phẩm, 446 bài tụng (tính bốn câu một bài;
trong bản Phạn ngữ con số bài tụng nhiều hơn, 450 bài),
bao quát hầu hết các vấn đề liên quan đến thế giới luân
hồi và thế giới giải thoát. Bồ tát Long Thọ không những
bác bỏ một số kiến giải sai lầm của trường phái A tì
đàm hay của các triết gia kể chung, mà còn bác bỏ tất cả
những quan niệm duy thức và đa nguyên để gián tiếp thiết
lập học thuyết nhất nguyên về tánh Không (Sùnyavàda; Không
luận).
Trung quán
luận cũng là một trong ba tác phẩm căn bản chuyên về học
thuyết Trung đạo của Tam luận tông ở Trung Hoa và Nhật bản.
Hai tác phẩm kia là Thập nhị môn luận (Dvàdasà-dvàra) cũng
của Bồ tát Long Thọ, nhằm kiểu chính những sai lầm của
chính các nhà Ðại thừa và Bách luận (Satasàstra) của Ðề
bà (Arya-deva), đệ tử của Ngài, chủ đích bác bỏ những
tà kiến của Bà la môn giáo. Vì Trung quán luận quá thiên
trọng về duy tâm luận phủ định, nên thường bị hiểu
lầm là chủ trương hư vô luận (nihilism). Khác với Trung luận
dùng biện chứng phủ định để thuyết minh lý chân không,
trong Ðại trí độ luận là bộ luận giải thích kinh Ðại
Phẩm Bát nhã, Bồ tát Long Thọ giảng về lý thật tướng
diệu hữu một cách xác quyết hơn. Vì thế hai bộ luận này
bổ túc cho nhau đối với ai muốn thông hiểu tư tưởng Không
của Bát nhã.
Trung quán
luận sử dụng phương pháp biện chứng không những nhằm
đả phá triệt để mọi vọng tưởng hý luận và mê lầm
tà kiến để hướng dẫn nhận thức giáo lý tánh Không mà
thực ra còn có mục đích giáo hóa chỉ đường tu tập để
thực chứng trí Bát nhã nữa. Nguyên bản Phạn ngữ hiện
vẫn còn tồn tại. Bản Hán văn do Cưu ma la thập (Kumàrajiva)
dịch mang tiêu đề Trung quán luận. Chữ Madhyama của tiếng
Phạn không có nghĩa của chữ "quán". Chữ "quán" thêm vào
đã thành một danh từ thông dụng của Hán văn và làm sáng
tỏ học thuyết Trung quán trên khía cạnh thực hành. Tuệ
sĩ nhận xét rằng Ngài La Thập với cách chọn lựa tiêu đề
như vậy đã nói lên đầy đủ ý nghĩa của triết lý Trung
quán. Ðiều này "phải kể là La Thập đã có công lớn nhất
trong việc phát huy triết lý Trung quán". Tuệ sĩ giải thích,
"Khi Trung được khai hiển và chỉ thị bởi Luận, thì thể
ngộ và thể nhập phải do thực hành. Như thế, ở phương
diện thực hành, Trung như là quán cảnh, là đối tượng được
hướng đến. Trong phương diện thực hành này, vì bấy giờ
Trung là đối tượng quán cảnh, nên thực tại sẽ dễ dàng
bị bóp méo, và cố nhiên nó sẽ mất ý nghĩa là Trung đó.
Như thế quán trí phải được chuẩn bị tất cả những điều
kiện cần thiết để có thể quán chiếu được Trung đạo
quán cảnh". Nếu ví với sự thể hiện ba phương diện của
Bát nhã trong sự tựu thành con đường thể nhập Tuyệt đối,
thời Trung tương ứng với thực tướng Bát nhã; Quán
tương ứng với quán chiếu Bát nhã; và Luận tương
ứng với văn tự Bát nhã.
Vì Tuyệt
đối không thể định nghĩa cho nên tánh Không không phải
là một định nghĩa về thực tại mặc dầu khi nói đến
tánh Không ta thường có cảm tưởng bản tánh của thực tại
là Không. Nếu bản chất hiện thực là Không thời hóa ra
ta đã nắm được trọn vẹn thực tại trong tay và mất hết
hứng thú tu tập tiến đến cảnh giới tự chứng của Phật.
Trung quán luận cho rằng đức Phật thuyết về pháp Không
như là phương tiện đối trị và đã tuyên thuyết giáo
lý của mình cho chúng sinh bằng phương tiện Nhị đế.
Chính theo tục đế mà đức Phật giảng rằng tất cả pháp
đều có là do nhân duyên; nhưng theo chân đế thì tất cả
các pháp đều không, nghĩa là bản tính của tất cả các
pháp là không có tự tánh.
Mặt khác,
đối với sự vật, không nên quan sát và phân tích theo lối
nhị biên, chủ đối với khách, tự đối với tha, nhân đối
với quả, v... v... , mà trái lại cần phải áp dụng phương
pháp Nhị đế, nghĩa là dựa trên hai lập trường chân đế
và tục đế. Trung luận đã đứng trên lập trường chân
đế để phá sự quan sát và phân tích sai lầm của Tục đế.
Bởi vậy Trung luận muốn ta hiểu rõ Nhị đế, tục đế
và chân đế, là những diệu dụng của phương tiện và trí
tuệ.
Hiểu rõ
tục đế chính là hiểu rõ những đặc tính của ngôn ngữ,
vai trò và giới hạn của nó. Sử dụng ngôn ngữ mà không
hiểu rõ sự tương quan giữa tên gọi của hiện thực và
bản thân của hiện thực là nguyên nhân của mọi hý luận
(prapanca). Hý luận ở đây có nghĩa là: (1) mệnh đề
phát biểu, (2) ý niệm hay quan niệm, (3) nghiệp phát biểu,
(4) sự thể được phát biểu, và (5) toàn thể thế giới
hoạt dụng của ngôn ngữ tức là cấu trúc bao gồm hết thảy
bốn nghĩa vừa kể và cả tri lượng nữa. Hý luận sinh ra
bởi tại không hiểu lý duyên khởi: "cái này có thì
cái kia có; cái này không thì cái kia không; cái này sinh thì
cái kia sinh; cái này diệt thì cái kia diệt". Hý luận phát
xuất từ nhận thức điên đảo do vô minh và khát ái sinh
ra, lầm cái không có thành cái có: vô thường mà cho là thường,
khổ đau mà cho là lạc thú, vốn không có cái ta, cái của
ta mà chấp là có ngã, có ngã sở, các pháp đều bất tịnh
mà cho là tịnh. Lại có khi nói hết thảy các pháp đều không,
không có gì, người tà kiến lại chấp thủ hý luận
về tướng không của các pháp. Bài tụng Trung luận, XXII.15
nói rõ: "Ðức Như Lai đã siêu việt qua mọi hý luận, thế
nhưng con người cứ sanh khởi ra hý luận. Vì hý luận phá
hủy tuệ nhãn nên không thể thấy Phật." Do đó, tiêu diệt
hý luận (nisprapanca) là cốt để đoạn trừ nguồn gốc của
mê hoặc phiền não. Trung luận trình bày rất chi tiết cặn
kẽ vấn đề tiêu diệt hý luận trong suốt hai mươi bảy
phẩm.
Cứu cánh
"vô hý luận, ngôn vong lự tuyệt" chỉ thấu đạt khi đặc
tính của ngôn ngữ cũng như sự tương quan giữa ngôn ngữ
và thực tại được minh giải bằng phê bình theo thuyết tánh
Không. Ðó là ý nghĩa của bài tụng Trung luận, XVIII.5: "Nghiệp
và phiền não diệt nên gọi đó là giải thoát. Nghiệp và
phiền não là những cái không có thật. Một khi thâm nhập
tánh Không (nhập Không) thì mọi hý luận đều bị tận diệt."
Phương pháp phê bình theo thuyết tánh Không dựa trên những
tương quan nhân quả biện chứng hay trên những tiến trình
dịch hóa pháp. Chân lý chỉ có thể đạt được bằng phủ
định hay bài bác các tà kiến và những sai lầm. Phá và chỉ
có phá mới có thể dẫn đến cứu cánh chân lý.
Nếu căn
cứ trên nhận thức luận để giải thích về thế giới hiện
tượng thời bất luận kiến giải nào nhìn theo thuyết tánh
Không cũng không ngoài sự nhận lầm cái không có làm có,
cho nên, hết thảy rốt cục cũng chỉ là không. Không những
thế mà thôi, đến ngay cái biểu tượng của cái không cũng
lại là không nốt. Chủ ý của Trung quán luận là muốn đem
thuyết Chân Không của Bát nhã thành lập trên phương diện
biện chứng luận. Theo Bồ tát Long Thọ, chân không có
nghĩa là hết thảy hiện tượng chỉ là hiện hữu tương
quan, do đó không có tự tính. Tuy vô tự tính nhưng vạn pháp
vẫn tồn tại hiện hữu. Ðó là diệu hữu. Chân không và
diệu hữu không bao giờ xa lìa nhau. Bởi vậy, cái không của
Bát nhã không phải là cái không trống rỗng tiêu cực, mà
là cái chân không diệu hữu. Liền với cái chân không
phủ định luôn luôn có cái diệu hữu khẳng định theo sau.
Qua bài tụng
Trung luận, XXIV.18 được xem như có giá trị mô tả tiến
trình tu chứng: "Các pháp do duyên khởi (pratìtyasamutpàda),
nên ta nói là Không (sùnyatà), là Giả danh (upàdàya-prajnapti),
và cũng chính là Trung đạo (madhyamà pratipat)", Bồ tát
Long Thọ xác nhận rằng duyên khởi là đồng nghĩa với Không,
với Giả danh, và với Trung Ðạo.
Ngay ở đầu
bài tụng các pháp được nói đến là do duyên khởi ai ai
cũng kinh nghiệm được trong đời sống hằng ngày, một đời
sống mà bản chất không mấy ai thấy được là Không. Lý
duyên khởi có thể giải thích sự hiện hữu của vạn pháp
vô tự tính, đưa đến xác tín rằng duyên khởi loại trừ
cực đoan chấp không. Vậy tánh Không bao hàm Duyên khởi. Mặt
khác, với duyên khởi dùng làm lý lẽ, Trung luận áp dụng
biện chứng pháp bác bỏ cực đoan chấp hữu cho rằng sự
vật là có tự tính và biệt lập với sự vật khác. Như
vậy Duyên khởi bao hàm tánh Không. Do đó mà tánh Không và
Duyên khởi đồng nghĩa.
Ngôn ngữ
vô tự tính vì phụ thuộc rất nhiều điều kiện. Sự có
mặt của nó là do sự có mặt của sự thể. Sự thể cũng
vô tự tính. Có cái này là vì có cái kia. Nói về một sự
thể là nói qua tên gọi của nó. Tên gọi đó là giả danh
vì tên gọi đó chỉ biểu tượng cho sự thể chứ không phải
bản thân thực tại của sự thể. Ngài Long Thọ nói trong
Ðại Trí độ luận: "Lụa tuy không như sừng thỏ lông rùa
hoàn toàn không có, nhưng do nhân duyên hội hợp cho nên có,
nhân duyên tan rã cho nên không, như đám rừng, như toán quân,
các thứ ấy đều là có mà không thật. Ví như người tuy
có tên gọi là người mà không thể tìm ra pháp người. Lụa
tuy có tên gọi cũng không thể tìm ra lụa thật." Duyên khởi
có tên mà không thật cho nên duyên khởi là giả danh. Vì vậy
khi đặt cái danh vào định thức duyên khởi thời đó là
Giả danh, nghĩa là chỉ có trên danh ngôn chứ không có trong
thực tế.
Bài tụng
Trung luận, I.1 y cứ vào lý duyên khởi nêu ra bốn lý do để
phủ
định tự thể tức sự thể có tự tính dị biệt. Nếu
có tự tính dị biệt thời sự thể không hiện khởi (1) từ
chính nó, (2) từ một cái khác, (3) từ cả hai hợp lại, và
(4) không do nhân duyên nào cả. Trong trường hợp (1), nếu
tự thể sinh ra từ chính nó thời nó chứa đựng hai tự thể
là nhân tức chủ thể sinh và quả tức là cái được sinh.
Ðiều này không thể có được. Trong trường hợp (2), nó
là một tự thể, cái khác cũng là một tự thể. Ðã thừa
nhận hai tự thể dị biệt tất không thể nói cái này sinh
ra từ cái khác. Trong trường hợp (3), hai tự thể dị biệt
không thể phối hợp với nhau được, vì nếu phối hợp thời
mỗi một tự thể đánh mất tự tính của chính nó. Trong
trường hợp (4) cuối cùng, tự thể mà hiện hữu thời đó
là một kết quả. Như vậy hiện hữu đó không thể không
có nhân của nó.
Sự thể
vì vô tự tính nên hiện khởi do nhân duyên. Vậy vô tính
duyên sinh nên duyên sinh là Giả danh. Ðằng khác, sự thể
hiện khởi do nhân duyên thời không có tự tính dị biệt.
Do đó duyên sinh vô tính nên duyên sinh là Không. Ðó
là ý nghĩa Trung đạo của lý duyên khởi.
Trong câu
đầu của bài tụng Trung luận XXIV.18 vừa khi các pháp do duyên
khởi được nêu ra, tánh Không phủ định Duyên khởi ngay
ở câu thứ hai, nhưng liền khẳng định lại Duyên khởi là
Giả danh ở câu thứ ba. Ðó là thứ tự diễn tả tư tưởng
Không đã thấy được trong "Sắc tức thị Không, Không tức
thị Sắc" của Tâm kinh hay trong ngôn ngữ "tức phi, thị danh"
của kinh Kim Cang.
Câu cuối
của bài tụng xác định Duyên khởi "chính là Trung đạo".
Ðem so với hai danh từ tánh Không và Duyên khởi, thời danh
từ Trung đạo có tính cách khẳng định hơn, nhưng tựu trung
đó cũng chỉ là một lối phát biểu của Bồ tát Long Thọ
để phủ định tính thực hữu của thế giới hiện tượng
mà thôi.
Trung đạo
là không chấp Có không chấp Không, không khẳng định không
phủ định. Theo Trung quán luận, Trung đạo chính là sự chuyển
biến từ có Duyên khởi qua không có Duyên khởi
tức Không, rồi trở lại có Duyên khởi dưới hình
thức Giả danh. Trung đạo di chuyển biện chứng từ khẳng
định qua phủ định rồi lại khẳng-định-thanh-lọc-qua-phủ-định.
Trung đạo không phải là một điểm ở trong khoảng giữa
của hai cực đoan mà là một tiến trình tu tập theo dịch
hóa pháp, "đi từ hủy thể đến tướng, hủy tướng đến
dụng, hủy dụng đến ngôn từ, và phá hủy ngôn ngữ để
chuẩn bị cho thể nhập Tuyệt đối. Tiến trình này có thể
tổng quát trong ba giai đoạn: Không, hủy thể; Giả danh, hủy
tướng và dụng và ngôn ngữ; Trung đạo, tựu thành con đường
của thể nhập." (Triết học về tánh Không, Tuệ Sĩ).
Mặc dầu
chữ Trung (madhyamaka) dùng trong bài tụng XXIV.18 này là nguồn
gốc của tên sách Madhyamakakàrikà (Trung quán luận) và mặc
dầu chủ ý của Trung quán luận là trình bày thuyết Trung
đạo, trong suốt quyển sách chữ Trung đạo chỉ hiện ra rõ
ràng một lần ở bài tụng này mà thôi. Một lần khác, Trung
đạo được đề cập một cách gián tiếp trong bài tụng
XV.8 nhắc đến kinh Ca Chiên Diên Thị (Kàtyàyanàvavàda Sùtra),
Tương Ưng bộ. Kinh này trình bày về việc đức Phật giáo
hóa tôn giả Ca Chiên Diên về chánh tri kiến nên xa lìa cả
Vô lẫn Hữu. Ðức Phật nói đến Trung đạo: "Xa lìa hai
cực đoan ấy, này Kàtyàyana, Như Lai thuyết pháp theo trung
đạo". Tiếp theo, đức Phật thuyết minh lý duyên khởi
thu gọn trong mười hai nhân duyên dùng làm nền tảng lập
cước cho pháp môn Trung đạo của Ngài. Nói cách khác, lý
duyên khởi chính là Trung đạo.
Phải chờ
đến phẩm XXIV mới thấy rõ quan điểm "Tánh Không của
Không hay Không Không" (emptiness of emptiness) của Bồ tát
Long Thọ qua quan hệ giữa Không, Giả, và Trung đã được
hàm ý trong bài tụng tán khởi. Lý do là trước hết Ngài
phải thuyết minh hết thảy mọi pháp đều không, ngay cả
cái không cũng không nốt trong suốt hai mươi ba bài tụng
đầu. Sau đó tánh Không mới đương nhiên hiển lộ. Trung
luận xác quyết tánh Không là bản thể của Duyên khởi và
Duyên khởi là hình tướng của tánh Không, cả hai đều là
lý tính đặc thù của Trung đạo.
Về mặt
tu dưỡng, phát triển trí tuệ một cách thích đáng trong dòng
tâm thức để liễu tri tánh Không là một phương pháp đối
trị vọng tưởng ngã chấp. Nói cách khác, để thấy cái
tôi không thực hữu thời cần phải thành đạt thứ
trí tuệ hiểu được hình thức bản năng của sự chấp thủ
cái tôi. Nhờ thế mới có thể nhổ tận gốc sự chấp ngã
theo bản năng tức là cắt đứt gốc rễ của sinh tử. Theo
Ðại thừa, bồ đề tâm là cửa ngõ duy nhất của con
đường đến giải thoát, là pháp tu căn bản để đạt được
tuệ quán đặc biệt chứng ngộ tánh Không.
Phương pháp
căn bản để thực hiện tư tưởng "chân không diệu hữu"
của Ðại thừa được nhắc đến một cách rất tha thiết
và thành khẩn trong bài văn Khuyến phát bồ đề tâm của
Ðại sư Thật Hiền do HT Thích Trí Quang dịch và giải. Ở
phần tiểu dẫn, Hòa thượng viết: "Ðối với người học
Phật, phát bồ đề tâm không những là bước đầu mà còn
là căn bản, không những là căn bản mà còn là cứu cánh",
và giải thích: "Phát bồ đề tâm, nói đơn giản, là trước
hết, lập cái chí nguyện mong cầu tuệ giác Vô thượng bồ
đề, kế đó phát triển tuệ giác ấy, cuối cùng phát hiện
bản thể của tuệ giác ấy là chân như. Giai đoạn trước
hết, chí nguyện mong cầu tuệ giác Vô thượng bồ đề hàm
có hai tính chất mà thành ngữ thường nói là thượng cầu
Phật đạo, hạ hóa chúng sanh."
"Về lý do
phát
bồ đề tâm, ngoài nỗi thống khổ sinh tử mà mình mục
kích và ý thức, có hai việc mà kinh luận đề cập nhiều
nhất, đó là tự biết mình có thể làm Phật, và tha
thiết hơn cả, nghĩ đến sự suy tàn của Phật pháp."
Ðặc sắc
của sự thể hiện tinh thần "thượng cầu bồ đề, hạ hóa
chúng sinh" là tuy có hai phương diện nỗ lực, mưu cầu sự
giác ngộ cho chính mình và mưu cầu sự giác ngộ cho kẻ khác,
nhưng tựu trung chúng cùng một thể, không thể chia ra làm
hai mà phải luôn luôn hợp nhất mới hội đủ điều kiện
tất yếu để đi đến chỗ hoàn thành cái đại thệ nguyện
của Bồ tát. Do đó, một số câu hỏi được đặt ra. Làm
sao các bực đã thành tựu tuyệt trừ mê lầm ảo kiến về
tự ngã, chứng ngộ Phật tánh, và thực hiện giải thoát
có thể trở lại lăn lộn và hòa đồng với thế gian đầy
dẫy phân biệt, hư vọng, ái dục, và chấp trước? Tri thức
thường nghiệm và tư duy lượng đoán của con người có khả
năng đến mức độ nào để thông đạt sự quan hệ căn bản
giữa vọng tâm và tịnh tâm? Làm sao giải quyết sự căng
thẳng giữa một bên là khuynh hướng muốn mô tả tự tính,
tự thể của sự vật và bên kia là ý thức về giới hạn
biểu tượng và diễn đạt của ngôn ngữ? Trung luận giúp
ta phần nào tìm thấy kiến giải cho những vấn đề nêu ra
trong các câu hỏi đó.
Về mặt
giáo hóa nhằm mục đích thành đạt chí nguyện mong cầu tuệ
giác Vô thượng bồ đề, nếu nhìn một cách tổng quát cấu
trúc của Trung luận thời chỉ thấy vỏn vẹn bài XXIV.18,
một trong số 446 bài tụng, là có đề cập vấn đề "hạ
hóa chúng sanh". Hầu hết các bài tụng khác đều hướng về
"thượng cầu bồ đề", triệt để phủ định để phá chấp
và tiêu diệt hý luận trong quá trình tu dưỡng, tích cực
phủ định giá trị biểu tượng tiến trình thực tại của
ngôn ngữ, và phủ định luôn cả đường lối suy luận thông
tục nữa.
Ðể tìm
hiểu Ngài Long Thọ theo lập trường Bát nhã đã căn cứ vào
điểm tất yếu nào để phủ định tất cả những tướng
sai biệt mà chủ trương tánh Không, Kimura Taiken đưa ra hai
lý do. Một là dựa trên nhận thức luận mà cho rằng thế
gian này hoàn toàn là biểu tượng của tâm, ngoài tâm ra tất
cả đều không. Hai là căn cứ vào nền tảng tất yếu về
sự tu dưỡng để thực hiện lý tưởng giải thoát niết
bàn mà thấu suốt tất cả đều là không. Tuy nhiên, trên
phương diện nhận thức luận cái không tuy phủ định ý nghĩa
hiện tượng, nhưng một khi dạt đến diệu hữu thời hiện
tượng bị phủ định được sống trở lại với ý nghĩa
giả danh. Về phương diện tu dưỡng, cái không tuy phủ định
để thấy không có tự ngã nhưng vì thế mà khẳng định
thấy không có gì để chấp trước, và do đó phát huy được
cái tinh thần hoạt động tự do vô ngại, đúng như kinh Kim
Cang đã nói: "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm".
Trung quán
luận xác chứng rằng luận lý không thể dẫn ta đến Không,
nhiều nhất là đến chân trời vô tự tính của thế tục.
Trái lại, luận lý muốn có ích lợi phải tuôn ra từ Không.
Ngay cả luận lý cũng vô tự tính, nghĩa là thuộc tục đế.
Lập trường chủ trương tánh Không vô tự tính cũng vô tự
tính nốt. Do đó, mọi cơ sở diễn đạt tư tưởng đều
bị hủy diệt. Khi đối phương chỉ trích rằng nếu tất
cả đều Không, thời suy luận, giáo pháp, tu tập, và đạo
quả đều trở nên vô nghĩa, Bồ tát Long Thọ bảo: "Vì tánh
Không mà các pháp được thành lập, nếu không có tánh Không,
thì tất cả pháp không thể hình thành." (Trung luận, XXIV.14)
Trả lời như vậy có nghĩa là gì?
Có nghĩa
là phải có khả năng tri nhận tánh Không, nhân duyên của
Không tánh, và cả Không nghĩa nữa thì mới thấu hiểu sự
hình thành của vạn pháp. (Trung luận, XXIV.7). Nhờ trí quán
Không, càng biết rõ hết thảy hiện tượng đều vô tự tính,
càng tuệ tri chân đế là thực tại tuyệt đối tối thượng,
thời càng thấy rõ thế gian này chỉ toàn ước định giả
tạm, đầy vọng tưởng và phiền não. Không nghĩa bao trùm
cái thế gian này của tục đế trong đó ngôn ngữ đã được
dùng để mô tả chân đế. Nói cách khác, tánh Không khẳng
định vai trò của tục đế là giải thích sự tồn tại của
vạn pháp mặc dầu vạn pháp đó không có tự tính. Cái thế
gian của tục đế cũng là cái thế giới mà hành giả ngay
khi đạt được căn bản Vô phân biệt trí hòa đồng hoạt
động độ sinh, hướng dẫn những ai phát tâm bồ đề tu
tập thành đạt tuệ giác.
Ðoạn văn
sau đây trong Nhiếp luận của Vô Trước, HT Thích Trí Quang
dịch giải, sẽ làm sáng tỏ ý nghĩa chân lý Tam đế: Không,
Giả, Trung gợi ra trong Trung quán luận.
"Trí vô phân
biệt không nhiễm như hư không, là vì (phần gia hành
của nó) chuyển được các ác nghiệp cực nặng, nhờ vào
sự tin hiểu (chân như vô phân biệt).
Trí vô phân
biệt không nhiễm như hư không, là vì (phần căn bản
của nó) thoát ly mọi sự chướng ngại, được gọi là thích
ứng với sự được và thích ứng với sự thành.
Trí vô phân
biệt như hư không, là vì (phần hậu đắc của nó)
thường đi trong thế gian mà không bị mọi sự của thế gian
làm cho ô nhiễm."
Ba phần gia
hành, căn bản, và hậu đắc của trí vô phân biệt tuần
tự ví "như người chưa hiểu luận văn mà muốn hiểu, như
người hiểu được, như người hiểu được mà dạy được."
Trong Trung
luận, tiêu diệt hý luận để thượng cầu bồ đề tương
ứng với phần gia hành. Thành tựu công trình thực chứng
tánh Không tương ứng với chứng đắc Vô phân biệt trí hay
Ðại trí. Khẳng định lại duyên khởi là giả danh để hòa
đồng với thế gian nỗ lực hóa độ chúng sanh tương ứng
với chứng đắc Hậu đắc trí.
Như vậy
vai trò giáo hóa của Trung quán luận quan trọng nhất là vào
lúc hành giả bắt đầu tu tập trí tuệ liễu tri tánh Không.
Trên phương diện tu dưỡng, tánh Không của Trung luận là
để diễn tả lý tưởng giải thoát và đồng thời chỉ đường
tu chứng thị hiện bồ đề. Mọi công trình tu chứng đều
nhằm tuệ giác Không tướng hay còn gọi là Thật tướng của
vạn pháp. Trong bài tụng Trung luận, XVIII.9, Bồ tát Long
Thọ giải thích Không tướng là "tự tri bất tùy tha" tức
là chính mình thể nghiệm, không theo luận thuyết của kẻ
khác mà tín giải; "tịch diệt vô hý luận" nghĩa là tịch
tĩnh, không thể nghĩ bàn, "vô dị vô phân biệt" tức là không
sai khác, không phân biệt.
Có hai đường
lối quán Không. Một lối là thể nhập trực tiếp tánh Không
không thông qua phân tích bằng luận lý và ngôn ngữ. Ðó là
pháp hành thâm Bát nhã hay pháp chiếu kiến ngũ uẩn giai không
của Quán Tự Tại Bồ tát nói đến trong phần mở đầu Tâm
kinh. Theo lối thể không quán này, hành giả không quán
sát ngoại giới và nội tâm nên thường khi năng lực duy trì
tịnh chỉ bị suy giảm, niềm xác tính sẽ trở nên mơ hồ
và tình nghi hoặc sẽ sinh khởi.
Lối thứ
hai gọi là tích không quán, tức là dùng quán sát và
phân tích để thấy các pháp không tự có mà là do nhân duyên
hòa hợp mới có, nghĩa là hiện hữu không có tự tánh. Tâm
kinh mô tả pháp này trong mấy câu: "Xá lợi tử! Sắc bất
dị không, không bất dị sắc; Sắc tức thị không, không
tức thị sắc; Thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị."
Thường người ta nghi ngờ làm sao có thể dùng phân tích và
lý luận mà thấu triệt được tánh Không hay Vô phân biệt
trí theo lối tích không quán, vì nhân và quả không cùng bản
tính. Theo Bảo Tích kinh (Ratnakùta Sùtra) đức Phật đánh tan
sự nghi ngờ này trong lời giảng dạy tu sĩ Kashyapa: "Này
Kashyapa, thí dụ, ông cọ xát hai que củi với nhau làm sinh
ra lửa thời hai que củi ấy bị thiêu rụi ngay trong tiến
trình sinh lửa. Cũng như thế, này Kashyapa, vọng tưởng phân
biệt đích thực làm phát sinh năng lực thành đạt trí Bát
nhã và trí Bát nhã chứng ngộ tức thì tiêu diệt vọng tưởng
phân biệt đích thực."
Nhưng tuệ
giác đạt được tánh Không chưa phải là nguyên nhân quyết
định để chứng ngộ Vô thượng bồ đề. Bởi vì như đã
nói ở trên, hai nỗ lực "thượng cầu Phật đạo, hạ hóa
chúng sanh" phải luôn luôn hợp nhất mới đủ điều kiện
tất yếu hoàn thành đại thệ nguyện của Bồ tát. Trung luận
có thể xem như là một pháp môn tích không quán hướng
thượng. Như cọ xát hai que củi phát sinh lửa để rồi
lửa thiêu rụi hai que củi, quán hết thảy những khái niệm
về lý tính của thực tại là không và sự chuyển hóa vọng
tưởng phân biệt thành Ðại trí hủy diệt hết thảy mọi
khái niệm. Trí tuệ ba la mật, ba la mật cuối trong lục độ
ba la mật, bao hàm tuệ giác chứng ngộ tánh Không. Trong thực
tế, còn có nhiều pháp môn tu tập khác để thành đạt tuệ
quán đặc biệt này.
Trong Giải
Thoát Trong Lòng Tay, sách ghi chú những lời giảng dạy của
vị lạt ma mũ vàng nổi tiếng Pabongka Rinpoche, Thích Trí Hải
dịch, có kể câu chuyện về ngài Hastikopava đã phạm một
lỗi lầm khi dạy một ông vua tu tập. Thay vì đầu tiên phải
giảng dạy tâm bồ đề tương đối tức là pháp tu
bốn tâm vô lượng (từ, bi, hỷ, xả), Ngài lại giảng dạy
phương pháp tuệ quán đặc biệt để liễu tri tâm bồ
đề tuyệt đối (tên gọi khác của tánh Không). Ông vua
đã sai giết ngài trước khi ngài có cơ hội tiếp tục giảng
phần còn lại của giáo lý, nói về tâm bồ đề tương đối
hay tâm Ðại bi.
Hai loại
tâm bồ đề, tương đối và tuyệt đối, được Ngài Nguyệt
Xứng (Chandrakìrti) ví như đôi cánh chim bay băng hồ qua bờ
các đấng hoàn toàn giác ngộ trong bài kệ sau đây:
Con
ngỗng chúa dang đôi cánh trắng
Một
cách tương đối, một cách chân như;
Bay
đầu đàn ngỗng
Ðược
đẩy mạnh bởi gió Phước
Băng
qua hồ Thiện đức
Ðến
bờ các đấng Chiến thắng vô thượng.
Về sự song
hành tu tập phước đức và trí tuệ, Kimura Taiken viết trong
Ðại thừa Phật giáo tư tưởng luận: "Cái không ấy (chỉ
cái "chân không diệu hữu") không thể dùng ngôn ngữ mà diễn
tả được, chỉ khi nào thể nghiệm được nó bằng trực
quan (intuition) ta mới có thể hiểu được một cách hoàn toàn.
Nhưng điểm khế cơ của cái không đó là ở chỗ nhân cách
hoạt động, đặc biệt lấy việc từ thiện (bố thí), đức
hạnh (trì giới), nhẫn nại, nỗ lực (tinh tấn), tỉnh quán
(thiền định), nghĩa là lấy Lục Ba la mật để thể hiện."
Quả vậy,
phước
huệ song tu là pháp hàng phục vọng tâm đệ nhất để
thành Phật đạo. Tu hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, là
diệu dụng của phương tiện trí. Tu học tăng thượng
định và đi đến thực hành tăng thượng tuệ học là diệu
dụng của thật huệ trí. Muốn phát triển tuệ quán
đặc biệt liễu tri tánh Không thì phải nhân nơi thiền định
môn, và muốn có thiền định môn cần phải nhờ đến sức
đại tinh tấn. Vấn đề đặt ra là những khi xuất khỏi
thiền chứng hoạt động độ sinh thời làm thế nào để
giữ thái độ mọi sự là như huyễn. Ðiều này cho thấy
ý nghĩa và diệu dụng của Nhị đế. Khi ra khỏi thiền chứng,
cuộc sống trở lại với thế giới giả danh của tục đế.
Ðối với trí tuệ vô nhiễm đã liễu tri chân đế thời
bất cứ lúc nào, bất cứ những gì xuất hiện, bất kể
đó là thứ gì, vạn pháp đều là những hiện tướng ảo
hóa khởi lên từ tâm, tất cả đều do duyên khởi và vô
tự tính. Mặt khác, ba yếu tố từ bi, trí tuệ, và an lạc
của tánh Không biểu lộ thành tâm an vui, linh động tràn đầy
tình thương yêu và sự hiểu biết chân thật. Tuy nhiên đạt
đến Phật quả chưa phải là đã thành đạt cứu cánh. Dầu
đạt đến trạng thái giải thoát đi nữa thời trạng thái
ấy cũng chỉ có mặt trong chốc lát rồi tan biến. Chỉ nhờ
vào nỗ lực không ngừng tu dưỡng và sống đầy đủ giới
hạnh thời tâm giác ngộ mới trở thành viên mãn ở mọi
thời và mọi nơi như đức Phật.
Trong Vật
lý học, có một phương trình vi phân diễn tả sự dao động
tắt dần (Damping oscillations) khả dĩ ví với đạo lộ tu dưỡng
của một hành giả. Phương trình này nguyên là để diễn
tả một số hiện tượng vật lý học. Chẳng hạn, treo một
vật nặng ở đầu một cái lò xo đính trên cao, rồi lấy
tay kéo vật nặng xuống ít nhiều, xong thả tay ra. Vật nặng
sẽ dao động lúc đầu khá mạnh, nhưng vì không khí cọ xát
nên dao động tắt dần. Ðem biểu thị hiện tượng bằng
một đồ thị, ta sẽ có hình như sau.

Nhìn từ
trái qua phải, trước hết ta thấy có một đoạn đường
đi lên có thể dùng biểu trưng cho sự cố gắng của người
đã phát tâm bồ đề, tinh tấn tu tập để tiêu trừ phiền
não. Ðó là đoạn đường Trung quán luận nói đến nhiều
nhất qua pháp môn tiêu diệt hý luận. Cuối đoạn đường
gia hành đó, là một diểm, chỉ một điểm mà thôi, cao nhất.
Ðiểm này tượng trưng cho sự chứng đắc Vô phân biệt trí,
tức là sát na tánh Không được thực chứng.
Có một ngành
toán học mới gọi là logic mơ hồ (Fuzzy logic) rất ích lợi
thiết thực trong việc sản xuất các bộ mày điện tính có
tính chất thông minh (neural networks). Thứ toán này biểu diễn
tánh Không bằng một phương trình rất đơn giản: A
= phi A (A = not-A). Ðiều này không có gì lạ từ khi người
Ấn độ tìm ra được con số zero (0) vì ai cũng biết con số
zero có đặc tính là + 0 = - 0 tức A = phi A. Một
thí dụ dễ hiểu: Ðổ nước váo một cái ly vừa đủ đầy
một nửa. Bảo rằng nửa ly đầy có nghĩa là nửa ly không
và ngược lại nửa ly không tức là nửa ly đầy. Do đó,
trên phương diện toán học ta có thể viết:
nửa ly đầy
= nửa ly không, hay A = phi A.
Liền ngay
sau khi đạt đến điểm cao nhất đường biểu diễn đi trở
xuống, tương ứng với giai đoạn hậu đắc trí. Hành giả
trở lại với thế gian hoạt động độ sinh. Nhưng nhờ không
ngừng tu dưỡng và tiếp tục sống đầy đủ giới hạnh
cho nên từ đây trở đi đường biểu diễn lên xuống không
cách xa tọa độ cao nhất của điểm chứng đắc tánh Không.
Ðoạn đường dao động tắt dần này biểu trưng cuộc sống
của một vị bồ tát.
Ðọc đến
bài tụng cuối cùng, Trung luận, XXVII.30:
Cồ Ðàm Ðại Thánh Chủ
Lân mẫn thuyết thị pháp
Tất đoạn nhất thiết kiến
Ngã kim khể thủ lễ.
ta không thể
không lưu tâm đến cách phiên dịch cụm từ "nhất thiết
kiến" trong bản chữ Hán hay cụm từ "sarva-drsti"
trong bản chữ Phạn. Chữ Việt, chữ Tây tạng, hay chữ Anh
hầu hết đều dịch và thêm nghĩa vào thành "vô minh kiến
chấp" hay "kiến chấp sai lầm". Ðiều này dễ hiểu vì bài
tụng này cũng là bài tụng cuối của Phẩm XXVII: Quán Tà
Kiến trong đó đề cập và bác bỏ mọi tà kiến. Theo cách
phiên dịch như vậy, ta không bao gồm quan điểm của Bồ tát
Long Thọ trong số kiến chấp sai lầm cần phải bác bỏ. Quan
điểm của Ngài được tóm thâu trong tám cái phủ định và
lời tán thán đức Phật "năng thuyết thị nhân duyên, thiện
diệt chư hý luận", ngay trong bài tụng tán khởi mở đầu
Trung luận.
Theo quan điểm
ấy, một mặt trên lập trường tục đế, lý duyên khởi
được sử dụng để giải thích sự hiện hữu của vạn
pháp vô tự tính qua vọng tưởng phân biệt và ngôn ngữ thông
tục. Mặt khác, chân đế tức tánh Không chính là lý duyên
khởi được đặt trên chiều Tuyệt đối siêu nghiệm, không
có phẩm tính, thuộc tính, danh tính,... ... nghĩa là vượt
thoát ra ngoài mọi thi thiết diễn tả. Ðiều này được nêu
rõ trong các bài tụng, XVIII.7: "Thật tướng của các pháp
thì đoạn bặt, cắt đứt cả tư duy và ngôn ngữ, không sanh
cũng không diệt, tịch diệt như Niết bàn"; XVIII.9: "tự mình
tri nhận chứ không phụ thuộc vào kẻ khác, tịch diệt không
hý luận, không còn có sự sai khác và phân biệt"; XXII.12:
"Ngay trong tướng tịch diệt vốn không có thường và vô thường
v..v.. theo tứ cú. Ngay trong tướng tịch diệt cũng không có
biên, vô biên v..v.. theo tứ cú."; XXV.23: "Làm gì có sự đồng
nhất và sai biệt? Làm thế nào có thường và vô thường?
vừa thường vừa vô thường và chẳng phải thường chẳng
phải vô thường?" Trên phương diện nhận thức luận, giáo
lý Nhị đế xác nhận vai trò cần thiết và hữu ích của
phép quán sát và phân tích bằng luận lý và ngôn ngữ.
Nhưng trên
phương diện tu dưỡng, ngoài cách hiểu Trung luận theo lối
trên, ta cũng có thể hiểu "nhất thiết kiến" trong câu "Tất
đoạn nhất thiết kiến" là bao gồm luôn cả quan điểm của
Ngài Long Thọ nữa. Như thế, quan điểm của Ngài sau khi được
thông hiểu thấu đáo và đem ra ứng dụng có kết quả cũng
phải đoạn tận giống như tất cả pháp khác. Ðó là ý của
lời đức Phật giảng pháp trong kinh Ví dụ con rắn (Trung
bộ kinh, số 22): "Ta thuyết pháp như chiếc bè để vượt
đưa qua, không phải để nắm giữ lấy. ... ... Chánh pháp
còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp". Chánh pháp ở
đây có nghĩa những sự chứng đạt tâm linh cao cả, những
ý tưởng và quan niệm thanh khiết. Ngài Long Thọ cũng cùng
một ý nghĩ như vậy khi nói lên trong bài tụng Trung luận,
XIII.9:
Ðại Thánh thuyết Không pháp
Vi ly chư kiến cố
Nhược phục kiến hữu Không
Chư Phật sở bất hóa.
Dịch là:
Ðấng Ðại Thánh (tức đức Phật) dạy rằng: Không pháp
là viễn ly các kiến chấp, nhưng nếu trở lại chấp thấy
có cái Không (kiến chấp về Không), thì chư Phật cũng không
thể hóa độ.
Hiểu như
vậy tức là hiểu quan điểm "Tánh Không của Không" của Trung
luận. Ngoài ra, Trung luận xác quyết "Nếu không y cứ Tục
đế thì không đạt được Ðệ nhất nghĩa đế. Nếu không
đạt được Ðệ nhất nghĩa đế thì không chứng được
quả vị Niết bàn" (Trung luận, XXIV.10). Bởi tại Chân đế
và Tục đế là hai mặt Ðại trí và Ðại bi của Vô thượng
Bồ đề nên y cứ Tục đế để đạt Ðệ nhất nghĩa đế
hầu chứng được quả vị Niết bàn cũng có nghĩa là "Bồ
đề tâm khởi lên từ tâm đại bi; nếu không vậy, chẳng
thể là Phật pháp" (Thiền luận, D. T. Suzuki, Tập Hạ, Tuệ
Sĩ dịch). Nói cách khác, Ðại trí hay Chân đế là do bởi
lòng Ðại bi hay Tục đế mà phát sanh ra. Theo tục đế tức
là do lòng đại bi muốn hóa độ tất cả chúng sinh mà Phật
diệu dụng luận lý và ngôn ngữ giả nói đến ngã đến
pháp. Nhưng đối với người tu học tuy luận lý và ngôn ngữ
rất cần thiết để vượt qua đạo lộ chuẩn bị, mọi ý
định dùng ngôn thuyết tức ngôn ngữ và luận lý để ấn
định và miêu tả đặc tính của chân đế nhất quyết phải
buông bỏ, vì chân đế là tuyệt đối vô ngôn, đòi hỏi
tinh tấn hành thiền vượt qua các tầng mức của minh sát
tuệ mới chứng ngộ được. Ðể kết luận, xin mượn lời
của Tuệ Sĩ trong Triết học về tánh Không: "Nhận thức chính
xác về tánh Không không thể hoàn toàn bằng vào những phân
tích của tư tưởng, mà đòi hỏi một công trình thực chứng.
Những luận thuyết về tánh Không chỉ có giá trị như là
những trang điểm cho tư tưởng mà thôi. Tất nhiên những
luận thuyết như vậy sẽ không bao giờ chấm dứt."
Tháng giêng, 2000