7.
Biện chứng pháp apoha
Cá thể
đặc thù và tổng thể khái quát.
Trên phương
diện luận lý học, trong các câu "Ðây là cái bàn", "Ðó là
màu xanh", các danh từ 'cái bàn', 'màu xanh', không phải để
chỉ vào cá thể đặc thù, mà là tên gọi những phẩm tính
do biến kế chấp tạo và gán ghép cho cá thể đặc thù. Cá
thể đặc thù là thực tại điểm vô ngôn không có danh xưng
nên phải dùng đại danh từ 'đây', 'đó' để chỉ vào.
Trần Na (Dignàga),
một môn đệ của Thế Thân (Vasubandhu), chủ trương chỉ có
hai thứ đối tượng lượng biết. Một là cá thể đặc thù
thực hữu gọi là tự tướng (svalaksana; particular) và hai là
tổng thể khái quát không thật gọi là tổng tướng (sàmànyalaksana;
universal). Sự phân biệt bản thể của sự vật như vậy dùng
làm nền tảng cho một thứ nhận thức luận chỉ chấp nhận
hai hình thái lượng biết, hiện lượng (pratyaksa; perception)
và tỷ lượng (anumàna; inference). Hiện lượng trực tiếp
nhận thức tự tướng bằng cảm giác đơn thuần; tỷ
lượng gián tiếp nhận thức tổng tướng bằng suy luận.
Tự tướng
là thực tại điểm, nên không có thể chất nhưng lại có
lực tính (forces), nghĩa là có khả năng tính tác dụng trên
thức để phát sinh tri giác và suy luận. Tổng tướng là hiện
tượng nhất thể không sai biệt, hoàn toàn vọng tưởng, không
có thật tính như tự tướng, nghĩa là không có khả năng
tính tác dụng. Tuy nhiên tổng tướng không huyễn ảo như
hoa đốm giữa trời hay mộng mị như trong giấc mơ.
Các thuyết
khác nhau về tổng tướng thường được ví như những cách
giải thích khác nhau về sự hiện hữu và nhận thức một
chiếc áo. Theo phái Chính luận (Nyàya), chiếc áo có ba đơn
vị: chỉ dệt, phẩm tính áo, và tính hòa hiệp tự nhiên
(inherence) của tính áo trong các chỉ dệt. Cả ba đơn vị
ấy đều thật có, hiện hữu riêng biệt, và mắt có thể
nhìn thấy. Phái Thắng luận (Vaisesika) chủ trương rằng tính
hòa hiệp tự nhiên không thể thấy được mà phải do suy
luận mới biết được. Các phái Kỳ Na (Jaina) và Số luận
(Sankhya) không chấp nhận tính hòa hiệp tự nhiên.
Ðối với
các luận sư Phật giáo như Trần Na và Thiên Chủ, chỉ có
một thực tại điểm duy nhất là tự tướng của chiếc áo,
và do tác dụng của điểm này mà biến kế chấp vọng tạo
ra hình ảnh chiếc áo. Thuyết tổng tướng này được gọi
là thuyết tương hợp (sàrùpya-vàda; theory of Conformity)
có công dụng kết nối hai sự vật dị loại là thực tại
với vọng tưởng.
Trạng thái
có hay không và thật hay giả của tổng tướng là một vấn
đề rất quan trọng được triết gia Ấn độ cũng như Tây
phương đem ra bàn cãi từ mấy thế kỷ nay. Ngoài phương pháp
nhận thức luận, đại khái còn có hai đường hướng kiến
giải khác. Một là đứng trên phương diện bản thể luận
tìm xem tổng tướng có thực hữu hay không. Hai là đứng trên
quan điểm triết lý ngôn ngữ tìm xem ý nghĩa của những từ
tổng quát [tức là những từ có ý nghĩa khái quát như 'cây',
'khói', 'lửa', những từ dùng làm danh xưng cho chủng loại
như 'con bò', 'cái bàn', .. , cho phẩm tính như 'trắng', 'dài',
.. , v..v..] liên hệ như thế nào với trạng thái của tổng
tướng. Phái Nyàya và phái Mìmàmsà, hai trong sáu tông phái
chính thống của Bà la môn giáo, chủ trương tổng tướng
thực hữu và cần tổng tướng phải thật có thời mới giải
thích được ý nghĩa của những từ tổng quát. Ngược lại,
theo Trần Na tổng tướng không thật, nghĩa là không có khả
năng tính tác dụng. Nhưng vì cho rằng tổng tướng là đối
tượng của tỷ lượng, một phương cách lượng biết được
công nhận, nên Trần Na chấp nhận sự hữu của tổng tướng.
Trần Na lập ra thuyết apoha [apoha có nghĩa là khiển trừ;
exclusion, elimination, negation, repudiation], sau này được môn
đệ là Thiên Chủ (Dharmakìrti) hoàn chỉnh, với mục đích
chứng minh rằng dẫu tổng tướng không thật, các từ tổng
quát vẫn có ý nghĩa như thường.
Bản thể
luận liên hệ chặt chẽ với vấn đề có hay không có tổng
tướng. Thông thường người ta dễ chấp nhận cho rằng những
vật thể đặc thù, như 'cái bình', 'TiVi', ... đều thật có.
Nhưng khi nói đến chủng loại như 'người', 'cây', .. hay đến
phẩm tính như 'tròn', 'trắng', .. thời ngay cả trong trường
hợp chấp nhận những sự thể ấy hiện hữu đi nữa chúng
cũng vẫn có tính cách trừu tượng và tổng quát. Chúng được
gọi là tổng tướng. Ðối với những người thuộc phái
thực tại luận (Realism) tổng tướng là thật có. Ngược
lại hai phái duy danh luận (Nominalism) và quan niệm luận (Conceptualism)
chủ trương tổng tướng có mà không thật bởi vì tổng tướng
là do phân biệt vọng tưởng. Về phía bản thể luận tổng
tướng có thể xem như là thuộc tính của cá thể đặc thù.
Về phía triết lý ngôn ngữ tổng tướng được gọi tên
bằng những ngôn từ có nghĩa tổng quát.
Vấn đề
tổng tướng.
Thế nào
là vấn đề tổng tướng? Hầu hết mọi người đều tưởng
rằng thế gian này gồm không phải những cá thể biệt lập
biến đổi liên lĩ mà là những vật thể tự tồn cùng chia
xẻ với nhau một số tính chất cọng hữu. Thí dụ ta nhìn
vào một đóa hoa và nhận xét nó có màu sắc tương tợ như
màu của một lá cờ đỏ bên cạnh. Màu của đóa hoa có đồng
nhất với màu của lá cờ hay không? Hai vật thể ấy có chia
xẻ một cái gì cọng hữu hay không? Câu trả lời đầu là
cả hai đều có màu đỏ. Ðến khi trả lời câu hỏi tính
'đỏ' có phải là tính cọng hữu của hai vật thể ấy hay
không thời phái thực tại luận có ý kiến khác với hai phái
đối nghịch là duy danh luận và quan niệm luận. Theo thực
tại luận, đóa hoa và lá cờ chia xẻ chung ít ra là một tính
chất. Tính chất cọng hữu 'đỏ' là một tổng tướng thật
có. Nó hoàn toàn tự nhiên, không quan hệ với tâm thức con
người. Hai phái kia không chấp nhận điều này, chủ trương
rằng tính chất cọng hữu chỉ là thành quả của sự tương
giao tác dụng giữa thực tại với tâm thức.
Ðể hiểu
rõ thêm tầm quan trọng của sự liên hệ giữa tổng tướng
và phương cách ta tương giao tác dụng với ngoại giới, hãy
đặt câu hỏi "Làm sao biết được màu của đóa hoa và lá
cờ là đỏ?" Hình như đó là một câu hỏi vớ vẩn. Tình
cờ ta thấy lá cờ đỏ, đóa hoa đỏ và nhận biết ngay chúng
có màu đỏ thời đó chỉ là do quen thuộc tự nhiên mà biết.
Thường ta tin chắc lắm điều mà ta cho là hiển nhiên ngay
nơi sự vật. Sự thật không phải vậy. Biết một sự vật
không phải là biết được chính tự thân sự vật, mà chỉ
là biết sự vật qua tác dụng hay thuộc tính của nó. Muốn
biết được lá cờ có một hình thể và màu sắc nào đó
hay tác dụng theo một cách nào đó ta cần phải có sẵn một
khái niệm khá phức tạp về cờ nói chung. Nếu ta đủ khả
năng nhận xét về một sự thể là vì ta đã sẵn có khái
niệm về sự thể ấy trong đầu óc.
Tưởng cũng
nên nói đến tính cách khác nhau giữa phái duy danh luận và
phái quan niệm luận, là hai phái đối nghịch với phái cực
đoan thực tại luận. Tuy cả hai phái đều cùng một chủ
trương là tổng tướng không thật, nhưng mỗi phái giải thích
theo một cách tính tổng quát hay tính cọng hữu. Phái duy danh
cực đoan hơn cho rằng tính ấy không thực hữu, và hoàn toàn
do sử dụng các từ tổng quát mà có. Trong thí dụ nêu trên,
tính cọng hữu 'đỏ' không ở trong đóa hoa, cũng không ở
trong lá cờ. Sở dĩ có cái 'đỏ' chung là tại vì từ tổng
quát 'đỏ' được ứng dụng vào trường hợp này. Lẽ tất
nhiên có màu đỏ trong đóa hoa cũng như trong lá cờ. Nhưng
màu đỏ của đóa hoa tương tợ giống màu đỏ lá cờ, chứ
không phải một màu đỏ đồng nhất. Phái quan niệm luận
giữ lập trường biện chứng, không thiên cực đoan như hai
phái kia. Phái này chủ trương sự ứng dụng ngôn từ tổng
quát phải qua trung gian khái niệm. Theo Thiên Chủ, khái niệm
là giả thiết một tổng tướng chung cho một số sự vật
phát xuất từ kinh nghiệm thấy biết các sự vật ấy và
từ tập quán sử dụng ngôn ngữ công ước để mô tả và
phát biểu những kinh nghiệm ấy.
Trạng
thái có mà không thật của tổng tướng.
Vì khái
niệm quan hệ với kinh nghiệm nhận thức cho nên vấn đề
hiểu biết trạng thái tổng tướng trở nên cần thiết cho
sự giải thích làm sao ta có thể biết được những khái
niệm như 'người' hay 'màu tím' chẳng hạn có quan hệ với
tâm thức hay không. Như vậy vấn đề trạng thái tổng tướng
là một trong những con đường chính yếu đi tìm hiểu ngoại
giới, tìm hiểu phương cách nhận thức và những chuẩn tắc
cần thiết để phân loại khái niệm về thế giới này. Ta
dựa trên ba quan điểm để xét trạng thái tổng tướng: bản
thể luận, triết lý ngôn ngữ, và nhận thức luận.
Trên quan
điểm bản thể luận, vấn đề tổng tướng được đặt
ra như thế này. Cái gì là trạng thái thực hữu của các
sự thể có tính tổng quát? Nếu tính cọng hữu nói trong
thí dụ ở đoạn trên là thật có, thời bản chất của tính
cọng hữu ấy là gì? Các nhà thực tại luận chủ trương
rằng các sự thể như phẩm tính và chủng loại chẳng hạn,
đều có tính chất tổng quát và thực hữu. Ngoại giới chẳng
những không thu hẹp lại thành tập hợp các cá thể đặc
thù mà còn chứa những phẩm tính cọng hữu nữa. Phía đối
nghịch chủ trương ngược lại: ngoại giới chỉ gồm toàn
cá thể đặc thù và những cá thể đặc thù này là những
thực tại điểm biệt lập, không chia xẻ tính chất cọng
hữu nào cả.
Theo Thiên
Chủ, là tự tướng tức là có đủ điều kiện để tự
nó định nghĩa nó. Ðiều kiện đây là khả dĩ xác định
vị trí trong không thời gian và phát biểu tính cách dị biệt
của nó. Nói cách khác, tự tướng phải chiếm cứ một khoảng
không gian nhất định, hiện hữu vào một lúc có thể xác
định, và có riêng độc nhất một tập hợp đặc tính như
màu sắc, hình thể, và mùi vị. Tổng tướng là một vật
thể tổng quát không hội đủ những điều kiện nêu trên
nên bị loại bỏ ra khỏi khu vực thực tại độc lập
với tâm thức. Tuy có tiêu chuẩn phân biệt tự tướng và
tổng tướng, nhưng trên thực tế rất khó phân cách rõ rệt
tự tướng với những vật thể khác loại. Chẳng hạn như
màu sắc có thể chấp nhận như là tự tướng ở một mức
độ phân tích bản thể nào đó. Nhưng cuối cùng phân tích
đến mức độ cực vi thì màu sắc không còn là tự tướng
nữa.
Trên quan
điểm triết lý ngôn ngữ, ta cần nhận biết sự liên hệ
giữa tổng tướng với ngữ nghĩa (semantics). Một trong các
đặc tính của ngôn ngữ là có khả năng ứng dụng tổng
quát vào nhiều trường hợp. Ðiều này chỉ thực hiện khi
từ (word) quan hệ với tổng tướng. Nếu từ chỉ có ý nghĩa
trong quan hệ với tự tướng thời ngôn ngữ chỉ là một
bảng danh mục do âm thanh hợp thành trỏ thẳng vào các sự
vật hiện diện. Không có cách nào nói một điều gì giống
nhau ở vào những thời điểm khác nhau và cũng không có cách
gì nói đến một vật thể khi nó vắng mặt. Kẻ này kẻ
kia cũng không thể nói cùng một điều giống nhau.
Trong trường
hợp ứng dụng tổng quát ý nghĩa của từ, cần phải nghĩ
đến một yếu tố độc lập với thời gian để giúp nghe
hiểu ý nghĩa của tiếng nói, đó là mệnh đề (proposition).
Một mệnh đề thường gồm một chủ từ ghép với
một thuộc từ biểu trưng thuộc tính của chủ từ.
Thí dụ: "Lassie là con chó rất khôn". Chủ từ 'Lassie' là chỉ
một cá thể đặc thù và thuộc từ 'chó' là một từ tổng
quát. Nó dùng để gọi tên một tổng tướng. Từ 'chó' không
tác dụng làm hiển hiện một tự thể riêng biệt nào cả,
trái lại từ 'Lassie' chỉ đích danh một cá thể. Từ 'chó'
tác dụng bằng cách định phẩm tính cho một tự thể đã
được gọi tên. Do đó có câu hỏi: Ý nghĩa các từ tổng
quát là gì?
Phái thực
tại luận giải thích rằng những tính chất tổng quát là
những vật thể có thật nên có ý nghĩa và ý nghĩa các từ
tổng quát là ý nghĩa của những tính chất tổng quát được
phát biểu. Thiên Chủ không chấp nhận tính cách thật có
của các tính chất tổng quát. Tuy không thật (real) nhưng tổng
tướng hiện hữu (being) và khác với tưởng tượng và mộng
mị. Khác là tại tưởng tượng và mộng mị chỉ xác thực
(true) đối với cá nhân liên hệ mà thôi, còn tổng tướng
do phân biệt vọng tưởng thời xác thực đối với một số
nhiều cá nhân. Như vậy, vai trò của các từ tổng quát là
gọi tên tổng tướng và biểu thị thuộc tính của tự tướng.
Trên quan
điểm nhận thức luận, tổng tướng được xét xem quan hệ
như thế nào với hình thái nhận thức. Theo phái Chánh Lý
(Nyàya), tổng tướng liên hệ với mọi hình thái lượng biết.
Nghĩa là hiện lượng chẳng hạn, cũng tri nhận tổng tướng
chứ không riêng tỷ lượng. Thiên Chủ chủ trương ngược
lại là hiện lượng chỉ nắm bắt tự tướng mà thôi, và
tỷ lượng mới là hình thái nhận thức có đối tượng là
tổng tướng. Hiện lượng không liên quan với tổng tướng
và tỷ lượng không liên hệ với tự tướng. Như thế thời
làm sao giải thích được sự thành công của tỷ lượng mà
không cần tổng tướng phải thật? Làm sao để giải thích
có sự hỗ tương tác dụng giữa tư duy với thực tại? Ðó
là công dụng của thuyết apoha.
Tổng tướng:
hiện tượng nhất thể không sai biệt.
Tổng tướng
là sự hữu hoàn toàn khác biệt với tự tướng, hay
tự
thể, tức vật tự thân. Tự tướng có tính cách
đặc thù và thoát ra ngoài mọi thi thiết diễn tả. Theo Trần
Na, hoạt dụng của năm thức thân tức cảm giác chụp
bắt được tự tướng của sự vật ngay ở sát na đầu tiên
của quá trình nhận thức. Ðó là nhận thức bằng tri giác
hiện tại, hay hiện lượng. Tự tướng có tính cách
không được xác định (aniscita; indefinite), là một thực tại
điểm vô ngôn, và sinh diệt trong sát na hiện tại.
Ngay sau sát
na hiện tại là sát na tác ý (manaskàra; tác ý tức là
chú ý), điểm khởi đầu của phân biệt. Phân biệt
chuyển biến đối tượng cảm thọ thành hai phần, phần nội
tại chủ thể (gràhakàkàra) và phần ngoại tại của đối
tượng cảm thọ. Cảm thọ (vedanà) tác dụng trên
tưởng tri (samjnà) làm phát sinh ý chí hành động (cetanà).
Phần ngoại tại của đối tượng cảm thọ thực ra là một
biểu
tượng của sự vật (gràhyàkàra). Biểu tượng ấy trở
nên có tính cách đáng ưa thích hay không đáng ưa thích. Mặt
khác, tầm (vitarka; sự quan sát thô) và tứ (vicàra;
sự quan sát tế) điều khiển những tác dụng phán đoán và
suy lý, ức niệm nhớ lại những ấn tượng tri giác
quá khứ tạo nên một thái độ nhận thức đối với biểu
tượng đó. Khi ấy tuệ (prajnà) hiện khởi. Sự thấy biết
bắt đầu với sự nhận thức trở lại (recognition) và thấy
biết sự vật là thấy biết biểu tượng của sự vật đó.
Như vậy, trong trường hợp tưởng tri (perception) là
trường hợp sự vật tương giao tác dụng nhân duyên với
cảm giác, biểu tượng là thành quả sinh khởi trực tiếp
từ sự vật.
Trong trường
hợp tư duy (kalpanà; conceptual cognition; còn dịch là phân
biệt) thấy biết sự vật cũng là thấy biết qua trung gian
biểu tượng của sự vật. Tuy nhiên, khác với tưởng tri,
biểu tượng tư duy là biểu tượng không sinh khởi trực tiếp
từ tác dụng của sự vật mà do sự liên hợp chặt
chẽ với ngôn từ. Khi ta có khái niệm về một sự vật,
như cái bình chẳng hạn, ta không trực tiếp thấy biết cái
bình, mà chỉ thấy biết biểu tượng của cái bình ví như
hình ảnh của cái bình trong gương. Thiên Chủ định
nghĩa tư duy là tác dụng tâm lý liên kết thích hợp một
biểu tượng với một ngôn từ. Nói cách khác, tư duy nhận
biết sự vật bằng cách phối hợp biểu tượng của sự
vật với một ngôn từ. Ðó là để phản bác chủ trương
của phái Mìmàmsà cho rằng biểu tượng tự nhiên hòa hợp
(inherent) với ngôn từ, và sự liên kết ấy có tính cách
không biến đổi (permanent).
Theo Thiên
Chủ, sự liên kết thích hợp đó một mặt tùy thuộc tình
ý của người nói và mặt khác do công ước cộng đồng
quy định chứ biểu tượng không nằm sẵn trong ngôn từ.
Thường bằng vào ngôn ngữ ta nhận biết những cá thể đặc
thù quen thuộc. Như vậy là do ta liên hợp sự vật với ý
nghĩa vọng tưởng. Sống trong cộng đồng với những quy ước
ngôn ngữ, ta thụ huấn được khả năng gọi tên hay đặt
tên cho một số sự vật ta kinh nghiệm. Ngôn ngữ thường
được dùng theo công ước để phân loại và gọi tên một
số thành quả nhận thức. Thí dụ: hiện nay trên mạng lưới
Internet, ta thấy nhan nhản những từ như địa chỉ ảo, cộng
đồng ảo, thực tại ảo, ... Nếu không có ngôn ngữ thời
không có một kinh nghiệm nào trong thực tế có thể làm phát
sinh được những khái niệm như vậy. Ngôn ngữ giúp tư duy
theo dõi nhận biết sự vật dù sự vật phức tạp đến bất
cứ mức độ nào.
Tác dụng
của tư duy là khái niệm hóa biểu tượng sự vật qua trung
gian của các cấu từ. Do đó khái niệm và ngôn ngữ tương
quan phụ thuộc vào nhau rất chặt chẽ. Tư duy tạo và áp
đặt trên biểu tượng của sự vật một khái niệm,
đồng thời gán cho nó một danh xưng, và do đó tổng
tướng được xác định. Lượng biết tổng tướng bằng
trí phân biệt như vậy được gọi là tỷ lượng.
Hai câu hỏi
sau đây được đặt ra: "Làm sao tự tướng là những hiện
tượng đa thù sai biệt có thể tác dụng phát sinh một tổng
tướng nhất thể không sai biệt? Tự tướng, một hiện thực
đặc thù được kết nối như thế nào với tổng tướng,
một tác vật của phân biệt vọng tưởng?" Nên biết rằng
cả hai không cùng có chung một chất liệu nào, bởi vì cả
hai đều không có thể chất. Sự nối kết được thực hiện
là do tự tướng tuy là những năng lực hoàn toàn riêng biệt
nhưng tất cả chúng đều có khả năng tính kích thích cảm
giác. Sự giao hỗ tác dụng giữa kích thích của tự tướng
với cảm giác tác thành những kết quả tương tợ giống
nhau. Chính những kết quả tương tợ giống nhau do tự tướng
đa thù sai biệt hỗ tương tác dụng với cảm giác tạo thành
một nhất thể tổng tướng của vật thể.
Thí dụ:
cây gùdùcì được biết là thứ cây thuốc có tính trị liệu
hạ sốt. Về thể chất hay hình thù cây này không giống chút
nào những cây khác như cây harìkata hay cây abhaya cũng có tính
trị liệu hạ sốt. Như vậy các cây ấy giống nhau không
phải là vì có thể chất giống nhau, hình thù giống nhau mà
thực ra là vì hết thảy chúng đều có hiệu quả tác dụng
hạ sốt giống nhau. Trong trường hợp này, tính trị liệu
hạ sốt là tổng tướng do tự tướng các cây đồng loại
với cây gùdùci tác dụng nhân duyên mà nhận thức được.
Tuy nhiên,
tính chất trị liệu hạ sốt thay đổi cấp độ với từng
cây một, tùy theo nơi vun trồng, các thứ phân bón v..v.. Tính
trị liệu hạ sốt của cây này không hề giống tính trị
liệu hạ sốt của bất cứ cây nào khác cùng loại. Như vậy
mặc dầu các cây cùng loại có tính tương tợ về tính chất
trị liệu hạ sốt nhưng chúng vẫn dị biệt. Do đó tổng
tướng không thể phụ thuộc vào một thể tính đồng nhất
bởi vì đã đồng nhất thời không thể có nhiều cấp độ
tương tợ. Tính tương tợ đây chỉ do so sánh mà có chứ
không phát xuất từ một thực thể đồng nhất. Như thế
có nghĩa là tổng tướng đã được thi thiết dựa trên những
thực hữu tuy tương tợ nhưng khác biệt nhau.
Tác dụng
lưỡng phân của phân biệt vọng tưởng.
Trên phương
diện nhận thức luận Trần Na phân biệt hai thế giới tuyệt
đối khác nhau là thế giới thực tại khách quan và thế giới
phân biệt vọng tưởng. Trần Na nhấn mạnh nhiều đến bản
chất vọng tưởng và ngôn ngữ của tổng tướng mà không
bàn đến cội nguồn khách quan của nó. Chẳng hạn như khi
bàn về tỷ lượng, Trần Na diễn tả thế giới vọng tưởng
như là một giới vực mà danh từ luận lý học gọi là vũ
trụ ngôn thuyết (universe of discourse), trong đó tập hợp
tất cả vật thể chỉ liên quan đến luận lý và ngôn ngữ
mà thôi. Trên thực tế, rất khó phân biệt những gì xảy
ra trong đầu óc khi suy luận, một bên là tiến trình tư
duy khái niệm và bên kia là tiến trình thiết lập danh
xưng khả dĩ phát biểu thành lời nói. Lý do là vì khi
ta nghĩ đến điều gì thời tự nhiên ta có khuynh hướng phát
biểu ngay điều đó bằng cách này hay cách khác.
Do tác dụng
của sự vật tổng tướng sinh khởi, rồi duyên tác dụng
tâm lý mà tạo ra khái niệm về sự vật và danh xưng sự
vật ấy. Chính qua trung gian của khái niệm và danh xưng mà
sự vật trở thành đối tượng của phân biệt vọng tưởng.
Ðiều này có thể đem áp dụng vào trường hợp tưởng đoán
như khi nhìn một thực hữu đặc thù X và phát biểu 'Ðây
là A'. Trước tiên do tác dụng của X, tư duy tạo ra khái niệm
về A nhờ đó danh xưng A mới có nơi y cứ. Thứ tự khái
niệm trước, định danh sau, cho thấy rõ tiến trình bắt đầu
từ lúc thực tại điểm tác dụng nhân duyên, dẫn đến tư
duy tạo khái niệm, rồi đến định danh tức dùng ngôn ngữ
để phát biểu, là một sự kết nối thực tại với ngôn
ngữ qua ngõ tư duy. Vấn đề trở nên phức tạp khó khăn
hơn khi phải suy đoán một tổng tướng từ một tổng tướng
khác, như trong trường hợp thấy khói đoán ra lửa chẳng
hạn. Phức tạp khó khăn bởi vì tổng tướng là không thật,
thời căn cứ vào đâu mà suy đoán từ tổng tướng này ra
tổng tướng kia?
Tổng tướng
là nội bộ của khái niệm. Danh xưng là chỉ cái đương thể
của khái niệm đó khi dùng đến ngôn ngữ để phát biểu.
Danh xưng thời phát biểu, còn khái niệm thời do tư duy áp
đặt. Mỗi khái niệm hay mỗi tên gọi luôn luôn phân chia
vũ trụ ngôn thuyết làm hai nhóm đối lập không cân nhau.
Một nhóm gồm một số tương đối có giới hạn những sự
vật tương tợ, còn gọi là đồng phẩm và nhóm
kia gồm vô số những sự vật không tương tợ hay dị phẩm.
Hai
nhóm tương đối mâu thuẫn nhau. Nghĩa là khi nghĩ đến hay
nói đến sự vật của nhóm này tức là đã khiển trừ, phủ
định tất cả những sự vật của nhóm đối lập kia. Không
có sự vật nào nằm ngoài hai nhóm tương phản đó.
Ðể hiểu
thêm về nghĩa của 'tương tợ' và 'không tương tợ', ta trở
lại với sự phát biểu qua mệnh đề. Như đã nói trên, một
mệnh đề thường gồm một chủ từ kết nối với một thuộc
từ. Khi phát biểu "Ðây là con bò", thời chủ từ 'Ðây' chỉ
vào tự tướng chủ thể, một thực tại điểm vô ngôn, nghĩa
là không thể diễn tả bằng ngôn ngữ được. Thuộc từ
'con bò' là một từ tổng quát dùng để chỉ phẩm tính 'bò'
(cowness). Từ 'con bò' chia vũ trụ ngôn thuyết làm hai: một
nhóm có cùng phẩm tính 'bò' và một nhóm tương phản gồm
toàn những sự vật có phẩm tính 'không bò' (non-cowness). Nói
rằng một sự vật tương tợ (đồng phẩm) với sự vật
chủ thể có nghĩa là nó có phẩm tính giống như phẩm tính
nêu ra trong thuộc từ. Nói cách khác, hai sự vật tương tợ
khi chúng có cùng một thuộc tính. Vì vậy thuộc từ luôn
luôn là một tổng tướng. Trong mọi suy luận vật thể được
lượng biết luôn luôn là một phẩm tính và có tính chất
tổng quát.
Ðối nghịch
với phẩm tính 'bò' là phẩm tính 'không bò'. Ðó là trường
hợp xảy ra khi vắng mặt phẩm tính 'bò', hoặc khi xuất hiện
một phẩm tính sai khác, hay một phẩm tính mâu thuẫn với
phẩm tính 'bò', chẳng hạn như phẩm tính 'cây'. Vậy một
sự vật không tương tợ là khi nào thuộc tính của sự vật
chủ thể nói đến trong mệnh đề vắng hẳn, sai khác, hay
mâu thuẫn với phẩm tính của sự vật không tương tợ ấy.
Dựa vào tính lưỡng phân của phân biệt vọng tưởng, danh
xưng 'con bò' có thể được định nghĩa như là khiển trừ
mọi vật thể có phẩm tính 'không bò'. Nói chung và vắn tắt,
'A' là khiển trừ 'không A'.
Luận thức
Nhân minh và Ngôn ngữ diễn đạt.
Theo đúng
giáo pháp thực tế và cụ thể của đức Phật, Trần Na không
sử dụng tam đoạn luận pháp của Aristotle. Lý do là
vì tam đoạn luận pháp của Aristotle chỉ chú trọng đến
suy lý thuần túy. Ngài thiết lập luận thức Nhân minh gồm
ba phần, tôn, nhân, và dụ (ngôn tam chi) và minh định
ba
tướng của nhân trong luận pháp (nghĩa tam tướng).
Nhân
là một trong ba ngôn từ luận lý mà mọi suy luận sử dụng
và có nhiệm vụ liên kết hai ngôn từ kia là chủ từ và
thuộc từ. Chủ từ và thuộc từ đã được đề cập
trong phần trên của bài này khi nói đến mệnh đề.
Mệnh đề còn gọi là tôn, lập ra để nêu lên chủ
trương của người lập luận, và cũng có thể là tiêu đích
của cuộc tranh cãi. Sau đây là một thí dụ luận thức Nhân
minh với ba chi để giải thích ba tướng của nhân.
Thí dụ
1.
Tôn:
Âm thanh là vô thường.
Nhân:
Vì do tạo tác mà có.
Ðồng
dụ: Những gì do tạo tác mà có đều vô thường
(lý
đồng dụ) như cái bình (sự đồng dụ, hợp tác pháp).
Dị dụ:
Những gì chẳng phải vô thường đều không phải do tạo
tác mà có (lý dị dụ) như hư không (sự dị dụ, ly tác pháp).
Tôn là mệnh
đề kết hợp chủ thể 'Âm thanh' với thuộc tính 'vô thường'.
Nhân 'do tạo tác mà có' là để giải thích lý do lập tôn,
tại sao ghép thuộc tính 'vô thường' với chủ thể 'Âm thanh'.
Theo Thiên Chủ, nhân phải hội đủ ba tướng thời luận thức
mới đúng.
Ba tướng
đó là:
1. Biến
thị tôn pháp tánh. Nghĩa là nhân cần phải hiện diện trong
toàn thể chủ từ. Nói cách khác, nhân phải là một trong
các thuộc tính của chủ thể. Ðiều này ít nhất phải được
địch công nhận khi lập luận dựa theo ý kiến của đối
phương để phá họ.
2. Ðồng
phẩm định hữu tánh. Nghĩa là nhân cần phải hiện diện
trong một tập hợp con gồm chỉ một số, chứ không phải
tất cả, vật thể tương tợ với chủ thể. Nói cách khác,
nhân phải liên hệ với một số vật thể đồng phẩm với
chủ thể.
3. Dị
phẩm biến vô tánh. Nghĩa là nhân cần phải khiếm diện
hoàn toàn trong một tập hợp gồm hết thảy vật thể không
tương tợ với chủ thể. Nói cách khác, nhân phải hoàn toàn
không liên hệ với hết thảy vật thể dị phẩm với chủ
thể.
Trong thí
dụ trên, nhân 'do tạo tác mà có' hội đủ ba tướng. Trước
hết, nhân 'do tạo tác mà có' cũng là một thuộc tính của
âm thanh. Vậy nhân có biến thị tôn pháp tánh. Thứ đến,
một số vật thể đồng phẩm (vô thường) với âm thanh như
cái bình, ... do tạo tác mà có đều vô thường cả. Vậy
nhân có đồng phẩm định hữu tánh. Hãy lưu ý trường hợp
sấm, sét, ... tuy đồng phẩm (vô thường) với âm thanh nhưng
không do tạo tác mà có. Ðiều này giải thích tại sao tướng
thứ hai của nhân chỉ buộc nhân hiện diện trong một tập
hợp con các vật thể đồng phẩm. Cuối cùng, 'do tạo tác
mà có' không phải là thuộc tính của bất cứ vật thể nào
thường hằng, dị phẩm đối với âm thanh. Vậy nhân có dị
phẩm biến vô tánh.
Dụ gồm
có lý dụ và sự dụ. Lý dụ, còn gọi là dụ thể, là một
mệnh đề tổng quát do ứng dụng quy nạp pháp (induction)
tổng quát hóa lý nghĩa của sự quan hệ giữa nhân và thuộc
từ. Sự dụ, còn gọi là dụ y, là chỉ sự vật cụ thể
được nêu làm ví dụ, làm chỗ tựa của lý nghĩa.
Ðồng dụ
là chứng minh thuận tất phải thuận hợp với nhân và thuộc
từ, nên còn gọi là hợp tác pháp. Dị dụ là chứng minh
nghịch, tất phải trái ngược, xa lìa với thuộc từ và nhân,
nên còn gọi là ly tác pháp. Trên hình thức luận lý, phủ
định lý đồng dụ thì ta có lý dị dụ và ngược lại.
Nói cách khác, lý dị dụ là phủ định lý đồng dụ và
ngược lại, lý đồng dụ là phủ định lý dị dụ. Chẳng
hạn khi phủ định lý đồng dụ, trước hết phủ định
nhân và phủ định thuộc từ. Sau đó đảo ngược thứ tự
trong mệnh đề, đem 'phủ định thuộc từ' đặt trước 'phủ
định nhân'. Mệnh đề lý dị dụ được gọi là đảo vị
(contraposition) của mệnh đề lý đồng dụ và ngược lại.
Nhận thấy
tác dụng của từ trong ngôn ngữ diễn đạt không khác tác
dụng của nhân trong luận thức Nhân minh, Trần Na đồng
hóa ngôn ngữ diễn đạt với luận thức Nhân minh. Trong
thí dụ 1, nhân 'do tạo tác mà có' chứng minh tính chất 'vô
thường' của âm thanh bằng cách khiển trừ âm thanh ra khỏi
tập đoàn tất cả mọi sự vật dị phẩm với âm thanh. Như
được phát biểu trong lý dị dụ, những gì chẳng phải
vô thường đều không phải do tạo tác mà có.
Ngôn ngữ
diễn đạt cũng thế. Tên gọi có tác dụng giống như tác
dụng của nhân trong luận thức Nhân minh. Nhờ tên gọi mà
vật thể được tri nhận. Quan hệ giữa tên gọi và thuộc
từ là quan hệ đồng quy nhất (tàdàtmya; Principle of Identity)
vì cả hai cùng chung một căn bản hữu pháp (dharmì; substratum).
Tên gọi hội đủ điều kiện ba tướng của nhân:
1. Vật này
gọi là cái bình. (biến thị tôn pháp tánh)
2. Những
gì tương tợ vật này đều gọi là cái bình. (đồng
phẩm định hữu tánh)
3. Tên gọi
chẳng bao giờ áp dụng vào cái 'không bình' (dị phẩm
biến vô tánh)
Như vậy,
tên gọi định nghĩa 'cái bình' bằng cách khiển trừ tất
cả những gì là 'không bình'.
Thực tại,
ngôn ngữ, và thuyết apoha.
Từ có hai
thứ đối tượng: thể và nghĩa. Thể của từ là chỉ về
tất cả các cá thể đặc thù áp dụng từ vào hợp cách.
Thí dụ: thể của từ 'đóa hoa' là hoa hồng, hoa cúc, .. Nghĩa
của từ là phát biểu ý nghĩa cọng tướng tổng quát. Nghĩa
của từ 'đóa hoa' là màu sắc tươi, chóng tàn, ..
Câu hỏi đặt ra là ngôn ngữ thiên trọng cách dùng từ theo
phía nào, biểu thể hay biểu nghĩa? Nếu thiên trọng về biểu
thể, thời ngôn ngữ có thể dùng làm hiển lộ những cá
thể đặc thù. Theo nhà ngôn ngữ học Ấn độ Vyàdi, thuộc
phái biểu thể (denotationism ), sở dĩ từ 'bò' có ý nghĩa
là tại nó có khả năng chỉ về một con bò riêng biệt. Từ
'bò' không chỉ thẳng hay qua trung gian của một tổng tướng
mà bằng cách khiển trừ mâu thuẫn của 'bò', tức khiển
trừ 'không bò' (non-cow): 'Bò' là khiển trừ 'không bò'. Nói
theo một nhà ngôn ngữ học khác, "ý tưởng từ nêu ra là
bheda (khác biệt; difference) hay sự hỗ tương khiển trừ phản
nghĩa của từ". Từ 'đen' trong cụm từ 'con bò đen' không
chỉ vào sự liên hệ với phẩm tính đen. Nó được dùng
để khiển trừ không cho con bò có bất cứ màu nào khác màu
đen.
Theo Trần
Na và Thiên Chủ từ mô tả ý nghĩa của tự tướng không
trực tiếp mà qua trung gian của khái niệm. Nếu từ bị
buộc mô tả trực tiếp cá thể đặc thù, thời với mỗi
cá thể đặc thù phải dùng một từ mới. Chẳng hạn như
từ 'bò' nếu chỉ định một con bò đặc thù nào đó thời
không thể dùng để chỉ một con bò khác. Khi nó đi mất,
từ 'bò' không còn công dụng nữa. Do đó, ngôn ngữ được
dùng là để phát biểu khái niệm chứ không phải phát biểu
cá thể hiện thực. Ví như ta học cách nhận biết một con
bò, một khi thuần thục với khái niệm 'bò' ta có thể áp
dụng khái niệm ấy cho những con bò khác. Ngôn ngữ vì thế
mà cần phải có tính khả ứng dụng một cách tổng quát.
Nếu thể
của từ không phải là một cá thể đặc thù mà là một
tập hợp các cá thể đặc thù, thời khi đó ta phải đi tìm
nhận biết hết thảy những cá thể ấy mới hiểu được
ý nghĩa của từ. Ðó là một điều không thể thực hiện.
Trong trường hợp này ta không bao giờ có thể hiểu được
ý nghĩa của những từ tổng quát. Nói tóm lại, ý nghĩa của
sự vật đặc thù hay của tập hợp các sự vật đặc thù
đều không do từ phát biểu một cách trực tiếp.
Phái biểu
nghĩa (connotationism) cho rằng dùng từ trước hết là để
phát biểu những cọng tướng tổng quát. Chẳng hạn như từ
'bò' phát biểu phẩm tính tổng quát 'bò' (cowness). Các con
bò riêng biệt được xem như là những biểu hiện của tính
tổng quát 'bò' trong trạng huống nào đó. Như vậy, dùng từ
để biểu nghĩa là chính, để biểu thể là phụ. Mô tả
thuộc tính tổng quát là tác dụng quan trọng của từ. Nhưng
theo Trần Na khái niệm về tổng tướng cũng như tổng tướng
đều là không thật. Do đó khái niệm và tổng tướng không
thể làm sở y cho ý nghĩa của ngôn ngữ nương tựa để mô
tả thực tại. Thế thì ngôn ngữ căn cứ vào đâu để có
ý nghĩa?
Nguyệt Xứng
(Candrakìrti), một nhà chú giải rất xuất sắc các tác phẩm
của Bồ tát Long Thọ, cho rằng ngôn ngữ có tính cách hoàn
toàn công ước không cần dựa vào bất cứ một hiện thực
nào để có ý nghĩa. Ý nghĩa là do sự thực hành sử dụng
ngôn ngữ mà có. Thí dụ: câu nói "Dẫn đến đây một con
bò" có ý nghĩa là do mô tả ý định của người sử dụng
câu nói chứ tự nó ngôn ngữ không có ý nghĩa gì cả. Trần
Na và Thiên Chủ không hoàn toàn đồng ý về điểm này và
quan niệm rằng nhận thức luận chẳng những mô tả sự thành
công sử dụng ngôn ngữ mà còn phải giải thích làm thế
nào và tại sao ta thu hoạch được kết quả bằng lời nói.
Nhà ngữ
học biểu nghĩa Ấn độ Bhartrhari chủ trương đơn vị ngữ
nghĩa (unit of meaning) là câu (sentence) chứ không phải từ (word).
Khi nghe một câu nói, trực giác chụp bắt tức thời ý nghĩa
toàn câu mà không cần nhờ vào sự hiểu biết từng từ một
trong câu. Câu và ý nghĩa toàn câu không thể ly cách. Ðối
tượng của trực giác trong trường hợp này là ý nghĩa toàn
câu và được Bartrhari xem như là đơn vị ngữ nghĩa, gọi
nó là pratibhà, dịch là ý thuyết. Còn ý nghĩa của mỗi từ
trong câu thời phải suy đoán từ kết cấu văn pháp của toàn
câu.
Chịu ảnh
hưởng của nhà ngữ học Bhartrhari thuộc phái biểu nghĩa,
Trần Na chấp nhận ý nghĩa toàn câu, tức ý thuyết, là một
hiện thực có tính cách khẳng định. Mặt khác, mặc dầu
không chấp nhận chủ trương biểu thể, Trần Na vẫn định
nghĩa theo cách phủ định như nhà ngữ học Vyàdi, A
là khiển trừ 'không A'. Ðó là phương pháp Ngài đã sử
dụng trong phần lý dị dụ của luận thức Nhân minh.
Ðể giải
quyết vấn đề làm thế nào dùng ngôn ngữ mô tả sự vật
không qua trung gian của tổng tướng, Trần Na đề xướng thuyết
apoha hòa nhập hai tư tưởng đối nghịch: nghĩa của từ thời
phủ định để xác quyết và nghĩa của câu thời khẳng định
thật có. Ðiểm chủ yếu của thuyết apoha là ngôn ngữ
không mô tả thực tại một cách khẳng định qua trung gian
các tổng tướng, mà trái lại mô tả thực tại một cách
phủ định bằng phương pháp khiển trừ (apoha; exclusion).
Thí dụ: Trong câu "Lassie là con chó rất khôn", từ "chó" mô
tả Lassie không qua trung gian một tổng tướng (phẩm tính 'chó';
dogness), trái lại bằng cách khiển trừ một cá thể đặc
thù (Lassie) ra khỏi một tập đoàn gồm những cá thể 'không
chó' (non-dog). Như vậy, theo Trần Na mỗi danh xưng phân chia
vũ trụ ngôn thuyết ra làm hai: một bên là những sự vật
có thể đặt dưới danh xưng và bên kia là những sự vật
không thể đặt dưới danh xưng. Tác dụng của danh xưng là
khiển trừ đối tượng của danh xưng ra khỏi tập đoàn gồm
các vật thể mà danh xưng không áp dụng được. Nói cách
khác, tác dụng của danh xưng là xác định vị trí của đối
tượng danh xưng bên ngoài tập đoàn các vật thể mà danh
xưng không áp dụng được. Hình thức ngôn ngữ làm ta lầm
tưởng rằng vật thể được sắp loại theo danh xưng
của tính chất, nhưng sự phân tích cho thấy các từ chỉ
có công dụng là khiển trừ vật thể ra khỏi tập đoàn
mà chúng không phải là đoàn viên. Trần Na đã áp dụng thuyết
apoha để định nghĩa 'hiện lượng' một cách rất vắn tắt:
"Hiện lượng là trừ phân biệt" (pratyaksam kalpanà'podham).
Thuyết
apoha và công phu triển khai tuệ quán.
Vì tư duy
tác dụng bằng cách khiển trừ những gì không phải là đối
tượng của nó nên để triển khai tuệ quán vào những đối
tượng thâm diệu như tánh Không hay Vô ngã, trong những bước
đầu tiên trên Ðạo lộ, điểm then chốt là phải xác định
cái gì phải khiển trừ, cái gì phải bác bỏ. Chẳng hạn,
muốn xác quyết nhận "Vô ngã", thời trước hết phải nhận
ra cái "Ngã" rồi mới khiển trừ nó được. Ta có thể sử
dụng một số lý luận để xác định cái Ngã, nhơn ngã (chấp
chủ thể có tự tính) cũng như pháp ngã (chấp đối tượng
có tự tính). Nhưng đối tượng của sự khiển trừ vẫn
chưa nhận diện được nếu ta chưa xác định được nó bằng
những kinh nghiệm tâm linh cá nhân sống động và thực thụ.
Lấy thí dụ ta muốn tìm cái nhơn ngã tức là "cái tôi" để
khiển trừ. Ta phải tra tầm cái cách "cái tôi" xuất hiện
trong tâm theo bản năng và cái cách tâm bám lấy "cái tôi"
ấy. Cái tôi bản năng xuất hiện rõ rệt khi ta gặp cảnh
vui hay buồn, khi được ca tụng hay bị chỉ trích. Chính vào
những lúc đó, "cái tôi" vươn lên một cách sáng chói và
nó là đối tượng để khiển trừ. Mỗi khi tư duy này xuất
hiện trong bất cứ hoàn cảnh nào làm ta vui, buồn, thích,
ghét, và mỗi khi sự chấp thủ theo bản năng phát sinh mạnh
mẽ thời ta phải quán xét ngay tại chỗ cái cách "cái tôi"
xuất hiện. Nếu "cái tôi" xuất hiện như một cái gì tự
tồn, biệt lập, chính là cái cách đối tượng để bác bỏ
thò đầu ra cho ta thấy.
Từng bước
từng bước một ta vun đắp một biểu tượng về cái "Ngã"
cần phải khiển trừ trước khi xác quyết nhận cái hiện
tượng tuyệt đối phủ định "Vô ngã". Tuyệt đối phủ
định có nghĩa là phủ định mà không hàm ý khẳng định
một hiện tượng nào khác. Cái hiện tượng tuyệt đối phủ
định "Vô ngã" không chi khác hơn là sự vắng mặt của cái
vọng niệm "Ngã". Vô ngã hay tánh Không rất khó tuệ tri bởi
vì thuộc lĩnh vực siêu hình quá tinh tế, mỏng hơn sợi tơ
nằm giữa hai khuynh hướng cực đoan lấn áp kéo tư duy vào
thế chấp thủ rất dễ dàng: khuynh hướng đoạn diệt khiển
trừ tất cả và khuynh hướng thường tồn thực tại hóa
mọi sự vật.
Một đặc
điểm của nhận thức luận Phật giáo theo thuyết apoha không
tìm thấy trong bất cứ hệ thống nào khác là chủ trương
cái
cách sự vật xuất hiện trước mắt chúng ta cũng là cái
cách mà đối tượng để khiển trừ xuất hiện. Nói cách
khác, đó là cách mà sự vật được cho là thực hữu xuất
hiện. Hành giả phải tra tầm toàn triệt với một tâm
phân biệt rất vi tế mới nhận diện đúng cái đối tượng
để khiển trừ. Khi biết đã nhận diện đúng cái đối tượng
để khiển trừ thời luận lý sẽ giúp làm sụp đổ ngọn
núi chấp hữu và sự trực ngộ thực tại chân không sẽ
thể hiện không mấy khó khăn.
Nguyên
nhân tư tưởng phủ định.
Nguyên nhân
nào đã ảnh hưởng Trần Na trong chủ trương ý nghĩa của
từ luôn luôn được phát biểu qua sự khiển trừ mâu thuẫn
của nó? Theo giáo sư Nakamura, một chuyên gia về triết lý
Ấn độ và Phật giáo tại Ðại học Tokyo, đặc tính của
người Ấn độ là quan tâm suy tầm các tổng thể khái quát
(universals) nhiều hơn là nghĩ đến các cá thể đặc thù (individuals).
Họ thiên trọng đường lối phủ định trong sự mô tả khái
niệm. Ðối với họ, phủ định không nhất thiết phải chỉ
một trạng thái tiêu cực. Phủ định có tính cách tích cực
và khẳng định nữa.
Trong Kinh
Luận Phật giáo, Niết bàn thường được diễn tả bằng
những từ ngữ phủ định. Trong Niết bàn kinh, quyển 33, Phật
dùng rất nhiều tiếng để gọi Niết bàn trong đó có nhiều
danh từ phủ định như: vô sanh, vô xuất, vô tác, vô vi, vô
úy, vô thối, vô tướng, vô nhị, vô ám, vô ngại, vô tranh,
vô trược. [Phật học từ điển. Ðoàn trung Côn].
Trong Luận
Ðại thừa khởi tín của Bồ tát Mã Minh có đoạn giải thích
định nghĩa 'Chân như' bằng phủ định như sau:
"Tất cả
những lời nói, đều do vọng niệm phân biệt mà sanh, chỉ
có giả danh chớ không có thật thể. Cho đến danh từ Chân
như cũng không thực; chẳng qua là một danh từ túng cùng của
lời nói, dùng để trừ bỏ các danh từ khác (vọng) mà
thôi (nhơn ngôn khiển ngôn)".
Nói cách
khác, Chân như là khiển trừ vọng nhiễm (tức là 'không Chân
như') [Luận Ðại thừa khởi tín. Thích Thiện Hoa]
Bồ tát Long
Thọ đã dùng Tám không [không sinh, không diệt, không
thường, không đoạn, không giống, không khác, không đến,
không đi] làm luận cứ cơ bản của phép phủ định biện
chứng để rửa sạch mọi ý niệm chấp trước bám víu vào
có, không, sinh, diệt, thường, đoạn, đồng, dị, khứ, lai.
Ngài đã dùng danh từ phủ định 'vô tự tính' để
biểu nghĩa tính chất tương đối của mọi hiện thực, tức
là mọi duyên khởi. Vô tự tính có nghĩa sự vật là
do duyên sinh, không có thể tự nó tồn tại độc lập riêng
biệt không nương tựa vào các sự vật khác. Vô tự tính
là phủ định tự tính. Từ đó, Trung Luận, XV.2, định nghĩa
tự
tính (svabhàva) là phủ định vô tự tính, tức là "cái
không do duyên sinh ra, cũng không do cái khác mà hình thành".
Nguyên nhân
chính của thuyết apoha là để phản bác những chủ trương
cho rằng từ có năng lực (sakti) dùng tiếng nói truyền đến
sự vật cái khái niệm ta có về sự vật ấy, hay có năng
lực phát biểu thực thể của sự vật. Ðối với nhiều
tông phái ngôn ngữ hợp với giác quan và suy luận là nguồn
cội cứu cánh của mọi sự thấy biết. Theo Trần Na, sự
thấy biết do ngôn từ đem lại cũng chỉ là sự thấy biết
nhờ tư duy suy đoán. Từ không trực tiếp quy chiếu một thực
thể. Chẳng hạn khi nói "cây" thời tiếng "cây" nghe có tính
cách khẳng định, nhưng kỳ thực từ "cây" không chỉ vào
phẩm tính "cây" mà lại phát biểu sự khiển trừ mọi sự
vật không phải cây.
Bản tính
phủ định của tư duy và ngôn ngữ hiện rõ trong tiến trình
tâm lý của sự học hỏi. Giả như muốn học định nghĩa
của từ "cây" để biết cây thời trước hết phải biết
rõ nghĩa của những cấu từ trong mệnh đề định nghĩa.
Chẳng hạn theo định nghĩa, cây là gồm có lá, cành, thân,
và rễ. Nhưng cái gì là lá, là cành? Cái gì là thân, là rễ?
Trên thực tế, muốn biết 'cây' ta cần phải học loại dần
dần những gì không phải là cây. Làm như thế tức là phân
chia sự vật thành hai loại tương phản: loại tương tợ cây
và loại không tương tợ cây. Căn cứ trên sự lưỡng phân
biện chứng như thế, ta vọng tạo một phẩm tính "cây".
Một thí
dụ khác. Hãy nhìn cái hình sau đây thường được dùng trong
tâm lý học để giải thích sự thấy.

Hình thể
của cái bình không thể tự nó hiển hiện mà phải nhờ bối
cảnh. Như thế muốn nhận ra cái bình tức hình thể của
nó, tất phải bỏ cái phần bao quanh nó ra. Vậy khi nói "Ðó
là cái bình", tiếng "bình" nghe có tính cách khẳng định,
nhưng thực ra hiện tượng tiếng ấy phát biểu là một hiện
tượng phủ định, khiển trừ mọi cái "không bình" tức bối
cảnh của cái bình.
Trên phương
diện toán học, trong một mặt phẳng chẳng hạn, nếu ta chỉ
vào một điểm nào đó để biểu hiện một sự thể, thời
ngay sự biểu hiện đó chia các điểm của mặt phẳng thành
hai loại, loại gồm độc nhất điểm chọn và loại thứ
hai nằm trong phần còn lại của mặt phẳng. Ðể xác định
vị trí điểm chọn không có cách nào khác hơn là phải bằng
vào những điểm khác nó thuộc phần còn lại của mặt phẳng.
Nói cách khác, điểm chọn là điểm nằm ngoài phần mặt
phẳng gồm những điểm 'không chọn'.
Xác định
ý nghĩa ngôn từ với phương pháp apoha.
Thí dụ
luận thức tam đoạn luận sau đây cho thấy sự ích lợi của
phương pháp apoha.
Thí dụ
2.
Ký hiệu
luận lý học
1. Nếu tôi
là Tổng thống, thì tôi có danh tiếng.
1. P > Q (Ðại tiền đề)
2. Tôi không
phải Tổng thống.
2. ~P (Tiểu tiền đề)
3. Vậy tôi
không có danh tiếng.
3. ~Q (Ðoán án)
So với luận
thức Nhân minh thời đại tiền đề của tam đoạn luận tương
ứng với lý dụ, cả hai đều là mệnh đề tổng quát. Luận
thức tam đoạn luận nói trên sai nếu áp dụng vào trường
hợp sau:
1. Nếu Rockfeller
là Tổng thống thời ông ấy có danh tiếng.
(Ðại tiền đề)
2. Rockfeller
không phải Tổng thống.
(Tiểu tiền đề)
3. Vậy Rockfeller
không có danh tiếng.
(Ðoán án)
Theo luận
lý hình thức, luận thức này sai vì đoán án sai. Sai không
phải tại đoán án không suy ra từ đại và tiểu tiền đề
hay tại ngoài đời Rockfeller có danh tiếng. Sai là vì nghĩa
của từ 'có danh tiếng' trong đại tiền đề không cùng một
nghĩa của từ 'có danh tiếng' trong đoán án. Qui ước ngôn
ngữ không nói rõ nghĩa đích thực của từ 'có danh tiếng'.
Một cá nhân có thể 'có danh tiếng' vì cá nhân đó là Tổng
thống, vì rất giàu có, vì cá nhân ấy rất có ảnh hưởng
trên mọi quyết định của Tổng thống, v...v... Muốn
sửa sai luận thức, cần phải giới hạn nghĩa của từ 'có
danh tiếng' bằng cách áp dụng thuyết apoha.
1. Nếu Rockfeller
là Tổng thống thời ông ấy có danh tiếng.
1apoha. Nếu
Rockfeller không có danh tiếng thời ông ấy không là Tổng thống.
2. Rockfeller
không phải Tổng thống.
3. Vậy Rockfeller
không có danh tiếng.
Khi cả hai
mệnh đề 1 và 1apoha được chứng nghiệm thì nghĩa của từ
'có danh tiếng' thu lại chỉ còn một nghĩa là 'có danh tiếng'
vì làm Tổng thống. Nghĩa của từ 'có danh tiếng' trở nên
chính xác. Như vậy, hai mệnh đề liên quan đến tổng tướng
và tổng quát hóa ¾ tức là đại tiền đề của một
chứng giải diễn dịch tam đoan luận và lý dụ của một
chứng giải quy nạp Nhân minh ¾ không được xác
thực nếu cả hai không đồng thời được chứng nghiệm.
Nhận xét này giải thích vì sao cần phải áp dụng phương
pháp apoha để ý nghĩa của ngôn từ trở nên cụ thể và
sát với thực tế hơn.
Quá trình
phát triển và giới hạn của biện chứng pháp apoha.
Pháp lý
luận biện chứng đã nảy sinh từ thời Phật giáo Nguyên
thủy. Phật từ chối không trả lời mười sáu câu hỏi siêu
hình được kê ra như sau trong kinh Bố Tra Bà Lâu (Potthapàda)
và kinh Thanh tịnh (Pàsàdika), Trường A Hàm [kinh Cùlamàlunkya
và kinh Aggivacchagotta, Trung Bộ kinh chỉ kê mười câu mà thôi]:
(1) bốn câu hỏi về Ngã và Thế gian là thường còn, vô thường,
là cả hai, không phải cả hai;
(2) bốn
câu hỏi về Ngã và Thế gian là hữu biên, vô biên, là cả
hai, không phải cả hai;
(3) bốn
câu hỏi về mạng sống và thân thể là một, là khác, không
phải khác không phải không khác, là không có mạng không có
thân; và
(4) bốn
câu hỏi về Như lai đoạn diệt, không đoạn diệt, là cả
hai, không phải cả hai.
Mười sáu
câu hỏi trên có thể tóm thâu lại thành hai vấn đề: vấn
đề Vô hạn (Problem of Infinity) và vấn đề Tuyệt đối (Problem
of the Absolute). Ðối với hai vấn đề này không thể trả
lời có, hay không, hay vừa có vừa không, hay chẳng phải có
chẳng phải không. Ðó là những bài toán tâm trí con người
luôn luôn vấn vương nghĩ đến mặc dầu không thể tìm ra
lời giải. Mọi luận chứng để lý giải hai vấn đề ấy
đều tự mâu thuẫn với chính nó.
Trong kinh
nanda (Tương Ưng bộ, IV.400) đức Phật đã dùng biện chứng
pháp để giải thích cho tôn giả nanda thái độ im lặng
cũa Ngài khi du sĩ Vacchagotta hỏi là có tự ngã hay không.
"Này nanda,
nếu được hỏi: 'Có tự ngã không?', và Ta trả lời là 'Có
tự ngã', như vậy, này nanda, thuộc về phái các Sa môn,
Bà la môn chấp thường kiến.
Và này nanda,
nếu được hỏi: 'Có phải không có tự ngã?', và Ta trả
lời là 'Không có tự ngã', như vậy, này nanda, thuộc về
phái các Sa môn, Bà la môn chấp đoạn kiến.
Lại nữa,
này nanda, nếu được hỏi: 'Có tự ngã không?', và Ta trả
lời là 'Có tự ngã', như vậy, câu trả lời của Ta có phù
hợp với trí khởi lên rằng: 'Tất cả các pháp là vô ngã'?
- Thưa không,
bạch Thế tôn.
Lại nữa,
này nanda, nếu được hỏi: 'Có phải không có tự ngã?',
và Ta trả lời là 'Không có tự ngã', như vậy, này nanda,
lại làm cho du sĩ Vacchagotta càng ngơ ngác bối rối hơn nữa:
'Trước đây ta có tự ngã, nay không có tự ngã nữa'".
Ðọc đoạn
câu 'chỉ như vậy là chơn, ngoài ra là hư vọng' được nhắc
đi nhắc lại mỗi lần vấn hay đáp những câu hỏi siêu hình
ta nhận thấy phương pháp apoha đã hàm ý trong đó. Chẳng
hạn trong kinh Aggivacchagotta, Trung bộ kinh, mười lần du sĩ
ngoại đạo Vacchagotta hỏi "Tôn giả Gotama, phải chăng Tôn
giả Gotama có tri kiến như sau: 'Thế giới là thường trú,
chỉ như vậy là chơn, ngoài ra là hư vọng?', 'Thế giới là
vô thường, chỉ như vậy là chơn, ngoài ra là hư vọng?',
... ... ..., 'Như lai không có tồn tại và không không tồn tại
sau khi chết, chỉ như vậy là chơn, ngoài ra là hư vọng?'",
mười lần đức Phật khẳng định "Ta không có tri kiến
như sau:... ... ..., chỉ như vậy là chơn, ngoài ra là hư vọng".
Không thừa
nhận câu nói đó là của Ngài, đức Phật từ chối không
xác quyết nhận những kinh nghiệm nhận thức - Thế
giới là thường trú, Thế giới là vô thường, ... ..., Như
lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết
-là có hay không . Ðoạn đầu câu 'Chỉ như vậy là chơn'
hàm ý một tưởng tri đơn thuần (a pure perception). Từ 'như
vậy' chỉ vào kinh nghiệm nhận thức. Từ 'chỉ' cô lập kinh
nghiệm nhận thức, nghĩa là cắt đứt hết mọi quan hệ giữa
kinh nghiệm nhận thức với mọi sự thể khác. Do đó, vấn
đề được giới hạn trong vòng những kinh nghiệm nhận thức
nêu trên mà thôi.
Ðoạn cuối
câu "ngoài ra là hư vọng" có thể xem như diễn tả một tiến
trình khiển trừ (apoha) của tư duy để đi đến sự hiểu
biết chính xác hơn về ý nghĩa của danh từ "chơn". Tiến
trình khiển trừ này làm sáng tỏ ý nghĩa phẩm tính 'chơn'.
Như vậy, 'chơn' là khiển trử mọi 'hư vọng'.
Ðến thời
kỳ Trung luận, theo nguyên lý "nhất thiết pháp không", tính
chất mâu thuẫn nội tại được nới rộng ra cho toàn phân
biệt vọng tưởng, cho mọi khái niệm, cho mọi mệnh đề
phát biểu. Tất cả sự vật trong vũ trụ do trí óc con người
nhận biết đều là tương đối. Với lối lý luận nhị biên
có/không, đúng/sai, từ chỗ tương đối phát sanh mâu thuẫn
và từ mâu thuẫn ắt phải sanh ra khổ não. Do đó nên cần
phải phủ định tương đối, khiển trừ hư vọng, tức là
phá Ngã chấp, Pháp chấp, Không chấp để chứng minh tuyệt
đối tức là phát huy Chân như.
Ðến thời
kỳ Trần Na và Thiên Chủ, các luận sư Nhân minh đồng quan
điểm với phái Trung luận chấp nhận biện chứng hay phủ
định là bản tính của mọi phân biệt vọng tưởng, nhưng
không đồng ý là mọi đối tượng nhận thức đều không
thật. Trần Na chủ trương chỉ tư duy thuần túy (Pure Reason)
là hình thái nhận thức có tính cách biện chứng nên mới
cần phủ định. Ngược lại cảm giác đơn thuần (Pure Perception)
là hình thái nhận thức trực giác nên có tính chất khẳng
định. Ðối tượng được khẳng định là vật tự thân
tức thực tại điểm sinh diệt trong một sát na.
Sự thấy
biết của chúng ta không trực diện thực tại mà qua trung
gian của khái niêm. Chẳng hạn khi ta nhận biết một vật
gì đó là cây thời chính là nhờ có khái niệm sẵn về cây.
Khái niệm cây là do phân biệt vọng tưởng thi thiết bằng
vào biểu tượng của sự vật, thế mà ta lầm tưởng đó
là một phẩm tính 'cây' có thật. Nếu tìm cách chứng nghiệm
xem câu 'cây hiện hữu' có xác thực hay không thời phương
pháp duy nhất là bằng cách khiển trừ: 'cây' là khiển trừ
'không cây'. Chất liệu của khái niệm là tổng tướng do
tâm thức liên kết với ngôn ngữ mà vọng tạo khi duyên với
tác dụng của những hiện thực đặc thù sai biệt. Do đó,
tổng tướng có thể xem như là thể chất của khái niệm
và vì thể chất ấy được phát biểu bằng ngôn từ nên
Thiên Chủ cũng xem thể chất ấy như là ý thuyết (pratibhà)
trong tư tưởng Trần Na.
Mặt khác,
tổng tướng còn được quan niệm là một phẩm tính. Cái
phẩm tính đó xuất hiện như là một hiện thực nhưng kỳ
thực nó là một vọng niệm. Phương pháp duy nhất chứng nghiệm
tính xác thực của nó là bằng cách khiển trừ. Bởi thế
cái phẩm tính đó còn được gọi là một khiển trừ (apoha;
elimination).
Cách Thiên
Chủ giải thích tổng tướng như vậy không những đúng theo
tư tưởng Trần Na, mà ngoài ra còn minh chứng được thực
tại nối kết với khái niệm và ngôn ngữ. Thực vậy, ngôn
từ dùng phát biểu khái niệm tương quan liên hệ gián tiếp
với tự thể của sự vật. Ðó là nhờ biểu tượng của
sự vật một mặt là đối tượng của nhận thức và mặt
khác là phản ảnh tự thể của sự vật. Như vậy, khi ngôn
từ phát biểu sự tướng của biểu tượng tức khái niệm
thời cũng gián tiếp phát biểu về tự thể của sự vật
tức thực tại.
Tóm lại,
những cố gắng của Thiên Chủ trong việc hoàn chỉnh luận
thức Nhân minh và biện chứng pháp apoha là để tìm cách minh
chứng vai trò cần thiết của tư duy trên bước đường tu
dưỡng thiền định. Ðến nay ở Tây Tạng có phái mũ vàng
Geluk do Tsong-ka-pa sáng lập vào thế kỷ 14 dùng khái niệm
và tranh biện làm phương pháp căn bản để thiền sinh triển
khai loại tuệ quán siêu thế là tuệ quán đặc biệt phân
tích ý nghĩa tánh Không và Vô ngã. Ðó chính là đường lối
chủ trương của Duy thức học cho rằng tuy khái niệm không
chuyên chở được thực tại, nhưng nó có khả năng giúp ta
nương vào đó để tìm tới thực tại. Ðiều kiện là cuối
cùng ta phải biết đập tan bất cứ khái niệm nào mà ta có
thể có về thực tại để cho thực tại hiển lộ chân tướng.
Ðối tượng
của tư duy là đối tượng chuyển hiện của thức nên không
thật. Mặt khác những khái niệm thi thiết không có hiện
tượng tương ứng trong thực tại bởi vì bản thân của thực
tại thời biến thiên bất tuyệt mà khái niệm và tên gọi
thời không bị sự biến thiên này chi phối. Một bên là hiện
tượng đa thù sai biệt và bên kia là hiện tượng nhất thể
không sai biệt. Cho nên phân biệt vọng tưởng luôn luôn dẫn
đến nhận thức sự vật không đúng với tính cách như thị
của chúng. Dầu sao trên phương diện thực dụng tỷ lượng
vẫn là một cách nhận thức có phần đích xác trong những
hoàn cảnh không thể thực hành thể nghiệm trực quán.
Tháng 12, 1999