6.
Nhân Minh luận
Lượng
đoán: Nhận thức thực tại.
Nhận thức
luận theo Trần Na và Thiên Chủ hoàn toàn căn cứ trên
sự phân định giữa hai thứ đối tượng là tự tướng và
tổng tướng. Mỗi đối tượng tương ứng với một hình
thái lượng biết riêng biệt, hiện lượng nhận thức tự
tướng và tỷ lượng nhận thức tổng tướng. Bên này là
vật tự thân đặc thù, là thực tại điểm có khả năng
tính tác dụng, kích thích phân biệt vọng tưởng, làm phát
khởi khái niệm mà phàm phu chấp cho là thật. Bên kia là cọng
tướng tổng quát, là ảnh tượng hay khái niệm vọng suy,
kết quả của phân biệt vọng tưởng. Tính cách của vật
thể hai bên hoàn toàn khác biệt. Trên thực tế nhận thức
thực tại tổng hợp kết nối hai vật thể nhân quả liên
hệ ấy lại với nhau, mặc dầu chúng hoàn toàn khác biệt
tính cách.
Sự tổng
hợp bắc cầu nối kết tự tướng với tổng tướng, khả
năng tính tác dụng với suy luận phán đoán gọi là lượng
đoán (Judgment). Mọi nhận thức thực tại đều có tác
dụng là thi thiết khái niệm để giải thích cảm giác đơn
thuần. Rốt cuộc, nhận thức thực tại tóm thu lại chẳng
qua chỉ là lượng đoán. Có hai cách lượng đoán. Một là
tưởng đoán (ekatva-adhyavasàya; perceptual judgment), sự quyết
định đồng nhất một khái niệm với cảm giác đơn
thuần tức thực tại điểm. Hai là tự lượng đoán
(svàrthànumàna; inferential judgment), sự kết nối quy hợp hai
khái niệm về với thực tại điểm.
Tưởng
đoán: Cái này là cái ấy.
Bắc cầu
qua khoảng giữa tự tướng và tổng tướng là một tiến
trình hoạt động tâm lý khởi đầu từ lúc cảm giác trực
nhận sự hiện hữu của vật thể (vật tự thân) trong tầm
nhận thức. Tiếp đến là sự thành lập một ảnh tượng
của vật thể, rồi ảnh tượng ấy được khái niệm hóa.
Cuối cùng là tưởng đoán, sự quyết định đồng nhất khái
niệm với vật tự thân nhằm tạo nên sự lượng biết. Tiến
trình ấy được diễn tả như sau.
Hiện lượng
có tác dụng là cảm tri sự có mặt của một vật thể trong
tầm nhận thức. Tự tướng, tức vật tự thân (Thing-in-Itself),
đối tượng của hiện lượng, chỉ có tác dụng trong sát
na hiện tại, cho nên còn gọi là thực tại điểm (point-instant
of reality), không thể hình dung và nắm bắt bằng tri thức
thường nghiệm được. Nói theo Duy thức thì thực tại điểm
có thể xem như là hữu chất tánh cảnh, hiện tướng của
các pháp căn cứ trên tinh thể của thức (vô chất tánh cảnh).
Thiên Chủ cho biết có thể dùng phương pháp nội quan (pratyaksena
= sva-samviditena; introspection) để thể nghiệm cảm giác đơn
thuần và hiện quán thực tại điểm. Tiếp ngay sau sát na
tri giác hiện tại là sát na tác ý (manasi-kàra). Trên
phương diện nhận thức, sát na tác ý vẫn còn có tính cách
bất khả tư nghì và bất khả thuyết. Nhưng sát na tác ý
là điểm khởi đầu của phân biệt. Trí giác phân biệt
sinh khởi đúng vào lúc trực giác hoàn tất nhiệm vụ cảm
nhận đối tượng. Vào thời điểm bắt đầu phân biệt này,
thực tại điểm, tức tự tướng, phân ngay làm đôi. Một
bên là chủ thể cảm thọ và bên kia là ảnh tượng
của tự tướng, đối tượng và nguyên nhân của sự cảm
thọ. Những gì cảm thọ sẽ làm duyên cho ý chí hành
động (cetanà; tư) sinh khởi và đối tượng nhận thức
trở nên có tính cách đáng ưa thích hay không đáng ưa thích.
Do tác dụng tổng hợp của tầm (vitarka; sự quan sát
thô) và tứ (vicàra; sự quan sát tế), tuệ hiện
khởi [tuệ đây là tâm sở biệt cảnh tuệ, có nghĩa sự
đoan chắc, sự cho rằng mình biết, chớ không phải là tuệ
của trí tuệ giải thoát], vọng tưởng phân biệt, tô điểm
ảnh tượng thành khái niệm, và định danh cho khái niệm
vừa được thi thiết. Ngay sau đó, tưởng đoán đồng nhất
khái niệm với thực tại điểm theo mô dạng của câu
nói: "ây là con bò". Chữ "Ðây" chỉ vào tự
tướng, thực tại điểm mà tri thức thường nghiệm không
thể hình dung và nắm bắt. Từ ngữ "con bò" chỉ vào tổng
tướng, một khái niệm có tên gọi, được tưởng đoán đồng
nhất với thực tại điểm. Tưởng đoán là một quyết định
tổng hợp thống nhất hai phần khác biệt, đưa đến dạng
thức "cái này là cái ấy" (tad eva idam; this is that). Cái
này là đơn thuần, đặc thù, không nói lên được. Cái ấy
là vọng tưởng đa thù, tổng quát, phát biểu dễ dàng.
Tưởng
đoán: Nhịp cầu nhận thức "x = a"
Dùng ký
hiệu toán học, chữ x biểu trưng thực tại điểm xem như
một ẩn số, chữ a thay thế khái niệm xây dựng bằng
vọng tưởng phân biệt dựa trên ảnh tượng của thực tại
điểm, và đồng nhất thức (identity): x = a
mô tả sự đồng nhất giữa hai sự thể hoàn toàn dị biệt
là thực tại điểm đặc thù và khái niệm tổng quát. Nếu
giải thích đồng nhất thức như là một mệnh đề (proposition),
thời vế đầu x gọi là chủ từ (the subject) biểu trưng
thực tại điểm tức vật tự thân và vế sau a gọi là thuộc
từ (the predicate) biểu trưng thuộc tính của vật
tự thân. Thông thường khi thực hiện một lượng đoán, chỉ
có thuộc tính là được đặt tên, còn vật tự thân vì không
định tính được nên khỏi cần nhắc đến trong ngôn thuyết.
Chủ từ có thể phát biểu bằng một điệu bộ hay bằng
một đại danh từ (pronoun). Cách lượng đoán như vậy có
thể đã phát sinh từ thời tư tưởng nhân loại mới bắt
đầu phát triển. Hãy nhìn một đứa bé tưởng đoán khi nhận
ra một con thú trong sách. Nó chỉ vào hình và nói tên con thú
đó. Ðiệu bộ chỉ tay vào hình chính là để phát biểu vật
tự thân của con thú. Nói tên con thú chính là mô tả khái
niệm về con thú ấy. Nói tóm lại, tất cả mọi lượng đoán
đều là sự kết nối một phần tử không thể định danh
với một khái niệm có tên đặt.
Xét riêng
từng vế, x riêng, a riêng, thời chả có vế nào đem đến
sự
hiểu biết rõ ràng về vật thể cả. Nhưng tổng hợp chúng
lại thời có sự nhận thức thực sự. Thí dụ khi nhìn một
con bò trước mắt, trước hết con bò ấy có cá thể dị
biệt so với những con bò khác. Chẳng hạn như nó đang ở
vào một vị trí đặc biệt trong thời gian và không gian với
thân tướng đặc thù khác với những con bò đã thấy trước
đây. Tuy vậy, con bò ấy cũng có cọng tướng chung cho loài
bò để cho thấy biết ngay nó là một con bò như những con
bò khác.
Phía trực
giác x cho ta nhìn thấy vật thể có khả năng tác quả (artha-kriyà-sakti),
dị biệt cá tính (asadrsa; specific, individual), không thể bày
tỏ bằng ngôn ngữ (sabdasyàvisaya), và có thể thấy biết
mà không cần đến ngôn ngữ hay khái niệm. Phía khái niệm
a cho ta thấy biết đặc tính của vật thể là cọng tướng
(sàmànya-laksana; generality) chung cho và đồng thời hiện hữu
nơi mọi cá thể đồng loại, không có vị trí nhất định
trong thời gian và không gian, cần đến tưởng tượng, ngôn
ngữ, hay luận lý để phô bày và miêu tả.
Tóm lại,
tưởng đoán có thể xem như là sự quy chiếu một khái niệm
về với vật tự thân liên hệ, đem một sự thể có thể
phát biểu thành lời qui hợp về với một sự thể không
thể bày tỏ bằng ngôn ngữ.
Tự lượng
đoán: Biết cái không thấy nhờ cái thấy.
Như trình
bày trên đây, lượng đoán là giải thích cảm giác đơn thuần
bằng thi thiết khái niệm. Tưởng đoán là tổng hợp kết
liên cảm giác với một khái niệm. Dạng thức phát biểu
tương ứng là "Cái này màu xanh" hay "Tại đây có khói".
Tự lượng
đoán là tổng hợp kết liên cảm giác với hai khái niệm,
theo dạng "đây là khói do lửa sinh ra" hay "Ở đó có lửa,
bởi vì có khói". Trong trường hợp này, "đây là khói" là
một tưởng đoán. Lửa không được nhìn thấy. Nhưng cứ
bảo rằng "Ở đó có lửa", thời chính do lượng đoán bằng
tỷ lượng. Biết được có lửa là nhờ gián tiếp nhận
thức qua trung gian 'khói', một biểu tướng của 'lửa'. Vật
tuy không thấy nhưng biểu tướng của nó thời thấy
được, và biểu tướng này ngay chính nó cũng là biểu tướng
của một thực tại điểm. 'Khói' và 'lửa' tương quan liên
hệ theo luật nhân quả (tadutpatti; Principle of Causality;
Non-identity of the underlying reality).
Một thí
dụ khác về tự lượng đoán: "Tại đây có cây, bởi vì
có nhiều simsapàs" hay "Cái này là cây, bởi vì nó là simsapà".
Hai khái niệm 'cây' và 'simsapà' chỉ khác nhau trên phương
diện luận lý. Chúng cùng quy hợp về chung một thực tại
điểm, biểu hiện qua các từ ngữ 'Tại đây', 'Cái này'.
Ðó là sự tương quan liên hệ theo luật đồng quy nhất
(tàdàtmya; Principle of Identity). Ðồng quy nhất có nghĩa
là cả hai khái niệm 'cây' và 'simsapà' đều quy hợp về cùng
chung một thực tại điểm, chung một căn bản hữu pháp
(dharmì; substratum) [Hữu pháp là chỉ vật tự thân, còn
gọi là tự tánh, tự thể của sự vật].
Ở đây mấy
chữ 'Principle of Identity' được dịch là luật đồng quy nhất
thay vì luật đồng nhất. Lý do là để tránh hiểu lầm với
luật đồng nhất áp dụng trong Tam đoạn luận, theo đó mỗi
sự vật, hiện tượng luôn luôn đồng nhất với chính nó,
A là A, B là B. Cũng nên nhắc lại rằng theo Phật giáo, cùng
một cây simsapà mà ở vào hai thời điểm khác nhau thời được
xem như là hai vật thể hoàn toàn khác biệt, tuy cả hai được
biểu tượng bằng một khái niệm chung là simsapà. Hai sát
na sinh diệt của simsapà tương quan liên hệ theo luật nhân
quả, giống như trường hợp 'khói' và 'lửa'.
Tưởng đoán
là nhận thức thực tại diểm x qua trung gian biểu tướng
của nó là khái niệm a. Tự lượng đoán là nhận thức thực
tại điểm x qua trung gian cặp biểu tướng a và b. Cặp khái
niệm a và b tương quan liên hệ hoặc như nhân với quả hoặc
do luật đồng quy nhất. Vì chủ từ x không thể định tính
được nên khi phát biểu, khỏi cần nhắc đến. Tuy vật tự
thân x không được nói đến mà người ta vẫn hiểu là nó
hiện hữu như căn bản hữu pháp (substratum) của hai
pháp a và b [pháp là chỉ thuộc tính của vật tự thân].
Do đó, mô dạng của tự lượng đoán tưởng chừng như chỉ
còn có hai khái niệm mà thôi, khái niệm này dùng làm chứng
cứ để đoán định khái niệm kia.
Tự lượng
đoán: Suy tưởng nghĩa để phát biểu thể.
Như đã
nói ở trên, theo Trần Na chỉ có hai thứ đối tượng nhận
thức. Tự tướng, thứ có tính cách đặc thù (particular) nhận
thức bằng hiện lượng tức cảm giác đơn thuần (perception).
Tổng tướng, thứ có tính chất cọng hữu (universal, general)
nhận thức bằng tỷ lượng tức suy luận (inference). Tỷ lượng
có đối tượng là một ảnh tượng vọng suy, chẳng hạn
như một ngọn lửa tưởng tượng, bởi vì tỷ lượng nhận
thức một vật thể không trực tiếp thấy, chỉ bằng vào
sự tướng bên ngoài của ẩn vật mà vọng tưởng.
Tuy nhiên
ngọn lửa mà sự hiện hữu được suy đoán vẫn có tính
dị biệt đặc thù giống như ngọn lửa nhận biết trực
tiếp bằng mắt. Ta không thể nhận ra một ngọn lửa đặc
thù nếu ta không biết đến những phẩm tính cọng hữu của
ngọn lửa đối tượng và đồng thời của tất cả các ngọn
lửa khác trên thế giới. Cũng thế, ta không thể biết được
ngọn lửa ta suy đoán là một hiện thực, nếu ta không
quy hợp ngọn lửa ấy bằng trí tưởng tượng về với một
thực tại điểm.
Như vậy,
tự lượng đoán là quy hợp ngọn lửa tưởng tượng về
với một thực tại điểm, chẳng khác nào tưởng đoán nhận
biết một thực tại điểm nhờ vào thi thiết khái niệm.
Bằng cảm giác, nhận thức nắm bắt cái đặc thù và thi
thiết khái niệm. Bằng suy luận, nhận thức nắm bắt khái
niệm và thi thiết cái đặc thù. Tưởng đoán và tự lượng
đoán chỉ khác biệt nhau chừng đó. Tựu trung hai cách lượng
đoán ấy biểu hiện sự tổng hợp cảm giác với trừ cảm
giác (sensation and non-sensation), thi thiết khái niệm với trừ
thi thiết khái niệm (conception and non-conception), vọng tưởng
với trừ vọng tưởng (imagination and non-imagination). Nói cách
khác, lượng quả nhận thức, tức sự vật bị thấy biết,
bao gồm hai mặt: mặt thể, tức là tự thể của sự
vật trực nhận bằng cảm giác và mặt nghĩa, tức là
nghĩa lý, tính cách của sự vật do suy luận vọng đoán. Thể
còn gọi là tự tánh, hữu pháp, và sở biệt (bị phân
biệt). Ðối ứng với ba tên ấy của thể, nghĩa có ba
tên khác là: sai biệt, pháp, và năng biệt (năng lực phân
biệt). Khi cả thể và nghĩa gọi chung thời lượng quả nhận
thức có tự tánh và sai biệt, hữu pháp và pháp, sở biệt
và năng biệt.
Do đó, tự
lượng đoán không phải là một phép diễn dịch mà là một
phương cách nhận thức thực tại bắt nguồn từ sự kiện
là thực tại có biểu tướng. Cái đích nhắm suy đoán là
một điểm của thực tại với biểu tướng của nó. Thí
dụ, một trái núi với ngọn lửa không thấy, mà suy đoán
lửa có ở đó. Ngọn lửa này là biểu tướng của một thực
tại điểm. Nó không phải là cái đích của sự suy đoán.
Cái đích suy đoán là thực tại điểm mà biểu tướng là
ngọn lửa không thấy. Vậy qua tác dụng nhân quả của hai
khái niệm, 'có khói thời có lửa', tự lượng đoán đem sự
thể có thể phát biểu thành lời qui hợp về với một sự
thể bất khả ngôn thuyết.
Trong trường
hợp "Tại đây có cây, bởi vì có simsapàs", cái đích suy
đoán là thực tại điểm, căn bản hữu pháp chung của hai
khái niệm 'simsapà' và 'cây'. Áp dụng luật đồng quy nhất
vào hai khái niệm ấy, tự lượng đoán tổng hợp nối kết
hai khái niệm để đi đến sự nhận thức thực tại. Trong
trường hợp này, tự lượng đoán cũng đem sự thể có thể
phát biểu thành lời qui hợp về với một sự thể bất khả
ngôn thuyết.
Nếu thu gọn
phạm vi của tư duy lại chỉ gồm toàn lượng đoán, thời
nhận thức có thể xem như có đặc tính là kết hợp phần
tử dùng lời phát biểu được với một phần tử bất khả
thuyết. Hoặc có thể xem nhận thức như là sự quy chiếu
một hay hai khái niệm về với vật tự thân liên hệ. Riêng
về tự lượng đoán, hai khái niệm liên hệ cần phải tương
quan tương liên với nhau hoặc do luật nhân quả, hoặc do luật
đồng quy nhất. Như vậy, mọi lượng đoán, hay nhận
thức, đều là vọng tưởng quy hợp về với thực tại. Thuần
vọng tưởng là hoàn toàn tưởng tượng mà không có
thực tại. Thuần thực tại là thực tại mà không có phân
biệt vọng tưởng. Nhận thức là vọng tưởng quy chiếu về
với thực tại khách quan. Như vậy, nhận thức luôn luôn đem
sự thể có thể phát biểu thành lời qui hợp về với một
sự thể bất khả ngôn thuyết.
Ba ngôn
từ lượng đoán.
Theo trên,
tự lượng đoán là nhận thức sự vật bằng phương pháp
suy luận chưa chuyển đạt thành ngôn ngữ. Tuy quy hợp
một sự thể có thể bày tỏ bằng lời về với thực tại
điểm bất khả ngôn thuyết, nhưng kỳ thật tự lượng đoán
chưa truyền đạt chia xẻ sự hiểu biết với chung quanh. Nếu
được phát biểu thời mô dạng phát biểu tự lượng đoán
gồm có ba ngôn từ: chủ từ tức vật tự thân, thuộc từ
tức thuộc tính, và nhân hay lý do, có tác dụng kết nối
nhân quả hai ngôn từ kia lại với nhau.
Thứ nhất
là chủ từ (paksa; logical Subject). Chủ từ có thể là vật
tự thân hay là một phẩm tính.
Nếu chủ
từ là vật tự thân thời chủ từ luôn luôn là một thực
tại điểm, không có tên để gọi, mà chỉ có thể dùng những
từ như "đây", "cái này", "cái ấy", thay thế để tiện
dụng khi phát biểu. Mọi thi thiết vọng tưởng phân biệt
đều thành lập trên căn bản vật tự thân.
Nếu chủ
từ là một phẩm tính, thời đó là một khái niệm suy từ
vật tự thân, dùng làm căn bản hữu pháp cho sự lượng đoán
kế tiếp. Như thế, phẩm tính chủ từ hiện thân như một
vật thể để thay thế vật tự thân. Thí dụ: Trong mệnh
đề "Ở đây có lửa, bởi vì ở đây có khói", chủ từ
"Ở đây" biểu tượng vật tự thân. Trong mệnh đề "Núi
có lửa, bởi vì núi có khói", chủ từ "Núi" là khái niệm
suy từ vật tự thân. Nó còn là căn bản hữu pháp của 'khói'
và 'lửa'. Trong trường hợp này, chủ từ là một phức thể,
bao gồm một địa điểm đặc biệt hiện thấy và một phần
không thấy phải suy đoán mới thấy. Phần phải suy đoán
này là thực tại điểm có biểu tướng là lửa.
Vật tự
thân không bao giờ giữ vai trò thuộc tính của bất cứ một
vật thể nào khác.
Thứ hai là
thuộc từ (sàdhya; logical Predicate). Nó biểu trưng phẩm
tính, thuộc tính của chủ từ nhờ suy luận mà biết. Tuy
được phát biểu bằng một danh từ như "lửa" (fire), nhưng
đó là "phẩm tính lửa" (fireness) của chủ từ "ở đây".
Chẳng hạn, mệnh đề "bất cứ chỗ nào có khói, thời chỗ
ấy có lửa" có thể phát biểu một cách chính xác hơn là
"bất cứ chỗ nào có phẩm tính khói (smokeness), thời chỗ
ấy có phẩm tính lửa (fireness)". Thường khi tổ chức luận
thức, người lập luận kết hợp chủ từ với thuộc từ
để lập tôn, nghĩa là để nêu lên tôn chỉ, mệnh đề,
hay chủ trương của mình. Mệnh đề tôn gồm có hai
phần. Phần trước chủ từ gọi là tiền trần hữu pháp,
phần sau thuộc từ gọi là hậu trần pháp. Cả tiền
trần lẫn hậu trần đều gọi là tôn y, nghĩa là tài
liệu, yếu tố để y cứ vào đó mà tổ chức mệnh đề
tôn. Khi kết hợp tiền trần với hậu trần lại với nhau
thời mệnh đề thống nhất gọi là tôn thể. Tôn thể
là mệnh đề được thành lập (tôn sở lập), là chủ trương
đưa ra để thuyết phục đối phương công nhận.
Thứ ba là
lý do hay nhân (hetu; reason) dùng chứng minh thành lập tôn
sở lập. Nhân được phát biểu trong một mệnh đề theo dạng
thức "Chủ từ = Thuộc từ, bởi vì Nhân". Thí dụ:
"Ở đây có lửa, bởi vì có khói", "Tại đây có cây, bởi
vì có simsapàs". Thông thường vì không cần phải nói đến
chủ từ cho nên trong tỷ lượng chỉ còn lại hai ngôn từ
là nhân và thuộc từ: "Simsapà là một cây", "sự có khói
có nghĩa là sự có lửa", hay "khói là do lửa sinh ra".
Ngoài ra,
sự thành lập tôn sở lập là do quy nạp từ những sự trạng
riêng nhờ kinh nghiệm bản thân thu thập. Mỗi sự trạng riêng
là một ví dụ của tôn sở lập. Bởi vậy để làm tăng
giá trị của luận chứng, nhân phải đèo theo dụ, tức những
ví dụ thích hợp. Mỗi ví dụ chẳng những là một trường
hợp riêng của tôn sở lập mà còn bao hàm trong nó tính cách
của nhân. Nhân và dụ là năng lập, nghĩa là động lực,
nguyên liệu, lý lẽ để thành lập chủ trương tôn sở lập
(bị thành lập). Thí dụ: "Ở đây có lửa, bởi vì có khói.
Ví như trong bếp", "Tại đây có cây, bởi vì có simsapàs.
Ví như bạch mã là một con ngựa".
Cả hai cách
lượng đoán, tưởng đoán và tự lượng đoán, đều quy hợp
khái niệm về với vật tự thân. Tuy vậy, tự lượng đoán
khác biệt với tưởng đoán vì tự lượng đoán có chứa
một lý do để giải thích sự quy hợp về với vật tự thân.
Thí dụ: Khi tổng hợp kết liên một thực tại điểm với
hình ảnh của một ngọn lửa không nhìn thấy, thời phải
giải thích lý do tại sao thực hiện một sự quy hợp như
vậy. Lý do là vì thấy khói. Khói là sự tướng bên ngoài
của sự có lửa, bởi vậy kết luận có lý do chánh đáng.
Ba tướng
của Nhân: điều kiện cần để chơn tỷ lượng.
Theo trên,
tự lượng đoán là cái biết bằng cách so sánh, loại suy.
Do phân biệt so sánh mà có lập luận. Muốn lập luận không
sai lầm để hiểu biết một cách đúng (chơn tỷ lượng),
thời phải biết do đâu mà xác chứng rằng nhân, tức lý
do, luận cứ dùng minh giải là đúng hay sai. Nhân đúng, không
phạm sai lầm, đủ khả năng thành lập được tôn, gọi là
nhân chơn năng lập.
Nhân chơn
năng lập phải hội đủ ba tướng (trirùpatva), tức
ba mối liên kết:
- một, nhân
phải quan hệ đầy đủ với tôn tiền trần hữu pháp, nghĩa
là nhân phải là một thuộc tính của tôn tiền trần hữu
pháp (Paksa-sattva. Biến thị tôn pháp tánh). Thí dụ:
Tôn:
Âm thanh là vô thường.
Âm thanh
có nhiều thuộc tính như vô thường, vô hình, do tạo tác
mà có, .. .. Vậy nhân phải là một thuộc tính trong đó. Chẳng
hạn,
Nhân:
Do tạo tác mà có.
- hai, nhân
phải liên hệ với một tập hợp con, nghĩa là một số chứ
không phải toàn bộ, các sự thể đồng phẩm tính với tôn
hậu trần pháp (Sapaksa-sattva. Ðồng phẩm định hữu tánh).
Trong thí dụ với tôn: Âm thanh là vô thường, vô thường
là tôn hậu trần thuộc tính. Tập hợp con các sự thể đồng
phẩm tính với tôn hậu trần bao gồm một số sự thể như
bình, bàn, .. .. Số vật thể này gọi là tôn đồng phẩm,
đều vô thường như âm thanh. Vậy "Nhân: Do tạo tác mà có"
liên hệ với tập hợp con các tôn đồng phẩm vì các sự
thể của tập hợp con này đều do tạo tác mà có.
Cần lưu
ý rằng ở đây điều kiện là chỉ cần liên hệ với một
tập hợp con các tôn đồng phẩm mà thôi. Chẳng hạn,
"Nhân: Do tạo tác mà có" không liên hệ gì với những hiện
tượng tôn đồng phẩm như sấm sét, gió, mưa, mặc dầu
chúng đều vô thường như âm thanh nhưng không do tạo tác
mà có. Lấy một tôn đồng phẩm đem ra làm ví dụ thời vật
thể ấy gọi là đồng dụ.
- ba, nhân
phải hoàn toàn không liên hệ gì với toàn bộ những sự
thể khác phẩm tính với tôn hậu trần pháp (Asapaksa-asattva.
Dị phẩm biến vô tánh). Trở lại với thí dụ trên:
Tôn:
Âm thanh là vô thường.
Nhân:
Do tạo tác mà có.
Tôn hậu
trần pháp là vô thường. Vậy toàn bộ những sự thể khác
phẩm tính với tôn hậu trần pháp gồm tất cả những sự
thể thường còn. Ðó gọi là tôn dị phẩm. Tất cả
những gì thường còn thời không do tạo tác mà có. Do đó
nhân không liên hệ với toàn bộ tôn dị phẩm. Lấy một
tôn dị phẩm đem ra làm ví dụ thời vật thể ấy gọi là
dị dụ. Nhìn qua sự quan hệ giữa Nhân với hai ngôn
từ kia, Chủ từ và Thuộc từ, rõ ràng là Nhân đóng vai trò
chủ yếu trong mọi tự lượng đoán.
Tha lượng
đoán (Paràrthànumàna; syllogism).
Trần Na
phân biệt tự lượng đoán với tha lượng đoán. Tự lượng
đoán là nhận thức hiểu biết về một sự vật có thể
truyền đạt bằng ngôn ngữ nhưng chưa truyền đạt. Tha lượng
đoán không phải là một hình thái nhận thức, mà là ngôn
luận tức một số mệnh đề của người lập luận sắp
đặt để truyền đạt sự hiểu biết về sự vật đã được
nhận thức. Như vậy tha lượng đoán là nguyên nhân trực
tiếp phát sinh trí hiểu biết của người nghe. Bởi thế tha
lượng đoán được định nghĩa là "ngôn luận dùng để truyền
đạt ba ngôn từ tự lượng đoán cho người khác".
Ba ngôn từ
tự lượng đoán, Chủ từ, Thuộc từ, và Nhân hay Lý do, được
sắp thành ba chi, tôn (pratijnà), nhân (hetu), dụ
(drstànta) và phải nghiệm đủ hai điều kiện liên kết,
một là giữa Nhân với Thuộc từ (vyàpti), và hai là giữa
Chủ từ với Nhân (paksadharmatà). Hai điều kiện quan hệ này
đã được nêu ra trong ba tướng của Nhân. Cách tổ chức
luận pháp và các lỗi lầm lập luận liên hệ đến tự lượng
đoán và tha lượng đoán được Nhân Minh luận của Trần
Na và Thiên chủ thu tóm trong tám môn cốt yếu. Bốn môn nhằm
mục đích ngộ tha: chơn năng lập, tức lập tôn đúng,
nhân đúng, và dụ đúng; tợ năng lập, tức lỗi lầm
lập tôn sai, nhân sai, và dụ sai; chơn năng phá, tức
lập một luận thức đúng đủ cả ba phần tôn, nhân, và
dụ để phá bỏ chủ trương của đối phương; và tợ năng
phá, tức lỗi lầm lập luận để đả phá hay chỉ trích
không đúng cách luận thức của đối phương. Bốn môn nhằm
mục đích tự ngộ: chơn hiện lượng, tợ hiện lượng,
chơn tỷ lượng, và tợ tỷ lượng, đề cập đến những
tiêu chuẩn nhằm xét biết khi nào hiện lượng và tỷ lượng
là sai hay đúng.
Nhân Minh
luận.
Theo Thiên
Chủ, hiện lượng trí, tức kết quả của sự lượng biết
bằng hiện lượng, tuy rất cần cho sự hiểu biết, nhưng
không phải là điều kiện tiên quyết của tỷ lượng trí,
tức kết quả lượng biết bằng tỷ lượng. Luận chứng
để minh định tính xác thực của tỷ lượng trí cũng không
cần phải căn cứ trên hiện lượng trí. Sự khác biệt quan
trọng giữa hai trí là ở chỗ hiện lượng trí vì liên kết
với tự tướng nên không phát biểu được, trái lại, tỷ
lượng trí vì kết liên với tổng tướng cho nên có thể
truyền thông với kẻ khác. Tuy nhiên, sự có mặt của kẻ
khác không phải là một điều kiện cần để lượng biết
bằng tỷ lượng. Ðó là những điểm tiêu biểu của tỷ
lượng mà mọi hành giả với mục tiêu tự lợi, lợi tha
cần phải đặc biệt lưu tâm. Thật vậy, hành giả rất cần
hiểu biết rõ những vấn đề tương quan tương liên với
tỷ lượng, nhất là vấn đề sử dụng ngôn ngữ và luận
lý. Chẳng những biết rõ các pháp thức suy tư và biết rõ
chỗ đúng sai của tư duy suy lý là cần thiết cho mục đích
tự ngộ, mà hiểu rõ các phép tắc biện luận và cách thức
trình bày qua ngôn ngữ để giúp kẻ khác thông hiểu chủ
trương của mình cũng là cần thiết cho mục đích ngộ
tha.
Khế kinh
tuy thường ghi lại những cách thức lập luận của đức
Phật [chẳng hạn trong kinh Sáu sáu, kinh số 148, Trung Bộ kinh,
đức Phật áp dụng phép phản chứng (reductio ad absurdum) để
chứng minh rằng khi quan niệm ngã là một bản thể thường
hằng bất biến và khi hết thảy năm uẩn tạo nên hữu tình
đều sinh diệt, thời đồng nhất hóa bất cứ uẩn nào với
ngã tất nhiên dẫn đến kết luận phi lý là ngã cũng sinh
diệt] nhưng tuyệt nhiên trong Tam tạng Kinh điển không thấy
trình bày nhận thức và luận lý theo một hệ thống nào rõ
rệt. Phải đợi đến thời kỳ chuyển xe pháp lần thứ hai
và lần thứ ba mới xuất hiện nhiều tác phẩm về luận
lý học. Các phương thức lý luận do Túc Mục [Aksapàda, còn
có tên là Gotama, Cồ Ðàm; được xem như là vị tị tổ của
Chánh lý phái (Nyàya), một trong Lục Phái chính thống của
Bà la môn giáo nổi tiếng về luận lý học] trình bày trong
kinh Chánh Lý (Nyàya Sutra) đã được Long Thọ và Ðề Bà của
Tam luận tông cùng với Vô Trước và Thế Thân của Pháp tướng
tông phỏng theo và chỉnh lý để dùng trong các cuộc tranh
luận với các giáo phái khác.
Nhân Minh
luận, một tên gọi khác của luận lý trở thành một môn
học chính thức của Tăng Ni kể từ thời Trần Na (Dignàga,
Ðại Vức Long), một môn đệ của Thế Thân (Vasubandhu), vào
giữa thế kỷ thứ năm. Trong số các luận thức Nhân Minh
do Ngài viết, có cuốn Chánh Lý Môn Luận là quan trọng nhất,
trong đó Ngài tóm tắt và cải tạo lại hết thảy phương
pháp Nhân Minh của đời trước. Sau đó, học trò của Ngài
là Thiên Chủ (Dharmakìrti, Thương Kiết La Chủ) tiếp tục
hoàn chỉnh công trình của thầy lập thành môn Nhân Minh học
có hệ thống chặt chẽ. Cuốn Nhân Minh nhập Chánh Lý luận
(Nyàya-bindu) của Thiên Chủ do Tam tạng Pháp sư Huyền Trang
dịch ra Hán văn tuy tóm tắt nhưng đầy đủ yếu nghĩa Nhân
Minh đã được lưu truyền đến bây giờ. Hiện nay, sách tiếng
Việt về Nhân Minh học có quyển Giới thiệu Nhân Minh học
của Pháp sư Thích Trí Ðộ, và quyển Lối vào Nhân Minh học
do HT Thích Thiện Siêu soạn. Sách của Thầy Thiện Siêu giảng
giải rõ ràng rốt ráo luận thức Nhân Minh với rất nhiều
thí dụ cụ thể sáng tỏ. Ðể có một ý niệm khái quát
về quy tắc luận lý của Nhân minh, xin trích ra đây một vài
đoạn của sách ấy.
Danh nghĩa
và chủ đích của Nhân Minh.
Môn học
về phương thức lý luận được gọi tên là nhân minh học
là vì những lý do như sau.
(1) Nhân
minh là một trong ngũ minh học, năm môn học bao gồm hết thảy
mọi vấn đề mà Phật giáo và các tôn giáo khác ở Ấn dộ
rất chú trọng vào thời bấy giờ: Nội minh, nghiên cứu giáo
nghĩa của tôn giáo mình; Nhân minh, nghiên cứu phương thức
lý luận, tức luận lý học; Thanh minh, nghiên cứu ngôn ngữ,
văn tự, cú pháp, tức ngữ học; Y phương minh, tức y học;
và Công xảo minh, nghiên cứu công nghệ, kỹ thuật, khoa học.
(2) Nhân,
là nguyên nhân, là điều chính yếu được môn học này chú
trọng nghiên cứu phát minh. Nhân minh là thông hiểu minh bạch
về nguyên nhân ấy. Nhân có hai thứ.
(a) Sanh nhân
là nhân trực tiếp. Người lập luận dùng sanh nhân là ngôn
ngữ chặt chẽ, xác đáng để làm phát sinh trí hiểu biết
của người nghe.
(b) Liễu
nhân là nhân gián tiếp. Trí của người nghe là liễu nhân
làm cho ngôn luận của người lập luận được sáng tỏ.
Cả hai, sanh
và liễu nhân, đều cần thiết cho việc lý luận được thành.
Sanh nhân thuộc của người lập luận, còn liễu nhân thì
thuộc của người nghe.
"Tất cả
luận lý đều nhằm mục đích tự ngộ và ngộ tha. Tam đoạn
luận của Aristotle là pháp thức suy tư, chú trọng ở chỗ
đúng sai của tư duy suy lý, lấy nguyên lý chung đã được
hiểu rõ diễn dịch suy định để hiểu đến bộ phận riêng,
mục đích là tự ngộ. Còn Nhân minh là luận thức biện luận,
chú ý ở chỗ đúng sai của biện luận nhằm mục đích ngộ
tha. Muốn ngộ tha phải nhờ đến biện luận, nhưng nếu biện
luận không có phép tắc thì chỉ tạo ra sự hiểu biết sai
lầm cho người nghe, chứ không thể ngộ tha được. Do mục
đích ngộ tha đó, Nhân minh rất chú trọng chỗ đúng sai trong
pháp biện luận Lập và Phá.
Theo Nhân
minh, người lập luận nêu ra chủ trương để tranh luận với
người khác, nên sự đúng sai không phải chỉ do mình quyết
định mà còn do người đối luận và người làm chứng quyết
định. Thế nên, muốn lập luận trước phải dùng hiện lượng
trí và tỷ lượng trí để hiểu rõ sự lý, hiểu rõ nguyên
nhân kết quả và hiểu rõ cách dùng từ, phép lập luận,
nghĩa là trước phải có trí tự ngộ rồi sau mới lập luận
để ngộ tha. Nếu trước không tự ngộ thì khó có thể đạt
được mục đích ngộ tha. Trí hiện lượng và trí tỷ lượng
là hai khả năng hiểu biết vừa trực tiếp vừa kinh nghiệm
suy lý, vừa cảm tính vừa lý tính. Luận lý Nhân minh được
xây dựng trên trí hiện lượng và trí tỳ lượng nên có
thể đưa người nghe đi xa, hiểu thấu chỗ đích thực của
sự vật, chứ không bị cục hạn trong suy lý trừu tượng
như Tam đoạn luận hay Biện chứng pháp Tây phương. Triết
gia Ðức hiện đại Karl Jaspers đã nhận định rằng biện
chứng pháp của Hegel là một thứ biện chứng pháp của tư
duy, còn biện chứng pháp của Ðông phương là biện chứng
pháp của kinh nghiệm thực hiện."
Vì Nhân minh
học được Trần Na và Thiên Chủ cải cách đổi mới rất
hoàn chỉnh nên Nhân minh học từ đời Trần Na trở đi được
gọi là Tân Nhân minh. Còn Nhân minh trước kia thì gọi là
Cổ Nhân minh. Các bộ luận Phật giáo ra đời sau này chịu
ảnh hưởng rất lớn của Tân Nhân minh và được viết trên
thể thức luận lý của Nhân minh, chẳng hạn như Thành Duy
Thức luận của Hộ Pháp (Dharmapàla), Chưởng Trân luận của
Thanh Biện (Bhàvaviveka), hay Chánh Lý Nhất Trích luận của
Pháp Xứng (Dharmakìrtisrì). Nếu không hiểu Nhân minh thì khó
mà hiểu thấu lý nghĩa của những bộ luận này.
Thí dụ
về luận thức Nhân Minh.
Trong bài
Nhân minh Tổng luận (Tạp chí Viên Âm, 1939) đăng lại trong
phần phụ lục của sách Lối vào Nhân Minh học, cư sĩ Tâm
Minh Lê đình Thám viết:
"Ðại phàm
muốn lập một lý luận thì cần phải đủ ba điều kiện.
A. Nói điều
mình đã nhận biết để cho người khác cũng nhận biết.
Như mình nhận biết cái chớp do điển lực tạo thành và
nói ra cho ai ai cũng nhận biết như vậy. Ðiều ấy gọi là
tôn.
B. Song nếu
chỉ nói suông cái tôn của mình, thì chắc người khác không
chịu công nhận, nên cần phải nói rõ nguyên nhân vì sao mà
lập ra cái tôn ấy. Ðó gọi là nhân.
C. Ðã chỉ
rõ cái tôn và nhân rồi, thì cần phải lấy những sự hiện
thiệt mà ai ai cũng đều công nhận làm chứng cứ cho cái
tôn và nhân của mình, có cả chứng cứ về mặt phải và
chứng cứ về mặt trái nữa thì càng tốt. Ðó gọi là dụ."
"Nói tóm
lại, phàm lập một thuyết gì cần phải đủ ba phần là
tôn, nhân, và dụ. Thiếu tôn thì không có tôn chỉ, thiếu
nhân thì không có nguyên do, thiếu dụ thì không có bằng cứ.
Ba phần thiếu một thì không thể thành lý luận đúng đắn.
Song về cái dụ thì cốt nhất cần phải có đồng dụ, còn
không lập dị dụ cũng không có lỗi."
Sau đây là
một số thí dụ về lập luận theo quy tắc Nhân Minh.
Thí dụ
1:
Tôn:
Tiếng là vô thường.
Nhân:
Vì bị làm ra.
Ðồng dụ:
Lý dụ hay dụ thể: Nếu cái được làm ra, (phối hợp với
nhân) thì thấy nó vô thường (phối hợp với tôn).
Sự dụ hay dụ y: Ðồng dụ như cái bình.
Dị dụ:
Lý dụ hay dụ thể: Những cái thường đều không bị làm
ra.
Sự dụ hay dụ y: Dị dụ như hư không.
Thí dụ
2:
Bài kệ
trong kinh Lăng Nghiêm dưới đây cho thấy rõ tính cách Nhân
minh trong kinh Phật.
Chơn tánh hữu vi không,
Duyên sanh cố như huyễn.
Vô vi vô khởi diệt,
Bất thật như không hoa.
Phần một:
Tôn:
Chơn tánh hữu vi không
(Ðúng
theo thật tánh, các pháp hữu vi là không thật có)
Nhân:
Duyên sanh cố (Vì do duyên sanh).
Ðồng dụ:
Sự dụ hay dụ y: Như huyễn (Ví như trò ảo thuật).
Phần hai:
Tôn:
Chơn tánh, vô vi bất thật
(Ðúng
theo thật tánh, các pháp vô vi là không thật)
Nhân:
Vô khởi diệt cố (Vì không có tướng sanh và diệt).
Ðồng dụ:
Sự dụ hay dụ y: Như không hoa (Ví như hoa đốm giữa không).
"Phép lý
luận Nhân minh rất công bằng xác thực. Nhờ đồng những
pháp lý luận công bằng như trên, nên ngày xưa ở Ấn độ
đã có thể khai những Vô Giá đại hội để cho các nhà tôn
giáo, các nhà triết học cùng nhau biện luận công khai; bên
nào thua, bên nào được, đều nương theo luận Nhân minh mà
xét đoán. Lại trong các Vô Giá đại hội kia, bên nào lập
một cái lượng có lỗi, hoặc không thể bác những cái lượng
trái với tôn chỉ của mình thì phải chịu thua ngay, không
được nói qua việc khác để tránh né, nên không có những
sự cãi cọ dây dưa như các xứ khác.
Có người
nói: "Lý luận chỉ là những tư tưởng thế gian, không thể
nương theo đó mà bình phẩm các sự huyền bí"; song họ nói
như vậy thì họ đã tự nhận các cái huyền bí ấy là vô
lý rồi; lại họ tự đặt ra ngoài vòng lý luận thì chính
cái thuyết đó của họ cũng không còn giá trị gì; mà đã
không còn giá trị thì phép lý luận theo Nhân minh vẫn đủ
giá trị để bắt bẻ những thuyết sai lầm của họ.
Phép Nhân
minh còn có những cách hỏi lại bên địch, hoặc phân tích
từng bộ phận cho rõ ràng để tránh các sự hiểu lầm."
Tổng kết.
Ðứng về
mặt luận lý mà nói, trong khoảng hai trăm năm sau Vô Trước
và Thế Thân, nền triết học siêu hình của Phật giáo có
thể xem như phát triển đến gần như hoàn bị. Những luận
thức Nhân minh là phương tiện tuyệt xảo rất cần thiết
để chống đỡ với sự phát triển lấn áp của truyền thống
Bà La Môn. Tuy nhiên, vì sự nghiên cứu phương thức lý
luận quá tinh vi và sự phát triển triết học siêu hình quá
coi trọng, cho nên các vị bồ tát đã rời bỏ một phần
khuynh hướng bất khả tri của Phật giáo Nguyên thủy. Mặt
khác, Ðại thừa mất đi một phần nào tính cách thông tục
và giá trị tôn giáo thực tiễn giảm thiểu rất nhiều. Ðó
là một bài học quý báu để nhận thức được rằng tinh
thần Trung đạo của Phật giáo sẽ bị đánh mất một khi
lý luận và thực tiễn không được nhất trí, tình ý và
trí tính không được điều hòa và thăng bằng.
Tháng
mười, 1999