5.
Nhận thức luận Phật giáo
Nhận
thức và hành động.
Nói đến
nhận thức thời phải nói đến hành động, ngôn ngữ, và
lý luận. Ðiều này được thấy rõ trong Tứ Diệu đế,
một mô thức biện chứng trình bày quan hệ giữa tri nhận
và mô tả, nhận thức và hành động, luận lý và thực tiễn.
Tứ Diệu đế là khuôn mẫu ngôn ngữ và luận lý của những
ai muốn thuyết trình về một vấn đề khoa học:
(1) Ðây
là những kinh nghiệm nhận thức của tôi về những
sự kiện tôi đang tìm hiểu và xin mô tả như thế này;
(2) Theo tôi,
đây là những nguyên nhân liên hệ đến những sự kiện
ấy mà tôi đã dùng kinh nghiệm và suy luận để tìm thấy;
(3) Do những
sự thấy biết như thế nên tôi nghĩ rằng mục tiêu
cần phải thực hiện và thấu đạt phải như thế này; và
(4) cuối
cùng, đây là những phương pháp tôi đã áp dụng,
nhờ đó mà tôi đã thành tựu và chứng nghiệm được
mục tiêu.
Khởi đầu
thuyết trình về Nhân Minh học, để minh định mục đích
và phạm vi của khoa nhận thức và luận lý do Ngài chủ trương,
Thiên Chủ (Dharmakìrti) nói: "Mọi hành động thành công là
nhờ trước đó nhận thức đúng, vì vậy chúng ta bắt đầu
khảo sát điều đó". Như vậy, nhận thức luận Phật giáo
chú trọng khảo sát những tác dụng và hành động phát hiện
trong mối quan hệ giữa nhận thức và đối tượng nhận thức.
Về vấn
đề nhận thức, các câu hỏi sau đây thường được đặt
ra. Làm sao biết rõ tiến trình nhận thức? Nếu phân loại
những gì mình nhận thức được thời có bao nhiêu thứ đối
tượng được lượng biết (prameya) tất cả? Bằng cách nào
mình lượng biết được những thứ đối tượng ấy (pramàna,
hình thái nhận thức)? Kết quả của sự lượng biết tức
lượng quả còn gọi là trí. Làm thế nào để
biết rõ lượng quả là đúng? Nếu cần phải luận chứng
để xác nhận lượng quả là đúng, thời luận chứng như
thế nào và căn cứ vào đâu?
Ðịnh
nghĩa thực tại (reality).
Hằng ngày
phải tiếp xúc và phản ứng với nhiều sự kiện và biến
cố, hầu hết chúng ta đều tin tưởng có một thế giới
khách quan hiện hữu ở ngoài ta dẫu ta có nhìn vào nó hay
không. Rồi cái cảm giác về sự hiện hữu khách quan đó
được nới rộng ra cho phẩm tính của sự vật. Ta cho rằng
sự vật có kích thước, có khối lượng là điều hiển nhiên
mặc dầu ta không hề có ý nghĩ đem những phẩm tính ấy
ra đo lường. Tiến thêm một bước trừu tượng nữa, ta gán
cho sự vật một thể tính khách quan, một bản chất tự nhiên.
Ðã từ lâu với tập quán tin tưởng như vậy, ta luôn luôn
cho rằng cái gì ta kinh nghiệm qua giác quan hay tưởng đã kinh
nghiệm trong quá khứ đều thật (real). Bởi vậy, khi muốn
biết rõ sự vật thời ta thường đi tìm hiểu phẩm tính
hay thể tính của sự vật mà ta nghĩ là thật "ở ngoài đó".
Lối quan
niệm thực tại là bản chất của sự vật như vậy được
nhiều thế hệ triết gia từ xưa đến nay, từ Ðông qua Tây,
đem ra bàn cãi với nhiều kiến giải khác nhau. Vấn đề có
hay không có thực tại khách quan không bao giờ có thể giải
quyết được bởi vì những người tranh cãi không chịu đồng
ý chọn một số tiêu chuẩn giống nhau để đem áp dụng.
Thêm vào đó, có cả một chuỗi dài quanh co lý luận, suy tưởng,
và thẩm định giữa những gì quan sát thấy được và những
gì là thành quả kết thúc. Từ xưa đến nay chưa có một
nỗ lực nào như bên phía Phật giáo tìm cách định nghĩa
rõ ràng những tiêu chuẩn khảo sát và phê bình tính xác đáng
và quan trọng của từng hiện tượng tâm vật lý nối tiếp
sinh khởi, bắt đầu từ tác ý, đến xúc, thọ, tưởng, tư,
đến cuối cùng, kết luận về hiện hữu là gì.
Thay vì hỏi
"Thật là gì?" ta cần tìm kiếm những tiêu chuẩn khả dĩ
áp dụng để minh xác sự thật của thực tại khách quan.
Chẳng hạn như "Căn cứ trên thứ kinh nghiệm nào để nói
là một sự vật nào đó thật?" Theo Thiên Chủ, sự vật
thật là sự vật có khả năng tính tác dụng nơi ta để trở
thành đối tượng của một chuyển thức (pravrtti). Chuyển
thức là từ bản thể liễu biệt của thức "khi chuyển biến
thì hiện ra hai phần, một phần có khả năng phân biệt nhận
biết, gọi là kiến phần, phần kia không có khả năng phân
biệt, chỉ làm đối tượng cho kiến phần gọi là tướng
phần." (Luận Thành Duy thức, Thích Thiện Siêu dịch và chú).
Nói cách khác, sự vật thật phải có khả năng tính phát
động tri giác cho đến khi nhận biết rõ nó. Cái thật
phải có khả năng tính tác dụng theo luật nhân duyên.
Cái biết:
có nhận thức có đối tượng.
Giả dụ
ta ngắm nhìn một đóa hoa trong một thời gian. Ta có cảm tưởng
là cảm giác, tri giác, và ý thức ta về sự có mặt của
đóa hoa cũng tồn tại lâu bằng thời gian ta đứng ngắm.
Thực ra, không phải chỉ có một cảm giác, một tri giác,
và một ý thức mà cả một loạt những cảm giác, tri
giác, và ý thức nối tiếp nhau. Với mỗi cảm giác chẳng
hạn, trong thời gian sát na của nó, vừa lúc đóa hoa phát
động tác dụng và trở nên đối tượng của nó, đối tượng
này là ảnh tượng của đóa hoa truyền đạt qua con mắt.
Ðúng vào lúc này, ảnh tượng của đóa hoa liền được huân
tập trở thành một tân huân chủng tử và được hiện hành
trở lại ngay sau đó để làm bối cảnh hồi tưởng cho sự
hiểu biết, tức tuệ phát sinh do sự tác động tư duy của
tâm sở cuối (tư, cetàna) của năm tâm sở biến hành (tác
ý, xúc, thọ, tưởng, và tư). Tri giác này được tạo ra do
một ảnh tượng mới của đóa hoa mà con mắt mới chuyển
đạt vào. Vô số ảnh tượng như thế được tiếp nối truyền
đạt vào trung khu cảm giác, vô số đối tượng tiếp nối
nhau, và vô số hiện tượng cảm giác và tri giác xuất hiện
nối tiếp nhau. Như thế thức là một dòng tâm sở liên
tục, lưu chuyển biến đổi từng sát na, chứ không phải
là một thực thể tâm lý bất biến.
Nhận thức:
dòng tiếp nối cảm giác và phân biệt.
Quả vậy,
nhận thức là tác dụng tâm lý lấy năm căn (mắt, tai, mũi,
lưỡi, và thân) làm điểm tựa để phân tích và quan sát
sự thật. Ðoạn kinh sau đây ghi lời đức Phật giải thích
nhận thức và những gì có thể làm cho nhận thức sai lầm.
"Chư Hiền,
do nhơn con mắt và các sắc pháp, nhãn thức khởi lên. Sự
gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có cảm
thọ. Những gì người ta cảm thọ thời người ta tưởng
tri. Những gì người ta tưởng tri thời người ta suy
tầm. Những gì người ta suy tầm thời người ta hý luận.
Với những gì người ta hý luận làm nhơn, tưởng tri và vọng
tưởng đượm màu hý luận quấy nhiễu một người với các
sắc pháp quá khứ, tương lai và hiện tại do con mắt nhận
thức [With what one has mentally proliferated as the source, perceptions
and notions tinged by mental proliferation beset a man with respect to
past, future, and present forms cognizable through the eye].
Do nhơn lỗ
tai và các tiếng, nhĩ thức khởi lên. Do nhơn lỗ mũi và các
hương, tỷ thức khởi lên. Do nhơn lưỡi và các vị, thiệt
thức khởi lên. Do nhơn thân và xúc, thân thức khởi lên.
Do nhơn ý và các pháp, ý thức khởi lên. Sự gặp gỡ của
ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên ... (như trên) " (Majjhima
Nikaya; Madhupindika Sutta: Sutta 18 -Kinh Mật hoàn)
Ðiều đáng
chú ý là thay vì dùng ngôn ngữ nhân duyên để mà nói
"Do duyên thọ, tưởng sanh khởi" (Dependent upon feeling arises
perception), trong phần kinh này có chỗ đức Phật dùng ngôn
ngữ chủ động: "Những gì người ta cảm thọ thời người
ta tưởng tri" (What one feels, that one perceives). Với lối ngôn
thuyết như vậy, Ngài muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng
của ảnh hưởng tai hại do cảm thọ tác dụng trên hình thái
tưởng tri làm sinh vọng tưởng về ngã. Cái mà ta tưởng
tri như thế này đã bị những gì ta cảm thọ như ưu, hỷ,
khổ, lạc, xả đánh lạc hướng qua phía khác và đồng thời
làm sinh vọng niệm 'Ta'. Suy tầm tiếp theo tưởng tri là cơ
hội để xét xem tưởng tri dẫn đến phiền não khổ lụy
hay dẫn đến tự do giải thoát. Phải nhận định ngay ở
đây rằng tưởng tri và suy tầm là những tác dụng tâm lý
phát hiện theo luật nhân duyên chứ không do một chủ thể
nào cả. Trái lại, nếu tin vào một tự ngã thường hằng
bất biến rồi căn cứ trên vọng niệm tự ngã ấy mà tưởng
tri và suy tầm thời tất nhiên khởi sinh hý luận, tức là
bàn luận sai lầm do ba phiền não mê hoặc là tham (tham dục
cho mình), mạn (tự cao), và tà kiến (ý kiến sai lầm).
Ngoài ra,
hý luận làm sinh vọng tưởng về đối tượng tưởng tri.
Vì vọng tưởng cho nên tưởng rằng đối tượng thường
tại không biến chuyển hư hoại qua ba thời quá khứ, tương
lai, và hiện tại. Kết hợp với vọng tưởng về đối tượng
tưởng tri, hý luận quấy nhiễu thân tâm làm mờ ám sự nhận
thức.
Mặt khác,
đoạn kinh trên đây cho thấy những tâm sở biến hành (tác
ý, xúc, thọ, tưởng, và tư) tiếp nối nhau theo luật
nhân duyên, tạo thành cảm giác tri thức, không một ngã nào
hiện hữu trong dòng hiện tượng tâm lý liên tục chuyển
biến. Chính tác dụng của thức tri nhận sự vận chuyển
tiếp nối sinh diệt của những ấn tượng tri giác như
một dòng sông chảy xiết. Giống như một phim hát bóng đang
chiếu trên màn ảnh, các ấn tượng tri giác liên miên xuất
hiện, luôn luôn sai biệt, không bao giờ có hai ấn tượng
đồng nhất trong hai sát na tiếp nối nhau. Nhưng do tác dụng
của thức chúng xuất hiện tiếp nối với tính cách tương
tợ, có vẻ như được lặp lại. Thức chuyển biến, hiện
ra hai phần đối nhau. Một chủ thể hiện hữu tương quan
với đối tượng tri nhận, tức các ấn tượng. Trong giao
thế tác dụng như vậy, chủ thể và đối tượng đồng
thời hiện hữu trong hiện tại. Khi một ấn tượng được
nhớ lại, dù thuộc quá khứ, ấn tượng ấy cũng hiện hữu
trong hiện tại. Sự vận chuyển tương tục và tương tợ
của ấn tượng tri giác là hình thức tồn tại của nó. Cách
thế tồn tại đó gợi lên mối tương quan nhân quả của
các ấn tượng. Quả vậy, ấn tượng này đi qua là điều
kiện để cho ấn tượng khác xuất hiện. Hình ảnh của ấn
tượng quá khứ đã duyên cho một ấn tượng tri giác hiện
tại xuất hiện. Như vậy kinh nghiệm quá khứ chồng chất
lên hiện tại và ấn tượng tri giác hiện tại thực sự
chỉ hiện hữu bây giờ và ở đây.
Thực tập
tỉnh thức: phương pháp theo dõi tiến trình nhận thức.
Mục đích
của thực tập tỉnh thức (mindfulness/awareness practice) là giúp
đạt được một sự hay biết rõ ràng, trong sáng, chính xác,
và thâm sâu về những gì đang xảy ra trong thân tâm. Muốn
kinh nghiệm một cách gián tiếp thế nào là tỉnh thức, hãy
để ý những lúc đang thực tâm làm một việc gì đó mà
trí óc bận rộn về nhiều chuyện khác. Những khi như vậy,
thân và tâm thật sự không được hòa hợp, và ta không có
mặt trong hiện tại, bây giờ và ở đây.
Có nhiều
trường phái thiền và phương pháp thiền khác nhau, nhưng tựu
trung hành thiền là lấy tâm để quán sát chính nó. Thiết
yếu có hai hình thức thiền: Thiền Chỉ hay Thiền Ðịnh dẫn
đến sự an tĩnh vắng lặng và Thiền Quán hay Thiền Tuệ
tiến tới sự trực nghiệm bản chất của sự vật và trí
tuệ giải thoát. Một mặt, định tâm để đạt được sự
an tĩnh. Mặt khác, hướng tâm an tĩnh vào một đối tượng
của thân (sắc) và tâm (danh) như hình sắc, âm thanh, mùi vị,
sự đụng chạm, và suy nghĩ. Tiến bộ đầu tiên là ngạc
nhiên thấy rõ sự phân lập con người với kinh nghiệm đang
tự thân tỉnh giác, thấy tri giác đối lập với kinh nghiệm,
tâm riêng biệt với thân. Thoạt đầu thấy rõ đặc tính
riêng của tâm, tức là sự nhận biết đối tượng bao
gồm cả xúc, thọ, cùng các trạng thái và phản ứng của
tâm như yêu, ghét, buồn, vui, an tịnh, chánh niệm, ..., và
đặc tính riêng của thân, tức là tứ đại: sự cứng
mềm (đất), sự nóng lạnh (lửa), sự chuyển động (gió),
và sự kết hợp và tính chất lỏng (nước). Sau đó là thấy
rõ đặc tính nhân duyên, tức là thấy thân và tâm đều
có giai đoạn khởi lên, kéo dài, và chấm dứt. Cuối cùng
mới nhận thấy rõ đặc tính chung của thân và tâm
là vô thường, khổ não, và vô ngã. Như vậy, bản chất thực
sự của các hiện tượng tâm vật lý, ý nghĩa thực sự của
cuộc đời sẽ hiển lộ nhờ vào những kinh nghiệm trực
tiếp này.
Thường nói
đến hành thiền là nói đến ngồi kiết già một cách an
tĩnh ở một nơi vắng vẻ yên tịnh. Nhưng theo kinh nghiệm
của nhiều thiền sư, hành thiền theo Bát Chánh đạo không
bắt buộc phải sống rời xa cuộc sống hằng ngày. Hằng
ngày nếu thực tập tỉnh thức, nghĩa là biết liên tục nỗ
lực ý thức và tỉnh giác trong mọi lúc và thực hiện mọi
tác động luôn luôn trong tỉnh giác thời chánh kiến và chánh
niệm sẽ được phát triển. Ðức Phật dạy rằng vạn hữu
vận hành theo đường lối riêng của chúng và khuyên đừng
bao giờ tìm cách thay đổi chúng theo chiều hướng của mính
ưa thích mà chỉ cần nhìn chúng, để chúng diễn biến một
cách tự nhiên. Thực tập tỉnh thức là biết rõ phạm vi
hoàn cảnh của đối tượng xuất hiện ngay trong hiện tại,
ghi nhận và giác tỉnh. Ta không ngừng theo dõi sự tác dụng
của tham, sân, si trong sinh hoạt thường nhật, cứ để cho
mọi sự đến và đi một cách tự nhiên, mà không chấp trước
nắm giữ, vì nhận chân được đặc tính vô thường, khổ
não, và vô ngã của chúng. Khi chánh niệm đi liền với giác
tỉnh thì trí tuệ sẽ xuất hiện và nhờ đó ta có thể hiểu
biết rõ ràng tiến trình của nhận thức.
Tự tướng
và Tổng tướng: hai thứ đối tượng nhận thức.
Ðối tượng
của nhận thức không phải do chủ thể của nhận thức tạo
ra. Cả chủ thể (kiến phần) lẫn đối tượng (tướng phần)
nương vào nhau mà hiện hữu và xuất hiện đồng thời như
là đối tượng chuyển hiện của thức. Thức là nền
tảng bản thể cho cả chủ thể và đối tượng. Ðối với
Trần Na (Dignàga), trên phương diện tướng trạng, nghĩa là
không đứng trên quan điểm chân lý tối hậu, đối tượng
nhận thức chỉ có hai thứ: tự tướng (svalaksana) do
cảm giác trực nhận và tổng tướng (sàmànyalaksana)
do suy luận mà thông đạt.
Tự tướng
có nghĩa là cái không thể vin vào cái nào khác để định
nghĩa nó trừ ra chính nó. Nó có thể thực nghiệm được
trong một khoảnh khắc. Ngay trong sát na được thực chứng,
nó không có phẩm tính, danh tính, thuộc tính, ..., nghĩa là
thoát ra ngoài mọi thi thiết diễn tả. Ðặc tính của tự
tướng là hiện hữu (actual), độc đáo (unique), đặc thù
(particular), tồn tại chớp nhoáng (instantaneous), thật có (real;
true), và không do phân biệt vọng tưởng (non-conceptual). Tự
tướng không bắt buộc phải là một vật lý thể. Thí dụ,
tiếng khóc của một đứa bé trong một đám đông hay từ
xa vọng lại.
Tổng tướng
là sự hữu trong một khoảnh khắc sát na nhưng lại biểu
lộ như là ở tất cả mọi thời: thấy sự hữu bây giờ
và ở đây như là thấy nó trong mọi lúc và ở mọi nơi.
Ngoài tính chất tổng quát, tổng tướng còn có đặc tính
khả truyền đạt (communicability), nghĩa là có thể đem chia
xẻ giữa nhiều cá thể, có thể định nghĩa, và có thể
phát biểu qua ngôn ngữ. Tuy trên nguyên tắc, tổng tướng
là do vọng tưởng phân biệt, nhưng tổng tướng không hoàn
toàn ảo, như hoa đốm giữa trời. Nó liên hệ đến lý luận
kết cấu chặt chẽ (coherent ratiocinativity), thuộc lãnh vực
các vật thể như lý khả thi thiết (coherently conceivable) và
khả hữu (possible).
Hai thứ
đối tượng nhận thức, tự tướng và tổng tướng, thuộc
hai lãnh vực hoàn toàn độc lập nhau, đối tượng này không
thể biến đổi thành đối tượng kia. Thực ra, đó là hình
tướng khác nhau của sự vật tùy thuộc phương cách nhận
thức sự vật khác nhau.
Hiện lượng
và tỷ lượng: hai hình thái nhận thức.
Tương ứng
với hai đối tượng, tự tướng và tổng tướng, theo Trần
Na, chỉ có hai hình thái nhận thức đối tượng: hiện
lượng (pratyaksa) và tỷ lượng (anumàna).
Câu văn Ngài
dùng để định nghĩa hiện lượng trong Nhân Minh nhập Chính
Lý luận được xem là ngắn gọn nhất từ trước đến nay
so với tất cả những định nghĩa hiện lượng hiện có trong
văn học Phật giáo. Câu văn ấy định nghĩa như thế này:
"Hiện
lượng là trừ phân biệt" [pratyaksam kalpanà'podham].
Rất quan trọng
ở đây là chữ kalpanà, dịch là phân biệt (conceptual
construction). Phân biệt hàm ngụ ý nghĩa so sánh, suy tầm, căn
cứ vào ấn tượng quá khứ và hiện tại. Vậy hiện lượng
là tri giác đơn thuần không phân biệt vật thể này với
vật thể khác. Hiện lượng tri nhận vật thể chưa
từng được nhận thức. Sự tri nhận bắt đầu ngay ở
sát na đầu tiên của quá trình nhận thức, sát na hiện
tại. "Sát na là một hạn kỳ cực tiểu để một thể
tính được tựu thành và biến mất ngay." (Luận Câu xá, Thế
Thân). Ðúng vào sát na đầu tiên đó chớp lên vật thể được
tri nhận. Thật vật hữu xuất hiện trong hạn kỳ rất ngắn
này chính là tự tướng (svalaksana), đối tượng của
hiện lượng. Tri nhận tự tướng là hoạt dụng của năm
thức thân [thấy, nghe, nếm, ngửi, và xúc chạm gọi là thức
thân vì chúng nương tựa trên thân thể] của từng cá thể
riêng biệt; đó là đặc tính của tri giác hiện tại, là
nhận thức bằng hiện lượng.
Tỷ lượng
là dùng trí phân biệt, so sánh, loại suy để biết, và
thường dựa vào sự kiện được biết, được thấy mà suy
biết những sự kiện chưa biết, chưa thấy. Tỷ lượng căn
cứ vào tổng tướng để phân biệt. Phân biệt tổng tướng
là hoạt dụng của ý thức; đó là đặc tính của suy luận,
là nhận thức bằng tỷ lượng. Có năm cách tỷ lượng:
1. Tướng
tỷ lượng, là bằng vào sự tướng bên ngoài của sự vật
mà suy đoán, như thấy khói mà suy biết có lửa.
2. Thể
tỷ lượng, là bằng vào sự thể của sự vật, từ một
phần mà suy biết toàn thể, như thấy cái vòi mà suy biết
con voi; thấy hôm nay mặt trời mọc phương Ðông mà suy biết
ngày hôm qua và ngày mai mặt trời cũng mọc phương Ðông.
3. Nghiệp
tỷ lượng, là suy đoán bằng vào động tác của sự vật,
như thấy cây cỏ lay động mà suy biết có gió.
4. Pháp tỷ
lượng, là thấy một phẩm tính (pháp) này của sự vật thời
suy đoán phẩm tính quan hệ khác, như biết sự vật là do
tạo tác mà suy ra sự vật sẽ hư hoại và biến đổi.
5. Nhân quả
tỷ lượng, là thấy nhân mà suy biết có quả hay ngược lại,
như biết hạt giống lúa tốt mà suy biết cây lúa sẽ mọc
ra to, hoặc thấy người có đạo đức mà suy biết người
ấy đã có nhân tu.
Lý do phân
biệt hai cách lượng biết.
Hai cách
lượng biết này có tác dụng hoàn toàn khác nhau, không bao
giờ lẫn lộn với nhau. Nghĩa là, hiện lượng không thể
nhận thức tổng tướng và tỷ lượng không thể tri nhận
sát na sinh diệt. Trên thực tế, hai cách lượng biết đó
không làm sao có thể phân biệt được. Quả vậy, với cảm
giác, hình ảnh của đối tượng được trực quán, sắc sảo
rõ ràng (visadàbha). Với suy luận, hình ảnh của đối tượng
được tri nhận gián tiếp qua những dấu hiệu đặc trưng,
lờ mờ (asphuta), hay vô hình. Nếu một ngọn lửa nằm trong
tầm mắt thời tức khắc được nhận thức trực tiếp. Ðó
là cảm giác. Nếu sự hiện hữu của nó được truy nhận
qua cảm giác thấy khói thì đó là nhận thức gián tiếp bằng
suy luận. Trong cả hai trường hợp, đều có một cốt lõi
cảm giác và một hình ảnh thi thiết. Nhưng trong trường hợp
hiện lượng, cảm giác chiếm ưu thế thì hình ảnh sắc sảo
rõ ràng. Trong trường hợp tỷ lượng, trí thức chiếm ưu
thế thì hình ảnh trở nên lờ mờ hay vô hình.
Ðã biết
không thể phân biệt hai cách lượng biết trên thực tế thì
tại sao cần phải phân biệt chúng làm gì? Phân biệt bằng
cách nào? Bởi vì nhận thức hiện lượng là một thứ nhận
thức đơn thuần, không bị chi phối bởi tập tục, truyền
thống, và tư dục nên có thẩm quyền tối thượng, là chứng
lý vững chắc nhất. Cho nên cần phải phân cách với tỷ
lượng, một lối nhận thức bằng trí năng liễu biệt, chủ
thể luôn luôn ly cách với đối tượng. Tỷ lượng tự nó
không có thẩm quyền. Nó không được mâu thuẫn với chứng
lý hiện lượng. Tuy nhiên, chính nhờ tỷ lượng mà hiện
lượng được phát biểu.
Muốn phân
chia hiện lượng và tỷ lượng thời phải siêu việt mọi
kinh nghiệm thế tục, và giả thiết sự dị biệt giữa chúng
là một sự dị biệt ngoài thế gian, mắt trần không thể
thấy được.
Sự khác
biệt giữa hiện lượng và tỷ lượng giúp ta nhận chân giới
hạn của sự hiểu biết thông tục. Giới hạn đó là ta không
thể dùng luận lý thế gian để siêu quá kinh nghiệm trực
quan của cảm giác. Ta sẽ hỏi: "Như thế thì làm sao giải
thích được chủ trương đại ngã đạo đức, lý tưởng
giải thoát, thuyết y nghiệp luân hồi, hay ý nghĩa Niết bàn,
tất cả các vấn đề ấy đều siêu quá cảm giác?" Ðối
với các vấn đề siêu quá cảm giác, lập trường và lời
dạy của đức Phật rất rõ ràng chính xác. Chẳng hạn như
đoạn kinh sau đây:
"Này
các tu sĩ! Ðừng bao giờ chấp nhận lời dạy của ta chỉ
vì do lòng tôn kính! Hãy để cho các bậc có học phân tích
lời dạy của ta như thể vàng được công nhận sau khi đốt,
cắt, và chà xát." [Theo Th. Stcherbatsky, Buddhist Logic, tu
sĩ Tây tạng nói trích đoạn này trong Kinh Ghana Sutra. Nhiều
tác giả khác nói dẫn trích từ bài kệ Jnànasàrasamuccaya,
31].
Trong lời phát
biểu, đức Phật muốn ám chỉ đốt vàng là trực tiếp kiểm
chứng, tức là dùng giác quan trực quán nội dung của lời
Phật dạy. Chà xát là gián tiếp kiểm chứng, tức là dùng
suy luận phân biệt nội dung của lời Phật dạy. Cuối cùng
cắt chia thành mảnh vụn là để thấy rõ không có mâu thuẫn
nào trong nội dung của lời Phật dạy. Theo lối giải thích
như vậy thời có tất cả ba loại sự vật Phật nói đến:
hiện có, hiện vắng, và siêu hữu. Nếu hiện có, thời phải
trực quán như thử vàng bằng cách đốt. Nếu sự vật hiện
vắng và nếu có dấu hiệu gì của nó hiện hữu thời phải
dựa vào dấu hiệu mà suy luận kỹ càng như thử vàng bằng
cách chà xát. Trong trường hợp sự vật siêu hữu như các
vấn đề siêu quá cảm giác nêu ra trong câu hỏi trên thời
phải suy luận minh định tính chất phi mâu thuẫn của nó.
Ngay cả trong trường hợp này dù có kinh văn đáng tin cậy
đề cập sự vật siêu hữu, ta vẫn phải suy luận để nhận
chân sự vật như thật chứ nhất thiết không tin tưởng vào
kinh văn.
Nói tóm lại,
tính phi mâu thuẫn (non-contradiction) là chứng lý tối hậu
của thực tại và chân lý.
Sát na
sinh diệt (the point-instant).
Theo hai cách
nhận thức hiện lượng và tỷ lượng, ngoại giới có hai
diện. Diện đặc thù (particular) tương ứng với cảm giác
và diện phổ quát (universal) tương ứng với suy luận.
Diện đặc
thù gồm toàn sát na sinh diệt tức là những chớp năng lượng
sinh khởi (flashes of energy). Cảm giác tri nhận đối tượng
ngay ở sát na sinh diệt đầu tiên của quá trình nhận thức,
sát na hiện tại. Trong một sát na hiện tại đủ cả ba
hình thức sinh diệt là sinh, trụ, và diệt. Hết thảy sự
vật đều là những chuỗi sát na sinh diệt, tức thời, riêng
biệt. Thực tại tối hậu là tức thời, là sát na sinh diệt
hiện tại.
Diện phổ
quát là phủ định diện đặc thù và ngược lại. Nếu diện
đặc thù là thật (vastu), có hiệu năng (samartha), không giả
lập (nirvikalpaka), không phát biểu được, không truyền đạt
luận thuyết được, không sai biệt (abhinna), siêu phàm, thực
tại tối hậu, vô hình dung (niràkàra), thì ngược lại, diện
phổ quát là không thật, vô hiệu năng, giả lập, khả ngôn
thuyết, có thể truyền đạt biện luận, sai biệt, phàm tục,
thực tại kinh nghiệm thông tục, có hình dung.
Thuyết sát
na sinh diệt thích hợp với chủ trương của Pháp tướng tông,
"Tam pháp triển chuyển, Nhân quả đồng thời." Tam pháp đây
là chủng tử, hiện tượng, tức các pháp hiện hành, và tân
huân chủng tử. Triển là xoay nửa chừng. Chuyển (parinàma)
theo luận sư An Huệ (Sthiramati) trong bản chú sớ Tam thập
tụng (Trimsikà-bhàsya) được giải thích là:
1. sự biến
chuyển nhân diệt quả sinh do đó mà có sự khác biệt,
và
2. sự biến
chuyển nhân diệt quả sinh cùng xảy ra trong một thời gian
của sát na hiện tại, tức là sinh diệt đồng thời (samakàla;
simultaneous).
Lưu ý nhân
quả ở đây là kàrana và kàrya chứ không phải hetu và phala.Với
kàrana xem như là tác động, (chẳng hạn, thấy, nghe, .. .)
và kàrya xem như kết quả của sự tác động, (cái bị thấy,
được nghe, ...) cho nên mới có sự khác biệt giữa tác động
với kết quả của tác động. Khác với hetu và phala nhất
định luôn luôn là nhân và quả, kàrana và kàrya có thể lúc
thì kàrana xem như là "nhân" với "quả" là kàrya, lúc thì kàrya
là "nhân" với "quả" là kàrana. Trong mọi triển chuyển, An
Huệ phân biệt nhân chuyển (hetu parinàma) với quả chuyển
(phala parinàma). Trong nhân chuyển, hiện tượng, nguyên là phala,
thời bây giờ là kàrana, và chủng tử, luôn luôn là hetu,
thời bây giờ là kàrya. Nhân chuyển còn gọi là huân tập
(vàsanà). Trong quả chuyển, chủng tử là kàrana và hiện tượng
là kàrya. Quả chuyển là sự phát hiện hiện tượng
từ chủng tử thành hiện hành. Như vậy kàrana và kàrya có
thể chuyển từ cái này qua cái kia và ngược lại. Nhân chuyển
và quả chuyển phát sinh dị biệt và xảy ra đồng thời,
đó là ý nghĩa của câu "Tam pháp triển chuyển, Nhân quả
đồng thời".
Theo thuyết
sát na sinh diệt, tồn tại (duration) là sát na sinh diệt
nối nhau sinh khởi không có gián đoạn, trương độ
(extension) là sát na sinh diệt sinh khởi đồng thời và tiếp
cận nhau, và chuyển động (motion) là sát na sinh diệt
sinh khởi tiếp cận và tương tục. Không có thời gian và
không gian nằm riêng ngoài sự vật. Trí phân biệt thường
nhìn vào sự vật như hiện hữu trong không gian hay qua thời
gian, cả không gian lẫn thời gian được xem như bình chứa.
Sự thật là khi tách không gian và thời gian ra khỏi sự vật
thời chúng không có chút khả năng tác dụng nào cả. Có thể
nói rằng mỗi sát na sinh diệt là một hạt thời gian, một
hạt không gian, hay một cảm tính. Nhưng đó là vọng tưởng,
chứ sát na sinh diệt không có phẩm tính, không tồn tại,
và không thể phân.
Ngoài ra,
với đặc tính sát na sinh diệt, một vật thể không có sự
chuyển động mặc dầu sát na sinh diệt sinh khởi tương tục
bất đoạn cho ta cảm tưởng một vật thể đang chuyển động,
giống như một dãy đèn lần lượt chuyển ngọn lửa liên
tục từ đèn này đến đèn kế tiếp cho ta cảm tưởng một
ngọn lửa đang di động. Chuyển động có nghĩa là khởi lên
ở chỗ này và biến mất ở chỗ khác. Như thế, hạn kỳ
sinh diệt của nó tối thiểu là hai sát na. Một sát na khởi
lên mà không biến mất thì ý nghĩa sinh diệt trong sát na sẽ
không có và vật thể không còn là đối tượng của cảm
giác nữa.
Thực ra,
không có thực thể di chuyển mà chỉ có tác dụng liên tục.
Chính ngay vật thể là chuyển động. Hai sát na sinh diệt
kế tiếp nhau là hai sát na sinh diệt khác nhau, sát na sinh diệt
này biến mất không liên hệ chút nào với sát na sinh diệt
kế tiếp. Ðiều này được chứng minh bằng cách khảo sát
sự rơi của một vật thể.
Mọi vật
thể đều gồm bốn yếu tố, đất, nước, lửa, và gió,
mỗi yếu tố biểu trưng một phẩm tính. Ðất là tính bền
bỉ rắn chắc, nước là kết hợp liên hợp, lửa là tính
nóng lạnh, và gió là tính động hay nặng nhẹ (laghutva = ìranàtmaka).
Nếu vật thể khi nóng khi động, khi đặc khi lỏng đó là
tùy thuộc vào cường độ năng lượng và điều kiện nhân
duyên mà yếu tố này hay yếu tố kia trở thành nổi bật.
Dưới mắt một nhà khoa học thì bốn yếu tố căn bản đó
có thể xem tương đương với những lực (forces) hay năng lượng
tử (quanta of energy). Khi một vật thể rơi, tại mỗi điểm
không gian và thời gian, tốc độ của vật thể thay đổi,
năng lượng tử và trọng lượng của vật thể cũng thay đổi.
Nghĩa là ta có những vật thể khác biệt nhau sau mỗi sát
na đang rơi nối đuôi nhau chứ không phải cùng một vật thể
rơi từ đầu đến cuối.
Ðược Huệ
Viễn (lãnh đạo nhóm tín đồ Niệm Phật ở Trung Hoa đầu
tiên là Bạch liên xã) hỏi về lẽ sinh diệt trong một sát
na hiện tại, hay nhiều sát na, Ngài La Thập trả lời: "Phật
dạy thẳng rằng nội thân của con người thì có sinh, lão,
bệnh, tử, niệm niệm không đình trú; bên ngoài thì lá vàng
cỏ úa rơi rụng điêu linh cũng không phải hằng thường.
Bản ý Phật là khiến con người không khởi lên kiến chấp
thường tại, nhằm bỏ thế pháp, thực hành chánh đạo mà
thôi; thực sự Phật không nói nhất thời hay dị thời gì
cả. Những phân biệt này là do Ca Chiên Diên đó." (Tuệ Sĩ.
Triết học về tánh Không). Ca Chiên Diên là người đầu tiên
gây dựng hệ thống Hữu bộ.
Toán vi
phân với sát na sinh diệt.
Có người
cho rằng bàn về giáo lý của đức Phật mà đem toán học
vào thì quá ngây ngô. Trước hết xin trích một chú thích
đáng lưu ý trong Th. Stcherbatsky. Buddhist logic, I, lặp lại nhận
xét của triết gia Pháp nổi tiếng, Henri Louis Bergson, được
giải Nobel văn chương năm 1927, về sự giống nhau giữa thế
giới của nhà toán học và thế giới sát na sinh diệt của
Phật gia.
"Ông H. Bergson
xác định rằng thế giới của nhà toán học quả thật là
một thế giới tức thời, thế giới đó cũng là ksanika như
thế giới của Phật gia. Ông ấy nói (Cr. Ev., trang 23-24) ¾
"thế giới nhà toán học đương đầu là một thế giới biến
diệt và tái sinh mỗi khoảnh khắc, thế giới mà Descartes
đã nghĩ đến khi nói về sáng tạo liên tục". Ý nghĩ đó
quả thật có tính cách Phật giáo, tưởng như là đã viết
bằng tiếng Phạn ¾ ye bhàvà nirantaram àrabhyanta iti mahàpandita-sri-Dhekaratena
vikalpitàs, te sarve jyotir-vidyà-prasiddhàh pratiksanam utpadyante
vinasyante ca. Ðó là lời của Bergson được dịch ra tiếng
Phạn, đọc nghe như trích dẫn từ một bản văn Ấn độ.
Cũng đáng chú ý là một trong những chữ đồng nghĩa với
tư tưởng hay thi thiết là 'làm tính' (sankalana). Do đó, tư
tưởng, ảo tưởng sáng tạo, và toán học trở nên liên hệ
mật thiết với nhau, samàkalayet = vikalpayet = utprekseta."
Mặt khác,
đa số các nhà nghiên cứu lịch sử toán học xác nhận ký
hiệu của số không tức zero được tìm thấy đầu tiên ở
Ấn độ. Thêm nữa, các nhà thiên văn học Ấn độ thời
xưa đã quan niệm đơn vị thời gian như là một hạt thời
gian bất khả phân trong đó không có bộ phận nào liên hệ
đến thời gian trước và thời gian sau (pùrva-apara-bhàga-vikala).
Họ gọi chuyển động của một vật thể trong một thời
khoảng là "chuyển động chỉ trong thời gian đó (tat-kàlikì
gatih)". Nói theo thuật ngữ toán học hiện đại, chuyển động
ấy là chuyển động tức thời (instantaneous motion) và cái
thời gian đó chính là vi phân của kinh độ của một hành
tinh (differential of a planet's longitude). Nhiều nhà bác học người
Anh đã viết thư đòi Hàn lâm viện Hoàng gia công nhận toán
vi phân (Differential calculus) là do người Ấn độ phát minh.
(Th. Stcherbatsky. Buddhist logic, I).
Trở lại
với thuyết sát na sinh diệt, các luận sư Phật giáo cho rằng
tính cách tức thời của sự hiện hữu, tức là sát na sinh
diệt, là một sự thật tối hậu, chứ không phải là một
phương tiện toán học. Trong vũ trụ sự vật duy nhất không
do vọng tưởng, không do ảo tưởng thành lập là sát na sinh
diệt, cơ sở của mọi thi thiết. Có thể dùng khái niệm
"điểm" trong toán học để biểu trưng sát na sinh diệt. Ðiểm
không có kích thước trong không gian và thời gian. Sát na sinh
diệt cũng thế không tồn tại và không có trương độ. Nhưng
chính xác hơn nữa, sát na sinh diệt hiện tại hay tự tướng
có thể so sánh với vi phân của cảm giác (The Thing-in-itself
has been compared with a "Differential of Sensibility" by S. Maimon. Trong
Th. Stcherbatsky. Buddhist logic, I). Giống như nhà toán học thành
lập vận tốc từ vi phân, tâm của con người ví như một
nhà toán học tự nhiên, tạo ra sự tồn tại từ những sát
na cảm giác tương tục sinh khởi. Tưởng cũng nên biết rằng
khái niệm vi phân trong toán học là dùng để biểu tượng
sự di chuyển tiến đến một giới hạn. Thường toán học
vẽ một đường thẳng vô tận ở hai đầu là để tượng
trưng dãy số thực. Ðặc tính của nó là giữa bất kỳ hai
số thực nào cũng có một số thực khác. Như vậy, đường
thẳng số có thể dùng để hình dung một chuỗi sát na sinh
diệt tương tục, hai sát na kế tiếp nhau không có khoảng
cách, chúng khác nhau vì tương ứng với hai số khác nhau. Ðường
thẳng ấy có thể biểu tượng ba thời quá khứ, hiện tại,
và vị lai. Bất cứ điểm nào trên đó cũng có thể chọn
làm gốc, dùng biểu tượng hiện tại. Thường thì điểm
zero, tức số không, được chọn. Mọi phân biệt vọng tưởng
có thể biểu tượng bằng một điểm trên đường thẳng
số. Như thế, thực tại tối hậu trú tại điểm gốc, tức
hiện tại, được xem như điểm giới hạn của mọi vọng
tưởng phân biệt xuất xứ từ suy luận.
Thực nghiệm
và tính xác thực của nhận thức.
Theo trên,
nhận thức bắt nguồn từ kinh nghiệm giác quan và ý thức.
Cái gọi là thế giới kinh nghiệm chẳng qua chỉ thành lập
trên quan hệ nhận thức giữa sáu căn và sáu cảnh. Trong Phẩm
Tất cả, Kinh Tương Ưng Bộ, Tập IV. 15, đức Phật minh định
nếu không có cơ quan cảm giác thì không thể có thế giới
kinh nghiệm.
Vì bắt
nguồn từ kinh nghiệm, những điều được nhận thức bằng
hiện lượng hay tỷ lượng tự chúng không có tính cách xác
thực, nên cần phải đem kiểm chứng. Theo Thiên Chủ, có ba
tiêu chuẩn phải được đồng thời áp dụng những
khi phán xét nhận thức có đúng hay không.
Thứ nhất,
các dữ kiện do nhận thức đúng mang lại phải kết hợp
chặt chẽ và không mâu thuẫn với giáo lý của đức
Phật và những dữ kiện đã thu góp về trước (avisamvàdakatva).
Thứ hai, những điều hiểu biết mới nhận thức thêm sau
phải có tính chất mới lạ (avijnàtàrtha-prakàsakatva). Tiêu
chuẩn này giúp phát triển sự hiểu biết và tránh khỏi cái
biết trong vòng luẩn quẩn và thái độ cứng rắn đối với
những kiến thức hiện đại. Thứ ba, cái biết phải có tính
cách thực dụng (vyavahartavyatva). Tiêu chuẫn này đáp ứng
mục đích thực dụng của tâm lý luận Phật giáo: Sự cần
phải biết rõ những hoạt động tâm lý một cách như thật
là nhắm vào mục đích diệt trừ phiền não, phát huy chân
trí để đạt đến giải thoát.
Nói trên
là những tiêu chuẫn xác thực chung cho cả hai hình thái nhận
thức. Riêng đối với hiện lượng, cần phải thêm một
tiêu chuẫn nữa về tính như thật của điều được
nhận thức. Lý do: sự hiểu biết bằng hiện lượng có ảnh
hưởng đến thế giới hiện hữu (realm of actuality) còn sự
hiểu biết bằng tỷ lượng chỉ ảnh hưởng đến thế giới
như lý khả hữu (realm of coherent possibility). Theo tiêu chuẫn
đúng như thật, cái gì thật đều có khả năng tính tác
động (arthakriyàsàmarthya). Một sự thể thật bao giờ
cũng hàm chứa tiềm năng thúc đẩy một hành động nơi ta
cho đến khi ta nhận biết rõ nó. Nói như thế có nghĩa là
khi nhận thức đúng ta đạt tới một điểm tựa dùng
làm điểm phát xuất hành động. Ðiểm phát xuất này là
của một thực tại có tác dụng (artha-kriyà-ksamam vastu; efficient
reality) và hành động đạt tới điểm phát xuất ấy là phát
động tri giác thành tựu. Do đó phát động tri giác thành
tựu thiết lập một sự tương quan giữa hiệu quả
của nhận thức đúng, tức là kết quả mà tác dụng của
sự thể ấy mang đến với sự thật hữu của sự thể.
Nhận thức đúng là nhận thức có khả năng đem lại kết
quả. Những điều nhận thức đúng đều có năng lực tác
dụng theo luật nhân duyên (artha-kriyà, causal efficiency). Thí
dụ: chứng lý để biết một đóa hoa thật hữu là khả năng
đóa hoa ấy phát động tri giác để trở thành đối tượng
của nhận thức đúng. Nhận thức đúng đóa hoa có nghĩa là
đạt đến cái điểm thật hữu của nó, cái diểm của thực
tại có tác dụng. Từ điểm ấy có thể phát hiện những
hành động như là đứng lặng yên nhìn đóa hoa hay ngắt nó
và cầm nó trong tay.
Áp dụng
những tiêu chuẫn trên ta có thể chứng nghiệm tính xác
thực bằng phương pháp diễn dịch suy định để
tìm xem những điều nhận thức có phù hợp với kinh nghiệm
hay không. Nhận thức đúng là nhận thức không bị kinh nghiệm
phản chứng gây mâu thuẫn phi lý. Chẳng hạn, nếu có một
người nói lên sự thật và về sau nếu kinh nghiệm luôn luôn
cho thấy chẳng bao giờ có điều gì xảy ra trái ngược với
lời người ấy nói, thì người ấy có thể được xem như
là nguồn gốc của nhận thức đúng hay nói cách khác, người
ấy là chánh tri kiến. Khoa học cũng quan niệm nhận thức
đúng theo kiểu ấy. Mọi nhận thức không vấp phải mâu thuẫn
khi diễn dịch suy định đều là nhận thức đúng.
Ðịnh nghĩa
nhận thức đúng một cách thiết thực như vậy cho thấy nhận
thức đúng không phải là sự nhận thức một Tuyệt đối,
mà là sự biết rõ nguồn gốc, chân tướng, và tác dụng
của cảm giác hay tri giác trong sinh hoạt thường ngày.
Hằng ngày người phàm tục nhận thức nhờ vào giác quan hay
bằng suy luận. Họ tin rằng có một sự liên hệ giữa giác
quan và đối tượng nhận thức. Hoặc nhiều lúc họ chỉ
thấy dấu hiệu của một sự vật quen biết hiện đang nằm
ngoài tầm giác quan của họ. Tuy thế, vì tin rằng dấu hiệu
đó liên hệ với sự vật quen biết mà họ hiện không thấy,
cho nên họ suy luận để biết rõ sự vật tương ứng với
dấu hiệu họ thấy. Chẳng hạn khi thấy khói ở đầu núi,
họ suy luận rằng ở đó có lửa. Nhờ vậy, họ dựa vào
điều đang thấy để tìm biết cái không thể thấy. Tuy nhiên,
họ cũng cần đến kinh nghiệm thấy ngọn lửa đang bốc khói
trong bếp để chứng lý cho suy luận.
Theo chủ
trương của Thiên Chủ, bất cứ vật thể nào trở thành đối
tượng của nhận thức đúng đều có khả năng tác dụng
theo luật nhân duyên (causally efficient) và đều được xem là
thật. Bởi vậy phương pháp thích ứng nhất để chứng nghiệm
tính xác thực là tìm xem những điều được nhận thức có
hay không có tác dụng nhân duyên. Thí dụ: Lửa nào đốt cháy
và nấu ăn được là lửa thật. Mỗi khi hiện hữu, lửa
đó có tác dụng vật lý và hiển thị chói sáng dẫu ở tận
một nơi xa mà mắt còn nhìn thấy được. Lửa không có mặt,
do trí tưởng tượng mà có, không đốt cháy, không nấu ăn
được, và không tỏa ra ánh sáng là lửa không thật.
Hiện tại,
"cái bây giờ (the now)", "cái ở đây (here)", "cái này (the this)"
đều thật. Mọi điều gì thuộc quá khứ, tương lai đều
không thật. Mọi khái niệm, tưởng tượng, vắng mặt, phổ
quát, tổng tướng, đều không thật. Mọi quan hệ pháp tắc
đều không thật nếu được tri nhận riêng biệt với những
sự vật liên hệ. Thực tại tối hậu (ultimate reality) là
không gì khác ngoài sát na hiện tại của tác dụng nhân duyên.
Ðể giúp
hiểu rõ nhận thức luận Phật giáo, tưởng cũng nên nói
đến nhận thức luận và phương pháp biện chứng kỳ lạ
của phái Kỳ Na (Jainism). Trên đại thể, giáo lý Kỳ
Na thiên về trí tuệ hơn là về sự thờ phượng, vì thế
giáo lý Kỳ Na gần với giáo lý của nhà Phật. Nhưng về
phương diện nhận thức và luận lý thì phái này có chủ
trương hoàn toàn khác biệt. Theo phái này, có hai hình thái
nhận thức: nhận thức sự vật như thật (pramàna; knowledge
of the thing as it is in itself) và nhận thức sự vật qua quan
hệ (naya; knowledge of a thing in its relation). Nhận thức sự vật
qua quan hệ có thể nói là sự tri nhận bất cứ một hiện
tướng nào trong vô số hiện tướng của sự vật. Trong trường
hợp này, tính xác thực của nhận thức có tính chất tương
đối, tùy thuộc hình thái nhận thức của mỗi cá thể riêng
biệt. Do đó, hình thái nhận thức qua quan hệ được xem như
bao gồm hết thảy mọi thẩm định của hết thảy mọi quan
điểm cá thể riêng biệt. Như vậy, tính chất cố hữu của
mỗi sự vật là hữu thể, mà cũng là vô thể. Thuộc tính
nào của sự vật cũng một phần thực, một phần không thực.
Phái này đem chuyện con voi với sáu người mù ra làm thí dụ
để giải thích quan điểm thuyết nhận thức tương đối
của họ. Mỗi một người mù nói đúng điều họ sờ biết,
lầm lẫn một phần con voi với toàn thể con voi. Mọi chuyện
ở thế gian này cũng đều có tính cách tương đối như vậy.
Thực tại là một phức thể vô biên bao dung hết thảy mọi
quan điểm tương đồng và tương đãi. Vì thế thực tại
là hữu là vô, là đặc thù là phổ quát, là thường là đoạn,
là đồng là dị. Tóm lại, khi xác nhận một điều gì là
đúng hay sai thời phải nói rõ thêm là đã nhận thức theo
hình thái nào.
Khác hẳn
với phái Kỳ Na, Trần Na chủ trương là chỉ có hai cách lượng
biết sự vật hoàn toàn khác biệt và không xen lẫn nhau: hiện
lượng và tỷ lượng. Ðối tượng nhận thức có hai thứ.
Tự tướng, cốt lõi như thật, do hiện lượng tức
cảm giác đơn thuần nhận biết và tổng tướng, quan
hệ danh tính và thuộc tính của sự thể do tỷ lượng tức
phân biệt so sánh mà suy biết. Trên bước đường tu học
với mục đích tự ngộ và ngộ tha, cả hiện lượng trí
lẫn tỷ lượng trí đều cần dùng để hiểu biết
rõ sự lý, hiểu biết rõ nguyên nhân kết quả, và hiểu biết
rõ cách dùng ngôn ngữ cùng phép tắc lý luận hầu chia xẻ
sự hiểu biết với kẻ khác.
Tháng
chín, 1999