4.
Lý Duyên Khởi
Tính nhất
quán trong quá trình phát triển tư tưởng Phật giáo.
Muốn thấu
triệt tính nhất quán trong quá trình phát triển tư tưởng
Phật giáo, thời cần theo dõi những đường lối giải thích
pháp duyên khởi qua các giai đoạn phát triển. Lý duyên khởi
là một phương tiện độc đáo để Phật giải thích bản
chất của sự hữu (bhava), lấy nhân sinh quan làm nền tảng,
và không sa vào hai cực biên thường kiến (Eternalism) và đoạn
kiến (Nihilism). Theo lý duyên khởi, thế giới hiện tượng
là một mạng lưới 'nhân duyên sinh' vĩ đại trong đó
hết thảy hiện tượng đều là tương đối, quan hệ chằng
chịt với nhau, nương vào nhau mà tồn tại. Không một sự
vật nào trong đó có thể tách rời mối quan hệ nhân duyên
mà có thể tự tồn. Tuy đề cập đến toàn thể hiện tượng
thế giới nhưng chủ yếu của lý duyên khởi là để khảo
sát các hoạt động sinh mệnh, đặc biệt là hoạt động
tâm lý của con người. Trong kinh Ðại Duyên (Mahànidàna Sutta),
Trường Bộ, có thể xem như đại biểu cho những kinh thuyết
minh về duyên khởi rõ ràng và tinh tế nhất, đức Phật diễn
tả quá trình phát kiến duyên khởi đầu tiên nhờ đó mà
thấy được nguyên nhân của sinh tử và phương pháp giải
thoát sinh tử. Ngài đã dựa vào mối quan hệ hỗ tương
tồn tại giữa thức và danh sắc để lấy thức làm chủ
thể nhận thức như điểm xuất phát, rồi xem danh sắc như
là khách thể, và từ đó nói rõ cái thứ tự phát khởi của
những hoạt động tâm lý lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ,
... được xem như là những yếu tố kết hợp cá nhân với
thế giới (hữu). Mối quan hệ đồng thời giữa thức và
danh sắc ấy chính do đức Phật phát minh. Ðó là kết quả
Phật gặt hái nhờ chuyên chú quan sát những hoạt động hiện
thực của tâm và thân để làm sáng tỏ những hoạt động
hiện thực khác dùng làm căn bản thành lập hình thức thuyết
minh duyên khởi quan.
Lý duyên
khởi trong thời kỳ Thắng pháp.
Ðến thời
kỳ Thắng pháp, nhân duyên luận trở thành một vấn đề
trọng yếu trong các luận thư. Lý do chính là vì các luận
sư đã áp dụng một hệ thống phân tích sắp loại và chia
cấp các pháp rất tinh tế và tỷ mỷ trong đó mỗi yếu tố
tâm hay tâm sở đều được thống kê xem liên hệ với bao
nhiêu yếu tố khác đồng hay khác loại. Chẳng hạn, trong
Pàli Abhidhamma, "hỷ tâm sở có mặt trong 51 tâm, xả tâm sở
khởi lên trong 70 tâm, và một tâm giản dị như tiểu sanh
tâm cũng có đến 12 tâm sở cùng khởi lên một lần" (Thắng
pháp tập yếu luận. Thích Minh Châu. Lời nói đầu). Tập
luận này còn giải thích sự diễn tiến của tâm thức khi
bị kích thích bởi ngoại trần hay nội tâm ngang qua lục căn
và miêu tả Kiết sanh thức liên hệ từ đời này qua đời
khác. Tất cả những cố gắng tìm đủ mọi mối quan hệ
giữa những yếu tố của những gì có thể gọi là thế giới
khách quan như vậy là một phương cách minh giải rất cụ
thể về thuyết duyên khởi.
Khi quan niệm
một sự vật hiện khởi và tồn tại do từ nhân duyên, tức
mối quan hệ giữa nhiều yếu tố cấu thành, thời tất nhiên
phải đứng trên nhiều lập trường để quan sát mới mong
tìm thấy chính xác mối quan hệ đó. Vì vậy các luận sư
A tì đàm chia nhân duyên và quả thành từng loại để quan
sát. Bắc phương bàn đến Tứ duyên luận và Lục nhân luận,
còn về phía Nam phương thì áp dụng con số hai mươi bốn
duyên nói đến trong Ðại phẩm loại luận. Quả luận cũng
được khảo xét trong luận Bà sa và Câu xá. Nói tóm lại
thuyết nhân duyên trong thời Thắng pháp có công dụng của
lý duyên khởi trong thời Nguyên thủy Phật giáo.
Ngoài ra,
từ tư tưởng A tì đàm xuất hiện quan điểm tiến trình
sinh hóa của thực tại là sự phối trí qua hai giai đoạn.
Ðó là duyên sinh (pháp làm duyên) và duyên dĩ sinh
(pháp do các duyên sinh). Duyên sinh là quan hệ tung tức tương
quan nhân quả về ý nghĩa hiện khởi của thực tại. Nhân
và quả tác động lẫn nhau trong dòng nối tiếp của thời
gian. Duyên dĩ sinh là quan hệ hoành về ý nghĩa tồn
tại của thực tại. Hiện hữu dù đã sinh ra không thể tồn
tại một cách độc lập, cái này dựa vào cái kia để tồn
tại. Như thế, một đằng nhân quả sinh diệt tiếp nối,
tức là tương sinh. Ðằng khác, hiện thực này được xác
định trong tương quan đối đãi hay tương thành với những
hiện thực khác.
Thực ra,
khi thuyết minh thuyết duyên khởi đức Phật đã căn cứ trên
kinh nghiệm các pháp do duyên sinh (duyên dĩ sinh) như sinh, lão
tử mà tìm ra cái lý nhất quán chi phối hết thảy hiện tượng
thiên sai vạn biệt vô thường biến thiên. Chẳng hạn như
đoạn văn sau đây trong kinh Duyên (S.ii, 25; Tương ưng bộ,
Tập 2).
"Này các
Tỳ kheo, thế nào là duyên khởi? Do duyên sinh, này các Tỳ
kheo, già, chết khởi lên. ... ...
Và này các
Tỳ kheo, thế nào là duyên sanh pháp? Già chết, này các Tỳ
kheo, là vô thường, hữu vi, duyên sanh, biến hoại tánh, biến
diệt tánh, ly tham tánh, đoạn diệt tánh. ... ..."
Về sau, các
luận sư A tì đàm giải thích duyên khởi như danh từ biểu
thị là phát sinh, tức là hàm ngụ ý nghĩa thời gian trong
đó. Bởi thế vào cuối thời Thắng pháp các luận thư thiên
trọng về quan hệ dị thời trong sự giải thích mười hai
nhân duyên xuyên qua tam thế để nói rõ trạng thái hoạt động
và tồn tục của hữu tình (luân hồi luận).
Lý duyên
khởi trong thời kỳ Không luận.
Ðến thời
kỳ Không luận, Bồ tát Long Thọ bác bỏ lối giải thích
thu hẹp thuyết duyên khởi thành luật nhân quả chỉ chú trọng
đến vấn đề tương sinh mà quên phần tương đãi tương
thành.
Duyên khởi
Phật giáo trước hết là một thuyết khởi hiện (emergence),
nghĩa là quả (kàrya) không có trước khi duyên sinh, sau nữa
thuộc loại mà tiếng Phạn (Sanskrit) gọi là asatkàranavàda
(asat = diệu vô; kàrana = nhân), theo đó cả quả lẫn nhân
đều không thật có. Sự vật không tự hiện hữu. Khi duyên
hợp đủ thì sinh, khi duyên tan biến thì diệt. Sự vật hiện
hữu trong một cái lưới nhân duyên rộng lớn vô biên, lớp
này lớp khác trùng trùng vô tận, một làm duyên cho tất cả,
tất cả làm duyên cho một. Do cái này có nên cái kia có, cái
này sinh nên cái kia sinh, cái này không nên cái kia không, cái
này diệt nên cái kia diệt. Ðạo Phật nói đến vô thường,
biến đổi không ngừng, nhưng không chấp nhận khái niệm
một thực thể này chuyển thành một thực thể khác hay cùng
là một bản thể mà có hình tướng này biến sang một hình
tướng khác. Bất cứ hiện hữu nào cũng là một nhân, hiểu
theo nghĩa là hiện hữu và nhân đều có khả năng tác dụng
(efficiency). Sự thể không có tác dụng không thể hiện hữu.
Như vậy, nếu hỏi: "Khi bảo quả (phala) tùy thuộc nhân (hetu)
thời sự tùy thuộc ấy có nghĩa là gì? Khi bảo nhân sinh
ra quả thời sự sinh ra ấy có nghĩa là gì?" thời trả lời:
"Sự tùy thuộc của quả vào nhân là sự kiện quả luôn luôn
theo sau khi nhân xuất hiện. Sự sinh ra từ nhân là sự kiện
nhân luôn luôn có trước lúc quả xuất hiện." Cả sự tùy
thuộc lẫn sự sinh ra đều không có tự tính, nghĩa là không
có bản chất cá biệt, đặc thù nào cả. Cả hai sở dĩ được
nói đến là do sự có mặt của hai hiện hữu tương sinh mà
ta gọi là nhân với quả. Tùy trường hợp, nhân được xem
như quả và ngược lại. Tuy nhiên cả hai đều không thật
có.
A. Tánh
Không.
Ðáng kể
hơn hết là cuộc cách mạng tư tưởng Phật giáo mà Bồ tát
Long Thọ thực hiện ở nơi phương pháp lý luận, đặc biệt
phép biện chứng dùng để đả phá chủ trương của Nhất
thiết Hữu bộ cho rằng tất cả những yếu tố tạo thành
hiện tượng giới đều thường hằng tồn tại trong ba thời
quá khứ, hiện tại, và vị lai. Biện chứng phủ định còn
đi xa hơn thuyết Chân Không của kinh Bát Nhã. Chính cái Không
cũng là Không, vậy thì trở về lại cái thế giới giả danh
để diệu hữu hóa nó. Qua bài tụng Trung Luận, XXIV.18 : "Các
pháp do duyên khởi (pratìtyasamutpàda), nên ta nói là Không (sùnyatà),
là Giả danh (upàdàya-prajnapti), và cũng chính là Trung đạo
(madhyamà pratipat)", Bồ tát Long Thọ minh định rằng duyên
khởi là đồng nghĩa với Không, với Giả danh, và với Trung
Ðạo.
Trong bài
kệ, có bốn danh từ chính yếu: duyên khởi, Không, giả danh,
và Trung đạo. Ngài Nguyệt Xứng (Candrakìrti) cho rằng Không,
giả danh, và Trung đạo là những tên gọi khác (visesa-samjnà)
của duyên khởi. Chính ba danh từ đồng nghĩa với duyên khởi
ấy đã gợi ý ngài Huệ Văn, thủy tổ của Thiên thai tông,
chọn Chân lý Tam đế: Không, Giả, Trung làm lý thuyết căn
bản cho tông này.
Tư tưởng
"Không" bắt nguồn từ bộ kinh Bát Nhã (Prajnàpàramità Sùtras)
là bộ kinh tối cổ và căn bản nhất trong các kinh Ðại thừa.
Ðiều đáng lưu ý trong các kinh Bát Nhã là có rất nhiều
câu văn được đặc biệt kết cấu nhằm hiển minh ý nghĩa
của tư tưởng Không. Chẳng hạn, câu "Sắc tức thị Không,
Không tức thị Sắc" trong Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm kinh
và các câu dùng ngôn ngữ tức phi, thị danh (tức chẳng phải,
tạm gọi là) trong kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật như
"... ... Phật
nói Bát Nhã Ba La Mật tức không phải bát nhã ba la mật, ấy
gọi là bát nhã ba la mật."
"... ... Ta
nên diệt độ tất cả chúng sanh, diệt độ tất cả chúng
sanh rồi mà không có một chúng sanh thật diệt độ."
"... ... nói
là pháp tướng đó, Như Lai nói tức chẳng phải pháp tướng,
ấy gọi là pháp tướng."
Các câu văn
trên diễn tả tánh Không như là biện chứng phủ định, phủ
định tiêu cực trước, rồi phủ định tích cực theo sau.
Trong phần đầu câu "Sắc tức thị Không", 'Không' có nghĩa
là không thật có; như vậy là phủ định tiêu cực. Nói cách
khác, 'Không' phủ định Sắc, Sắc không thật có. Nhưng sự
phủ định này hàm chứa một ý nghĩa khác nêu ra trong phần
câu còn lại "Không tức thị Sắc". Lần này 'Không' là một
phủ định tích cực, nghĩa là một khẳng định gián tiếp
suy từ phủ định trước mà ra. Sắc được khẳng định
là 'có theo qui ước' sau khi bị hoàn toàn phủ định là không
thật có. Như vậy, nếu xét toàn câu thời trong nghĩa phủ
định của chữ 'Không' hàm chứa thêm nghĩa 'khẳng-định-thanh-lọc-qua-phủ-định'.
Ðến lượt
xét các câu văn trong kinh Kim Cang, mặc dầu không có chữ
'Không', ta vẫn thấy hai khái niệm tương phản nói trên sắp
theo thứ tự 'phủ định - khẳng-định-thanh-lọc-qua-phủ-định'.
Trong câu văn, trước tiên nói đến sự thể, Bát Nhã Ba La
Mật, hay diệt độ tất cả chúng sanh, hay pháp tướng. Thứ
đến là phủ định sự thể ấy cho là Không, nhưng cuối
cùng vớt lại bằng một khẳng-định-thanh-lọc-qua-phủ-định
và đặt một Giả danh cho sự thể được khẳng định. Như
vậy, câu "Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc" có thể
viết lại mà không làm mất ý nghĩa của nó: "Sắc mà không
phải Sắc, tạm gọi là Sắc".
Ðặc biệt
những ngôn thuyết và chương cú diễn tả ý nghĩa chữ Không
luôn luôn chứa đầy nghịch lý. Chẳng hạn, Sắc Không tương
phản với nhau trong "Sắc tức thị Không", "Không tức thị
Sắc". Phủ định tiêu cực và phủ định tích cực mâu thuẫn
với nhau trong mệnh đề "Sắc tức thị Không, Không tức thị
Sắc". 'Thấy vậy mà không phải vậy' trong các câu văn trích
từ kinh Kim Cang như vừa nêu trên. Kẻ phàm phu không tu tập
không thể nào hiểu nổi thứ ngôn ngữ kỳ lạ ấy. Thứ
ngôn ngữ chứa đầy nghịch lý là phương tiện các vị hành
thiền thường dùng để nói ra những điều họ chứng ngộ.
Ðối với hành giả, phủ định tiêu cực có nghĩa là thấy
không có tự ngã và phủ định tích cực là thấy không
có gì để chấp trước bám víu. Mặt khác, trong nghịch
lý nêu trên, thứ tự đi một chiều từ phủ định tiêu cực
đến phủ định tích cực không thể đảo ngược được
vì khẳng định phải bắt nguồn từ phủ định trước. Như
thế nghịch lý "Không", con đường tuệ tri Không, siêu việt
cả phủ định tiêu cực lẫn phủ định tích cực.
B. Không
và Nhị đế.
Vì muốn
phân định Tuyệt đối với hiện tượng Bồ tát Long Thọ
khởi xướng thuyết Nhị đế, hai khía cạnh tương đối và
tuyệt đối của chân lý. Tục đế hay chân lý ước định
có thể dùng kinh nghiệm và lý luận thông thường để thông
đạt. Chân đế hay chân lý tối thượng thời phải tu tập
thiền định để chuyển thức thành tuệ mới chứng ngộ
được. Ðặc tính của Nhị đế là không bao giờ tục đế
trở thành chân đế và chân đế luôn luôn siêu việt tục
đế. Nói cách khác, cái biết có hai thứ. Một thứ biết
do tu tập mà tự mình chứng nghiệm và ngộ đạt, không phát
biểu bằng ngôn từ được. Cái biết đó nằm trong cảnh
giới tự chứng của Phật, thuộc chân đế. Khi muốn diễn
tả cái biết bất khả thuyết đó bằng ngôn ngữ, hay khi
chia xẻ cái biết qua cảm giác và ý thức của mình với tha
nhân thời cái biết trở thành cái biết thông thường, thuộc
tục đế. Cái biết loại này đã bị tập quán và suy luận
làm ô nhiễm nên không phải là cái biết "như thật". Vấn
đề được đặt ra là làm thế nào để nhận chân được
sự quan hệ giữa hai thứ biết ấy, giữa thức và tuệ, giữa
luận lý và giác ngộ, mà thuyết Nhị đế đã phân cách hẳn
ra hai hướng ngược nhau một cách tuyệt đối.
Dựa trên
thuyết duyên khởi chủ trương sự tương quan đối đãi hay
tương thành của các hiện thực, Bồ tát Long Thọ dùng danh
từ vô tự tính (nihsvabhàva) để biểu tượng tính chất tương
đối của mọi hiện thực, tức là của duyên khởi. Vô tự
tính có nghĩa là sự vật không có thể tự nó tồn tại độc
lập riêng biệt không tương quan đối đãi với các sự vật
khác. Từ đó, tự tính (svabhàva) được định nghĩa là "cái
không do duyên sinh ra, cũng không do cái khác mà hình thành."
(Trung Luận, XV.2). Tự tính là yếu tính quyết định của
một hiện thực. Như vậy nếu chấp nhận một hiện thực
có tự tính tức là phủ nhận thuyết duyên khởi. Tự tính
cũng là bản tính của ngã bởi vì tự tính tồn tại đồng
nhất bất biến. Do đó, vì Không là vô ngã nên Không là vô
tự tính. Sự nhận thức rằng cả duyên khởi lẫn Không đều
vô tự tính dẫn đến kết quả
Duyên
khởi (pratìtya-samutpada) = Không (sùnyatà).
Dấu '='
trong phương trình có nghĩa là cả hai vế Duyên khởi và Không
đều vô tự tính như nhau.
Trong Trung
Luận, với mục đích phá chấp, Bồ tát Long Thọ dùng mọi
hình thức luận lý, nhất là phép biện chứng, phủ định
giá trị biểu tượng tiến trình thực tại của ngôn ngữ
và phủ định cả đường lối suy luận thông tục nữa. Ngài
xác chứng rằng luận lý không thể dẫn ta đến Không, nhiều
nhất là đến chân trời vô tự tính của thế tục. Trái
lại, luận lý muốn có ích lợi phải tuôn ra từ Không. Ngay
cả luận lý cũng vô tự tính, nghĩa là thuộc tục đế. Lập
trường chủ trương tánh Không vô tự tính cũng vô tự tính
nốt. Do đó, mọi cơ sở diễn đạt tư tưởng đều bị hủy
diệt. Khi đối phương chỉ trích rằng nếu tất cả đều
Không, thời suy luận, giáo pháp, tu tập, và đạo quả đều
trở nên vô nghĩa, Ngài bảo: "Vì tánh Không mà các pháp được
thành lập, nếu không có tánh Không, thì tất cả pháp không
thể hình thành." (Trung Luận, XXIV.14) Tại sao như vậy?
Tại nhờ
trí quán Không, càng biết rõ hết thảy hiện tượng đều
vô tự tính, càng tuệ tri chân đế là thực tại tuyệt đối
tối thượng, thời càng thấy rõ thế gian này chỉ toàn ước
định giả tạm, đầy vọng tưởng và phiền não. Nói cách
khác, tánh Không khẳng định vai trò của tục đế là giải
thích sự tồn tại của vạn pháp mặc dầu vạn pháp đó
không có tự tính. Chính vì thế mà thế giới quan của triết
học Ðại thừa có thể tóm tắt trong bốn chữ có tính chất
mâu thuẫn: Chân Không Diệu Hữu.
C. Nhị
đế, Giả danh và Trung đạo.
Trung Luận
nói rằng Phật thuyết pháp bằng phương thức Nhị đế. Nếu
không hiểu rõ tục đế thì không thể hiểu chân đế. Không
hiểu chân đế thì không thể hiểu được Phật pháp. (Trung
Luận, XXIV.8-9) Như vậy, ta có thể nói, hiểu rõ tục đế
tức là thấu hiểu những đặc tính của ngôn ngữ, thông
đạt giới hạn và vai trò của nó. Ngôn ngữ vô tự tính
vì phụ thuộc rất nhiều điều kiện. Sự có mặt của nó
là do sự có mặt của sự thể. Sự thể cũng vô tự tính.
Có cái này là vì có cái kia. Nói về một sự thể là nói
qua tên gọi của nó. Tên gọi đó là giả danh vì tên gọi
đó chỉ biểu tượng cho sự thể chứ không phải bản thân
thực tại của sự thể. Bản thân của sự thể biến thiên
không ngừng, mà tên gọi thì không bị chi phối bởi sự biến
thiên này. Nó lại còn khoác cho sự thể một tự tính quyết
định, hoặc thường hoặc đoạn, hoặc nhất hoặc dị, v..v..
Sự thể vì vô tự tính nên hiện khởi do nhân duyên. Vô tính
duyên sinh nên duyên sinh là giả danh. Vì vậy khi đặt cái
danh vào định thức duyên khởi thời đó là Giả danh, nghĩa
là chỉ có trên danh ngôn chứ không có trong thực tế.
Nói tóm lại,
trong bài kệ "Các pháp do duyên khởi (pratìtyasamutpàda) nên
ta nói là Không (sùnyatà), là Giả danh (upàdàya-prajnapti), và
cũng chính là Trung đạo (madhyamà pratipat)", duyên khởi nói
ngay ở đầu bài là duyên khởi ai ai cũng kinh nghiệm được
trong đời sống hằng ngày, một đời sống mà bản chất
không mấy ai thấy được là Không. Kế tiếp, tánh Không tiêu
cực phủ định duyên khởi ở phần thứ hai của bài, nhưng
ngay sau đó khẳng định lại Duyên khởi là Giả danh ở phần
thứ ba của bài kệ. Ðó là thứ tự diễn tả tư tưởng
Không đã thấy được trong "Sắc tức thị Không, Không tức
thị Sắc" của Tâm kinh. Phần cuối bài kệ xác định Duyên
khởi "chính là Trung đạo".
Trung đạo
là không chấp Có không chấp Không, không khẳng định không
phủ định. Theo Trung Luận, Trung đạo chính là sự chuyển
biến từ có Duyên khởi qua không có Duyên khởi
tức Không, rồi trở lại có Duyên khởi dưới hình thức
Giả danh. Trung đạo di chuyển biện chứng từ khẳng định
qua phủ định rồi trở lại khẳng định. Trung đạo không
phải là một điểm ở trong khoảng giữa của hai cực đoan
mà là một tiến trình tu tập theo dịch hóa pháp, "đi từ
hủy thể đến tướng, hủy tướng đến dụng, hủy dụng
đến ngôn từ, và phá hủy ngôn ngữ để chuẩn bị cho thể
nhập Tuyệt đối. Tiến trình này có thể tổng quát trong
ba giai đoạn: Không, hủy thể; Giả danh, hủy tướng và dụng
và ngôn ngữ; Trung đạo, tựu thành con đường của thể nhập."
(Triết học về tánh Không, Tuệ Sỹ)
Lý duyên
khởi trong thời kỳ Nhất thiết duy tâm.
Vào thời
kỳ này, Duy thức tông (Vijnaptimàtratà) của Thế Thân (Vasubandhu)
phát triển và hoàn toàn tán đồng học thuyết Trung đạo,
không chấp nhận chủ trương cực đoan của hữu luận và
vô luận. Vì phát xuất từ hệ thống Du già do Vô Trước
(Asanga), anh ruột của Thế Thân sáng lập, Duy thức tông thiên
trọng sự thực hành về pháp quán tưởng (Yogàcàra, quán
hạnh). Thêm vào hai nguyên lý có tính chất tổng thể phổ
quát (universal), Duyên khởi là Không và Nhị đế, của Trung
Luận, Duy thức tông thiết lập một đạo lý mới có tính
chất cá thể đặc thù (particular) chuyên khảo về Thức và
nghiên cứu phương pháp thực hành phát triển khả năng của
Thức, chuyển Thức thành Trí để có thể hiểu biết Chân
lý tuyệt đối. Tuy với danh xưng là duy thức, tuy luận thuyết
lập nên là để minh giải tất cả các pháp bằng cách này
hay cách khác luôn luôn liên hệ với thức, nhưng kỳ thật
cơ sở căn bản của luận thuyết Duy thức là thuyết tam
tính (trisvabhàva): Biến kế sở chấp, Y tha khởi, và Viên
thành thật. Tam tính này một mặt liên hệ chặt chẽ với
thuyết tri thức (theory of cognition) , mặt khác là đối
cảnh sở duyên của chỉ quán (object of yogic contemplation), tức
là thuyết quán tưởng (theory of yogic praxis).
A. Thức:
Trí còn phân biệt chủ khách.
Theo thuyết
tri thức, thức là một trong hết thảy pháp y tha khởi,
hiện hữu nhờ các duyên, chứ không phải là cái gì thật
có riêng ngoài mọi pháp. Thức có năng lực đặc biệt
phân biệt biết được cái khác và tự biết được mình.
Bản thể của thức là liễu biệt. Liễu là liễu tri, tức
hiểu biết rốt ráo trọn vẹn, biệt là biệt chỉnh cảnh.
Tức liễu tri mỗi mỗi cảnh riêng biệt, như nhãn thức liễu
tri sắc, nhĩ thức liễu tri thanh v..v.. Từ bản thể ấy khi
chuyển biến thì hiện ra hai phần, một phần có khả năng
phân biệt nhận biết, gọi là kiến phần, phần kia
không có khả năng phân biệt, chỉ làm đối tượng cho kiến
phần gọi là tướng phần. Hai phần đó, phần biết
(nhận thức) và phần bị biết (đối tượng) cùng sanh cùng
diệt, có phần này thì có phần kia, phần này không thì phần
kia không. (Luận Thành Duy Thức, Thích Thiện Siêu dịch và
chú). Trong thức luôn luôn bao gồm cả phần chủ thể lẫn
phần đối tượng. Nói cách khác, cảm giác, tri giác, hay ý
thức phải luôn luôn là cảm giác về một cái gì, tri giác
về một cái gì, hay ý thức về một cái gì. Không thể có
chủ thể riêng biệt với đối tượng.
B. Biến
kế chấp: Chiếc bè đậu ở bến mê.
Tự hai phần
của thức không có chi là ngã là pháp. Nhưng phàm phu mê muội
cứ dựa vào kiến phần (chủ thể) chấp cho là ngã,
dựa vào tướng phần (đối tượng) chấp cho là pháp. Như
vậy, ngã và pháp dựa vào hai phần kiến tướng của nội
thức mà giả lập, nên chúng chỉ có nghĩa theo tục
đế, tức là giả dối, không có. Do đó thế giới hiện
tượng bị nhìn sai lạc méo mó dưới lăng kính phân biệt
hư vọng. Ðấy là biến kế sở chấp, sự vật hiện có một
cách sai lầm. Biến kế là ảo trạng của phàm phu ngộ nhận,
như ngộ nhận sợi dây là con rắn; biến kế này chính
là ngã và pháp do phàm phu vọng chấp mà có. Vì vậy,
biến kế là vọng hữu. Ngã và pháp của phàm phu hoàn
toàn do vọng tưởng bịa đặt ra chứ không dựa vào một
thực thể nào cả (vô thể tùy tình giả).
Thực ra,
sự vật trong thực tại hiện hữu theo cách thức của chúng.
Chỉ vì không nhận thức đúng thật tánh, thật tướng của
sự vật là y tha khởi, là duyên sinh vô ngã, nên mới nhận
lầm thế gian này thành một thế giới vọng tưởng.
C. Viên
thành thật: Chiếc bè chuyển qua bến ngộ.
Thế gian
này, cái thế giới thân thiết nhất của ta, thế giới trong
đó ta sinh trưởng, già chết, và trong đó ta đang sống, luôn
luôn là như thế (yathàbhùta, như thị). Cũng nhìn vào thế
gian này nhưng sau một hành trình tinh tấn tu hành thành đạt
chứng quả, Thánh nhân thấy ra một thế giới viên thành,
có một cách đích thực. Viên thành là thực thể của các
pháp hữu vi, như thực chất của sợi dây là chất chỉ gai.
Viên thành chính là pháp tánh chân như, do tuệ giác chứng
ngộ. Viên thành là thực hữu. Thánh nhân đã chứng
ngộ các pháp đều là y tha khởi, là duyên sinh. Khi Phật
nói đến năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, v..v..,
ở đó không có gì chuẩn đích là ngã, là pháp cả. Vì để
tiện việc hóa độ chúng sinh nên Phật mới giả nói đến
ngã đến pháp (hữu thể thi thiết giả). Khi nhận thức, Thánh
nhân và đối tượng là một. Ðó là lối nhận thức của
Thiền, "đi ngay vào chính đối tượng và có thể nói, nhìn
nó từ bên trong. Biết đoá hoa là trở thành đóa hoa, là đóa
hoa, nở như đóa hoa, và hân thưởng ánh sáng mặt trời cũng
như mưa rơi" (Thiền sư D. T. Suzuki, Giảng thuyết về Thiền).
Công phu tu
tập của Thánh nhân đã chuyển Thức thành Trí. Vì vô minh
nên Thức không thấy được mặt mũi chân thật của vạn
pháp, mà chỉ vọng tưởng phân biệt (biến kế sở chấp)
về vạn pháp. Trí là tuệ giác trong đó không có còn chủ
thể và đối tượng. Chỉ có Vô phân biệt trí mới nhìn
thấy thực tại tự thân của vạn pháp (viên thành thật),
nghĩa là thấy thế giới như thật.
D. Y tha
khởi: Chiếc bè giải thoát.
Theo như
trên, cũng đều là một thế giới, nhưng khi chấp duyên khởi
là có thời hiện ra thế giới vọng tưởng, khi chứng ngộ
duyên khởi là Không thì hiện ra thế giới viên thành. Như
vậy thực tính của thế giới ấy là gì mà có thể khi thì
chuyển biến thành thế giới vọng tưởng của kẻ phàm phu,
khi thì chuyển biến thành thế giới viên thành của bậc Thánh
trí? Chính y tha khởi là thực tính của vạn hữu. Y
tha khởi (paratantrasvabhàva) có nghĩa là không sự vật nào
có thể hiện hữu độc lập với những sự vật khác, không
có gì vượt khỏi luật tương duyên tương sinh. Thế giới
y tha khởi (thế giới với bản tính y tha khởi) có một
cách tương đối; y tha là do yếu tố mà có, như sợì giây
do chỉ gai và mọi hỗ trợ mà thành; y tha này chính là các
pháp hữu vi, do chủng tử nơi a lại da nhờ các trợ duyên
mà hiện hành; y tha là giả hữu. Nhưng thế giới y tha
khởi không thể thấy bằng lý luận, chỉ có các bậc Thánh
trí mới tuệ tri được. Như vậy y tha khởi là duyên khởi
hiểu theo ý nghĩa của tánh Không, nghĩa là sau khi phủ định
sự có ngã pháp thời vọng chấp sẽ không còn có lý do gì
mà tồn tại nữa và tri giác sẽ chuyển từ thức vô minh
qua trí tuệ sáng suốt hoàn toàn.
Với khả
năng chuyển biến của tánh Không như vậy, tính y tha khởi
không những có thể xem như là sở y (àsraya, nơi nương
tựa) của hai tính kia, mà hơn nữa làm chiếc bè giúp hành
giả chuyển từ bến mê (biến kế chấp) sang bến ngộ
(viên thành thực). Nói một cách cụ thể hơn, khởi đầu,
hành giả quán tưởng Không, tức tính y tha khởi của ngã
và pháp, để tiêu diệt kiến chấp ngã pháp, trên bề mặt
cũng như trong địa hạt vô thức. Theo đó mọi ô nhiễm như
phiền não chướng và sở tri chướng cũng bị tiêu diệt,
mọi chủng tử cũng được chuyển từ bất tịnh sang tịnh
và hành giả chứng đắc Vô phân biệt trí (nirvikalpa-jnàna).
Có Vô phân biệt trí thời mới thấu đạt bản thân tính
y tha khởi, tức là viên thành thật. Bài kệ thứ 22, Duy thức
Tam thập tụng, Thế Thân, nhấn mạnh rằng chân tướng
của thực tại, tức viên thành thật, cũng chính là y tha khởi:
"Viên thành
thật có nghĩa là sự vắng mặt vĩnh viễn của biến kế
chấp nơi y tha khởi. Do đó nó (viên thành thật) với y tha
khởi không phải một mà cũng không phải khác. Liên hệ giữa
hai cái cũng giống như liên hệ giữa vạn vật vô thường
và tính cách vô thường của vạn vật: không thể thấy cái
này nếu không thể thấy cái kia".
Thế giới
có ba mặt tương hợp với ba tính nói trên được gọi là
thế giới duy thức. Do thức là một pháp y tha khởi
và vì mọi pháp đều duy thức nên thế giới duy thức có
thể chuyển biến gỡ bỏ vĩnh viễn biến kế chấp ra khỏi
y tha khởi để hiển lộ viên thành thật. Theo Nhiếp
Luận của Vô Trước, ngay sau khi chứng đắc Vô phân biệt
trí hay Ðại trí hành giả cũng chứng đắc Hậu đắc
trí (tat-prsthalabdha-jnàna). Ðại Trí "không tác ý, tầm
tư, và thọ tưởng" và có đối tượng là "pháp tánh ly ngôn,
tức chân như vô ngã". Tích cực hơn, Hậu đắc trí suy tư
và phân biệt theo năm cách: "thông suốt, tức quán chân như
bằng ấn tượng mà thông suốt chân như; tùy nghĩ, tức theo
sự thông suốt mà truy niệm chân như; thiết lập, tức thiết
lập danh tướng mà tuyên thuyết cho người về chân như; tổng
hợp, tức tổng hợp các pháp mà quán sát; và đúng
ý, tức muốn gì cũng biến hóa được". Trí Hậu đắc
có thể xem như là thức đã được thanh lọc qua Ðại trí.
Nó là một pháp hữu vi, thuộc tục đế. Ðiều này giải
thích tại sao một người phàm phu và một thiền sư ngộ đạo
không nhìn thực tại giống nhau. Trở lại với tam tính của
Duy thức, sự phát hiện Hậu đắc trí ngay sau khi chứng đắc
Ðại Trí tương ứng với sự chuyển biến viên thành thật
ngược trở lại y tha khởi. Nói cách khác, y tha khởi sống
trở lại trong Hậu đắc trí. Như vậy trên đường tu chứng,
hành giả bắt đầu quán tưởng tính Không của ngã và pháp
để tìm không thấy có ngã và pháp. Sau khi chứng được
quả chuyển y, hành giả trở lại thế gian hoạt động độ
sinh và bằng cặp mắt giác ngộ (Hậu đắc trí) nhìn thấy
không có tự tính nơi mọi sự vật, tất cả đều sinh,
thành, hoại, diệt theo luật duyên khởi.
Ðể kết
luận, ba tính: biến kế sở chấp, y tha khởi, và viên thành
thật có ý nghĩa không khác gì ý nghĩa Không, Giả danh, và
Trung đạo nói đến trong bài tụng Trung Luận, XXIV.18. Ngài
Long Thọ đứng trên chân không vô tướng, tức viên thành
thật mà phá biến kế chấp. Ngài Thế Thân thời đứng trên
Duy thức y tha khởi để phá biến kế chấp. Cả hai Ngài đều
dùng một phương thuốc trị liệu là lý duyên khởi để cùng
chữa một căn bệnh, bệnh ảo tưởng về thật ngã, thật
pháp.
Tháng tám, 1999