3.
Hãy Ðến mà Thấy!
Cái tuyệt
vời của đạo Phật là mời chúng ta đến để mà thấy (ehi-passiko),
chứ không phải đến để mà tin. Thực ra, tin tưởng không
cần thiết một khi thấy rõ, biết rõ, và hiểu rõ. Giống
như trường hợp mở nắm tay ra cho thấy viên ngọc dấu trong
đó thì sự tin tưởng có viên ngọc dấu trong tay tự nhiên
biến mất. Trong sự tu tập và tìm sự giải thoát cho chính
mình, trước hết phải giải tỏa mình ra khỏi hoài nghi, một
trong năm món ngăn che: tham dục, sân nhuế, thụy miên, trạo
hối, và nghi pháp. Nghi pháp là một trở ngại cho sự
hiểu biết chân lý và cho bất cứ sự tiến bộ nào trong
việc tu hành. Trong Phật giáo không có tín điều cho nên hoài
nghi không phải là một "tội lỗi". Hoài nghi cũng là một
điều không tránh được khi ta chưa hiểu rõ, thấy rõ. Nhưng
làm sao đoạn trừ hoài nghi hầu thực hiện tiến bộ? Nếu
tự buộc mình phải tin tưởng và chấp nhận một điều mình
không hiểu biết rồi nói "tôi tin", "tôi không nghi", làm như
thế chắc chắn không giải tỏa được hoài nghi chút nào.
Kinh Anh Võ, Trung A-Hàm, thuật lại lời Phật nói đến tu pháp
"phân biệt như vậy, hiển thị như vậy" (tức là quan sát
và phân tích phê bình) và khuyến cáo rằng tụng tập, thọ
trì, học hỏi kinh điển vẫn chưa đủ để nói lên kết
quả của chúng, nếu không "tự tri, tự giác, tự tác chứng".
Ðức Phật nhấn mạnh trên sự tự chính mình thấy, biết,
và hiểu rõ, vì đó là phương cách hữu hiệu để làm biến
mất hoài nghi. Ðã có lần Ngài khuyên những người thuộc
bộ tộc Kalama ở Kesaputta như vầy: "Này các Kalama, chớ có
tin vì nghe lời thuật lại, chớ có tin vì theo truyền thống,
chớ có tin vì nghe những lời đồn. Ðừng để bị dẫn dắt
bởi uy quyền của kinh điển, bởi luận lý siêu hình, hay
bởi sự xét đoán bề ngoài. Ðừng để bị lôi cuốn bởi
những gì có vẻ đáng tin, bởi thích thú trong những quan niệm
võ đoán, hay bởi ý nghĩ 'Ðây là thầy ta' ... Nhưng này
các Kalama, khi nào các người tự mình biết rằng các pháp
ấy là thiện, là tốt, được người có trí tán thán, các
pháp này nếu được chấp nhận và thực hiện thì sẽ đem
lại hạnh phúc và an lạc " (Tăng Chi Bộ Tập I, Kinh Các vị
ở Kesaputta).
Nhận thức
và luận lý trong giáo lý của đức Phật.
Khắp trong
kinh điển, những lời Phật dạy luôn luôn nêu rõ hoặc hàm
chứa ý nghĩa và lợi ích của sự thấy biết và hiểu biết.
Như kinh Pháp Hoa đã nói, mục đích của chư Phật chỉ vì
một việc trọng đại duy nhất mà ra đời, đó là khai thị
cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật. Những lời Phật nói
đều xuất phát từ sự đại tự giác, từ kinh nghiệm chứng
ngộ sau một quá trình thanh luyện tâm thức của Ngài chứ
không do sự kế thừa truyền tập nào cả. "Như Lai từ đêm
chứng ngộ Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác cho đến hôm
nay sẽ vào tịch diệt cảnh giới Niết bàn; trong khoảng thời
gian ở giữa đó, nếu những gì được nói ra, được ứng
đối tự chính miệng của Như lai, thì tất cả những điều
ấy đều là chắc thật, không hư vọng, không ra ngoài Như
lai, không phải là điên đảo. Ðó là sự chắc thật, là
sự chân thật." (Kinh Thế Gian, Trung A-hàm) Nói một cách khác,
đức Phật minh định cái biết bắt nguồn từ thể nghiệm
và chứng ngộ là cái biết thông suốt, chân thật, và không
hư dối.
Bác sĩ Kimura
Taiken trong quyển Nguyên Thủy Phật Giáo tư tưởng luận do
ông viết có đưa ra một giả thiết đáng chú ý để giải
thích vì sao một lúc đã quyết định không thuyết pháp độ
sinh, Phật lại đổi ý định mà bắt đầu chuyển pháp luân.
Ðó là vì có vị Phạm Thiên nói về tình trạng hỗn loạn
trong tư tưởng giới ở vùng Magadha nơi Phật cư ngụ, "nếu
Ngài không thuyết pháp thì hiện nay thế gian sẽ hư hoại
thật đáng thương xót, ngưỡng mong đức Thế tôn hãy kịp
thời giảng dạy chánh pháp, chớ để chúng sanh đọa lạc
vào đường khổ." (Kinh Ðại Bốn duyên, Trường A-hàm)
Phật không nỡ ngồi nhìn các nhà tư tưởng mới trong các
đoàn Sa Môn với xu thế cực đoan nguy hiểm gây nguy hại cho
thế đạo nhân tâm và cũng muốn dẫn dắt họ trở về con
đường chính đáng.
Quả vậy,
kinh Phạm Võng, Trường A-hàm, có ghi lại tất cả sáu mươi
hai luận chấp thịnh hành, bao hàm tất cả các vấn đề và
giải đáp những vấn đề ấy của thời bấy giờ. Có mười
tám luận chấp về quá khứ: bốn chủ trương thuyết thường
trú, bốn chủ trương thuyết vừa thường trú vừa vô thường,
bốn chủ trương thuyết hữu biên và vô biên, bốn chủ trương
thuyết ngụy biện, và hai chủ trương thuyết không có nhân
quả. Có bốn mươi bốn luận chấp về tương lai: mười sáu
chủ trương là còn tri giác sau khi chết, tám chủ trương là
không còn tri giác sau khi chết, tám chủ trương là không phải
còn cũng không phải không còn tri giác sau khi chết, bảy chủ
trương thuyết đoạn diệt, và năm chủ trương thuyết hiện
tại là niết bàn. Sau khi trình bày những sai lầm của sáu
mươi hai luận chấp, đức Phật nói: "Hàng trăm hàng ngàn
học thuyết đang hiện hành và tranh chấp lăng xăng trong giới
triết học và tôn giáo hiện nay đều nằm kẹt trong cái lưới
của sáu mươi hai luận chấp ấy, không thể nào vượt thoát
ra nổi. Các vị khất sĩ! Ðừng đi vào trong cái lưới mê
hồn ấy để mất hết thời giờ và cơ hội tu tập đạo
giải thoát. Ðừng đi vào cái lưới của sự hý luận. ...
Tất cả những luận chấp kia đều phát sinh do sự lừa gạt
của tri giác và của cảm thọ. Vì không tu tập chánh niệm,
vì không quán chiếu nên người ta không biết được chân
tướng của tri giác và cảm thọ, do đó đã bị tri giác và
cảm thọ lừa gạt. Nếu thấy được nguồn gốc và bản
chất của tri giác và cảm thọ, người ta sẽ thấy được
tự tính vô thường và duyên sinh của sự vật, người ta
sẽ không bị vướng vào lưới tham ái, lo âu, và sợ hãi,
người ta sẽ không bị vướng vào cái lưới của sáu mươi
hai luận chấp."
Kinh Phạm
Võng cho thấy rằng tất cả sáu mươi hai luận chấp về bản
tính của ngã và ngoại giới bắt nguồn từ hai tri lượng
(pramàna, source of knowledge): kinh nghiệm và suy luận. Sự khác
biệt giữa hai phái cực đoan, duy lý và duy nghiệm, là ở
điểm phe duy lý không chấp nhận phương pháp thực tu thực
chứng mà chỉ dùng lý trí và suy luận.
Như lời
giải thích trong kinh, tất cả những sai lầm căn bản của
các kiến giải nói trên là do không ý thức được con đường
Trung đạo, không chịu xa lìa nhị biên, và có khuynh hướng
chấp thủ cực đoan. Cái biết đức Phật nói đến là cái
biết với thiền định (thắng tri, abhinnàttha), cái biết rốt
ráo trọn vẹn (liễu tri, parinnàttha), cái biết có khả năng
thấy được nguồn gốc và bản chất của tri giác và cảm
thọ, thấy được tự tính vô thường và duyên sinh của sự
vật. Cái biết như vậy có nghĩa là đoạn tận (pahànattha),
có khả năng đoạn diệt tham ái, lo âu, và sợ hãi.
Một số
bài kệ sau đây trích từ Kinh Tập (Sutta Nipàta) giúp ta
nhận thấy quan điểm của đức Phật về ngôn thuyết, văn
tự, tranh luận, trí thức, và cuồng tín.
"Các
Sa Môn tranh luận,
Có đến
62 thuyết,
Các ngôn
thuyết văn tự
Y đây, các
tướng khởi." (538)
"Ai thiên
trú trong kiến,
Xem kiến
ấy tối thắng
Ở đời
đặt kiến ấy
Vào địa
vị tối thượng.
Người ấy
nói tất cả
Người khác
là hạ liệt,
Do vậy không
ai vượt khỏi
Sự tranh
luận ở đời." (796)
"Không phải
từ tri kiến,
Từ truyền
thống, từ trí
Không phải
từ giới cấm,
Thanh tịnh
được đem đến." (839)
"Người đã
có cuồng tín,
Không đưa
đến thanh tịnh.
Vì đã có
thiên vị,
Với tri
kiến tác thành." (910)
Kinh Tăng chi
bộ, Phẩm Rohitassa, Chương IV, Tập I, HT Thích Minh Châu dịch
từ nguyên bản Pàli, có ghi lại lời đức Phật chỉ cách
thức để trả lời các câu hỏi.
"Này các
Tỷ kheo, có bốn cách thức để trả lời câu hỏi. Thế nào
là bốn?
Có câu hỏi,
này các Tỷ kheo, đòi hỏi câu trả lời nhất hướng (một
chiều dứt khoát); có câu hỏi, này các Tỷ kheo, đòi hỏi
một câu hỏi phản nghịch; có câu hỏi, này các Tỷ kheo,
cần phải để một bên; có câu hỏi, này các Tỷ kheo, cần
phải trả lời một cách phân tích."
Trong Lối
vào Nhân minh học, Phần Khởi nguyên của Nhân Minh, HT Thích
Thiện Siêu ghi lại đoạn ấy rõ ràng với nhiều chi tiết
hơn cũng từ kinh Tăng chi bộ, bản 1988, tập I, trang 223:"Với
sự tranh luận, một người có thể biết được là có khả
năng nói chuyện (kaccha) hay không có khả năng. Nếu người
nào khi được hỏi một câu, không trả lời một cách dứt
khoát một câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát, không trả
lời một cách phân tích một câu hỏi cần phải trả lời
một cách phân tích, không trả lời một câu hỏi ngược lại
một câu hỏi cần phải trả lời với một câu hỏi ngược
lại, không có gạt qua một bên một câu hỏi cần phải gạt
qua một bên, một người như vậy không có khả năng để
thảo luận. Nếu người nào trả lời một cách dứt khoát
một câu hỏi cần phải trả lời một cách dứt khoát, trả
lời một cách phân tích một câu hỏi cần phải trả lời
một cách phân tích, trả lời một câu hỏi ngược lại một
câu hỏi cần phải trả lời với một câu hỏi ngược lại,
gạt qua một bên một câu hỏi cần phải gạt qua một bên,
một người như vậy có khả năng để thảo luận.
Nếu một
người khi được hỏi một câu không xác nhận là đúng hay
không đúng, không xác nhận là một giả thuyết, không xác
nhận là quan điểm của một bậc trí, không xác nhận là
sở hành thường làm, mà người ấy vẫn trả lời, người
như vậy không có khả năng thảo luận. Ngược lại là người
có khả năng thảo luận.
Nếu một
người khi được hỏi một câu, tránh câu hỏi ấy với một
câu hỏi khác, hướng câu chuyện ra ngoài, bày tỏ sự phẫn
nộ, sân hận, bất mãn, người như vậy không có khả năng
thảo luận. Ngược lại là người có khả năng thảo luận.
Nếu một
người khi được hỏi một câu, lại mắng chưởi, đánh đập,
nhạo báng, chụp lấy chỗ sơ hở, người như vậy không có
khả năng thảo luận. Ngược lại là người có khả năng
thảo luận."
Bốn cách
trả lời Phật dạy trong đoạn kinh vừa trích ra trên đều
được ghi lại trong kinh Trường A-hàm, kinh Giải Thâm Mật,
Luận Ðại Trí Ðộ, Luận Du già, Luận Tỳ Bà Sa, Luận Câu
Xá, và có thể tóm tắt như sau.
1. Nhất
hướng ký (hay quyết định trả lời) tức trả lời một
cách dứt khoát.
2. Phân biệt
ký (hay giải nghĩa đáp) tức trả lời một cách có phân tích
rõ ràng.
3. Phản
vấn ký (hay phản chất đáp) tức trả lời bằng cách hỏi
ngược lại người hỏi.
4. Xả trí
ký (hay trí đáp) tức trả lời bằng cách im lặng, gạt qua
một bên những vấn đề trừu tượng vô bổ.
Ý nghĩa
quan trọng của các Luận thư Phật giáo.
Những đoạn
văn kể trên cho ta ý thức được rằng trong các buổi nói
pháp, chủ yếu của đức Phật không nhằm thỏa mãn yêu cầu
luận lý và triết học mà là mở ra cho người nghe pháp con
đường giải thoát chính Ngài đã thể nghiệm. Tuy vậy, giáo
pháp của Ngài luôn luôn bao hàm cả phương diện triết học
lẫn tôn giáo cũng như lý luận lẫn thực tế. Nếu muốn
áp dụng phương pháp phân tích để tìm hiểu tư tưởng Phật
giáo, trước tiên ta cần khảo sát và nghiên cứu giáo lý
của đức Phật trên hai phương diện nhận thức và luận
lý, nhưng không bao giờ quên rằng dẫu xét dưới hình thức
luận lý hay triết lý, giáo lý của đức Phật luôn luôn lấy
thực tế làm cơ sở. Ba câu hỏi căn bản thường xuyên được
đặt ra: Làm thế nào để biết một sự việc nào đó là
thật, có giá trị? Tại sao phải chấp nhận giáo thuyết,
hay kiến giải này mà lại bác bỏ những giáo thuyết, hay
những kiến giải khác? Lấy gì làm chứng lý để thuyết
minh một vấn đề đang khảo sát hay đem ra tranh luận trước
đám đông? Mấy câu hỏi ấy giải thích sự cần thiết và
tầm quan trọng của các luận thư đối với sự nghiên cứu
vấn đề nhận thức (knowledge) và luận lý (logic) trong kinh
điển Phật giáo.
Luận thư
được trước tác là để bàn luận về các vấn đề triết
lý, nhận thức, luận lý, tâm lý, đạo đức, siêu hình mà
đức Phật nói trong các kinh. Kinh tạng là do sưu tầm những
lời dạy của đức Phật cho từng trường hợp, từng hoàn
cảnh, từng cá nhân, nhiều khi không có liên hệ tương quan.
Các Tổ sư và luận sư Phật giáo đã gia công diễn đạt
bản ý của đức Phật và kiến lập thành hệ thống tư tưởng
đặc thù phù hợp với những lời Phật dạy. Sự cố gắng
hệ thống hóa những lý thuyết và phương pháp tiềm ẩn rải
rác trong kinh tạng và đặt những hệ thống ấy trên một
bối cảnh chung giúp chúng ta có một cái nhìn tổng quát và
quán xuyến về đạo Phật. Luận dùng ngôn ngữ của triết
học, trừu tượng, khô khan, khó hiểu. Kinh dùng ngôn ngữ
thông thường, đơn giản, đôi lúc mộc mạc, tương đối
dễ hiểu hơn. Người ta thường ví việc trì tụng kinh như
bơi thuyền trên mặt hồ rất thơ mộng. Trái lại, suy ngẫm,
nghiên cứu về những triết lý cao thâm vi diệu trong Luận
chẳng khác nào lặn sâu xuống đáy hồ để tìm vật báu.
Một số người cho rằng mục đích tu Phật là dùng trí tuệ
nhìn lại tâm mình, "không thuộc tín ngưỡng tôn giáo, không
vì ham chuộng ưa thích, không do học hỏi lắng nghe, không
dụng suy tư về phương pháp, không cần cố gắng kham nhẫn,
không biện luận vì thích thú biện luận, chỉ dùng trí tuệ
mà biết." (Tương Ưng Bộ, Kinh Có pháp môn nào?) Vậy đâu
cần phải biện luận cho giỏi, lý lẽ cho hay, tạo ra luận
giải, thử hỏi có lợi ích gì? Ngài Long Thọ trong Phương
tiện Tâm luận đã giải thích như sau: "Thánh đệ tử tạo
luận không phải vì hơn thua, lợi dưỡng, hay vì danh vọng,
mà chỉ muốn làm rõ các tướng thiện ác, đúng sai. Ðời
nếu không có luận thì sự mê loạn tràn lan, bị cuồng hoặc
bởi sự xảo biện của tà trí, mà khởi sinh các nghiệp ác
bất thiện, phải chịu quả báo luân hồi trong các cõi ác.
Nếu tạo luận, thời có thể tự phân biệt được các tướng
thiện ác, đúng sai, không còn bị người tà kiến làm mê
hoặc, chướng ngại nữa."
Các giai
đoạn phát triển tư tưởng Phật giáo.
Theo một
số đông học giả, triết học Phật giáo có thể chia làm
ba thời kỳ, gọi là ba lần chuyển xe pháp. Tuy nhiên, suốt
lịch sử Phật giáo không có một tông phái nào thành lập
mà không có thiền định. Thiền (samàdhi) là một trong sáu
Ba la mật. Không có thiền thì không thể đạt được Phật
tri kiến. Ðối với Phật giáo, hành động đúng có nghĩa
là suy tư chân chánh.
A. Thời kỳ
chuyển xe pháp lần đầu còn gọi là thời kỳ Thắng pháp
(Abhidhamma, Luận thư). Ðây là thời kỳ Phật giáo phân chia
thành nhiều tông phái khác nhau. Các quan điểm về giáo lý
của Phật được trình bày thành hệ thống triết luận tư
tưởng riêng biệt của từng tông phái trong các luận thư.
Ðáng kể là bộ Thắng pháp tập yếu luận (Abhidhammattha-
sangaha), tương truyền do ngài A Nậu Ða La (Anurudha) trước
tác. Sách được trình bày một cách gọn ghẽ súc tích những
phân tích rất tinh tế và tỉ mỉ các tâm và tâm sở, đồng
thời giải thích rất cặn kẽ lộ trình của tâm. Vào thời
gian xuất hiện Thắng pháp luận, luận lý học chưa đến
mức độ trở thành một hệ thống riêng biệt cho nên không
thể tìm ra phần luận lý học trong luận tạng này. Tuy vậy
Thắng pháp luận vẫn được xem như là một trong những nền
tảng triết học cơ bản nhất của Nam phương Thượng Tọa
bộ (Theravàda)
.
Tông phái
này y cứ Kinh chứ không y cứ Luật tạng và Luận tạng, vì
cho rằng Luật là Phật tùy căn cơ, khi khai khi giá không nhất
định. Còn Luận là giải thích Kinh văn, thường đi quá sự
thật, chỉ có Kinh tạng là căn bản, không bị các khuyết
điểm đó. Về sau, khuynh hướng trọng tư biện lý luận lấy
Luận tạng làm căn bản mà coi nhẹ Kinh dẫn đến sự thành
lập Nhất thiết Hữu bộ (Sarvastivàda) ở phương Bắc. Hữu
bộ liên hệ chặt chẽ với bộ phái chính truyền là Thượng
tọa bộ, nhưng về sau tách biệt hoàn toàn trở thành phái
Phân biệt thuyết (Vaibhàsika, Ti bà sa). Hữu bộ quan niệm
rằng tất cả các pháp đều thực hữu trong quá khứ và trong
vị lai cũng như thực hữu trong hiện tại, nhưng không kéo
dài từ thời gian này đến thời gian khác. Ðó là chủ trương
"Pháp hữu Ngã vô", nghĩa là không có bản ngã lưu tồn mà
chỉ có thực tại tính của các pháp. Thể tính thực hữu
ở đây có nghĩa là một hiện hữu sát na hay tương tục tính
của những hiện hữu sát na riêng rẽ.
Kinh lượng
bộ (Sautràntika) là bộ phái theo Kinh tạng nguyên thủy, chống
lại chủ trương Thực hữu luận của Hữu bộ, thừa nhận
chỉ có hiện tại là thực hữu còn quá khứ và vị lai thì
vô thể; ngoài ra còn chủ trương Ngã Không và nhất thiết
pháp Không, và thừa nhận có hai chân lý: chân đế và tục
đế.
Sau đây là
tóm tắt những đặc điểm của thời kỳ Thắng pháp.
(1) Ða
nguyên luận. Các tông phái trong thời kỳ này chủ trương
tất cả sắc pháp hay vật chất hữu hình đều do nhiều yếu
tố tổ hợp mà thành [Bốn đại chủng: đất - cứng, nước
- lỏng, lửa - nhiệt, và gió - động] chứ không phải là
một thể thuần nhất, độc lập, và cố định. Nhân cách
hay ngoại giới cũng vậy đều do nhiều yếu tố hợp thành
(ngũ uẩn), gồm có tâm [thọ - tri giác, tưởng - khái niệm,
hành - ý chí, và thức]và vật [sắc -ồm bốn đại]. Chỗ
khác nhau là ở nhân cách thì tâm nổi bật mà ở ngoại giới
thì vật nổi bật.
(2) Sát
na sinh diệt. Mỗi một yếu tố như vậy sinh diệt biến
chuyển trong từng sát na, nghĩa là trong chớp nhoáng. Hiện
tượng tâm lý hay vật lý chỉ là sự tương tục của những
hiện hữu sát na riêng rẽ, không bao giờ đứng yên ở cùng
trong một trạng thái. Trong sự biến chuyển đó, không có
tồn thể, không có bản ngã cá biệt thường tồn, không có
linh hồn, không có đấng sáng tạo, không có nguyên lý uyên
nguyên của vũ trụ.
(3) Nhân
duyên luận. Tất cả sinh thể và sự thể hiện hữu như
là những quan hệ hay những tụ tập nhân quả, theo nguyên
lý duyên khởi. Mọi biến dịch đều phát xuất từ nguyên
lý hoạt dụng nhân quả và hiện hữu trong những tác hợp
nhân quả. Trong thuyết nhân duyên, mỗi giai đoạn là một
nhân khi nhìn từ hiệu quả của nó. Nếu nhìn từ nhân đi
trước thì nó là một hiệu quả. Như vậy có thể nói trong
quả có nhân và trong nhân có quả, không có gì cố định
trong lý thuyết này.
(4) Hành
và Nghiệp. Ðiều kiện để kết hợp năm uẩn là ý chí
sinh tồn mù quáng nguyên thủy, tức năng lực vô minh. Vô minh
duyên hành (samkhàra), tức căn để của ý chí. Hành là những
tác động vô thức của ý chí sinh tồn theo hướng vô minh,
tương giao tương liên với những uẩn kia để phát sinh nghiệp
quả nơi thân, khẩu, và ý. Rồi nghiệp lại làm căn bản
để lại khiến cho năm uẩn hoạt động, cứ như thế mà
chuyển tâm thức trôi chảy như một dòng sông. "Hữu tình
lấy nghiệp làm tự thể, là sự tương tục của nghiệp".
(5) Con
người, một sinh thể tự tạo. Con người chẳng qua là
một thực thể tạm thời, chỉ sống trong tương tục tính
của sát na. Anh hưởng của các hành động do ý muốn (nghiệp,
karma) luôn luôn tồn tại dưới hình thức một năng lực tiềm
ẩn gọi là nghiệp cảm. Chính nghiệp cảm quyết định cuộc
sống sinh tồn kế tiếp. Quá khứ hình thành hiện tại và
hiện tại hình thành tương lai. Như thế con người là một
sinh thể tự tạo vì nó tự quyết định bản chất và hiện
hữu cho chính nó bằng các hành động do ý muốn của nó.
Tùy theo bản chất hành động tự tác, một sinh vật như con
người có thể thác sinh vào nhiều cảnh ngộ và trong bất
cứ hình thái nào, từ loài vật cho đến loài trời. Sự biến
hóa hình thái đời sống do ảnh hưởng của các hành động
về trước tái diễn nối tiếp vô thủy vô chung, gọi
là luân hồi (samsàra). Trong sự biến chuyển như vậy không
có một yếu tính nào bất biến bởi vì bản ngã hiện tại
là hậu quả của nguyên nhân mà ta gọi là bản ngã quá khứ,
và trong vị lai, bản ngã của chúng ta cũng không biến mất
vì chúng ta là những sinh thể tự tạo.
(6) Khổ
và Ðạo. Lý vô thường, vô ngã cho thấy rằng thế gian
này không có gì ngoài sự đau khổ. Cái cảm thông khổ đau
ấy lại là động cơ thúc đẩy con người tìm đến sự giải
thoát. Ðể đạt đến cảnh giới triệt để giải thoát và
rốt ráo yên ổn phải là người có trí mới biết được
con đường đưa đến an lạc và hạnh phúc. Chỉ có trí tuệ
(pannà) mới là phương tiện duy nhất đưa loài người đến
bờ giải thoát và giác ngộ. Phát triển ba tuệ: văn, tư,
tu là phương cách hữu hiệu đi vào kiến đạo (darshanamàrga),
giai đoạn đầu của tam đạo. Nhưng phải thiền định mới
có thể đạt được tu tuệ. Tuệ và thiền cần có giới
hạnh mới hoàn thành giai đoạn thứ hai là tu đạo (bhàvanàmàrga).
Sau đó, dứt sạch sự sai lầm do lục căn mê chấp và tham
trước (kiến tư hoặc) thì vào được vô học đạo (ashaikshamàrga)
tức giai đoạn cuối của tam đạo. Lúc ấy, hành giả đắc
được quả vị A la hán, quả vị cao nhất của giác ngộ.
B. Thời kỳ
chuyển xe pháp lần thứ hai còn gọi là thời kỳ Học thuyết
về Trung đạo (Madhyamika) hay Không luận (Sùnyavàda).
Trong thời kỳ này, phong trào phục hưng và phát triển một
đường lối Phật giáo mới, về sau được gọi là Ðại
thừa (Mahayana), đã được phái tự do thừa kế Ðại chúng
bộ vận động mở đường hầu khôi phục tinh thần của
Phật tổ để thích ứng với hoàn cảnh của thời đại.
Ở Trung Hoa, tông này được biết dưới danh hiệu là Tam Luận
tông và ở Nhật Bản, là San Lun hay Sanron. Tam Luận là tên
ba luận thư căn bản chuyên về học thuyết Trung đạo chỉ
trích nghiêm khắc những kiến giải sai lầm của Bà La Môn
và các Tông phái tiền Ðại Thừa cũng như Ðại thừa đương
thời. Ðó là hai tác phẩm Trung quán luận (Màdhyamikasàstra)
và Thập nhị Môn luận (Dvàdasadvàra) của Long Thọ (Nàgàrjuna),
và tác phẩm Bách luận (Satasàstra) của Ðề Bà (Aryadeva).
Sau này, một phái mới, Tứ luận tông (Shih-lun, Shiron), thêm
vào luận thứ tư của Long Thọ để bổ khuyết duy tâm luận
phủ định của Tam luận tông có tính chất quá tiêu cực.
Ðó là Ðại Trí Ðộ luận (Prajnàpàramitàsàstra) trong đó
Ngài Long Thọ thiết lập quan điểm nhất nguyên của mình
một cách xác quyết hơn trong bất cứ tác phẩm nào khác.
Về mặt
nhận thức luận (epistemology), có một sự thay đổi đường
lối chứng minh, trước kia chú trọng nhiều đến cách căn
cứ vào giáo lý (giáo chứng), nghiệp thức luận, và nhận
thức luận (lý chứng) nay chuyển qua thiên trọng phép
suy lý biện chứng (dialectic investigation). Sau đây là những
đặc tính tổng quát của thời kỳ này.
(1) Khuynh
hướng thông tục hóa Phật giáo. Muốn được viên mãn
như Phật, cần phải tu hạnh Bồ tát, trên cầu đạo Bồ
đề, dưới phát đại nguyện hóa độ chúng sanh. Các vị
Bồ tát xả thân hoạt động cứu thế chứ không tịch tĩnh
tiêu cực. Không nhất định phải xuất gia làm sa môn mới
tu hành được, trái lại, những người tại gia chỉ cần
phát tâm Bồ đề cũng có thể dự phần vào hàng Bồ tát.
(2) Siêu
nhân hóa hình ảnh của Thế tôn. Phật xuất hiện ở thế
gian để nói Pháp chẳng qua vì nguyện cứu độ chúng sanh.
Ðó là giả hiện (thị hiện) chứ thật ra Phật vốn ở trên
cung trời Ðâu Suất. Ðức Thế tôn trong Phật giáo Nguyên
thủy được trình bày như là Ứng thân (Rùpakàya, Sắc thân
¾ Nairmànikakàya, Hoá thân) và trong Phật giáo Ðại thừa như
vừa là Pháp thân (Dharmakàya; còn gọi là Svàbhàvikakàya, Tự
tính thân), vừa là Báo thân (Sàmbhogikakàya, Thọ dụng thân).
Phật thân thanh tịnh vô lậu. Phật là toàn trí, toàn năng,
hiểu biết hết thảy, và chuyển vận hết thảy tùy ý. Phật
chỉ dùng một tiếng mà có thể nói được hết thảy mọi
pháp, đúng lúc, đúng chỗ, hợp với căn cơ, trình độ, và
tư tưởng của đối tượng.
(3) Chư
pháp vô tự tính. Lý thuyết vô ngã bắt nguồn từ kết
quả thiền quán về Không tánh của vạn hửu đã có từ thời
Phật giáo Nguyên thủy. Nhưng lần này Bồ tát Long Thọ đặc
biệt căn cứ trên phương pháp phủ định biện chứng để
quả quyết tất cả các pháp đều không có tự tính, nghĩa
là "chư pháp vô ngã".
(4) Tứ
cú và Tám không (Bát bất). Ngài Long Thọ dùng Tứ cú [Hữu,
Vô, Diệc hữu diệc vô, Phi hữu phi vô] và Tám không [không
sinh, không diệt, không thường, không đoạn, không giống,
không khác, không đến, không đi] làm luận cứ cơ bản của
phép phủ định biện chứng để rửa sạch mọi ý niệm chấp
trước bám víu vào có, không, sinh, diệt, thường, đoạn,
đồng, dị, khứ, lai. Từ đó, Ngài xây dựng lại nguyên lý
Trung đạo, mà đức Phật đã giải bày trong kinh Ca Chiên Diên
Thị (Kaccanagotta), Tương Ưng Bộ.
(5) Nhị
đế, một phương tiện để Phật tuyên thuyết giáo lý của
mình. Chính theo tục đế (samvriti-satya) mà đức Phật giảng
rằng các pháp sở dĩ có là do nhân duyên. Nhưng theo Chân đế
(paramàrtha-satya) thì tất cả các pháp đều không, nghĩa là
không có tự tính.
(6) Duyên
khởi và Tánh Không. Duyên khởi là hình tướng của tánh
Không và tánh Không là bản thể của Duyên khởi. Như vậy
Duyên khởi là "Vô tự tính". Tánh Không và Duyên khởi cùng
là lý tính đặc thù của Trung đạo, tánh Không thì ở phía
tiêu cực mà Duyên khởi thì ở phía tích cực.
C. Thời kỳ
chuyển xe pháp lần thứ ba còn gọi là thời kỳ Nhất thiết
duy tâm. Vào thời kỳ này hệ thống Trung quán đã trở thành
một thứ bản thể luận hoàn toàn tiêu cực. Hệ thống Du
già luận của Vô Trước (Asanga), sau được Thế Thân (Vasubandhu)
cải tiến thành Duy thức luận xuất hiện và có phần tích
cực hơn. Tông này đặt Phật giáo trên nền tảng duy tâm
luận tổng hợp từ Nguyên thủy đến Ðại thừa, được
gọi là Pháp tướng tông vì lấy sự khảo cứu về bản tính
và sự tướng của vạn hữu làm đối tượng. Tông chủ trương
vạn hữu sinh khởi do tâm và chỉ có tâm (vạn pháp duy tâm)
và minh giải rằng không có pháp nào tách biệt khỏi thức
được (ly thức vô biệt pháp).
Sau đây
là tóm tắt những chủ trương đặc biệt của thời kỳ Nhất
thiết duy tâm.
(1) A lại
da thức (Alayavijnana) hay Tàng thức, căn nguyên của
nghiệp. Học thuyết duy thức chia thức thành tám công năng:
nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý
thức, mạt na thức, và a lại da thức hay tàng thức. Tàng
thức thường bị mạt na thức ngộ nhận là ngã tính vĩnh
hằng (ngã ái chấp tàng). Vô Trước và Thế Thân lấy tàng
thức làm trung tâm để luận chứng rằng hết thảy đều
do thức biến hiện. Tàng thức có công năng bảo tồn và duy
trì hiện hữu của các pháp hoặc trong trạng thái hiện hành,
hoặc trong trạng thái chủng tử (năng trì). Bởi vậy tàng
thức được ví như là nền tảng để tâm phát triển, được
xem như là tự tướng hay thể của tâm. Tàng thức cũng có
công năng phát hiện hiện tượng từ chủng tử thành hiện
hành (năng biến). Các hiện hành rơi trở lại thành chủng
tử và như vậy tất cả các pháp đều đang trở thành (becoming)
không lúc nào ngưng nghỉ. Những chủng tử cố hữu, những
hiện hành, và những chủng tử mới tiếp tục sinh hoạt theo
định luật nhân duyên và nghiệp báo. Sinh mệnh (căn thân)
và môi trường trong đó sinh mệnh sinh hoạt (thế giới tánh
cảnh) là những phát hiện của tàng thức và được xem như
là kết quả của hành động tức nghiệp. Do đó tàng thức
cũng được nhận định là bản thân của nghiệp.
(2) Cái
biết có nhận thức có đối tượng. Nhận thức hay hình
thái (phương cách) nhận thức được gọi là lượng hay tri
lượng. Ðối tượng của nhận thức được gọi là cảnh.
Có ba tri lượng:
(a) Hiện
lượng (pratyaksapramàna) là hình thái nhận thức trực tiếp,
không qua trung gian suy luận hay diễn dịch. Tác dụng nhận
thức chỉ là thuần túy cảm thọ, không có tính cách phán
đoán và ước lượng. Chân hiện lượng là hiện lượng đúng.
(b) Tỷ
lượng (anumànapramàna) là sự nhận thức có tính cách
phân biệt suy đoán. Tác dụng nhận thức là so sánh, phân
biệt, ước lượng, và suy luận. Chân tỷ lượng là tỷ lượng
đúng.
(c) Phi
lượng (abhàvapramàna) là hiện lượng sai (tợ hiện lượng)
hay tỷ lượng sai (tợ tỷ lượng). Thí dụ: lượng của mạt
na là phi lượng vì luôn luôn nhận thức sai lầm có cái bản
ngã đồng nhất bất biến với tính cách chủ tể.
Có ba cảnh
liên hệ mật thiết đến tam lượng.
(a) Tánh
cảnh là lĩnh vực bản chất của thực tại, là cảnh
giới của thực tánh. Vô chất tánh cảnh là bản thể của
tánh cảnh, chỉ có thể là đối tượng của vô phân biệt
trí, hay Bát nhã trí, hay vô lậu trí, nghĩa là bằng loại
trí tuệ nhận thức trực tiếp, sáng tỏ không phân biệt
và tỷ giảo. Hữu chất tánh cảnh là hiện tướng của các
pháp căn cứ trên vô chất tánh cảnh và tuân theo luật tương
quan duyên khởi. Chỉ có chân hiện lượng mới nhận thức
được lĩnh vực này.
(b) Ðới
chất cảnh là lĩnh vực của các ý tượng (representation).
Ðây là thế giới tạo ra bởi thức ô nhiễm trên căn bản
tánh cảnh và là đối tượng của ý thức.
(c) Ðộc
ảnh cảnh là thế giới ảnh tượng do ý thức tạo ra khi
nó hoạt dụng độc lập với năm thức đầu; chỉ có trong
tâm thức chứ không có trong thực tại. Ðộc ảnh cảnh chỉ
có thể lả đối tượng của ý thức mà thôi.
Ý thức
cũng như năm thức đầu có đủ ba tánh: thiện, ác, và vô
ký. Thiện ở đây có nghĩa là hành động tạo nhân tốt.
Ác có nghĩa trái lại. Vô ký là không thiện cũng không ác.
Như vậy, chẳng những đối tượng của ý thức bao gồm cả
ba cảnh mà tác dụng của ý thức có thể hoặc dẫn dắt
con người đến vô minh hay giác ngộ, luân hồi hay niết bàn,
bởi vì chính ý thức tạo nghiệp (hành động) về ý để
đưa tới hành động về thân thể và ngôn ngữ.
(3)
Tam tính Tam vô tính. Cái nhìn như thật (Yathabhùtam) được
phóng chiếu trên hai quan điểm, Hữu và phi Hữu. Theo quan điểm
Hữu thì hiện hữu được nhìn thấy là hữu vi và chia thành
ba loại tương ứng với ba tính (trisvabhàva) :
(a) Những
hiện hữu có tướng, hiện không thật và đồng thời không
có một bản thể (adravya), do đó không có tự tính (asvabhàva).
Tính tương ứng là tính biến kế sở chấp (parikalpita
laksana), tính của vọng tưởng phân biệt.
(b) Những
hiện hữu có sinh, giả tạm hay nhất thời do nhân duyên, không
tự hữu, và không thường tại, do đó không có tự tính.
Tính tương ứng là tính y tha khởi (paratantra laksana),
tính của sự nương dựa vào nhau.
(c) Những
hiện hữu siêu việt, có thắng nghĩa, nghĩa là xa lìa tất
cả tướng không thật và giả tạm (vô tướng). Chỉ có tàng
thức khi nào trút bỏ hết phiền não, mê dục thì mới có
được diệu trí để nhận thức nó. Ðây chỉ là cái lý
niệm bình đẳng, không sai biệt, nên không có tự tính. Tính
tương ứng là tính viên thành thật (parinispanna laksana),
tính của thực tại tối hậu. Viên thành thật có nghĩa là
sự vắng mặt của biến kế chấp nơi y tha khởi. Viên thành
thật với y tha khởi không phải một mà cũng không phải khác.
Theo quan
điểm phi Hữu, hiện hữu được nhìn thấy thấu tận bản
thể vô vi, nghĩa là bất sinh bất diệt. Ba tính nói trên trở
thành ba Vô tính (abhàva):
(a) Tướng
vô tính, tức không có bản thể, định tính nào cả.
(b) Sanh
vô tính, tức không sanh, không tự tính, không hiện hữu,
mặc dầu có vẻ như là hiện hữu.
(c) Thắng
nghĩa vô tính, tức thoát ly ngoài và thoát hiện khỏi tương
đối tính, giả định tính, và y duyên tính. Hiện hữu là
Chân như, là thực tại tuyệt đối, bất khả thuyết, và
bất khả tư nghì.
Khái niệm
tam vô tính dính liền với khái niệm tam tính là một đường
lối khác để nói lên cái khái niệm vô không (asùnyatà) bên
cạnh khái niệm không (sùnyatà) trong hệ thống Bát nhã. Ðó
là sự ngăn ngừa không cho hành giả khái niệm hóa thực tại
tuyệt đối và là nội dung của Nhị đế, tức Trung đạo.
(4) Ðạt
quả chuyển y. Chuyển có nghĩa là chuyển đổi vọng tưởng
biến kế chấp thành sự phát sinh mọi thanh tịnh. Y có nghĩa
là lấy nguyên lý duyên sinh (y tha khởi) làm nơi nương tựa.
Vô Trước và Thế Thân đã hệ thống hóa tư tưởng Duy thức,
lấy thực tu và thể nghiệm làm tiêu chuẩn cho lý luận để
phát huy một giáo lý mạch lạc và sáng tỏ. Nhờ vậy hành
giả biết được những gì phải quán tưởng, những nhận
thức nào là tà kiến, những tiềm năng nào của kiến chấp
còn lưu lại trong vô thức phải tiêu diệt, những loại chường
ngại nào phải loại trừ, và những bước đường tu chứng
và thể nghiệm phải trải qua để cuối cùng trí tuệ viên
mãn chuyển tám thức thành bốn trí [Thành sở tác trí, Diệu
quan sát trí, Bình đẳng tánh trí, và Ðại viên cảnh trí].
Lúc ấy, hành giả có thể nhìn thẳng được vào bản thể
thực tại từ quan điểm hiện tượng học (tùng tướng nhập
tánh).
Tháng bảy, 1999