2.
Thấy vậy mà không phải vậy...
Thông thường
chúng ta hay nói: "Thấy vậy mà không phải vậy!" Câu nói này
có thể áp dụng để tìm hiểu hai khía cạnh tương đối
và tuyệt đối của chân lý, tức nhị đế, đề cập trong
Trung Luận của Bồ Tát Long Thọ. Một đằng là tục đế
hay chân lý ước định có thể dùng tri thức thường nghiệm
để thông đạt. Ðằng khác là chân đế hay chân lý tối
thượng, cảnh giới tự chứng của Phật, người thường
không thể nắm bắt được. Tại sao? Tại vì cái thấy, cái
biết của phàm phu đã bị vọng niệm, vọng tưởng làm rối
loạn. Phần lớn là do vô minh với thực chất là sự ngu dốt,
mê lầm đã huân tập vào tâm thức từ vô thủy. Lại nữa,
đà sống xã hội, tập quán, văn minh, giáo dục, và tín ngưỡng
cũng góp phần bao phủ cái biết một lớp bợn nhơ dày đặc.
Do đó cái biết của phàm phu là cái biết điên đảo: trong
thế gian, các pháp đều vô thường mà cho là thường; chúng
sinh chịu mọi thứ khổ đau mà cho là vui, sướng; vốn không
có cái ta, cái của ta mà chấp là có ngã, có ngã sở; các
pháp đều bất tịnh mà cho là tịnh.
Trên phương
diện luận lý, khi nhìn vào thế giới thực tại, vọng tưởng
phân biệt hay biến kế chấp tạo cho ta một thế giới biểu
tượng. Và thế giới biểu tượng ấy với ngôn từ dùng
làm khí cụ biểu thị hiện hữu của sự vật trở thành
đối tượng của nhận thức. Thực tại khách quan bị cắt
ra từng mảnh, mỗi mảnh được gọi là một pháp, chiếm
cứ một vị trí trong không thời gian, sắp vào khuôn
một khái niệm, và cuối cùng được gán cho một nhãn hiệu,
đặt cho một tên gọi. Vì biến kế chấp, ta nhận thức sự
vật không đúng với tính cách 'như thị' của chúng, gán vào
chúng những đặc tính và thuộc tính chúng không có. Ta đã
nhìn vào sự vật một cách sai lạc méo mó dưới lăng kính
phân biệt vọng tưởng. Ðáng tiếc hơn nữa, ta ngây thơ tưởng
rằng biểu tượng của cái thực chính là cái thực và mù
quáng tin tưởng những hiện hữu giả danh ấy như có thực.
Quan niệm
sai lầm lớn nhất là cho rằng sự vật có bản ngã chân thực
và có tự tính thường hằng. Phật giáo là tôn giáo độc
nhất trong lịch sử tôn giáo của nhân loại đã phủ nhận
sự hiện hữu và tồn tại của bất cứ một thực thể bất
biến nào. Giáo lý đức Phật dạy không thể lý chứng được
một nguyên lý bất biến tuyệt đối hay cái ngã vĩnh cửu
được. Mọi nhận thức về thực tại cần phải xây dựng
trên nguyên tắc vô thường và vô ngã. Mọi sự vật đều
biến chuyển vô thường cho nên chúng không có tính cách đồng
nhất hay ngã. Như vậy có nghĩa là trong thế gian không thể
có pháp riêng biệt độc lập, không thể có pháp thường
ngã khả dĩ cách ly khỏi những pháp khác. Các pháp không thể
tồn tại một mình riêng rẽ mà nương vào nhau để tồn tại.
Sự sinh, trụ, diệt của một pháp tùy thuộc sự sinh, trụ,
diệt của tất cả các pháp khác. Sự vật hiện hữu theo
cách thức của chúng, chuyển biến không ngừng. Chúng không
thể hình dung bằng khái niệm khô cứng và không thể diễn
tả bằng ngôn từ ước định. Chúng là thế, như thị, tức
là không thể miêu tả được. Chỉ có những người tu thiền
(hành giả) không để khởi lên vọng niệm nơi cái chỗ thấy,
nghe, hiểu, biết, mới thể thường tỉnh sáng nhìn thẳng
vảo thực tại tự thân của vạn hữu. Nhờ quán sát phân
biệt các điều kiện duyên các pháp tác thành, tồn tại,
tan rã, và đoạn diệt, họ nhận chân khái niệm y tha khởi
được ghi lại như sau trong kinh Phật Tự Thuyết, Tiểu Bộ
I:
Cái
này có thì cái kia có
Cái này
không thì cái kia không
Cái này
sinh thì cái kia sinh
Cái này
diệt thì cái kia diệt.
Ðó là công
thức của giáo lý Duyên khởi, một giáo lý căn bản rất
thâm sâu mà tầm quan trọng trong việc tu học đã được đức
Thế tôn nhấn mạnh như sau: "Chính vì không giác ngộ, không
thâm hiểu giáo pháp Duyên khởi này mà chúng sinh hiện tại
bị rối loạn như một tổ kén, rối ren như một ống chỉ,
giống như cỏ munja và lau sậy babaja, không thể nào ra khỏi
khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sinh tử." (Kinh Ðại Duyên, Trường
Bộ III)
Trung Luận
y cứ vào lý duyên khởi để chứng minh vì sao sự thể không
tự sinh tự hữu. Luận chứng nêu ra bốn lý do dưới hình
thức tuyệt đối phủ định. Sự thể không tự sinh tự hữu
bởi vì sự thể không hiện khởi (1) từ chính nó; (2)
từ một cái khác; (3) từ cả hai hợp lại; và (4) không do
nhân duyên nào cả. Ba lý do đầu áp dụng vào trường hợp
sự thể phụ thuộc nhân duyên. Lý do cuối dành cho sự thể
không phụ thuộc nhân duyên. Tuyệt đối phủ nhận có nghĩa
là phủ định mà không hàm ý khẳng định đằng sau. Nói
cách khác, bảo rằng không có cái này không hàm ý rằng còn
có cái khác. Khi sự thể được nhìn nhận là không tự sinh
tự hữu tất nhiên sự thể ấy không có tự tính quyết định.
Như thế, duyên khởi làm sáng tỏ thực tính của các pháp.
Thực tính ấy là vô ngã tính hay vô tự tính. Triết lý Ðại
thừa cũng như giáo lý Nguyên thủy đều nhấn mạnh điểm
"Chư pháp vô tự tính", nghĩa là đề cao sự vô ngã của các
pháp (dhamma-nairàtmya) cũng như vô ngã trong con người (pudgala-nairàtmya).
Trung Luận gọi vô ngã tính hay vô tự tính là tánh Không.
Tánh Không còn được diễn tả bằng nhiều từ ngữ tương
đương: không có tự tính, không có quyết định tính, vạn
hữu là Không, không có tự tướng, hết thảy đều là hiện
hữu giả tạm, hết thảy đều là hiện hữu do tập hợp
của các nhân. Ðặc tính của Không là chứng tỏ mọi hiện
hữu đều bất thực, như huyễn, như mộng. Trong kinh Kim Cang
cũng ghi lời Phật dạy như vậy:
Tất cả pháp hữu vi
Như mộng, huyễn, bọt bóng,
Như sương cũng như điển,
Nên khởi quán như thế.
Bồ tát Long
Thọ thành lập những phương thức lý luận mới mẻ để
phân tích và luận giải thực tại và sự vận hành của thực
tại. Theo Ngài, tuy thấy sự thể hiện hữu như riêng biệt
độc lập, có tự thân thường tại, nhưng kỳ thực không
phải là như vậy. Mặc dầu là Không, nghĩa là không có tự
tính, sự thể không hẳn là không có. Nó vẫn có theo nghĩa
ước định, theo tục đế. Nói Không, không nhất thiết là
Không, vì tuy là Không theo chân đế, nhưng mà Có theo tục
đế. Nói Có, không nhất thiết là có, vì tuy là Có theo tục
đế, nhưng mà Không theo chân đế. Bồ tát Long Thọ được
xem như là người đầu tiên đã gắn liền tánh Không với
lý duyên khởi bằng con đường nhị đế. Cái có theo tục
đế không có tự tính, không tự sinh tự hữu. Sở dĩ có
là vì hội đủ các điều kiện sinh khởi sau đây:
(1) Nhân
và duyên tác thành cái có.Về điểm này kinh nghiệm cho thấy
mọi sự thể và vận hành trong nhân sinh và vũ trụ tất cả
sinh khởi do nhân duyên hòa hợp.
(2) Một
nền tảng gồm một số yếu tố tổ hợp tác dụng trong tương
quan nhân quả với cái có theo công thức duyên khởi. Theo điều
kiện này, khi các yếu tố hợp đủ số thì có cái có. Nếu
không hợp đủ số thì không có cái có. Thí dụ: Thân và
tâm là nền tảng của con người. Nhưng tâm riêng hay thân
riêng thời con người không có.
(3) Một
chủ thể nhận thức với khả năng nhìn thấy tổng thể và
tác dụng của cái có. Cái có phụ thuộc chủ thể nhận thức
trên giả danh tức là trên cái tên gọi đặt cho nó. Thí dụ:
Trong đêm tối sự nhận lầm một sợi dây gai ra thành con
rắn. Trong trường hợp này, con rắn dĩ nhiên là có, theo tục
đế. Nếu nói đến lông rùa hay sừng thỏ thì tất nhiên
không có, bởi vì hai thứ này không có tác dụng nào cả.
Hiểu được
tánh Không thì không bao giờ chấp rằng 'tôi không có ngã'
(tức là thuyết đoạn diệt) hay chấp rằng 'tôi có ngã' (thuyết
thường tồn), bởi vì cả hai quan niệm sai lầm ấy đều
trói buộc mình vào ý tưởng sai lầm 'tôi có'. Ðúng ra nếu
tỉnh sáng nhìn vào sự vật, ta sẽ thấy cái mà ta gọi là
'tôi' chỉ là sự kết hợp của các uẩn vật lý và tâm linh
trong một dòng hiện tượng tâm lý liên tục chuyển biến
tương quan liên hệ tới các hiện tượng sinh lý và vật lý
khác. Thế thì hằng ngày khi ta nói tôi, anh, linh hồn, ... ,
các từ ngữ ấy không có chút nghĩa lý gì cả hay sao? Có
chứ, nếu hiểu rằng ngôn từ ta dùng thường ngày là thuận
theo quy ước của thế gian. Nhưng sự thực tối hậu là hoàn
toàn không có cái tôi, cái anh, cái linh hồn, ... đúng như
nghĩa ta chấp nhận theo tập quán hay thông lệ. Kinh Mahàyàna
- Sutralànkàra (Kinh Lăng Già) dạy: "Một cá thể (hay bản ngã,
pudgala) nên được xem là chỉ có trong ấn định (prajnapti)
[nghĩa là: Gọi như quy ước thì có một cá thể hay một bản
ngã] chứ không phải có trong thực tại [hay trong bản thể,
dravya]."
Kinh Ca Chiên
Diên Thị (Kaccàyanagotta), Tương Ưng Bộ, Thích Minh Châu dịch,
thuật lại như sau lời Phật dạy tôn giả Kaccàyanagotta về
sự y chỉ vào Có và Không khi vị này hỏi Phật như thế
nào là chánh kiến.
Này
Kaccàyana, thế giới này phần lớn y chỉ vào hai cực đoan
này: có và không có.
Này
Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới tập
khởi, vị ấy không chấp nhận thế giới là không có. Này
Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới đoạn
diệt, vị ấy không chấp nhận thế giới là có.
Này
Kaccàyana, chấp thủ phương tiện và bị thiên kiến trói buộc,
phần lớn thế giới này là vậy. Và ai với tâm không trú
trước, chấp thủ phương tiện ấy, không chấp thủ thiên
chấp tùy miên ấy, không có chấp trước, không trú trước,
vị ấy không có nghĩ: "Ðây là tự ngã của tôi". Khi khổ
sanh thời xem là sanh, khi khổ diệt thời xem là diệt; vị
ấy không có nghi ngờ, không có phân vân, không duyên vào ai
khác, trí ở đây là của vị ấy. Cho đến như vậy, này
Kaccàyana là chánh tri kiến.
"Tất
cả là có", này Kaccàyana, là một cực đoan.
"Tất
cả là không có" là cực đoan thứ hai.
Xa lìa
hai cực đoan ấy, này Kaccàyana, Như Lai thuyết pháp theo trung
đạo: Vô minh duyên hành. Hành duyên thức. Thức duyên danh
sắc. Danh sắc duyên lục nhập. Lục nhập duyên xúc. Xúc duyên
thọ. Thọ duyên ái. Ái duyên thủ. Thủ duyên hữu. Hữu duyên
sinh. Sinh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Như vậy
là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Nhưng
do ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, nên các
hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt
nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên lục nhập diệt.
Do lục nhập diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt.
Do thọ diệt nên ái diệt Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ
diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sinh diệt. Do sinh diệt
nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn
bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
Trong tinh
thần phá kiến chấp nhị biên tương đối bắt nguồn từ
sự y chỉ sai lầm vào hai cực đoan Có và Không, Bồ tát Long
Thọ thiết lập Nhị đế Trung đạo để khai thông con đường
giữa của Phật. Tục đế hay chân lý ước định là chân
lý mà khả năng của phàm phu có thể thông đạt một cách
tự nhiên, không cần suy luận mà được. Chân đế hay chân
lý tối thượng là chân lý bất khả thuyết, là thực tại
vô ngôn, một viễn tượng ngoài tầm với của khả năng phàm
phu hiện có hay có thể có. Như vậy nhị đế, tục đế,
và chân đế là chân lý giả định, một phương tiện thi
thiết. Hãy xem nhị đế như là phương tiện giao tiếp giữa
thầy với trò. Thầy nói về cái không thể nói nên phải
biết cách nói, nghĩa là dùng phương thức nhị đế chỉ đường
tu tập ra khỏi vô minh ngộ nhập Phật tri kiến. Trò nghe về
cái không thể nghe, nên cần tu học phát sanh tam huệ (văn
tuệ, tư tuệ, và tu tuệ) mới biết cách nghe cho thấu hiểu
tương quan của nhị đế để nhìn thấy con đường giữa.
Rõ ràng đức Phật đã diệu dụng nhị đế để khai thông
Trung Ðạo. Chính đức Phật theo tục đế giảng rằng tất
cả các pháp ở thế gian do duyên hợp giả có. Nhưng theo chân
đế thì tất cả các pháp đều Không, nghĩa là không thật,
không có tự tính. Nói tóm lại, nhị đế cho thấy thầy cũng
như trò đều phải bằng vào ngôn ngữ để truyền đạt và
tiếp nhận. Thầy bằng vào ngôn ngữ để khai hiển và chỉ
thị thực tướng, cảnh giới tự chứng của Phật. Trò cũng
bằng vào ngôn ngữ để thể ngộ và thể nhập thực tướng.
Hãy đọc Tuệ Sỹ viết trong Triết Học về Tánh Không: "Ta
thấy do phương tiện mà thật huệ được chứng ngộ và từ
thật huệ ấy mà tuôn ra vô số phương tiện. Trong mối liên
hệ của phương tiện và thật huệ này, chúng ta cũng sẽ
nhận ra ý nghĩa của Trung Luận trong hai chiều như thế. Trung
được khai hiển và chỉ thị bằng Luận, rồi do Luận mà
thể ngộ và thể nhập Trung. Hai chữ Trung Luận thôi, tiêu
đề ấy đã nói lên đầy đũ ý nghĩa của triết lý Trung
quán. Ðiều này ta phải kể là La Thập đã có công lớn nhất
trong việc phát huy triết lý Trung quán. Nếu đọc thẳng Phạn
văn, chưa hẳn chúng ta đủ khả năng để lãnh hội ý nghĩa
quan trọng này."
Tuệ Sỹ
nói thêm: "Nếu chú trọng vào phương diện thể ngộ và thể
nhập Thật tướng ta có thể thêm vào chữ 'quán', mặc dầu
chữ Madhyama của tiếng Phạn không có nghĩa của chữ quán
đó, nhưng nó đã thành một danh từ thông dụng của Hán văn,
và có thể cho ta lãnh hội thêm ý nghĩa của triết lý Trung
quán.
Khi Trung được
khai hiển và chỉ thị bởi Luận, thì thể ngộ và thể nhập
phải do thực hành. Như thế, ở phương diện thực hành, Trung
như là quán cảnh, là đối tượng được hướng đến. Trong
phương diện thực hành này, vì bấy giờ Trung là đối tượng
quán cảnh, nên thực tại sẽ dễ dàng bị bóp méo, và cố
nhiên nó sẽ mất ý nghĩa là Trung đó. Như thế, quán trí
phải được chuẩn bị tất cả những điều kiện cần thiết
để có thể quán chiếu được Trung đạo quán cảnh. ... ...
Trên đây,
Trung tương ứng với Thực tướng Bát nhã; Quán tương ứng
với Quán chiếu Bát nhã; và Luận tương ứng với Văn tự
Bát nhã."
Trong đoạn
văn vừa đề cập Tuệ Sỹ cho thấy rõ sự quan trọng của
vai trò ngôn ngữ dùng biểu tượng cho tánh Không, Nhị đế,
và Trung đạo.
Tiến trình
của Nhị đế Trung đạo được Cát Tạng mô tả qua bốn
lớp, dùng hai cực đối nghịch Hữu, Vô làm căn bản và phương
pháp phủ định để đả phá chấp kiến nhị biên. Phủ định
không phải là làm biến mất hiện thực đi. Bởi vì hiện
thực là hiện thực, có Phật xuất thế hay không, nó như
vậy là như vậy, vẫn như vậy. Phủ định ở đây có nghĩa
là tuyệt đối phủ định tất cả những yếu tính quyết
định của hiện thực giả danh được biểu thị bằng ngôn
ngữ qua tên gọi. Ở lớp thứ nhất, chúng sinh chấp Hữu
vì nhu cầu tham ái, nên Hữu là tục đế. Ðể phá chấp Có,
nên phủ định Hữu. Chân đế được xem là Vô. Ở lớp thứ
hai, Vô chỉ là phương tiện đối trị Hữu, pháp không nhất
thiết là Vô hay Hữu. Do đó, cả Vô lẫn Hữu đều là tục
đế. Chân đế là phủ định cả Hữu lẫn Vô: phi Vô phi
Hữu. Ở lớp thứ ba, phi Vô phi Hữu cũng chỉ là phương tiện
đối trị Vô Hữu. Vô và Hữu là hai, phi Vô phi Hữu là không
phải hai. Do đó, nhị và bất nhị đều là tục đế. Chân
đế là phủ định cả nhị và bất nhị đó: phi phi Vô phi
phi Hữu. Ðến lớp thứ tư, phủ định ở lớp thứ ba vẫn
được diễn tả bằng lời nói, vẫn chỉ là phương tiện
thi thiết, do đó vẫn chỉ là tục đế. Chân đế là phủ
định tất cả phủ định ở lớp thứ ba: phi phi bất Vô
phi phi bất Hữu.
Càng tiến
lên cao, cứ mỗi lần ta chấp nhận một quan niệm hay một
nhóm quan niệm, chúng mãi mãi bị phủ định. Sự tiếp diễn
phủ định sẽ vô cùng cho đến khi màu sắc của tục đế
được tẩy sạch hoàn toàn. Khi ấy, ta đến cửa thực tại
vô ngôn. Con đường tu tập theo tiến trình vừa mô tả gọi
là Nhị Ðế Trung đạo.
Một đoạn
trong sách Các Tông Phái của Ðạo Phật, Tuệ Sỹ dịch, nói
rõ thêm về ý nghĩa của nhị đế Trung đạo: "Tiêu cực hay
phá hủy chỉ là phương pháp để đạt được trạng thái
bạch tịnh thay cho trạng thái ô nhiễm mà chúng ta thường
có, đắm trước vào và không thể xả ly được. Một lần
nữa, đây cũng là lý vô đắc. Sau cùng luyện tập bằng sự
phủ định có nghĩa là không có tri kiến cục bộ, không ẩn
trú ở định kiến nào, không trừu tượng hóa cái Không,
không đắm trước vào thành tựu đặc hữu, không thừa nhận
tự tính, và không mong cầu phước lợi nào cả."
Trước đây,
sư Thanh Nguyên Duy Tín đã trình bày một kinh nghiệm giác ngộ
của mình như sau: "Sãi tôi, ba mươi năm trước, khi chưa học
Thiền, thấy núi là núi, thấy nước là nước. Sau nhân theo
bậc thiện tri thức chỉ cho chỗ vào, thấy núi chẳng phải
núi, thấy nước chẳng phải nước. Rồi nay thể nhập chốn
yên vui tịch tĩnh, y nhiên, thấy núi chỉ là núi, thấy nước
chỉ là nước." ( Truyền Ðăng Lục, Quyển 22; trích từ Thiền
Luận, Tập Thượng, D. T. Suzuki, Trúc Thiên dịch) Phỏng theo
lối nói đó, phần kết luận xin mượn ngôn ngữ tức phi,
thị danh (tức chẳng phải, tạm gọi là) của kinh Kim Cang
để nói lên ý nghĩa phá chấp của triết lý Trung Quán và
hoàn thành câu nói chọn làm tiêu đề cho bài này: "Thấy vậy
mà không phải vậy, tạm gọi là vậy".