1.
Ngôn ngữ và Biện chứng
Trong Bích
Nham Lục có kể một câu chuyện như sau, với tựa đề Chí
Ðạo Vô Nan của Triệu Châu. Triệu Châu dạy chúng nói, "Ðạo
lớn không khó miễn đừng so đo. Vừa có ngôn ngữ lập tức
có lựa chọn và dính mắc, có minh bạch. Lão tăng này chẳng
ở nơi minh bạch. Các ông có còn trì giữ gì chăng?"
Lúc ấy
có ông tăng hỏi, "Không ở nơi minh bạch, thì thầy trì giữ
cái gì?"
Triệu Châu
nói, "Tôi cũng chẳng biết nữa".
Ông tăng
nói, "Hòa thượng đã không biết, cớ sao còn nói là không
ở nơi minh bạch?"
Triệu Châu
nói, "Hỏi về vấn đề là đủ rồi. Mau lạy rồi trở lui."
Trong lời
Triệu Châu, câu "Ðạo lớn không khó, miễn đừng so đo" vốn
là từ bài Tín Tâm Minh của Tam tổ Tăng Xán. "Ðạo lớn chẳng
gì khó, Cốt đừng chọn lựa thôi. Quí hồ không thương ghét,
Thì tự nhiên sáng ngời."
Tại sao vừa
có ngôn ngữ lập tức có lựa chọn dính mắc, có sáng ngời
minh bạch? Tại vì ngôn ngữ là hình thức của tư duy và tư
duy thông thường dùng giác quan và ý thức phân biệt mọi
sự vật có hình tướng khác nhau để nhận biết. Từ đó
hoặc khởi sinh thương ghét, chấp trước, ái thủ, hoặc xuất
hiện sự cố gắng vươn lên dùng trí tuệ thấu suốt tất
cả mọi sự vật đều giả hợp, thể nghiệm được lý vô
thường, vô ngã và tiến tới giác ngộ.
Khi Triệu
Châu bảo "Lão tăng này chẳng ở nơi minh bạch", câu ấy có
nghĩa là Triệu Châu không đắm nhiễm trụ vào bất cứ một
cái gì, ngay cả cái minh bạch, giác ngộ. Nhưng khi hỏi "Các
ông có còn trì giữ gì chăng?", Triệu Châu biết trước thế
nào cũng có người thấy chỗ sơ hở trong câu hỏi đó và
phản ứng dồn ông vào chỗ lúng túng. Sơ hở là vì đã bảo
rằng mình đắc mà như không đắc, mình có tinh thần vô trụ,
vô ngã, thế mà vẫn còn dính mắc vào cái tư tưởng trì
giữ. Quả vậy, ông tăng kia bước ra hỏi thẳng thừng
"Hoà thượng đã không ở nơi minh bạch thì còn trì giữ cái
gì nữa?" Triệu Châu cũng hay, chẳng bao giờ dùng đến gậy
hay hét, chỉ nói một cách gọn gàng, "Tôi cũng chẳng biết
nữa." Ông tăng kia không chịu tha cho Triệu Châu rút lui yên
ổn mới hỏi dồn, "Hòa thượng đã không biết, cớ sao còn
nói là không ở nơi minh bạch?" Qua câu "Hỏi về vấn đề
là đủ rồi. Mau lạy rồi trở lui", Triệu Châu cho ông tăng
kia hay cuộc bàn luận đến đó đã đủ, chấm dứt là vừa.
Công án này
gợi ra hai vấn đề sẽ được đề cập trong bài này. Ðó
là ngôn ngữ và phương pháp tùng tướng nhập tánh. Bài sẽ
trình bày một sự song hành giữa một bên là kinh nghiệm tìm
tòi học hỏi Khoa học do bản tính tò mò về chân lý vũ trụ,
và bên kia là đường đi của một kẻ tìm cách thông suốt
Phật pháp qua cửa phương tiện ¾ cửa kia là chân thật môn,
nghĩa là cánh cửa mở ra con đường trực tiếp cho những
ai bản tâm thanh tịnh đầy đủ khả năng trực nhận thật
tướng các pháp. Nếu đem so sánh hai quá trình ấy với nhau
trên phương diện thực dụng thời con đường chỉ bày phương
pháp ức chế phiền não, phát huy chân trí để cuối cùng
đạt đến tự do giải thoát là con đường nhiều hứng thú
hơn và tối cần thiết cho một đời sống an nhiên tự tại.
Ngôn ngữ
có thể xem như là bộ khung kết hợp và sắp đặt thành hệ
thống những biểu tượng sự vật và tương quan nhân quả
giữa sự vật nhằm diễn đạt sự vận hành của những cơ
cấu và tiến trình duyên sinh trong vũ trụ. Trên thực tế,
ai cũng biết sử dụng ngôn ngữ thông tục, một thứ ngôn
ngữ phát xuất từ tri thức thường nghiệm và được qui
định bởi tập quán và công ước. Ðó là thứ ngôn ngữ
cần thiết cho sự truyền đạt tư tưởng trong quần chúng.
Trên bình diện cao hơn, lời dạy của đức Phật thuật lại
trong Kinh hay lời các Tổ giải bày trong Luận là một thứ
ngôn ngữ khác. Ðó là ngôn ngữ tình thương, phát xuất từ
tâm Ðại Bi, nhằm chỉ cho chúng sanh con đường tu tập tuy
biết rằng giáo pháp Phật chứng ngộ là không thể dùng tâm
ý mà suy xét cho cùng (bất khả tư nghị) và không thể đem
lời nói mà diễn đạt cho đúng (bất khả thuyết). Khác với
ngôn ngữ tình thương (ngôn ngữ kinh điển), ngôn ngữ của
Khoa học chính là toán ngữ, một loại ngôn ngữ cô đọng
dùng toàn ký hiệu ước định. Toán ngữ là một cố gắng
trình bày thí nghiệm khoa học một cách khách quan. Bởi sau
khi biểu tượng sự thể bằng ký hiệu toán học, áp dụng
phương pháp diễn dịch với những quy tắc làm toán hình thức
trên những ký hiệu ước định, lý luận trở nên máy móc
và chính xác, dẫn từ tiền đề đã xác nhận đến kết
quả tất nhiên không thế nào chối cãi được. (Quý vị có
thể so sánh sự thay thế những sự thể bằng ký hiệu toán
với trường hợp đi đánh bạc đem tiền đổi thành chips
trước khi vào sòng). Chính vì cái lối lý luận không dựa
trên thực tế ấy mà nhiều người rất sợ toán học cũng
như đa số cho rằng Kinh Luận rất khó hiểu mặc dầu toán
ngữ hay ngôn ngữ tình thương cả hai đều phải nói ra theo
ngôn ngữ thông tục.
Toán ngữ
là gì? Thực ra thường ngày tất cả chúng ta sử dụng toán
ngữ một cách rất thuần thục mà không hay biết. Chẳng hạn,
ai cũng biết cọng trừ tiền của, so sánh thời gian sinh hoạt
với đời người ngắn ngủi. Mỗi lúc xem tin tức trên TiVi
chúng ta chứng kiến mọi sự so sánh và đổi thay đều được
nói lên bằng những con số. Quý vị không để ý tại vì
xướng ngôn viên dùng ngôn ngữ thông tục. Ngay cả với
ngôn ngữ thông tục, cần phải đề phòng đừng lầm lẫn
danh với sự. Khi dùng ngôn ngữ này để nói lên một sự
thể, thì vai trò của ngôn ngữ là biểu tượng cho sự thể,
chứ không phải là thay thế sự thể. Danh và sự hoàn toàn
khác nhau. Hiện thực với tính cách vô thường luôn luôn sai
biệt và sai biệt. Bởi thế khi gọi tên một hiện thực thì
tên gọi đó là một tổng xưng vì nó nói đến tổng tướng
của hiện thực tức là tổng cọng tất cả những cái sai
biệt, chứ không chỉ vào từng cái sai biệt, nghĩa là không
gọi thẳng vào tự tướng của hiện thực. Ðiều này thấy
rõ trong đời sống hằng ngày với lối sử dụng những con
số thống kê (statistics) để diễn tả tình hình kinh tế,
chính trị, hay xã hội, liên hệ đến số đông. Những con
số thống kê ấy không đả động gì đến sinh hoạt của
bất cứ một cá thể nào trong số đông mặc dầu rất có
ích trên phương diện cho thấy tính chất biến chuyển tổng
thể của một quần chúng.
Khi một hiện
thực có thể nhận thức bằng tri thức thường nghiệm, ta
bảo hiện thực ấy có tính chất cụ thể và hiển nhiên.
Trái lại, nếu hiện thực đó thoát khỏi tầm với của tri
thức thường nghiệm thời mang tính chất trừu tượng. Bởi
vậy chúng ta thấy toán ngữ khó hiểu và khó học. Ở cấp
tiểu học, con số thường đi kèm với tên một vật thể:
ba con bò, chín cái bánh. Ta gọi đó là những số cụ thể
(concrete numbers). Lớn lên, ta học cọng trừ nhân chia với
những con số trừu tượng (abstract numbers), chẳng hạn, cửu
cửu bát nhất, bát cửu thất nhị. Rồi tai nạn lớn xảy
ra khi lên bậc trung học nghe thầy bảo dùng chữ x hay y để
biểu tượng cho một con số có thể thay đổi và gọi chữ
x hay y ấy là biến số (variable). Từng quen sử dụng mười
ký hiệu 0, 1, 2, .. ., 9 với cách sắp chúng thành số, nay bỗng
nhiên thầy lại bảo dùng chữ cái a, b, ..., z làm con số mà
lại không biết đó là số gì, thì thiệt là điên cái đầu!
Cho nên có nhà toán học nói đùa rằng khi bọn toán gia nói
chuyện, chúng thực sự không biết chúng đang nói cái gì.
Tuy vậy tiến trình trừu tượng hóa không dừng ngang đây.
Hầu được hữu ích hơn ¾ và giá trị của toán học là
ở chỗ hữu ích ¾ toán học phải biết diễn tả những tương
quan nhân quả. Do đó mà khai sinh khái niệm hàm số (function).
Hàm số cho ta biết sự thay đổi của một sự thể A dẫn
đến sự thay đổi một sự thể B như thế nào và bao nhiêu.
Chẳng hạn như khi đang lái xe bạn nhìn đồng hồ chỉ giờ,
cái kim chỉ tốc độ, và số miles của đoạn đường bạn
đã chạy xe, bắt đầu từ số 0. Nếu bạn giữ tốc độ
không đổi, chẳng hạn 60 miles một giờ, thời sau 1 giờ,
bạn thấy khoảng đường chạy là 60 miles. Sau 2 giờ, khoảng
đường ấy là 120 miles,... Sau vài giờ nhận xét như
vậy bạn tìm ngay ra một hàm số: Số miles chạy xe bằng tốc
độ nhân với thời gian: Khoảng đường = Tốc độ X Thời
gian. Thời gian ở trong trường hợp này gọi là biến số
độc lập. Phép nhân tốc độ là hàm số cho biết kết quả
khoảng đường chạy xe tương ứng với thời gian chạy xe.
Khoảng đường chạy xe gọi là thuộc số vì nó phụ thuộc
vào biến số độc lập. Vùng từ đó xuất phát những biến
số độc lập được mang tên là xuất xứ (domain), và vùng
chứa những thuộc số được gọi là lai xứ (range). Hàm số
biểu trưng cho sự tương quan hỗ tác giữa hai vùng, xuất
xứ và lai xứ. Một điều hay của hàm số là trong nhiều
trường hợp đơn giản ta có thể hình dung được sự tương
quan nhân quả bằng hình vẽ thay thế những hệ thức ký hiệu
khó hiểu. Hình vẽ có thể là một đường thẳng hay một
làn sóng. Nhưng nên nhớ đó chỉ là giả hình, nghĩa là hiện
thực không phải có hình thù như vậy. Ðó chỉ là một cách
giúp đỡ trí nhớ hình dung trong trí óc một sự tương quan
nhân quả. Tất cả đều là phương tiện giúp ta đến gần
hiện thực chứ không phải là hiện thực chân như.
Ðọc kinh
Phật hay nghe lời Tổ giải cũng vậy. Y kinh giải nghĩa, tam
thế Phật oan. Thay vì hiểu biết trên bề mặt của ngôn từ
(tức là theo nghĩa đen) ta nên hiểu kinh như là những lời
chỉ dẫn mới nắm bắt được những giá trị nội dung thông
điệp của đức Phật (chân lý). Trong đề tựa cho bản dịch
Trung Luận của La Thập ngài Tăng Duệ có nói, "Thực phi danh
bất ngộ". Nghĩa là, một sự thể nếu không có tên gọi
thì sự thể ấy không được biết đến mặc dầu sự thể
và tên gọi của nó hoàn toàn khác nhau. Cái dụng của ngôn
ngữ trong Kinh Luận không phải ở khả năng diễn đạt mà
là ở khả năng chỉ dẫn. Ngoài ra, ngôn ngữ kinh điển còn
có giá trị giải thoát, nghĩa là hàm chứa mục tiêu của
sự truyền đạt. Phật dùng ngôn ngữ là để khai thị, giải
minh thật tướng, chứ tự thể thật tướng Phật không bao
giờ nói ra mà ta chỉ tìm thấy nơi sự im lặng cao thượng
của Ngài. Chẳng hạn, trong kinh thường dạy, niết bàn không
đến không đi, bất nhất bất dị, phi đoạn phi thường,
chẳng sanh chẳng diệt. Nói như vậy không phải là để định
nghĩa niết bàn, mà chỉ vạch con đường giữa cho ngôn ngữ
để đi về niết bàn. Con đường ấy không phải là bản
chất hiện hữu của thực tại mà là bản chất biểu tượng
của ngôn từ. Nói tóm lại, trình độ thông hiểu ngôn ngữ
càng cao thì khả năng nhận diện chân lý càng sâu và mức
độ giải thoát càng bao quát.
Trong phạm
vi Khoa học, khoa học gia thường bị bắt buộc phải dùng
ngôn ngữ thông tục để mô tả hiện tượng không phải bằng
luận lý hay phân tích toán học mà bằng một hình ảnh gợi
ý. Theo Einstein, "hầu hết tư tưởng thiết yếu của khoa học
có bản tính đơn giản và trên nguyên tắc, có thể diễn
đạt bằng một thứ ngôn ngữ mà ai cũng hiểu được." Werner
Heisenberg tin rằng "ngay cả với nhà vật lý học, sự diễn
tả bằng ngôn ngữ thông tục sẽ trở thành một tiêu chuẩn
để nhận ra trình độ hiểu biết thấu đạt."
Khi làm thí
nghiệm, nhà khoa học cắt xén thực tại thành từng mảnh,
giới hạn thu hẹp mỗi mảnh trong một khuôn khổ nhỏ để
dễ bề định nghĩa và biểu tượng bằng ngôn từ, cho nên
mọi lý thuyết khoa học vì căn cứ trên biểu tượng ngôn
từ, nếu thành tựu tốt đẹp, thì sự thành tựu ấy chỉ
là một thành công tối đa chứ không phải là một thành công
viên mãn. Tiến trình biểu tượng cố gắng rập khuôn theo
tiến trình thực tại nhưng không thể nào thay thế cho tiến
trình thực tại. Một bên là những khái niệm khô cứng, tĩnh
tịch, một bên là sinh động biến đổi liên lĩ. Theo Einstein,
không một lý thuyết khoa học nào được gọi là viên mãn
trừ phi khi mỗi phần tử của thực tại vật lý phải có
một đối phần tương ứng trong lý thuyết vật lý ấy. [Whatever
the meaning assigned to the term complete, the following requirement for
a complete theory seems to be a necessary one: every element of the physical
reality must have a counterpart in the physical theory.] Trong hoàn cảnh
nào Einstein đã phát biểu như vậy? Ðể hiểu ý nghĩa câu
nói đó, ta cần nhìn lại từ đầu những biến cố lớn lao
đã xảy ra trong lịch sử khảo cứu khoa học thuộc phạm
vi vật lý học.
Khảo cứu
vật lý là làm những việc gì? Dựa trên giả thuyết các
vật lý gia làm thí nghiệm để thiết lập những luật nhân
quả và thử xem giả thuyết có đúng với thực tế hay không.
Nếu đúng thì sẽ đem những luật được khám phá ra áp dụng
để giải đáp thắc mắc về một số hiện tượng trong vũ
trụ. Ðọc đoạn văn sau đây của Einstein có thể giúp ta
hiểu biết thêm về công việc các nhà vật lý đang theo đuổi.
"Các khái
niệm vật lý hoàn toàn do tâm (human mind) tự do tạo ra và
tuy thấy như là nhưng không phải duy nhất tùy thuộc thế
giới ngoại tại. Trong cố gắng tìm hiểu thực tại chúng
ta giống như một người đang thử tìm hiểu máy móc của
một chiếc đồng hồ. Người ấy thấy mặt đồng hồ và
hai kim đang chạy, nghe cả tiếng tíc tắc, nhưng không có cách
nào mở hộp vỏ ra được. Nếu kỹ xảo người ấy có thể
hình dung ra một bộ máy tưởng tượng chịu trách nhiệm về
mọi điều người ấy quan sát, nhưng không bao giờ tin chắc
được bộ máy tưởng tượng ấy là bộ máy duy nhất khả
dĩ giải thích mọi điều quan sát. Người ấy không bao giờ
có thể so sánh bộ máy tưởng tượng với bộ máy có thật
và không thể hình dung được khả năng thể hiện của ý
nghĩa về một sự so sánh như vậy."
Như Einstein
nói, nhà vật lý chỉ có một cách duy nhất là nhìn hình tướng
bên ngoài để thông hiểu thực tánh bên trong của sự vật.
Tuy nhiên mọi phương cách tri nhận hình tướng đều do tâm
chi phối. Vì tâm chúng ta thường xuyên vẩn đục như nước
ao hồ bị khuấy động nên tri giác do tâm không cho ta thấy
đúng như thật. Hai câu chuyện sau đây cho thấy tâm bị vẩn
đục như thế nào.
Câu chuyện
thứ nhất là Hoàng đế mặc áo quần mới. Một ngày nọ,
Hoàng đế dạo khắp nẻo đường trần truồng như nhộng.
Trước hôm đó dân chúng đã được báo cho biết Hoàng đế
sắp đi dạo với một bộ áo quần mới thiệt đẹp. Bởi
vậy tuy thấy Hoàng đế trần truồng, mọi người tự ám
thị mình để tin rằng Hoàng đế quả đang dạo chơi với
một bộ áo quần mới thiệt đẹp. Chỉ trừ một cậu bé
la lớn "Ê, Hoàng đế ở trần ở truồng."
Tâm của
cậu bé được ví như tâm của một kẻ mới học Thiền.
Tâm này "trống không, không bợn tật quen của một chuyên
viên, sẵn sàng thâu nhận, hoài nghi, và mở rộng đón tiếp
mọi điều có thể xảy đến." (Trong lời Baker Roshi đề tựa
sách Zen Mind, Beginner's mind)
Câu chuyện
thứ hai là Một thiền sư tiếp chuyện một giáo sư Ðại
học. Một giáo sư đến gặp một thiền sư để hỏi về
thiền. Thiền sư dọn trà. Ông đổ đầy chén trà của khách
và cứ tiếp tục rót. Ông khách nhìn nước chảy tràn cho
đến lúc không còn giữ được im lặng. Ông nói "Chén đã
quá đầy. Chẳng có gì vào thêm trong chén được nữa!". Thiền
sư liền bảo "Giống như cái chén này, ông đầy ắp ý kiến
và ức đoán. Làm sao tôi chỉ ông thiền trừ phi khi ông trút
sạch chén ông trước đã."
Chính thế,
đầu óc của bất cứ nhà vật lý nào cũng chứa đầy những
điều đã học hỏi và những vấn đề, phưong pháp, mục
tiêu mà họ đã bõ công nghiên cứu lâu ngày. Nhưng khoa học
chỉ tiến bộ khi các nhà làm khoa học cởi mở biết loại
bỏ mọi thành kiến ngăn trở sự đón nhận những ý kiến
mới.
Trong khi nghiên
cứu lịch sử khoa học nhà vật lý Thomas Kuhn đề nghị một
phương pháp phân chia những cơ cấu lý thuyết và hình thức
luận lý khoa học thành loại dựa trên 'paradigm', dịch là
mô thức. Sự phân chia này tương tự như sự phân chia thành
nhiều bộ phái và tông phái trong Phật giáo vì kiến giải
bất đồng về giáo nghĩa, tu hành, và quả vị.
"Một mô
thức là những gì các thành viên của một cộng đồng khoa
học san sẻ với nhau, và ngược lại, một cộng đồng khoa
học là bao gồm những thành viên cùng san sẻ một mô thức."
Như thế, một mô thức có thể là một quan điểm hay mô hình
sự diễn tiến tư duy liên quan đến một vấn đề khoa học.
Thí dụ: Tiến trình biến hóa của sự vật căn cứ vào nguyên
lý về sự chọn lọc tự nhiên là một mô thức. Không thời
gian tượng hình như một môi trường liên tục (continuum) do
Einstein đề nghị là một mô thức khác. Khi một mô thức
mới xuất hiện, một số vấn đề chưa được các mô thức
khác giải quyết thời nay được giải quyết. Nhưng đồng
thời, mô thức mới làm phát sinh thêm nhiều vấn đề, nhiều
câu hỏi mới. Ngay cả những vấn đề tưởng như đã giải
quyết thực ra chỉ giải quyết được phần nào, không đầy
đủ, còn thiếu sót. Ðó là lý do để tiếp diễn cuộc tìm
kiếm những mô thức có nhiều khả năng giải thích hữu hiệu
hơn. Nhưng đến bao giờ mới chấm dứt được cuộc tìm kiếm?
Theo ngài Long Thọ, một câu hỏi, đúng với ý nghĩa một câu
hỏi là đi tìm chân trời mới cho tư tưởng, phải căn cứ
trên thuyết tánh Không, nghĩa là một nghi vấn mệnh đề không
chứa đựng một khẳng định mặc nhiên nào cả. Nếu không
được thiết lập trên thuyết tánh Không thì câu hỏi đã
đóng khung sẵn cho câu trả lời và không một trả lời nào
có thể thỏa mãn câu hỏi. Như vậy cuộc tìm kiếm một mô
thức khoa học toàn năng sẽ không bao giờ thành công vì bất
cứ mô thức nào cũng xuất phát từ những khẳng định. Sau
đây là một số mô thức rất quan trọng vì được dùng làm
nền tảng giải thích sự tiến bộ của Khoa học.
Mô thức
I. Thuyết tương đối của Albert Einstein (Theories of relativity).
Trước hết,
Einstein giả định rằng tốc độ ánh sáng không phụ thuộc
vào sự chuyển động của quan sát viên hay của nguồn sáng
và là một hằng số. Tốc độ ấy hữu hạn nhưng rất lớn,186,000
miles mỗi giây nếu đo trong khoảng trống. Ðó cũng là tốc
độ tối đa có thể đạt được ở thế gian này.
Ðể theo
đúng nguyên lý tương đối buộc mọi luật vật lý phải
có giá trị trong tất cả mọi hệ qui chiếu chuyển động
đều (uniform motion), thời cần phải thay thế hai khái niệm
riêng rẽ không gian và thời gian bằng một cái khung mới,
gọi là không-thời-gian. Không-thời-gian là một môi trường
liên tục (continuum), nghĩa là một vật thể mà cấu tử ở
sát cạnh nhau đến nỗi không có chỗ hở giữa chúng thành
ra không thể nào phân biệt phần này với phần kia. Trong không-thời-gian
mọi biến cố hiện ra như vậy là như vậy chứ không triển
khai (develop) với thời gian như trong cơ học cổ điển. Toàn
thể sự vật hiện hữu như vậy là như vậy trên nền không-thời-gian
giống như hình trong tranh họa chứ không diễn biến trước
mắt theo dòng thời gian. Tất cả quá khứ, hiện tại, và
vị lai đồng loạt hiện hữu. Xin nhắc lại đây là những
phát biểu do sự dùng ngôn ngữ thông tục để nói ra ý nghĩa
của suy luận bằng toán học. Xét cho cùng, bởi vì không có
cách trình bày nào đúng hơn khi dùng ngôn ngữ thông tục nêu
lên sự tương quan nhiếp nhập của hai khái niệm không gian
và thời gian nên Einstein mới gọi thời gian là 'chiều thứ
tư '. Nói đúng hơn, 'chiều thứ tư ' là tên gọi, nhãn
hiệu gán cho sự tương quan giữa không gian và thời gian. Một
giáo sư của Einstein, Hermann Minkowski, quá thích thú về sáng
kiến của ông học trò, liền nghĩ ra được một cách diễn
dịch bằng phương trình toán học những tiến trình diễn
biến trên nền không-thời-gian, tương tợ công thức Pythagoras
mà người ta thường dùng để tính cạnh huyền của một
tam giác vuông khi biết chiều dài hai cạnh kề góc vuông. Theo
công thức Minkowski, khoảng không-thời-gian cách xa hai biến
cố, như là sự nổ bùng của hai vì sao, luôn luôn là như
vậy, không biến đổi, dù cho đo khoảng đó từ một hành
tinh chuyển động chậm hay từ một hỏa tiễn phóng rất nhanh.
Ngạc nhiên và thích thú nhất là công thức Minkowski cho thấy
đối với mỗi cá nhân, ba thời quá khứ, hiện tại, và vị
lai tụ lại tại một điểm, gọi là 'bây giờ' (now) . Ðiểm
này được đặt vào một vị trí xác định rõ rệt, gọi
là 'tại đây' (here) mà ta không tìm thấy ở một chỗ nào
khác ngoài vị trí hiện tại của quan sát viên. Trong Thiền
Luận, tập hạ, vấn đề này được thiền sư D. T. Suzuki
đề cập trong khái niệm viên dung, một trong tất cả, tất
cả trong một, khi trình bày về kinh Hoa Nghiêm.
Một hệ
quả rất quan trọng của thuyết tương đối hẹp là sự đồng
hóa hai khái niệm, khối lượng và năng lượng, bấy lâu tách
biệt. Sự đồng hóa ấy được viết thành một công thức
toán học, tuy đơn giản nhưng hết sức công hiệu: E = mc2.
Nói như Einstein, "năng lượng có khối lượng, và khối lượng
tiêu biểu năng lượng". Nếu ví khối lượng với thân và
năng lượng với tâm, thời cái mô thức thân tâm phân biệt
được Descartes xác nhận bằng câu nói bất hủ "Tôi suy nghĩ,
vậy là tôi hiện hữu" không còn chút giá trị nào nữa. Chính
nhờ công thức đồng hóa khối và năng lượng mà người
ta thông hiểu vì đâu sao trên trời liên lĩ phát ánh sáng
một cách đều đặn. Sự hiểu biết về vận hành của vũ
trụ bao gồm những vật thể rộng lớn như thiên hà, sao,
hành tinh hay vi tế như những hạt lượng tử tiến triển
rất mau nhờ vào công thức này. Tiếc thay bom nguyên tử, bom
khinh khí cũng bắt nguồn từ công thức ấy mà ra.
Khối và
năng là hai hình tướng của sự vật, chúng còn sinh ra nhiều
hình tướng khác, nhưng tựu trung theo luật bảo tồn khối-năng
lượng thì dù chúng đổi từ hình tướng này sang hình tướng
khác, tổng số khối-năng lượng trong vũ trụ luôn luôn vẫn
như vậy, không thay đổi. Nói cách khác, toàn vũ trụ luôn
luôn tìm cách giữ thế cân bằng, kết dệt hay đồng nhất
mọi sự vật trong "sự sự vô ngại pháp giới", nghĩa là
cốt tạo thành một toàn thể nhịp nhàng do sự tương dung
tương nhiếp theo quan điểm viên dung của kinh Hoa Nghiêm.
Sau này, Einstein
bổ túc thuyết tương đối hẹp bằng cách mô tả không-thời-gian
với những vùng lồi lõm tương ứng với sự tác dụng của
sức hút vạn vật (gravity). Ðộ cong của những lồi lõm lớn
hay bé tùy theo tại vùng đó có nhiều hay ít khối lượng.
Khi một hành tinh chạy quanh mặt trời thời nó chạy quanh
một vùng lồi có độ cong rất lớn tương ứng với sự hiện
diện của khối rất lớn của mặt trời. Quĩ đạo của hành
tinh là con đường hành tinh theo một cách tự nhiên và cũng
là con đường ngắn nhất. Phương trình Einstein thiết lập
để mô tả sự vận hành của vũ trụ không biểu diễn sự
chuyển động mà trái lại, biểu diễn một vùng địa phương
của không-thời-gian tại đó quan sát viên đang làm thí nghiệm.
Einstein tin rằng vật chất chính là độ cong của những lồi
lõm trên nền không-thời-gian. Ðó là điều ông suốt đời
ước ao chứng minh được bằng toán học. Những khái niệm
như khối, năng lượng, rốt cuộc chỉ là độ cong của những
lồi lõm trên không-thời-gian. Như vậy cuối cùng chỉ còn
lại hai khái niệm là không-thời-gian và chuyển động. Nhưng
vì chuyển động là con đường tự nhiên và ngắn nhất quanh
những lồi lõm trên không-thời-gian, cho nên không-thời-gian
và chuyển động là không hai (phi nhất phi dị). Tóm lại,
tất cả chỉ là giả danh! Những ai tu pháp môn bất nhị chắc
không lạ gì về điều nhận xét này.
Hiện nay
các nhà thiên văn học áp dụng thuyết tương đối của Einstein
để giải thích sự hỗ tương tác dụng và sự chuyển động
của các thiên hà, sao, hành tinh, hộ tinh trong không trung. Căn
cứ vào thuyết ấy, họ dự đoán có thể tìm ra nào là lỗ
đen, nào là chất tối, nào là nhiều vũ trụ khác đồng thời
hiện hữu với vũ trụ của chúng ta, v.. v..
Mô thức
II. Cơ học lượng tử (Quantum mechanics)
A. Thuyết
bổ sung của Niels Bohr (Theory of complementarity).
Một lượng
tử (electron, v..v..) có lúc thì có vẻ là hạt nhưng lúc khác
lại phải được mô tả như sóng. Theo Bohr, vấn đề "A và
chẳng phải A" đó không thể giải quyết bằng cách tìm kiếm
một khái niệm mới thay thế, có khả năng chụp bắt được
thật tính của hệ thống. Những gì các nhà vật lý kinh nghiệm
được (electron như sóng hoặc như hạt) là một phần bất
khả phân của, hoặc bị qui định, khuôn nắn bởi, toàn thể
trạng huống của thí nghiệm. Trạng huống này không những
bao gồm những dụng cụ máy móc, sự thể được thí nghiệm,
mà còn kể cả quan sát viên làm thí nghiệm nữa. Do đó cách
giải thích là cặp khái niệm tương phản này phải được
sử dụng đúng trạng huống và xem chúng như bổ khuyết cho
nhau để có được một hình ảnh đầy đủ về hệ thống.
Quan hệ tương phản nhưng bổ khuyết của hai khái niệm, sóng
và hạt (thí dụ cụ thể khác là hai đại lượng vật lý
như xung lượng và vị trí, năng lượng trong một tiến trình
vật lý và thời gian tiến trình này xảy ra, v..v..) được
Bohr gọi là bổ sung (complementarity).
Thuyết bổ
sung nhắc ta nhớ đến phương pháp tứ cú ngài Long Thọ thường
hay dùng để bác bỏ chủ trương sự vật có tự tính. Bốn
câu ấy là: 1. Hữu nhi bất vô (Có mà chẳng không); 2. Vô
nhi bất hữu (Không mà chẳng có); 3. Diệc hữu diệc vô (cũng
có cũng không); 4. Phi hữu phi vô (chẳng phải có, chẳng phải
không).
Ðem dùng
những từ luận lý (logical words) như: và (and), hay (or), chẳng
phải (not) của luận lý hình thức, bốn câu trên có thể
viết lại như sau theo luận lý hình thức: 1. A;
2. Chẳng phải A; 3. A và chẳng phải A; 4. Chẳng
phải (A và chẳng phải A).
Triết lý
Phật giáo chủ trương xét giá trị đúng hay thực của một
tiền đề căn cứ trên thực nghiệm và suy luận. Nếu câu
thứ nhất thực (sacca, truth) đức Phật cho rằng câu thứ
hai và câu thứ ba là vọng (confusion, musà), đối đãi
chứ không sai (sin, kali). Ngược lại câu cuối sai. Lý do: Phật
cho rằng khi phủ định một điều gì thực theo kinh nghiệm,
thời sự phủ định không bắt buộc dẫn đến sự sai tuyệt
đối, mà chỉ dẫn đến một trường hợp tương phản mà
thôi. Tiêu chuẩn để nhận biết giá trị sai là điều đó
phải mâu thuẫn với một sự thực tuyệt đối hay mâu thuẫn
với một mệnh đề được thành lập có tính chất phổ quát
(universal). Thí dụ: Câu "Tất cả thiên nga đều trắng" và
câu "Một số thiên nga không trắng" được xem như là mâu
thuẫn nhau. Bởi vì câu đầu xem như là một sự thực tuyệt
đối. Do đó, khi đọc kinh Phật ta hãy lưu ý đến hai điều.
Một, khi Phật dùng chữ 'nhất thiết' (tất cả), Phật luôn
luôn giới hạn tất cả vào các sự thể được thực nghiệm.
Hai, Phật không bao giờ nói trống như là "Tất cả đang khổ
đau", mà luôn luôn nói "tất cả những thứ này đang khổ
đau". Trở về câu thứ tư của tứ cú trong đó có sự đồng
thời bác bỏ cả khẳng định lẫn phủ định, Phật không
cho đó là một cách phát biểu nguyên tắc triệt tam (law of
excluded middle) mà là một sự từ chối hoàn toàn kiến thức
(knowledge) và mô tả (description). Như vậy Phật bác bỏ quan
điểm của những người theo giáo lý Upanishad (Áo nghĩa thư)
và theo giáo phái Kỳ Na (Jaina) cho câu thứ tư là thực.
Thuyết bổ
sung có thể xem như tượng trưng cho câu thứ ba. Nghĩa
là một lượng tử vừa là hạt và vừa chẳng phải hạt
tức sóng.
Khi A thực
mà chấp nhận câu thứ hai (chẳng phải A) và câu thứ ba (A
và chẳng phải A) không sai, chính đó là một điểm rất ư
đặc biệt của suy luận Phật giáo. Ta thường quen lý luận
theo lối nhị biên, không sai thì đúng, không đúng thì sai.
Ðể phá kiến chấp nhị biên tương đối, Phật chấp nhận
thêm lối suy luận đối đãi, tương phản, như trong hai câu
thứ hai và thứ ba của tứ cú. Quyển sách Fuzzy Thinking của
Bart Kosko sẽ giúp hiểu thêm rất nhiều về vấn đề này
trên phương diện toán học và mạng lưới thần kinh (neural
networks) của máy tính.
B. Nguyên
lý bất định của Heisenberg. (Uncertainty principle of Heisenberg)
Trong cơ
học lượng tử, dẫu dụng cụ, phương pháp, và người đo
lường hoàn hảo đến mức độ nào đi nữa, ta không bao giờ
có thể đồng thời biết được chính xác cả vị trí lẫn
xung lượng của một hạt đang chuyển động, cũng như cả
thời gian lẫn năng lượng liên hệ đến một biến cố. Ðó
là nguyên lý bất định của Heisenberg. Sau đây là một thí
dụ áp dụng nguyên lý ấy để thông hiểu lời dạy "sắc
tức thị không, không tức thị sắc" của đức Phật trong
phạm vi vật lý.
Theo nguyên
lý bảo tồn khối-năng lượng, ta không thể từ không làm
ra có (No free lunch). Nếu chỗ này được thêm một số năng
lượng thời chỗ kia sẽ mất đi một số tương đương. Trong
các phòng vật lý lượng tử, các nhà vật lý quan sát thấy
rằng các hạt thường xuyên biến chuyển, phát sinh ra những
hạt loại khác, thường gọi là hạt ảo, rồi tức thì hấp
thụ những hạt ảo ấy lại ngay khi chúng phát khởi. Thí
dụ: electron với những ảo photon. Proton với những ảo pion.
Ðó là hiện tượng sinh diệt trong sát na, nói theo thuật ngữ
của Phật giáo. Ðể giải thích hiện tượng, trước hết
phải lưu ý thời gian của biến cố rất là ngắn ngủi. Chỉ
độ một trong ngàn tỉ phần của một giây đồng hồ hay
chóng hơn nữa. Ngược lại nếu nhìn vào năng lượng của
biến cố ta thấy cả một đại lượng. Ðó là theo nguyên
lý Heisenberg. Nương vào tính cách bất định của sự đo lường
nên dẫu có sinh ra một số năng lượng trái với luật bảo
toàn, nhờ biến mất trong nháy mắt nên số năng lượng sinh
ra từ không đó nằm trong khoảng bất định của hệ thức
Heisenberg. Năng lượng càng lớn, nghĩa là hạt ảo sinh ra càng
nặng, thì thời gian sinh hoại phải càng ngắn hơn.
Lại có hiện
tượng các hạt thường xuyên tự biến thành các hạt loại
khác rồi tức thì trở lại trạng thái cũ. Thí dụ: proton
biến ra hoặc một cặp proton-pion, hoặc một cặp neutron-pion.
Neutron biến ra hoặc một cặp neutron-pion hoặc một cặp proton-pion
âm. Như vậy hạt nào cũng có thể xem như là tổng thể của
một số tổ hợp của các hạt loại khác. Ðây là một hiện
tượng nhắc đến lý viên dung của Hoa Nghiêm. Trong cơ học
lượng tử tổ hợp nào cũng có khả năng xuất hiện, tức
là có một xác suất sinh khởi nào đó. Xác suất của mỗi
một tổ hợp có thể tính được chính xác, nhưng tổ hợp
nào sinh khởi thì còn tùy cơ duyên không định trước được.
Các nhà vật
lý thường cho các hạt va chạm nhau để tìm ra hạt loại
mới hay để khảo sát tính chất vật lý của các hạt đã
biết. Họ quan niệm rằng sau mỗi va chạm các hạt nguyên
thủy tự diệt và từ đó khởi sinh ra những hạt khác. Nhưng
có điều kỳ lạ là lắm lúc không có va chạm mà quan sát
viên vẫn nhìn thấy không biết từ đâu, tại một điểm,
đồng thời sinh khởi hai hay ba hạt tác dụng lẫn nhau rồi
biến mất ngay tức khắc không chút dấu vết. Phải chăng
sự sinh diệt từ hư không như vậy tượng hình cho hình tướng
sắc sắc không không của "chân không diệu hữu"?
Kết luận.
Trở lại
câu hỏi trong hoàn cảnh nào Einstein đã nói "không một lý
thuyết khoa học nào được gọi là viên mãn trừ phi khi mỗi
phần tử của thực tại vật lý phải có một đối phần
tương ứng trong lý thuyết vật lý ấy"? Ðó là lời bài bác
thuyết lượng tử. Bởi vì thuyết này không dự đoán được
từng biến cố riêng biệt trong tiến trình biến chuyển của
các hạt, trái lại chỉ ước tính xác suất của những biến
cố có thể sinh khởi mà thôi. Như vậy trong thuyết lượng
tử không có phần tử đối ứng với mỗi một biến cố
riêng biệt hiện hữu. Vì thế cho nên theo Einstein thuyết lượng
tử không được viên mãn như nhiều nhà lượng tử học (trong
đó Bohr là đầu tàu) đã tưởng tượng.
Sống trong
một xã hội đề cao vật chất và tiêu thụ, con người thường
đặt lòng tin vào các nhà khoa học và trao cho họ cái nhiệm
vụ mà đáng lẽ phải tự mình gánh vác là minh giải tính
cách bí mật của sinh, thành, hoại, diệt trong đời sống
này. Nhưng sau hơn ba thế kỷ tìm tòi, thí nghiệm, họ tin
cho chúng ta biết họ không hiểu gì hơn chúng ta về thực
tại. Tuy nhiên với những dữ kiện thâu thập họ bảo rằng
họ có bằng chứng cái chìa khóa để thông hiểu vũ trụ
chính là ở nơi chúng ta. Họ dùng toán học và luận lý để
thấu đạt một sự thật mà đức Phật đã thấy mấy ngàn
năm về trước: Mọi cái gì ở 'ngoài đó' đều phụ thuộc
vào cái gì mình quyết định ở 'trong đây'. Hiện nay ngôn
ngữ của vật lý, nhất là của cơ học lượng tử, dần
dần có tính chất huyền bí. Con đường đi vào thế giới
vật lý là thực nghiệm. Mọi thí nghiệm có chung một mẫu
số là cái ta, cái ngã nói theo chân lý công ước (tục đế).
Ta làm thí nghiệm. Như vậy cái ngoại tại mà ta tìm hiểu
thực ra là sự tương tác giữa ta với ngoại tại chứ không
phải ngoại tại. Ðặc tính bổ sung của hạt và sóng trong
thuyết ánh sáng là đặc tính của sự tương tác giữa ta
với ánh sáng. Chính ta có thể lựa chọn loại thí nghiệm
để minh chứng ánh sáng là sóng hay hạt. Như vậy, nhìn vào
những việc các nhà khoa học đang làm và những kết quả
họ đã và đang gặt hái, không thấy cái gì là cứu cánh
mà tất cà chỉ là phương tiện. Ðể kết luận bài này xin
trích dẫn lời của Tuệ Sĩ giải thích ý nghĩa của quán
về hiện tượng vô thường trong Triết Học về Tánh Không.
"Quán về
hiện tượng vô thường cho đến khi chứng ngộ được nó,
bấy giờ ta mới thấy tương quan giữa tên gọi của hiện
thực và bản thân của hiện thực. Ðối với chúng ta đặc
tính của ngôn ngữ là tĩnh. Tĩnh cho nên nó hàm hồ. Bởi
vì dưới định lý vô thường, hiện thực luôn luôn sai biệt
và sai biệt. Khi ta gọi tên nó, ta không thể chỉ vào từng
cái sai biệt này mà là chỉ vào tất cả những cái
sai biệt đó, nghĩa là ta không thể gọi thẳng vào tự tướng
của nó mà chỉ là tổng tướng của nó. Tương quan giữa
tên gọi của hiện thực và bản thân của hiện thực nếu
được nhận thấy, nói đúng hơn là nếu được thể nghiệm,
thì bấy giờ ta mới đủ khả năng gọi tên một hiện thực
bằng tự tướng của nó, và bấy giờ ta mới có thể sử
dụng ngôn ngữ với đặc tính động như là diệu dụng của
phương tiện."
Phật
Ðản 2543