Mục
Lục
Lời
Giới Thiệu của Ban Biên Tập Nguyệt San Phật Học
Lời
Giới Thiệu của HT. Thích Thiện Siêu cho ấn bản tại Việt
Nam
Tựa
của TT. Thích Tuệ Sỹ cho ấn bản tại Hoa Kỳ
Vài
Lời Bày Tỏ của Tác giả Hồng Dương
Phần Một:
Nhận thức luận Phật giáo
1.
Ngôn ngữ và Biện chứng
2.
Thấy vậy mà không phải vậy
3.
Hãy đến mà thấy!
4.
Lý Duyên khởi
5.
Nhận thức luận Phật giáo
6.
Nhân minh luận
7.
Biện chứng pháp apoha
Phần Hai:
Không tánh Trung quán luận
8.
Trung quán luận: Phá tà hiển chánh
9.
Nhị đế: Triết học về Không thuyết và Ngôn thuyết
10.
Biện chứng pháp Trung quán
11.
Toán ngữ và Tứ cú
12.
Mười ba bài tụng chủ yếu của Trung luận
13.
Tánh Không phủ định cái gì?
14.
Cái còn lại trong tánh Không
15.
Tự tính Không và Tha tính Không
16.
Hý luận về Không
17.
Sinh Mệnh tức Không
Phần Ba:
Nhận thức và Không Tánh
18.
Nhận Thức Và Không Tánh
19.
Tài liệu tham khảo
Lời
Giới Thiệu
Tập sách
nầy in lại những bài viết về Trung Quán Luận, đã đăng
trong Nguyệt San Phật Học.
Ngài Long
Thọ, tác giả Trung Quán Luận và những kinh sách khác, được
chư thiền đức xưng tán là Ðệ nhị Thích Ca, đã vạch ra
thời kỳ chuyển pháp lần thứ hai. Trong những tác phẩm của
người, Trung Quán Luận trình bày tánh Không, phần tinh túy
của giáo lý đạo Phật.
Do tánh
Không nên các duyên tập khởi cấu thành vạn pháp, nhờ nhận
thức được tánh Không, hành giả sẽ thấy rõ chư hành vô
thường, chư pháp vô ngã, cuộc đời là khổ. Từ đó, hành
giả tinh tấn tu tập trên đường giải thoát sinh tử luân
hồi.
Tác giả
sách nầy, ông Hồng Dương chịu ảnh hưởng Phật Giáo nơi
thân mẫu lúc tuổi hãy còn thơ ấu, vốn là nhà mô phạm
đất thần kinh, cũng là nhà khoa học, có học vị Tiến sĩ
Toán của Pháp. Ông đã hoạt động ở các lãnh vực cách
mạng dân tộc, chánh trị, xã hội, văn hóa giáo dục. Nay
về hưu, ông có nhiều thời giờ, đọc thêm những sách của
các tác giả tên tuổi viết về Phật Giáo.
Nhờ kinh
nghiệm và kiến thức, nên tác giả đã viết những bài trong
tập sách nầy rất có giá trị, xứng đáng có một chỗ trong
Thư viện và các tủ sách gia đình. Càng hữu ích cho những
ai muốn nghiên cứu về Triết học Phật Giáo.
Nguyệt
san Phật Học hân hạnh ấn tống quyển sách nầy, chính nhờ
có được sự ủng hộ của quý độc giả. Xin hồi hướng
công đức ấn tống cho tất cả quý độc giả Phật Học.
Louisville
Kentucky, 11-11-2000
Nguyệt
San Phật Học
Lời
giới thiệu
Không luận
là nội dung rốt ráo nhất trong Nhận thức luận của Phật
giáo. Không tánh là nội dung cốt lõi của Không luận. Trình
bày Nhận thức luận Phật giáo để rồi phân tích Không tánh
của Không luận, tức Trung Quán Luận là hai phần chính của
tác phẩm "Tìm hiểu Trung Quán Luận: Nhận thức và Không tánh"
của Hồng Dương Nguyễn Văn Hai.
Ðạo hữu
Hồng Dương Nguyễn Văn Hai vốn là một nhà giáo dục, tốt
nghiệp Tiến sĩ Quốc gia về Toán học tại Sorbonne, Paris,
từng giữ chức Hiệu trưởng trường Quốc Học Huế, Giám
đốc Học chánh Trung và Cao nguyên Trung phần Việt Nam, Phó
Viện trưởng kiêm Khoa trưởng Ðại học Khoa học Viện Ðại
học Huế, Phó Giám đốc Trung tâm Liễu Quán của Phật giáo
Huế. Sau đó, Ðạo hữu định cư tại Hoa Kỳ và từ năm
1975, là Giáo sư tại Ðại học Kentucky. Từ năm 1995, Ðạo
hữu đã để tâm nghiên cứu chuyên sâu các đề tài Phật
học mà nhiều chục năm qua Ðạo hữu đã lưu tâm nghiên cứu.
Tác phẩm này là phần đầu trong ba phần của một công trình
lớn hơn mà tác giả đang nỗ lực hoàn tất, "Tìm hiểu Trung
Quán Luận".
Phân tích,
trình bày về Trung Quán Luận của Bồ tát Long Thọ là một
công việc vô cùng khó khăn bởi vì đây là một trong những
bộ luận đặc sắc nhất, lại khó hiểu nhất của Phật
giáo. Về căn bản, tác giả có điều kiện tốt để làm
công việc này; trước hết, Ðạo hữu là một Phật tử chân
thành, có niềm tin vững chắc và kiến thức vững vàng về
Phật học; lại nữa, Ðạo hữu lại là một nhà Sư phạm,
nhà Toán học uyên thâm. Trước tiên người đọc dễ dàng
nhận thấy tác phẩm có một cấu trúc hợp lý : về Nhận
thức luận, tác giả bàn đến ngôn ngữ, biện chứng, đến
tính biện chứng siêu việt của Phật giáo, đến lý Duyên
khởi; kế đến là Nhận thức luận Phật giáo với Duy thức
luận, với phương pháp tư duy biện chứng, đối tượng và
hình thái tư duy, đặc biệt về phương pháp luận lý của
Nhân minh luận và sau cùng là trở lại vấn đề ngôn ngữ,
biện chứng, quan điểm nhận thức và phương pháp tư duy của
Trần Na, Thiên Chủ, lấy khiển trừ làm căn bản cho phương
pháp giảm trừ (reduction) để tiến đến phương pháp
phủ định rồi phủ định tuyệt đối, siêu việt của Long
Thọ. Ðây cũng là phần chuyển tiếp hợp lý cho phần thứ
hai, Không tánh Trung Quán Luận.
Phần
thứ hai này rất quan trọng, là nội dung và chủ đề chính
của quyển sách. Qua đó, tác giả trình bày về chủ đích
của Trung Quán luận, về hai cấp độ của Không tánh, từ
Tục đế khả thuyết đến chân đế vô ngôn của cái thực
tại vô cùng vi diệu này. Từ đó, tác giả trình bày về
biện chứng pháp Trung quán như là một phương pháp đúng đắn
nhất để nhận thức thực tại bao gồm một chuỗi phủ định,
đi dần đến cái Không của chân thực. Trong chuỗi tư
duy để đi đến nhận thức, hành giả phải đối đãi với
tứ cú, của bốn cách nhận định đối tượng, vốn phải
được đối đãi bằng một phủ định, rồi một phủ định
của phủ định và liên tục như thế. Ðến đây, tác giả
phân tích ý nghĩa của mười ba bài tụng chủ yếu của Trung
Luận, một trình bày về cách nhận thức đúng đắn dựa
trên phương pháp tư duy biện chứng của phủ định, để
đi đến cái Không tối hậu, cái Không với sự phủ định
chính nó. Xuyên suốt ý nghĩa Không này luôn luôn là ý nghĩa
phủ định, đó là ý nghĩa của "pháp nhĩ như thị", mọi
sự vật vốn là không cho nên phủ định chúng là một phủ
định, đồng thời không phủ định gì cả, và từ đó, tinh
thần vẫn là "vậy mà không phải vậy". Ðây là nhị lý của
kinh Kim Cang vậy. Và như vậy, tuy đã được phân tích chi
li, Không tánh vẫn có thể bị hiểu lầm, bị vi phạm trong
tư duy với chất liệu hữu vi. Tác giả thận trọng bàn về
"Cái còn lại" trong Không tánh và trưng dẫn kinh Tiểu Không,
Lăng già, Luận Duy thức, Luận Ðại trí độ để hiểu cái
còn lại dây là cái còn lại khi đối tượng bị phủ định,
tiến đến ý nghĩa của Chân không Diệu hữu siêu việt khỏi
tư duy luận lý.
Tác giả
đã nỗ lực tối đa để trình bày Nhận thức luận Phật
giáo về Không tánh, lấy nguyên lý Duyên khởi làm cốt lõi,
làm căn bản để phân tích Không tánh theo như chỗ y cứ của
ngài Long Thọ. Tác giả đã luận giải về một luận giải
bằng một hình thức diễn đạt mới, kết hợp chất liệu
của kinh luận Phật giáo với của triết học qua ngôn ngữ
toán học, vật lý học ... Nỗ lực này của tác giả đôi
chỗ có thể không thích hợp với một số độc giả, thậm
chí bị xem là gây rắc rối cho một vấn đề rắc rối,
hay có chỗ bị xem là rườm rà. Nhưng đối với đông đảo
độc giả, tấm lòng chân thật, kiến thức sâu rộng và có
cách trình bày mới mẻ, khoa học của tác giả thật đáng
trân trọng. Tác phẩm bổ sung cho kiến thức và phương pháp
tư duy của người Phật tử trên bước đường tu tập giáo
lý giải thoát của đức Phật.
Học viện
Phật giáo Việt Nam tại Huế nhận thấy đây là một tài
liệu nghiên cứu phong phú về nội dung và khúc chiết, sáng
sủa về hình thức, cần thiết cho giới nghiên cứu Phật
học và nhất là cho các Tăng Ni sinh của Học viện tại Huế
và các Học viện khác, do đó, đã xin được đứng ra thực
hiện các thủ tục xuất bản, ấn hành tác phẩm giá trị
này và đã được tác giả thuận ý.
Xin cảm
ơn Ðạo hữu Hồng Dương Nguyễn Văn Hai và trân trọng giới
thiệu tác phẩm đến chư độc giả.
Huế, Trọng
Xuân Tân Tỵ, 2001
Hoà thượng
Thích Thiện Siêu
Viện
trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế.
TỰA
Nhận Thức và Tánh
Không
Có người
nói rằng, cái lý tưởng đại thừa được thắp sáng
trên 20 thế kỷ ấy, đã chạy suốt cả môt vùng á châu rộng
lớn, nhưng rồi, nghèo đói, bất công, áp bức vẫn là bóng
tối dễ sợ đang đè nặng, mà ở đó Trí Bát nhã chỉ là
ánh lửa đom đóm lập loè không đủ báo hiệu những hiểm
họa nào đang rập rình phía trước. Nội hàm của những khái
niệm từ bi, bình đẳng, trí tuệ, ... cần phải thay đổi
để nhìn rõ hơn, thiết thực hơn, những giá trị phổ quát
của nhân loại.
Nhận định
ấy tất nhiên không sai. Người học Phật đã quen với tập
quán tư duy của mình, thì không hoan hỷ cũng không phản đối.
Những tập quán tư duy vốn được huân tập trong nhiều kiếp,
cho nên vẫn phải nhìn thế giới theo nhãn quang của mình.
Nghĩa là, ‘’ pháp nhĩ như thị.’’ Pháp tính bản lai là
như thị, không do Phật xuất hiện hay không xuất hiện mà
đổi khác, mà như thế này hay như thế kia. Nhưng thực sự
có đổi khác, trong từng sát na, hay trong từng thế kỷ, hoặc
thiên kỷ.
Bạn đọc
sẽ gặp câu nói của Dharmakirti được Giáo sư Hồng Dương
nhắc rất nhiều lần trong tầp sách này: ‘‘ Cái gì thực
hữu, cái đó có tác dụng. Cái gì có tác dụng, cái đó thực
hữu.’’ Pháp tính mà có thể nhận thức được, bằng hiện
lượng hay bằng tỉ lượng, thì tự căn bản pháp tính hiện
thực ‘‘ ở đâu đó.’’ Thế nhưng, ‘‘ nơi nào
đó ‘’ có tác dụng, nơi đó pháp tính mới được nỗ
lực quán chiếu để phát hiện. Trước Newton vô thuỷ, và
sau Newton vô chung, trái táo, và mọi thư trái khác,vẫn rơi;
cả tâm của chúng sinh cũng rơi. ở phương Tây người ta
thấy điều đó. Ở phương đông, người ta cũng thấy như
vậy. Trên mặt phẳng của sự rơi, dưới đáy hố thẳm
siêu hình của sự rơi, pháp tính vẫn thường nhiên. Trong
mỗi pháp được nhận thức, có vô biên điều kỳ diệu.
Nhưng chỉ tại một điểm nào đó trong một xứ và một thời
nhất định, do tác dụng của tâm trong một định hướng
tồn tại nhất định, mà một quy luật được phát hiện
từ pháp tính. Mỗi phát hiện đều có cơ làm thay đổi sắc
diện của thế giới.Người ta gieo hạt để thâu hoạch những
thứ mình cần, hay muốn.
Dầu sao,
biện luận như thế cũng không đủ vững để cho biết, vì
sao phương Tây, theo một ý nghĩa rất cụ thể, lại phát hiện
nhiều quy luật từ pháp tính làm cho đời sống con người
‘‘văn minh ‘’ hơn?
Phục Hy
phát hiện khái niệm nhị phân bằng hai hào. Ông chồng ba
bit-hào thành một quẻ; thu hoạch được tám quẻ. Rồi chồng
nữa, ông có bộ nhớ 6 bit-hào, nhận được 64 ký tự-quẻ,
nói đủ để ghi tất cả mọi hiện tượng, từ thiên nhiên,
xã hội, con người. Ghi bất cứ cái gì mà con người có thể
suy nghĩ và tưởng tượng.
Nhưng phát
hiện của Phục Hy đươc thấy là hữu ích cho việc bói toán
hơn là hỗ trợ bộ óc của con người, như vi tính ngày
nay. Tại sao?
Người
học Phật chỉ có thể nói: căn, cảnh, thức; ba sự hoà hiệp
xúc. Duyên xúc phát sinh thọ. Xúc dị biệt nên cảm thọ dị
biệt. Không cùng môi trường ‘‘thức’‘ nữa thì không
thể nhìn giống nhau được. Hai bờ sông Ngân có hai chòm sao.
Từ đông hay Tây, nhìn lên đều thấy. Ở bên này Thái bình
dương nhìn lên, đó là Ngưu lang, người chăn bò, và Chức
nữ, cô gái dệt lụa. Và một thiên tình sử não lòng. Còn
bên kia đại tây dương nhìn lên, đó là con thiên ưng và cây
đàn bảy giây. Không có dấu hiêu gì chứng tỏ con chim đang
cố vượt sông Ngân để sang bờ bên kia nghe đàn, mà được
thấy là đang đi tìm trái tim của vị thần ăn cấp lửa.
Cách nhìn khác nhau vạch ra định hương lịch sử khác nhau,
và tạo dựng những nền văn minh khác nhau.
Dù giống
nhau ở điểm nào và khác nhau ở điểm nào, ngày nay thế
giới vẫn đang tuột dốc, cũng có thể đang lên dốc, theo
hướng mà văn minh phương Tây đã chọn. Giá trị phổ quát
ở đây có thể rút gọn theo một phát biểu: ‘’Nhất thiết
chúng sinh giai y thực trụ.’’ Tất cả chúng sinh đều nhờ
thức ăn mà tồn tại. Cho đến một thời điểm lịch sử,
thức ăn mà văn minh phương Tây cung cấp có vẻ thích hợp
khẩu vị cho số đông. Nền văn minh đó hình như phát triển
theo hướng: từ định nghĩa ‘’Con người là một cây sậy
biết tư tưởng,’’ cho đến định nghĩa ‘’Con người
là loại động vật biết tiêu thụ.’’ Trong cả hai định
nghĩa, con người là một thực thể nhị nguyên phát triển
đồng thời theo hai hướng khác nhau. Một hướng, từ thực
vật đến động vật. Hướng khác, từ khả năng tư duy đến
khả năng tiêu thụ. Còn ở phương đông này, cái thời của
‘’an bần lạc đạo’’ không còn được kính trọng mấy.
Chân lý
không nằm ở bên này hay bên kia, nhưng cần biết điểm quy
ước của thời đại nằm ở đâu, để trí tuệ quán chiêu
có thể tập trung lên đó. Không phải với ước vọng tự
thân sẽ là ngọn đèn soi đường cho thế gian. điều khẩn
thiết là tự mình thắp sáng ngọn đèn của mình để tự
nhìn thấy mình đang ở đâu trong thế giới này, và đang đi
về đâu. đó là cần phải quán chiếu pháp giới trong phạm
vi tục đế để thâm nhập pháp tính trong chân đế. ‘’Nhận
thức và Tánh Không’’ là một nỗ lực của một nhà khoa
học đang cố xác định điểm đứng quy ước của mình để
có thể chiêm quan thế giới. Những ‘’hý luận’’ trong
đây tất nhiên không phải là những đề tài giải trí, được
dùng để tiêu khiển cho hết ngày tháng phù du, nhạt nhẽo
của đời sống. Cậu bé Tự Tại Chủ ngồi đếm cát trên
bãi biển cố nhiên chỉ là ‘’trò chơi của trẻ con.’’
Nhưng không hẵn chỉ dành riêng cho trẻ con, cho nên Thiện
Tài theo dấu chỉ của Bồ tát Văn-thù đã phải bạt thiệp
hiểm nguy tìm học cho được cái trò chơi trẻ con ấy.
Một nhà
toán học viết: ‘’Nhìn vào số không, bạn chẳng thấy
gì. Nhưng hãy nhìn xuyên qua số không, bạn sẽ thấy cả thế
giới.’’ (Robert Kaplan, The Nothing that is). Với một người
đắm mình trong những trầm tư về tánh Không, đíều đó
có thể không khiến cho giật mình kinh ngạc. Một bài tụng
trong Trung luận cũng có thể đã nói đên một ý nghĩa nào
đó gần như thế; và có thể là nói nhiều ý nghĩa hơn thế:
‘’Dĩ hữu Không nghĩa cố, nhất thiết pháp đắc thành.’’
Bạn đoc sẽ thấy phát biểu đó xuất hiện nhiều lần trong
tập sách này, và đươc nhận thức từ nhiều góc cạnh khác
nhau. Tần số xuất hiên như vậy rất có ý nghĩa với một
nhà toán học. Tôi nghĩ như thế. Bởi vì tác giả là một
nhà toán học.
Tuy nhiên,
đối với một người chuyên học tánh Không, thì phát biểu
số không trong thế giới được nhìn như là cấu trúc của
những con số, không khỏi gây ngạc nhiên đầy hứng thú.
Rồi từ đó tìm lại những hình ảnh quen thuộc tưởng chừng
như khó tìm thấy, hay tưởng chừng như bị cố tình quên
lãng, trong thế giới tư duy Phật giáo.
Làm sao
tính được điểm khởi đầu của thời gian? Làm sao nhìn
suốt tận cùng vị lai của thế giới? Rốt lại, tư tưởng
con người bị đong đưa giữa hai cực: ‘’tiền tế vô cùng,
hậu tế ninh khắc.’’ để có giải thích hợp lý, phù hợp
với tri giác cảm quan thường nghiệm, người ta đề nghị
đặt các điểm vô thuỷ và vô chung trên một đường tròn.
Nhưng các Bồ tát trên hội Hoa nghiêm không làm thế. Các ngài
đặt thế giới vô tận vào trong một hạt cát. Nhà ‘’toán
học trẻ con’’ Tự Tại Chủ gật đầu: một hạt cát là
môt tập hợp vô hạn vi hạt cát.
Chúng ta
đang đi lần vào ‘’Nhận thức và Tánh Không.’’ đi từ
thế giới trống không, không sinh, không diệt, cho đến thế
giới của lăng kính trùng trùng vô tận. Những bài viết của
Giáo sư trong tập sách này là cảnh giới tư tưởng được
nỗ lực khám phá theo hai nhãn tuyến: tánh Không và tư duy
toán học. Nó là điểm giao hội của hai nguồn mạch tư tưởng
Ðông và Tây, mà lịch sử nhân loại phải thừa nhận là
đã đổ xuống không biết bao nhiêu máu và nước mắt nhưng
vẫn không tìm ra nghiệm cho môt phương trinh vi phân chỉ vì
chưa ai xác định được điều kiện ban đầu. Cho nên, không
ai xác định được vãn minh loài người đang ở điểm nào
trên đường cong tuột dốc. Tuy vậy, mỗi cá nhân đều phải
tự tìm cho mình một giải đáp để có thể sông bình yên,
không bị khốn quẫn bởi thực tế đời thường, cũng không
bị dày vò bởi những ám ảnh siêu hình.
Nhà triết
học Hy-lạp Aristotle nói: ‘’Tự bản chất, mọi người
đều muốn biết.’’ đồng thời với ông, Trang Tử lại
nói: ‘’Sự sống có hạn mà cái biết thì vô cùng. đem
cái hữu hạn đuổi theo cái vô cùng, nguy thay!’’ Người
học tánh Không đang ngồi đếm cát trên bãi biển, nhìn ra
khơi, tự hỏi: ‘’Có cái gì không, ở bên ngoài vô tận
kia?’’ Bất giác nhìn lại lòng tay, giữa hai hạt cát đang
đếm, giữa hai con số hay hai điểm lân cận, là một Pháp
giới vô biên, vô tận. điều nay có huyễn hoặc chăng? Không
huyễn hoặc hơn quả cam mà Stalin đang bóc võ để chứng minh
sự sụp đổ của thế giới vật-tự-thân của Kant.
Tuy nhiên
như vậy, người học Phật, tin tưởng kho tàng minh triết
trong Kinh điển Phật giáo, thì không dâng hiến cả đời mình
cho khát vọng hiểu biết chỉ để mà hiểu biết. Dục vọng
vật chất, hay khát vọng tinh thân, đều là những vị ngọt
của đời sống, là dưỡng chất tất yếu của tồn tại.
đó là thực tại không thể từ chối. Cho nên, người học
Phật, như Thiện Tài đồng tử, không phải suốt đời lẻo
đẻo theo chân Sư phụ Bồ tát Vãn-thù; cũng không suốt đời
cô độc trên đỉnh Diệu phong với Ðức Vân để mà trầm
tư mạc tưởng; nhưng đã dấn thân trong mọi nẽo đường
đời. Không phải chỉ học những cái chỉ cần thiết cho
mình, mà tất cả nhưng gì cần thiết cho thế gian. Trang nghiêm
Phật độ, thành tựu chúng sinh, không phải tự minh gầy dựng
một hoa viên để rồi khép cửa vườn hồng, an nhàn tự tại
mà tiêu pha năm tháng. Người học Phật vì thế mà không thể
dững dưng trước những phát hiện chưa biết là họa hay phúc
của loài người, trước những tiến bộ hay thoái hóa của
khoa học, của tư duy triết học, trước những thăng trầm
trên con đường chính hay tà, thiện hay ác, của các tôn giáo.
Không biết
khi nhà toán học trẻ con Tự Tại Chủ mang bọc cát vào chùa,
làm phẩm vật cúng dường Tam bảo, có Thầy, Cô, hay Phật
tử nào cho là xúc phạm mà xua đuổi đi chăng?
Phật lịch
2545
Quảng
Hương Già-lam
Tuệ Sỹ
Cẩn bút.
Vài
lời bày tỏ
Bấy lâu
tôi có viết một số bài về Nhận thức luận Phật giáo
và Không tánh Trung quán để đăng trong Nguyệt san Phật học
ở Louisville, Kentucky, U.S.A. Ðó là những bài ghi lại những
kinh nghiệm học Phật thu tập theo thứ tự diễn tiến với
thời gian.
Nhìn lại
quãng đời sống gần 80 năm qua nhanh như chớp điển, tôi
thấy mình quả thật hạnh phúc được sinh làm người Việt
Nam. Là vì lớn lên và sống trong một giai đoạn đất nước
trải qua lắm cuộc bể dâu, tôi may mắn sớm thấy biết tính
cách vô thường của vạn hữu. Trên đời này không có cái
gì là trường cửu bất biến, cho nên nếu vì tham, sân, si
mà bám chặt hay trói buộc mình vào bất cứ sự vật gì thời
chắc chắn chỉ rước khổ vào thân. Với những kinh nghiệm
như vậy, việc học Phật đối với tôi là điều đương
nhiên, nhất là vào giai đoạn lớn tuổi, khi có đôi chút
thời giờ tĩnh lặng suy ngẫm về ý nghĩa của cuộc đời
sắp mãn.
Học Phật
có thể ví như người biết mình bị bệnh đi tìm thầy thuốc
chữa trị. Pháp Phật là phương thuốc cứu nguy. Muốn chữa
bệnh thời phải thực hành Phật pháp. Nhưng nếu không có
cơ duyên gặp được vị lương y là bậc thánh thiện như
chư Phật hướng đạo tâm linh và làm nơi nương tựa thời
không thể nào thực hành đúng chánh pháp hầu chữa trị khỏi
bệnh. Ðó là khó khăn lớn nhất tôi đang gặp phải.
Hồi còn
học lớp Ðồng ấu, Mẹ tôi thường dẫn tôi đến chùa của
Tỉnh Giáo hội Phật giáo Quãng Bình, ở Ðồng Hới, miền
Trung Việt Nam và thường dạy tôi đọc và học thuộc lòng
Bát nhã Tâm kinh. Dẫu không hiểu gì nhưng trong cả bài kinh,
câu tôi thích nhất và nhớ rõ ràng nhất là câu "Sắc tức
thị Không, Không tức thị Sắc". Từ đó đến nay câu ấy
không ngớt vang lên trong đầu óc tôi, luôn luôn giúp tôi thấy
biết rõ ràng những vấn đề nan giải gặp phải trong những
cảnh huống éo le trắc trở. Có lẽ vì thế mà tôi có khuynh
hướng xem Phật pháp như là linh dược trên đời này mặc
dầu vô số lần tôi có cơ hội tốt đẹp tiếp xúc và học
hỏi rất nhiều nơi kiến thức và nhân cách của nhiều vị
lãnh đạo tinh thần lỗi lạc của những tôn giáo khác.
Tôi nhớ
lại lúc Hòa thượng Thích Minh Châu tu học ở Ấn độ mới
trở về nước, có hỏi Thầy phải đọc sách gì trước tiên
để bắt đầu tìm hiểu Phật pháp. Thầy bảo tôi nên đọc
"Những gì đức Phật dạy" của Walpola Rahula. Về sau những
tài liệu khai nhãn khác như Luận Chỉ Quán, Luận Khởi tín,
Nhiếp Ðại thừa luận, Giải thâm mật kinh, Pháp Hoa lược
giải của Hòa thượng Thích Trí Quang, Lối vào Nhân Minh Học,
Luận Thành Duy thức, Vô ngã là Niết bàn, Ngũ uẩn Vô ngã,
Luận Ðại trí độ của Hòa thượng Thích Thiện Siêu, v..
v... là sức gia trì giúp tôi quyết tâm tinh tấn trên đường
tu học.
Trên hết,
chính những lời khuyến cáo rất tha thiết và thành khẩn
trong bài văn Khuyến phát Bồ đề tâm của Ðại sư Thật
Hiền do HT Thích Trí Quang dịch giải mà tôi đọc được trên
Hoa Sen Internet đã làm sáng tỏ lý do và ý nghĩa của sự phát
tâm nhập đạo và lập nguyện tu hành. Ở phần tiểu dẫn,
Hòa thượng giải thích: "Về lý do phát bồ đề tâm, ngoài
nỗi thống khổ sinh tử mà mình mục kích và ý thức, có
hai việc mà kinh luận đề cập nhiều nhất, đó là tự biết
mình có thể làm Phật, và tha thiết hơn cả, nghĩ đến sự
suy tàn của Phật pháp". Theo Hòa thượng, "phát bồ đề tâm,
nói đơn giản, là trước hết, lập cái chí nguyện mong cầu
tuệ giác Vô thượng bồ đề, kế đó phát triển tuệ giác
ấy, cuối cùng phát hiện bản thể của tuệ giác ấy là
chân như. Giai đoạn trước hết, chí nguyện mong cầu tuệ
giác Vô thượng bồ đề hàm có hai tính chất mà thành ngữ
thường nói là thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh."
Tìm hiểu
về sự liên hệ giữa hai câu "Thượng cầu Bồ đề, hạ
hóa chúng sanh" và "Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc"
là nguyên nhân dẫn tôi đến với Trung quán luận của Bồ
tát Long Thọ. Trong sách này, tánh Không được gắn liền với
Duyên khởi để minh giải thuyết Trung đạo theo đúng giáo
lý của đức Thế Tôn, tức là phương pháp tu tập để từ
bỏ hai cực đoan chấp không và chấp hữu. Mọi phân tích
suy lý theo phương pháp biện chứng Trung quán đều hướng
đến triển khai tuệ quán vào tánh Không, nhận biết cách
thức vạn pháp hiện hữu như thật, đúng như cái thế duyên
khởi của chúng. Do đó nếu chỉ đọc Trung quán luận bằng
trí năng mà không đồng thời học tập quán tưởng thời
không thể nào thông chứng được giáo lý về tri kiến sâu
xa của Bồ tát Long Thọ.
Trung quán
luận mô tả lộ trình tu tập của những hành giả tiến tu
Bồ tát đạo một cách ngắn gọn nhưng rất đầy đủ trong
bài tụng XXIV.18: "Các pháp do Duyên khởi, nên ta nói là Không,
là Giả danh, và cũng chính là Trung đạo". Duyên khởi là Không,
Không là giả danh. Vì giả danh là cái tên gọi được thiết
lập y cứ vào một tập hợp nhân duyên, nên giả danh là duyên
khởi. Cách phát biểu như vậy theo đúng thứ tự diễn tả
tư tưởng Không trong câu "Sắc tức thị Không, Không tức
thị Sắc" của Tâm kinh.
Trung quán
luận sử dụng biện chứng pháp để tiêu diệt hý luận và
chỉ đường thức tỉnh chẳng những làm phát khởi cái chí
nguyện "thượng cầu Bồ đề" mà còn hỗ trợ sự tinh tấn
tu hành cho đến phát minh tuệ giác Vô thượng Bồ đề. Ðó
là phép quán "Sắc tức thị Không". Ðương thể "Sắc" tức
Không, đương thể là Không. Không đây là Tự tính Không.
Về mặt
"Hạ hóa chúng sanh", Trung quán luận xác quyết Nhị đế, tục
đế và chân đế, là diệu dụng của phương tiện và trí
tuệ. Tục đế ở đây là ngôn ngữ và luận lý. Ngôn ngữ
và luận lý muốn có lợi ích phải tuôn ra từ Chân đế tức
Không. Ngài Long Thọ nói: "Do Không mà tất cả pháp được
thành tựu và hợp lý". "Không" đề cập ở đây là "Không
tức thị Sắc", là Tha tính Không, là sự xa lìa tất cả nhiễm
pháp. Ðứng về hiển tánh mà nói thời gọi là Không tánh,
nhưng thật thể là Sắc cứu cánh, là bất không.
Trung luận
đả phá triệt để mọi vọng tưởng hý luận để minh giải
cho thấy giá trị của ngôn ngữ và luận lý không ở chỗ
thành công mà là ở chỗ thất bại của nó trong sự diễn
đạt Tuyệt đối. Chính do sự thất bại này mà ngôn thuyết
tựu thành được Trung đạo qua phép biện chứng. Ðối với
những người được giáo dục theo văn hóa Tây phương thường
quen khẳng định sự hữu (existence), phủ định sự phi hữu
(non-existence), và triệt để tuân theo luật phi mâu thuẫn của
Aristotle: A không thể vừa là A vừa là phi A, thời Trung đạo,
nguyên lý bản thể luận Phật giáo, thật là khó hiểu. Bởi
vì Trung đạo là không khẳng định không phủ định. Theo
Ngài Long Thọ, Trung đạo là một tiến trình tu tập theo biện
chứng pháp, chuyển biến phương cách nhận thức thực tại
từ có Duyên khởi qua không có Duyên khởi tức Không, rồi
trở lại có Duyên khởi dưới hình thức Giả danh.
Vì những
lý do vừa nêu, nên trước khi tìm hiểu và viết về từng
phẩm một của Trung quán luận, tác giả gia công tìm tòi học
hỏi nhận thức luận và quá trình phát triển tư tưởng tánh
Không Phật giáo. Các tông phái Phật giáo Trung quán quan niệm
rằng các pháp thức suy tư và biết rõ chỗ đúng sai của
tư duy suy lý là rất cần thiết cho mục đích tự ngộ. Mặt
khác, hiểu rõ các phép tắc biện luận và cách thức trình
bày qua ngôn ngữ để giúp kẻ khác thông hiểu chủ trương
của mình cũng rất cần thiết cho mục đích ngộ tha.
Trong Phần
Một: Nhận thức luận Phật giáo, những nét đặc thù của
nhận thức luận Phật giáo được trình bày qua ba bài: Nhận
thức luận Phật giáo, Nhân Minh luận, và Biện chứng pháp
apoha. Ba bài trước đó, Thấy vậy mà không phải vậy, Hãy
đến mà thấy!, và Lý Duyên khởi, mô tả một cách tổng
quát phương cách nhận thức khác thường của Phật giáo và
đường lối giải thích lý pháp duyên khởi qua các giai đoạn
phát triển tư tưởng Phật giáo.
Trong Phần
Hai: Không tánh Trung quán luận, bài "Trung quán luận: Phá tà
hiển chánh" đặt Trung quán luận vào giai đoạn mà nó có
vai trò giáo hóa quan trọng nhất trong quá trình tu chứng. Kế
tiếp, bài "Nhị đế: Triết học về Không thuyết và Ngôn
thuyết" đưa ra nhận xét về sự tương tợ giữa hai hình
ảnh tuyệt đẹp là sự im lặng của đức Phật và điểm
nguyên thủy của vũ trụ.
Trong công
việc nghiên cứu các quan điểm khác nhau về cách trình bày
tánh Không, hai bài "Mười ba bài tụng chủ yếu của Trung
luận" và "Tánh Không phủ định cái gì?" đề cập Không tánh
Trung quán và những luận cứ dùng để phản bác sự ngộ
nhận Bồ tát Long Thọ chủ trương hư vô luận. Bài "Cái còn
lại trong tánh Không" tìm cách chứng minh rằng tuy cả hai học
phái Trung quán và Du già đều lấy kinh Ðại Phẩm Bát nhã
làm cơ sở tư tưởng, nhưng Du già còn tựa trên kinh Tiểu
Không để thuyết minh tánh Không. Bài "Tự tính Không và Tha
tính Không" nêu ra một bên là Trung quán và Du già y cứ từ
nhân duyên sanh pháp, hư vọng sanh pháp để luận về tính
siêu việt tổng hợp đối lập của tánh Không, và bên kia,
kinh Thắng Man, kinh Lăng già, luận Khởi tín y cứ từ Như
Lai tạng tính mà thuyết minh nghĩa tánh Không là "không và
bất không". Do đó mà phát hiện thuyết Tha tính Không liên
quan mật thiết với các pháp môn tu tập thiền quán như các
giáo pháp Minh sát thiền, Thiền tông, Ðại thủ ấn, và Ðại
toàn thiện.
Bài đầu
"Ngôn ngữ và Biện chứng" và bài cuối "Hý luận về Không"
dùng nhãn quan và ngôn ngữ Phật giáo để phân tích một số
thành quả của Vật lý học hiện đại. Cuối cùng, mục đích
của bài "Biện chứng pháp Trung quán" là để biện minh luận
chứng căn cứ trên tứ cú của Ngài Long Thọ không phạm lỗi
lầm đối với luật phi mâu thuẫn và luật triệt tam của
logic Aristotle mặc dầu có tính chất siêu việt luận lý. Những
điều nói đến trong bài này sẽ được lặp lại với nhiều
chi tiết hơn khi giải thích ý nghĩa của từng Phẩm.
Tập sách
này mới là phần đầu của quyển "Tìm hiểu Trung quán luận"
mà tác giả dự định viết. Phần giữa sẽ gồm những bài
giải thích 27 Phẩm của Trung quán luận và phần cuối sẽ
trình bày về các tông phái Phật giáo Trung quán.
Quyết
định viết bàn về một tác phẩm có tiếng khó hiểu như
Trung quán luận tất có sự khích lệ và hỗ trợ lớn lao
của nhiều bậc thiện tri thức. Số là ở Louisville, tiểu
bang Kentucky, Hoa Kỳ, nơi tôi cư ngụ, hơn thập niên nay, có
một nhóm Phật tử trẻ tuổi hơn tôi nhiều, tuy bề bộn
với nghề nghiệp chuyên môn và đời sống gia đình, nhưng
thường xuyên phát hành đều đặn một nguyệt san biếu không
lấy tên là Phật học, thực hiện một Trang nhà trên Mạng
nhện Toàn cầu, www.phathoc.org, đăng nhiều tài liệu tham khảo
có giá trị về Phật giáo, ấn hành nhiều sách Pháp luận
và phát hành nhiều băng giảng pháp, tổ chức mời Thầy về
nói Pháp và giảng Thiền ở địa phương những mùa lễ lớn,
đóng góp công lực và tài lực vào Phật sự khắp nơi, v..v..
Ðối với tôi, không những đó là tấm gương sáng chói mà
còn là một công trình lợi ích khó thực hiện gấp trăm ngàn
lần học đọc thông hiểu và viết ra những bài luận bàn
về Trung quán luận. Lại được quý vị trong nhóm yêu cầu
và khuyến khích tôi mới mạnh dạn ghi lại và nói lên những
kinh nghiệm học Phật trong thời gian qua.
Tôi chân
thành cảm tạ và tỏ lòng biết ơn quý vị xa gần đã bỏ
thời giờ đọc và phê phán những bài tôi viết bấy lâu
được đăng trong Phật học. Riêng đối với nhóm Phật học
ở Louisville, để khỏi phụ lòng thương yêu và tin tưởng
của quý vị, tôi nguyện tinh tấn tu học và tiếp tục viết
ra những kinh nghiệm thấy biết bản thân hầu đóng góp phần
nào vào công việc hoằng dương Phật Pháp mà quý vị đang
chí tâm thực hiện.
Hồng
Dương Nguyễn Văn Hai
Tháng
mười một, 2000
Chân thành cám
ơn anh Phúc Trung, Nguyệt san Phật
Học, đã gửi tặng phiên bản vi tính và sách
do Nguyệt San Phật Học Louisville, KY - USA xuất bản năm
2001.