Khác
với môn Logic học phương Tây, Nhân minh học (Logic học) Phật
giáo bao gồm hai mục lớn là Nhận thức luận và Tam đoạn
luận (syllogium), trong đó mục Nhận thức luận là chủ yếu,
mục Tam đoạn luận là thứ yếu. Bởi lẽ, Tam đoạn luận
chỉ là nhận thức đúng đắn, được diễn đạt một cách
logic, có sức thuyết phục mà thôi.
Mở
đầu cuốn luận Nyaya bindu (Một giọt logic)(1), luận sư¬
Dharmakirti (Pháp Xứng) viết: “Tất cả mọi hành động thành
công của con người đều bắt đầu bằng nhận thức đúng
đắn”.
Với
lời khẳng định đó, Dharmakirti đã nói lên tầm quan trọng
của môn Nhân minh học Phật giáo nói chung, và nhận thức
luận Phật giáo nói riêng đối với nhân sinh, đối với mọi
hoạt động–kể cả hoạt động hàng ngày của con người.
Người Phật tử, dù là xuất gia hay tại gia đều không thể
sống buông thả, phóng dật. Bởi lẽ, chúng ta nhận thức
đời người là vốn quý, cuộc sống lại có hạn. Mọi ý
nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta phải là một bước
tiến trên con đường đạo, con đường giác ngộ và giải
thoát. Mọi ý nghĩ, lời nói và việc làm của người Phật
tử phải xuất phát từ nhận thức đúng đắn đối với
mục tiêu tối hậu đó.
Trong
Bát chánh đạo, chánh tri kiến chính là nhận thức đúng đắn.
Nhờ nhận thức đúng đắn cuộc đời là vô thường, khổ,
vô ngã, mọi sự vật hiện tượng đều là do nhân duyên sinh
cho nên chúng là giả tạm, rỗng không, không đáng để chúng
ta tham đắm, vướng mắc, bị lệ thuộc. Chính nhận thức
đó giúp chúng ta sống tự tại giữa cuộc đời thế tục,
biết được khổ, nhân duyên nảy sinh của khổ, cũng nh¬ư
con đường diệt khổ nh¬ư thế nào, từ đó chúng ta quyết
tâm sống và tu theo Bát chánh đạo, con đường dẫn tới hạnh
phúc cứu kính Niết bàn. Đó là tầm quan trọng của nhận
thức đúng đắn đối với những người Phật tử, người
học và tu theo Phật pháp.
Nhận
thức đúng đắn rất quan trọng trong cuộc sống đời thường
của chúng ta, cũng nh¬ư trong mọi mặt đời sống gia đình
và xã hội. Chính nhờ nhận thức đúng đắn về vai trò giáo
dục của gia đình mà người cha, người mẹ và những người
lớn khác đều sống làm gương cho con cháu, tức là sống
đoàn kết, hòa thuận với nhau, giữ gìn bầu không khí tốt
đẹp trong gia đình, đồng thời cũng sống lươ¬ng thiện
trong phạm vi luật pháp.
Nhờ
nhận thức đúng đắn vai trò của thầy cô giáo các cấp
đối với việc giác duc thế hệ trẻ, thầy cô giáo không
những nhiệt tình truyền đạt kiến thức mà còn phải có
cuộc sống gương mẫu của nhà mô phạm.
Nhờ
nhận thức đúng đắn vai trò của người cán bộ là đầy
tớ của nhân dân, mà người cán bộ sống “cần kiệm liêm
chính, chí công vô tư”, lo trước cái lo của nhân dân, vui
sau cái vui của nhân dân ..., cây kim sợi chỉ của nhân dân
còn không đụng đến, huống hồ là tham nhũng tiền triệu,
tiền tỷ. Tôi nghĩ như¬ vậy không phải là ảo tưởng. Người
cán bộ là Phật tử nên sống nh¬ư vậy.
Vấn
đề nhận thức đúng đắn đã được luận s¬ư Pháp Xứng
(Dharmakirti) viết trong phần mở đầu bộ luận Một giọt
logic của ông: “Nhận thức đúng đắn mở đầu cho mọi
hoạt động thành công”. Như¬ng vấn đề không phải chỉ
có thế, trong phần nội dung tiếp theo của bài này, điểm
độc đáo trong nhận thức luận Phật giáo, tôi muốn đề
cập sơ bộ cơ chế của nhận thức luận dẫn chúng ta một
cánh không ý thức tiếp xúc với thực tại tối hậu.
Điểm
độc đáo ấy có thể toát yếu trong một câu phát biểu ngắn
gọn và nổi tiếng của luân sư¬ Vasubandhu (Thế thân) rất
thường được trích dẫn: “Con mắt thấy mà không biết,
cái tâm biết mà không thấy”.
Viện
sĩ Nga TH. Scherbatsky, dịch giả cuốn Nyaya bindu dịch chữ tâm
ở đây ra tiếng Anh là the intellect, trên thực tế nó là ý
thức, hay thức thứ sáu mà sách Duy Thức thường hay nói(2).
Nhận
thức luận Phật giáo phân biệt hai loại nhận thức: Một
loại là nhận thức cảm quan, tức là loại nhận thức trực
tiếp bằng cảm quan nh¬ư mắt, tai, mũi... Một loại là nhận
thức gián tiếp thông qua khái niệm, phán đoán, suy luận.
Điều này được cuốn Nyaya bindu giải thích bằng cơ chế
tâm-sinh lý của nhận thức nh¬ư sau.
Khi
con mắt đối diện với một vật, thì trong thời khắc đầu
tiên của sát na chỉ hình thành một cảm giác (sách Anh ngữ
dịch là sensation), cảm giác đó là một cái gi đó không
được xác định. Vì vậy mà Vasubandhu nói: “con mắt thấy
mà không biết”. Cảm giác đó chỉ là một sự¬ phản ứng
thụ động của con mắt, khi tiếp xúc trực tiếp với đối
tượng trong sát na đầu tiên (sát na là thời khắc ngắn nhất
theo Phật giáo–dịch âm từ chữ Sanskrit ksana). Cảm giác
đầu tiên đó tuy là thụ động và không minh bạch nhưng lại
vô cùng quan trọng, bởi vì nó tiếp xúc trực tiếp với đối
tượng, và là nguồn gốc của mọi nhận thức minh bạch sau
này. Sách Duy Thức gọi đối tượng do cảm quan nắm bắt
trong sát na đầu tiên là tánh cảnh, nhưng không có sách Duy
Thức nào giải thích được tánh cảnh đó đích thực là
gì . Điều này cũng dễ hiểu, vì tánh cảnh đó siêu việt
ngôn ngữ và khái niệm.
Sang
tới sát na thứ hai, tâm thức mà Vasubandhu nói mới vào cuộc.
Nó tự phát biến cảm giác cảm quan thành cảm giác tâm thức
mà TH. Scherbatsky dịch bằng từ Anh ngữ mental sensation, sát
na thứ hai là bư¬ớc nhảy vọt tự¬ phát từ cảm giác cảm
quan sang cảm giác tâm thức. Vì sao lại có bước nhảy vọt
tự phát đó? Phải chăng đó là vì tâm thức của con người
muốn biết (nhưng không thấy được) cái đối tượng mà
cảm quan tức con mắt thấy là gì. Tâm thức đó là ý thức
cũng tức là nghiệp thức, là ý thức mang theo nghiệp của
con người. Nghiệp thức của con người biến cảm giác cảm
quan thành cảm giác tâm thức, từ đó tâm thức tạo ra hình
ảnh và đặt tên cho hình ảnh đó. Thí dụ nếu con mắt thấy
vật đối diện là cái bàn thì tâm thức “tưởng tượng”
sinh ra hình ảnh cái bàn và đặt tên cho nó là cái bàn. Ở
các sát na tiếp theo là các thao tác quen thuộc của tâm thức,
tức là xây dựng hình ảnh, đặt tên cho hình ảnh đó. Và
nếu đó là hình ảnh ảnh mà con người ư¬a thích, thì các
thao tác tiếp theo sau sẽ là ái (ư¬a thích), thủ (nắm lấy),
hữu (tạo nghiệp) dẫn tới tái sinh và luân hồi. Dharmamottra
(3) viết: “Khi phán xét thì chúng ta tiếp xúc với một phản
xạ nội tại của chúng ta, phản xạ đó không phải là một
đối tượng ngoại cảnh, mặc dù chúng ta tin đó là một
đối tượng ngoại cảnh”
[Buddhist
logic, tr. 221]
Thí
dụ con mắt nhìn thấy cái bàn và phán xét đó là cái bàn
thì hình ảnh cái bàn chỉ là hình ảnh phản xạ của cái
bàn vào trong tâm thức, rồi tâm thức “nắm bắt” hình
ảnh cái bàn, đặt tên cho nó là cái bàn, rồi hình ảnh cái
bàn đó được tâm thứ¬c phóng xạ ra bên ngoài, và tâm thức
lại đinh ninh đó là ngoại cảnh, nhưng thật ra là không phải.
Đó chỉ là một ảo tưởng của tâm thức mà thôi. Tuy nhiên,
khâu mấu chốt là ở chỗ này: Khi cảm giác thuần túy (pure
sensation) như¬ờng chỗ cho cảm giác tâm thức (mental sensation)
trong sát na thứ hai, khi còn ch¬ưa có sự¬ can thiệp của
việc tạo hình ảnh, đặt tên, trí nhớ thì cái cảm giác
tâm thức thuần túy đó phải chăng là tâm thức thuần túy
(pure consciousness) mà khi ngồi thiền, chúng ta ư¬ớc đạt
tới như¬ là một tâm trạng sáng suốt, thuần túy, không
có xen vào bất cứ một vọng niệm hay tạp niệm nào.
Nhưng,
điều đáng tiếc là trừ các bậc Thánh trong đạo Phật ra
còn thì không có ai trong chúng ta có thể dừng lại ở cảm
giác tâm thức hay tâm trạng thuần túy đó, mà do sức mạnh
của nghiệp lôi kéo, chúng ta tạo hình ảnh rồi đặt tên
cho hình ảnh đó, phóng xa hình ảnh đó ra bên ngoài, tưởng
tượng ra nó là có thật, rồl bị nó chi phối, làm cho tham
đắm.
Đó
chính là bi kịch của cuộc sống con người, xuất phát từ
nhận thức bị chi phối bởi nghiệp. Đúng là tâm thức chúng
ta xoay chung quanh nghiệp do chúng ta tạo ra, như¬ là bánh xe
xoay chung quanh cái trục vậy. Chúng ta có thể tiếp xúc với
thự¬c tại tối hậu qua những sát na đầu tiên của cảm
giác cảm quan và cảm giác tâm thức, như¬ng chúng ta đâu
có biết. Hơn nữ¬a, cái thự¬c tại tối hậu đó lại là
cái siêu việt không gian và thời gian, siêu việt ngôn ngữ
và tư¬ duy khái niệm.
Theo
Dignaga (Trần Na) thì cái thực tại mà cảm giác cảm quan nắm
bắt là cái độc nhất vô nhị, cái cá biệt tuyệt đối
(Scherbatsky dịch ra bằng các từ Anh ngữ the unique, the absolute
particular). Dharmakirti còn nhấn mạnh thêm bằng cái độc nhất
tuyệt đối đó là cái giới hạn của mọi sáng tạo tổng
hợp nghĩa là mọi hoạt động sáng tạo tổng hợp hay nhân
tính của tâm thức đều không thể v¬ượt qua giới hạn
của cái độc nhất tuyệt đối đó. Thiền học có câu: “Ngôn
ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt” chính là để nói đến
cái độc nhất tuyệt đối đó (con đường ngôn ngữ bị
cắt đứt, hành tư¬ớng của tâm cũng diệt), cũng có thể
gọi là không thể nghĩ bàn. Và các luận sư¬ Trung Quán, khi
bàn tới cái độc nhất tuyệt đối đó thì chỉ nói bằng
một sự “im lặng vĩ đại”. Cũng là cảnh giới Niết bàn
mà mọi lời bàn đến chỉ có tính chất khiên c¬ưỡng, gư¬ợng
ép mà thôi. Đó là thời điểm đơn nhất không mở rộng
trong không gian, cũng không kéo dài trong thời gian, gọi chung
là siêu thời không.
Lạ
thật, trong nhận thức của con người, chúng ta vẫn tiếp
xúc với thực tại tối hậu đó trong hai sát na đầu tiên
của cảm giác cảm quan và cảm giác tâm thức, nhưng bị nghiệp
lực lôi kéo như¬ dòng thác chảy, chúng ta không biết và
cũng không dừng lại được ở hai cảm giác đầu tiên đó.
Có thể chân lý tối hậu nằm ngay trước mặt mà con ng¬ười
vẫn không biết. Mâu thuẫn thật! Bất giác chúng ta suy ngẫm
về những câu thơ thiền sâu xa của các Tổ:
Đạo
vô ảnh tượng,
Xúc
mục phi giao.
Tự
phản suy cầu,
Bất
cầu tha đắc.
(Thiền
sư Nguyễn Nguyên Học đời Lý)
Dịch
nghĩa:
Đạo
không bóng dáng,
Trước
mắt không xa.
Tự
quay lại mà tìm,
Đừng
cầu ở nơi khác.
Hay
là bài thơ của Kiều Trí Huyền đời Lý khi trả lời Thiền
sư đạo Hạnh:
Ngọc
lý bí thanh diễn diệu âm,
Cá
trung mãn mục thị thiền tâm.
Hà
sa cảnh thị Bồ đề cảnh,
Nghĩ
hư¬ớng Bồ đề cánh vạn tầm.
Dịch
nghĩa:
Âm
thanh kỳ diệu bí mật phát ra
Từ
hòn ngọc (nội tâm), trong đó khắp cả đều là tâm thiền
(sáng suốt).
Khắp
cả đều là cảnh giới giác ngộ (Bồ đề),
Thế
mà lại đi tìm giác ngộ (Bồ đề) ở đâu đâu cách xa ngàn
dặm./.
Ghi
chú:
(1)
Cuốn Nyaya bindu hiện nay ch¬ưa có bản dịch tiếng Việt,
chúng tôi dùng bản dịch tiếng Anh của viện sĩ Nga TH.
Scherbatsky để làm tài liệu giảng dạy ở Học viện PGVN
tại TP.HCM. Bản dịch tiếng Anh này căn cứ nguyên bản Sanskrit
của Tùng thư¬ Bibliotheka Buddhica. Những trích dẫn Anh ng¬ữ
trong bài viết này đều lấy từ bản dịch của TH Scherbatsky
(2)
Tất cả từ tiếng Anh trong bài đều dùng lại từ trong hai
cuốn “Buddhist Logic” và Nyaya bindu của TH. Scherbatsky, người
thông thạo 6 thứ tiếng Châu Âu, cũng như tiếng Sanskrit và
tiếng Tây Tạng (Minh Chi). Cuốn “Nyaya bindu” là bản
dịch từ nguyên bản Sanskrit là tác phẩm Nhân minh học
của luận sư Dharmakirti (Pháp Xứng) kèm theo sớ giải của
luận sư Dharmamottra (Pháp Thượng), học trò của Pháp Xứng
(3)
Dharmottra (Pháp Th¬ượng) là người viết sớ giải cuốn Nyaya
bindu của Dharmakirti.