|
.
NHÂN LOẠI
TIẾN ĐẾN MỘT THẾ GIỚI HOÀ BÌNH
His
Holiness the Dalai Lama
Tuệ
Uyển Việt dịch
 |
 |
Giới
thiệu
Khi
chúng ta thức dậy mỗi buổi sáng và nghe trên đài phát thanh
hay đọc trên báo chí, chúng ta đối diện với những tin tức
buồn thảm giống nhau: bạo hành, tội phạm, chiến tranh, và
thiên tai. Chúng tôi không thể nhớ lại một ngày nào không
có những báo cáo vể những thảm kịch xãy ra ở đâu đấy.
Ngay cả trong thời gian hiện tại ngày nay điều rõ ràng rằng
đời sống quý giá của loài người thì không an toàn.
Không có một thế hệ quá khứ nào lại chứng kiến quá nhiều
những tin tức đau buồn như chúng ta đối diện ngày nay, sự
tĩnh thức cảnh giác liên tục này về sợ hải và căng thẳng
nên tạo thành một câu hỏi nghiêm khắc của mỗi người
nhạy cảm và từ bi đối với tiến trình của thế giới
hiện đại của chúng ta.
Thật
là đáng buồn rằng càng có nhiều những vấn đề nghiêm
trọng hơn sản sinh từ sự ngày càng phát triển của xã hội
công nghiệp kỷ nghệ. Khoa học và kỷ thuật đã hoạt động
diệu kỳ trên nhiều lãnh vực, nhưng những vấn đề nan giải
của nhân loại vẫn tồn tại. Có một sự chưa từng có về
sự biết đọc-biết viết (xoá nạn mù chữ), tuy vậy sự
giáo dục (học vấn) toàn cầu dường như không nuôi dưỡng,
khuyến khích, ấp ủ một tính tốt, một lòng tốt, một lòng
hào hiệp, mà thay vào đấy chỉ là một tinh thần hiếu động
và không hài lòng hay sự bất mãn. Không có nghi ngờ
gì về sự gia tăng trong tiến trình và kỷ thuật vật chất
của chúng ta, nhưng trong một khía cạnh nào đấy điều này
không có khã năng, hay không đủ khi mà chúng ta chưa thành
công trong việc đem đến hoà bình và hạnh phúc hay là trong
việc vượt thắng khổ đau.
Chúng
ta chỉ có thể kết luận rằng phải có những sai lầm một
cách nghiêm trọng với chương trình và sự phát triển của
chúng ta, và nếu chúng ta không kiểm soát lại nó đúng lúc
có thể có một hậu quả khủng khiếp cho tương lai của loài
người. Chúng tôi hoàn toàn không chống lại khoa học
và kỷ thuật - chúng đã cống hiến một cách bao la, mênh
mang cho toàn bộ kinh nghiệm của loài người; cho một đời
sống vật chất tốt đẹp và thoãi mái của chúng ta và cho
sự hiểu biết vĩ đại đối với thế giới chúng ta đang
sống. Nhưng nếu chúng ta nhấn mạnh quá nhiều đến
khoa học va kỷ thuật chúng ta có nguy cơ quên lãng với những
khía cạnh về tri thức và hiểu biết của con người với
sự cảm hứng trên tính trung thực, tính chân thật, tính lương
thiện và lòng vị tha.
Khoa
học và kỷ thuật, mặc dù có thể tạo nên một sự thoãi
mái vật chất không tính đếm được, nhưng không thay thế
cho những giá trị tinh thần và nhân bản lâu đời mà văn
minh thế giới đã được tô điểm một cách sâu sắc, rộng
rãi, trong tất cả mọi hình thức quốc gia của nó mà chúng
ta được biết ngày hôm nay. Không ai có thể phủ nhận
những lợi ích vật chất chưa từng có của khoa học kỷ
thuật, nhưng những nan đề của loài người vẫn tồn tại;
chúng ta tiếp tục đối diện với những vấn đề giống
như vậy, nếu không phải là thêm khổ đau, sợ hải và căng
thẳng. Vì vậy nó không chỉ là hướng đến một sự
cân bằng giữa phát triển vật chất trên một phương diện
và phát triển những giá trị tinh thần về mặt kia.
Nhằm mục tiêu đem đến một sự điều chỉnh vĩ đại này,
chúng ta cần làm sống lại những giá trị nhân bản của
chúng ta.
Chúng
tôi chắc chắn rằng nhiều người chia xẽ sự quan tâm của
chúng tôi về sự khủng hoảng đạo đức toàn cầu và sẽ
tham gia vào lời kêu gọi của chúng tôi đến tất cả những
ai theo chủ nghĩa nhân đạo và những người thực hành tôn
giáo, những người cũng chia xẽ quan tâm này để hổ trợ
làm nên một xã hội, một cộng đồng của chúng ta từ bi
hơn, bác ái hơn, yêu thương hơn, công bằng hơn, và vô tư
hơn. Chúng tôi không nói như một Phật tử hay ngay cả là
như một người Tây tạng. Mà chúng tôi cũng không tuyên bố
như một nhà chuyên môn trên những chính trường quốc tế
(mặc dù chúng tôi không tránh khỏi bình luận trên những
vấn đề này). Tốt hơn là, chúng tôi nói năng đơn giản
như một người của nhân loại, như một người ôm ấp những
giá trị tinh thần nhân bản mà căn nguyên của nó không chỉ
ở Đại thừa Phật giáo mà ở tất cả những tôn giáo vĩ
đại trên thế giới. Từ triển vọng của viễn cảnh
này chúng tôi muốn chia xẽ với tất cả quan điểm cá nhân
của chúng tôi - rằng:
1-
Chủ nghĩa nhân đạo toàn cầu là căn bản để giải quyết
những vấn đề của trái đất;
2-
Từ bi bác ái là cột trụ của hoà bình thế giới;
3-
Tất cả những tôn giáo thế giới phải chuẩn bị sẳn sàng
cho một thế giới hoà bình bằng con đường này, với tất
cả người nhân đạo của bất cứ triết thuyết nào.
4-
Mỗi cá nhân phải có một trách nhiệm toàn cầu để hình
thành những tổ chức phục vụ cho những việc cần thiết
của nhân loại.
GIẢI
QUYẾT NHỮNG VẤN NẠN CỦA NHÂN LOẠI THÔNG QUA VIỆC CHUYỂN
HOÁ THÁI ĐỘ CỦA CON NGƯỜI
Trong
nhiều vấn đề mà chúng ta đối diện ngày nay, có một số
là thiên tai và phải được chấp nhận và đối diện với
một sự trấn tĩnh, bình thản. Tuy vậy, những việc
khác, là do chúng ta tự làm nên, tạo nên bằng sự thiếu
hiểu biết, thiếu cảm thông, và có thể điều chỉnh được.
Một loại như vậy đã trỗi dậy từ sự xung đột của
những tư tưởng, chính trị và tôn giáo. Khi người ta chiến
đấu với kẽ khác đến tận cùng của sự hẹp hòi, chúng
ta đã đánh mất cái cảnh tượng căn bản của loài người
điều mà đã nối kết chúng ta lại với nhau như một gia
đình loài người dường như đơn độc trong vũ trụ bao la.
Chúng ta phải nhớ rằng sự khác nhau về tôn giáo, tư tưởng,
và hệ thống chính trị của thế giới là nhằm ý nghĩa cho
nhân loại đạt được hạnh phúc. Chúng ta không được
đánh mất cái viễn tượng của mục tiêu căn bản này và
không khi nào chúng ta nên đánh giá những ý nghĩa nào trên
điều này; quyền lợi tối thượng của loài người, của
nhân tính đứng trên tất cả mọi vấn đề và tư tưởng
phải luôn luôn được duy trì và nhắc nhở.
Với
viễn cảnh của sự nguy hiểm lớn nhất rõ ràng mà loài người
đối diện - trong sự kiện, toàn thể sự sống trên hành
tinh của chúng ta - là sự đe doạ của hiểm hoạ tàn phá
bởi bom nguyên tử. Chúng tôi nghĩ không cần quá chi tiết
về sự nguy hiểm này, nhưng chúng tôi kêu gọi tất cả những
lãnh tụ của các cường quốc nguyên tử, những người thật
sự nắm giữ tương lai của thế giới trong tay, đến những
khoa học gia và kỷ thuật gia những người tiếp tục chế
tạo nên những vũ khí của sự tàn phá kinh khiếp này, và
đến tất cả những người có những vị trí ảnh hưởng
đến những lãnh tụ của họ; chúng tôi kêu gọi đến họ
thực thi sự ôn hoà của họ và bắt đầu làm việc tháo
bỏ và phá huỷ toàn bộ vũ khí nguyên tử. Chúng ta biết
rằng trong sự kiện của một cuộc chiến tranh hạch tâm sẽ
không có người chiến thắng vì sẽ không có kẽ nào tồn
tại ! Có phải nó không làm hoảng sợ nhưng chỉ
để trầm tư với sự tàn phá phi nhân và vô tâm
như vậy mà thôi hay sao ? Và, nó không hợp tình, hợp
lý khi chúng ta nên từ bỏ nguyên nhân cho sự tàn phá của
chính chúng ta khi mà chúng ta biết nguyên nhân và có cả
thời gian cùng ý nghĩa để làm như thế ? Thông
thường chúng ta không thể vượt thắng những vấn đề nan
giải của chúng ta bởi vì có thể chúng ta không biết nguyên
nhân hay, nếu chúng ta hiểu nó, không có ý nghĩa gì để từ
bỏ hay giải quyết việc ấy. Điều này không phải là
trường hợp của hiểm hoạ hạt nhân.
Cho
dù chúng thuộc vào loài tiến triển hơn như loài người hay
những loại đơn giản hơn như loài vật, tất cả mọi loài
căn bản đều tìm kiếm hoà bình, thoãi mái và an toàn.
Cuộc sống đáng yêu đối với loài vật thầm lặng cũng
như đối với bất cứ một người nào; ngay cả côn trùng
đơn giản nhất cũng cố gắng để bảo vệ đối với những
hiểm nguy đe doạ cho đời sống của nó. Giống như mỗi
chúng ta muốn sống và không muốn chết, đấy cũng là ước
vọng của tất cả những tạo vật khác trong vũ trụ mặc
dù năng lực của chúng tác động lên điều này như
thế nào, đây lại là một vấn đề khác.
Đại
khái có hai loại của hạnh phúc và khổ đau, tinh thần (tâm
lý) và vật chất (vật lý), và cho cả hai điều này, chúng
tôi tin tưởng rằng hạnh phúc và khổ đau của tinh thần
là sâu sắc và kịch liệt hơn. Vì thế, chúng tôi nhấn
mạnh việc rèn luyện tâm để chịu đựng khổ đau và đạt
đến trạng thái thật cùng tận của hạnh phúc. Tuy vậy,
chúng tôi có một ý kiến tổng quát và cụ thể hơn về hạnh
phúc, một sự phối hợp của hạnh phúc nội tại, sự phát
triển kinh tế, và, trên tất cả, sự thanh binh của thế giới.
Để đạt được những mục tiêu này chúng tôi cảm thấy
cần thiết để phát triển một ý thức cảm xúc của trách
nhiệm toàn cầu, một sự quan tâm sâu sắc cho tất cả bất
kể tín ngưỡng, màu da, giới tính, hay quốc tịch.
Hứa
hẹn theo sau ý tưởng trách nhiệm toàn cầu này là sự kiện
đơn giản rằng, trong dạng thức phổ thông, tất cả những
khát vọng của những người khác là giống như của
tôi. Mỗi người muốn hạnh phúc, mỗi chúng sinh muốn
hạnh phúc, và không muốn khổ đau. Nếu chúng ta, loài
người thông minh, không chấp nhận sự kiện này, thì sẽ
có nhiều hơn và nhiều hơn khổ đau trên hành tinh này.
Nếu chúng ta nuôi dưỡng một trung tâm tự ngã để tiếp
cận với cuộc sống và không ngớt cố gắng sử dụng, lợi
dụng kẽ khác cho lợi ích của chính chúng ta, chúng ta có
thể đạt được những lợi ích tạm thời, nhưng về lâu
về dài chúng ta sẽ không thành công trong trong việc đạt
đến ngay cả hạnh phúc cá nhân, và thanh bình thế giới
sẽ hoàn toàn là một câu hỏi ngoài lề.
Trong
đòi hỏi cho hạnh phúc, nhân loại đã từng sử dụng những
phương pháp khác nhau, mà tất cả cũng rất thường tàn bạo
và kinh khiếp. Những thái độ ứng xử hoàn toàn không
xứng hợp với cái nhãn hiệu con người, người ta đã giáng
khổ đau xuống đồng loại và những loài khác cho những lợi
ích vị kỷ của họ. Cuối cùng, những hành động thiển
cận như vậy sẽ đem đến khổ đau cho chính người ấy cũng
như những người khác. Để được sinh ra làm người
tự nó là một sự kiện hiếm có, và thật là thông minh để
lợi dụng cơ hội này một cách có hiệu quả và thiện nghệ
như chúng ta có thể làm. Chúng ta phải có viễn cảnh
chính đáng của tiến trình của cuộc sống toàn cầu, vì
vậy hạnh phúc và vinh quang của một người hay một nhóm
thì không thể tìm kiếm bằng sự trả giá của kẻ khác.
Tất
cả những lời kêu gọi này là cho một sự tiếp cận mới
đến những vấn đề của địa cầu chúng ta. Thế giới
đang trở nên nhỏ hơn và nhỏ hơn - và càng ngày càng lệ
thuộc liên đới hơn - như một kết quả của sự phát triển
nhanh chóng của kỷ thuật và trao đổi mậu dịch thế giới
cũng như sự phát triển quan hệ giữa các quốc gia. Bây
giờ chúng ta lệ thuộc rất nhiều với những người khác.
Ngày xưa, những vấn đề hầu hết là ở phạm vi gia đình,
và người ta giải quyết một cách tự nhiên ở cấp độ
gia đình, nhưng tình trạng đã thay đổi. Ngày nay chúng
ta quá lệ thuộc, quá liên hệ gần gũi với những người
khác, và rằng nếu không có một ý thức trách nhiệm
toàn cầu, một cảm giác huynh đệ tỉ muội toàn cầu, và
một sự hiểu biết và tin tưởng rằng chúng ta là một phần
của một gia đình nhân loại lớn, chúng ta không thể hy vọng
vượt thắng những hiểm họa cho sự tồn tại quý báu của
chúng ta - hãy để chỉ tình thân nhân loại mang về hòa bình
và hạnh phúc.
Những
vấn đề của một quốc gia không thể được giải quyết
một cách hài lòng bởi chính quốc gia ấy nữa; nó lệ thuộc
rất nhiều trên sự hứng khởi, thái độ, và sự hợp tác
của những quốc gia khác. Một chủ nghĩa nhân đạo toàn
cầu tiếp cận đến những vấn đề của thế giới dường
như là một căn bản hợp lý duy nhất cho thanh bình của thế
giới. Điều này có nghĩa gì? Chúng ta bắt đầu từ
sự thừa nhận trước tiên rằng tất cả mọi loài yêu mến,
ấp ủ hạnh phúc và không muốn khổ đau. Rồi thì
nó trở nên cả hai sự đạo đức sai lầm và thực tế không
thông minh để tiếp tục theo đuổi chỉ cho hạnh phúc của
chính mình và lãng quên cảm xúc và khát vọng của tất
cả những người khác chung quanh chúng ta như những thành viên
của một gia đình nhân loại. Chiều hướng thông
thái hơn là cũng nghĩ đến những người khác khi theo đuổi
cho chính hạnh phúc của chúng ta. Điều này sẽ dẫn
đến điều được gọi là sự tự quan tâm minh mẫn.
Hy vọng đấy là điều sẽ chuyển hóa chính nó thành thỏa
hiệp tự quan tâm, hay tịch tĩnh hơn, quan tâm hổ
tương.
Mặc
dù sự phát triển lệ thuộc liên đới giữa các quốc gia
chắc rằng có thể phát sinh sự đồng cảm hợp tác hơn,
thật là khó khăn để đạt đến một tâm linh chân thành
hợp tác cho đến khi mà người ta vẫn duy trì trong sự lãnh
đạm thờ ơ đến cảm giác và hạnh phúc của những người
khác. Khi người ta bị thúc đẩy bởi động cơ chủ yếu
là tham lam và ghen tỵ, nó không thể cho người ta sống
trong hòa hiệp. Một tâm linh tiếp cận có thể không
thể giải quyết toàn bộ những vấn đề chính trị mà đã
từng bị quay cuồng bởi lề thói ngã chấp hay vị kỷ, nhưng
về lâu về dài nó sẽ vượt thắng chinh phục cái chìa khóa
căn bản của những vấn đề mà chúng ta đối diện hôm nay.
Mặt
khác, nếu nhân loại tiếp tục tiếp cận với những vấn
đề của mình với tư tưởng chỉ với tính cách lợi ích
nhất thời, những thế hệ tương lai sẽ đối phải đối
diện với những khó khăn khủng khiếp. Dân số toàn
cầu đang gia tăng, và tài nguyên của chúng ta thì đang nhanh
chóng cạn kiệt. Hãy nhìn cây cối, thí dụ. Không
ai biết chính xác những tác động nào có hại do việc tàn
phá rừng ồ ạt sẽ có trên toàn bộ khí hậu,
đất đai, và môi trường sinh thái học của địa cầu.
Chúng ta đối diện với những vấn đề khó khăn vì người
ta đang tập trung chỉ trên sách lược ngắn hạn , lợi ích
vị kỷ của họ, không nghĩ đến toàn bộ gia đình nhân loại.
Người ta không nghĩ đến trái đất và những tác động lâu
dài đối với toàn bộ đời sống của thế giới và vũ trụ
của chúng ta. Nếu chúng ta, thế hệ hiện tại không
nghĩ đến những vấn đề này bây giờ, những thế hệ tương
lai có thể không thể đối phó với chúng.
TỪ
BI YÊU THƯƠNG LÀ CỘT TRỤ CỦA THẾ GIỚI THANH BÌNH
Theo
giáo nghĩa của đạo Phật, hầu hết những vấn đề
khó khăn của chúng ta xuyên qua bởi sự đam mê khát vọng
và vướng mắc ngã chấp đến những việc mà chúng ta hiểu
sai lầm như thực thể tồn tại lâu dài. Sự theo đuổi
những đối tượng của sự khát vọng và vướng mắc của
chúng ta liên hệ với chiến tranh xâm lược hay gây hấn và
sự cạnh tranh và cho đó như là những phương tiện có hiệu
quả. Những tiến trình tinh thần này có thể dễ
dàng chuyển thành những hành động, sản sinh đấu tranh như
một tác động rõ ràng. Những tiến trình như vậy đã
theo tâm tính loài người từ xa xưa, nhưng sức tàn phá của
chúng đã trở nên tác động hơn dưới những điều kiện
hiện đại. Chúng ta có thể làm gì để kiểm soát và
điều chỉnh những loại "thuốc độc" này - ảo tưởng, tham
lam, và hiếu động-gây hấn? Những thứ thuốc độc
này là mặt trái của hầu hết những vấn đề khó khăn trên
thế giới.
Như
một thành viên đến từ truyền thống đại thừa Phật giáo,
chúng tôi cảm thấy rằng yêu thương và từ bi là kết cấu,
là khung sườn, là nền tảng đạo đức của thanh bình thế
giới. Hãy để chúng tôi trước nhất giải thích thế
nào là ý nghĩa của từ bi. Khi chúng ta có một lòng trắc
ẩn hay từ bi cho một người rất nghèo, chúng ta biểu hiện
cảm xúc bởi vì người ấy nghèo; lòng từ bi của chúng ta
căn cứ trên sự quan tâm vị tha. Mặt khác, tình thương
đến người chồng, người vợ, con cái, hay bạn thân thì
thường đặt trên sự ái luyến hay chấp trước. Khi
sự ái luyến hay chấp trước thay đổi sự tử tế lịch
sự cũng thay đổi; nó có thể biến mất. Điều này
không phải là lòng yêu thương chân thật. Tình yêu thương
chân thành thì không đặt trên sự chấp trước, mà trên lòng
vị tha. Trong trường hợp này lòng từ bi yêu thương
của chúng ta sẽ tồn tại như một sự đáp ứng nhân
đạo đến sự khổ đau cho đến khi nào chúng sinh còn tiếp
tục đau khổ.
Loại
từ bi yêu thương này là điều chúng ta phải cố gắng để
phát triển trong chính mỗi chúng ta, và làm nó lớn mạnh từ
một sự giới hạn khối lượng đến vô giới hạn.
Từ bi yêu thương không phân biệt, không gò bó, không giới
hạn cho tất cả mọi loài chúng sinh là một cách rõ
ràng không phải tình yêu thương cho những người bạn hay
gia đình, điều bị làm giảm giá trị hay bị làm xấu đi
bởi si ám, khát ái, và chấp trước. Loại tình yêu thương
mà chúng ta nên tán thành là tình thương bao la hơn điều
mà chúng ta có thể có ngay cả cho những người đã từng
làm tổn hại đến chúng ta: kẽ thù của chúng ta.
Nhân
tố chính cho từ bi thương yêu là mỗi người chúng ta muốn
tránh khổ đau và được hạnh phúc. Điều này, trong
cái nhìn, là căn bản cái giá trị cảm giác của cái "tôi",
điều quyết định cái tính phổ biến khát vọng hạnh phúc.
Quả thực, tất cả mọi loài sinh ra với những khát vọng
giống nhau và nên có một quyền bình đẳng để đáp ứng
cho tất cả mọi giới. Nếu so sánh chính chúng tôi với
những người khác, vô số, chúng tôi cảm thấy rằng những
người khác quan trọng hơn bởi vì chúng tôi chỉ là một
thành viên trong khi những người khác thì quá nhiều.
Xa hơn nữa, truyền thống Phật giáo Tây tạng dạy chúng tôi
hãy nhìn tất cả chúng sinh như những người mẹ thân thương
của chúng tôi và biểu lộ lòng biết ơn của chúng tôi
bằng cách yêu thương tất cả. Và theo giáo nghĩa đạo
Phật, chúng ta sinh và tái sinh trong vô số kiếp sống, và
điều này có thể nhận thức được rằng mỗi chúng sinh
đã từng là cha mẹ của nhau ở lần này hay lần khác.
Trong cách này, tất cả chúng sinh trong vũ trụ cùng chia xẻ
liên hệ của một gia đình.
Cho
dù một người có tin tưởng ở tôn giáo hay không, không có
một ai không hiểu rõ giá trị hay không cảm kích lòng
yêu thương và từ bi. Ngay từ khoảnh khắc của sự sinh,
chúng ta được sự săn sóc triều mến của cha mẹ chúng ta,
và sau này trong cuộc sống, khi đối diện với khổ đau của
bệnh tật và tuổi già, chúng ta lại lệ thuộc vào lòng tốt
của những người khác. Nếu từ lúc bắt đầu và cho
đến lúc cuối đời chúng ta lệ thuộc vào sự tử tế của
những người khác, tại sao ở khoảng trung gian không nên hành
động ân cần đến những người khác?
Sự
phát triển một trái tim ân cần thân thương(một cảm giác
gần gũi với tất cả chúng sinh) không liên hệ với tín ngưỡng
mà chúng ta phụng thờ với những qui ước thực hành tôn
giáo. Nó không chỉ cho người tín ngưỡng tôn giáo, nhưng
cho mọi người không kể thuộc thành phần nào của màu da,
tôn giáo, hay chính trị. Nó dành cho tất cả những ai
thấy rằng, ở trên tất cả, mình là một thành viên của
gia đình nhân loại và những ai thấy những việc với viễn
cảnh bao la và lâu dài hơn. Đây là một cảm giác với
mãnh lực năng động mà chúng ta nên phát triển và áp dụng,
thay vì chúng ta thường hờ hửng nó, đặc biệt trong những
năm chính yếu khi chúng ta trãi qua kinh nghiệm của một
ý thức sai lầm về an toàn.
Khi
chúng ta nghĩ đến đến tầm quan trọng của một viễn cảnh
lâu dài hơn, sự kiện là tất cả những ước vọng để
đạt đến hạnh phúc và né tránh khổ đau , và giữ trong
tâm sự không quan trọng của chúng ta trong mối liên hệ đến
vô lượng chúng sinh khác, chúng ta có thể kết luận rằng
đó là toàn thể thế giới chia xẻ những sở hữu của chúng
ta với những kẽ khác. Khi chúng ta rèn luyện tâm chúng
ta với một cái nhìn thế này, một cảm xúc từ bi thành thật
– một ý thức yêu thương chân thành và tôn trọng đến
kẽ khác – trở nên khả dĩ có thể hiện thực. Hạnh
phúc cá nhân sẽ dừng lại để ý thức tự tìm một sự
tác động; nó trở nên một sự tự động và cao xa thâm
diệu bằng sự sản xuất toàn bộ tiến trình của yêu thương
và phục vụ kẽ khác.
Một
kết quả khác của phát triển tâm linh, phổ biến thông dụng
trong đời sống hằng ngày, là nó cho một sự tịch tĩnh yên
ổn và sự nhanh trí của tâm. Đời sống chúng ta trong
sự thay đổi liên tục, mang đến vô số khó khăn. Khi
đối diện với một tâm tĩnh lặng và trong sáng, những vấn
đề khó khăn có thể được giải quyết một cách thành công;
khi, thay vì, chúng ta mất sự kiểm soát tâm tính chúng ta qua
thù ghét, vị kỷ, ganh tị, và giận dữ, chúng ta đánh
mất ý thức của sự phán đoán. Tâm chúng ta trở nên
mù quáng và ngay tại những thời khắc cuồng dã ấy bất
cứ chuyện gì cũng có thể xảy ra, kể cả chiến tranh.
Vì vậy, thực tập từ bi và tuệ trí là thông dụng cho tất
cả, đặc biệt cho những người có trách nhiệm điều khiển
cả bộ máy của quốc gia, trong tay những ai nắm giữ quyền
lực và cơ hội để tạo dựng cấu trúc của một thế
giới thanh bình.
NHỮNG
TÔN GIÁO THẾ GIỚI VÌ THẾ GIỚI THANH BÌNH
Những
vấn đề chính thảo luận tiếp diễn phù hợp với đạo
đức của tất cả những tôn giáo thế giới. Chúng ta
phải thấy rằng đại đa số tôn giáo trên thế giới
– Phật giáo, Thiên chúa giáo, Ấn giáo, Hồi giáo, Khổng
giáo, Lão giáo, Do thái giáo, Bái hỏa giáo (Zoroastrianism), Kỳ
na giáo (Jainism), đạo Sikh (Sikhism) – có cùng những ý tưởng
giống nhau về lòng yêu thương , giống nhau về mục tiêu lợi
ích cho nhân loại thông qua thực hành tâm linh, và giống nhau
về tác động làm cho giáo đồ của chúng ta trở nên những
người tốt đẹp hơn. Tất cả những tôn giáo giáo huấn
những giới điều đạo đức cho sự toàn hảo những phương
diện của tâm, thân, và lời nói. Tất cả đều dạy
chúng ta không được lừa dối, trộm cắp hay lấy mạng sống
của kẽ khác, v.v… Mục tiêu phổ thông của tất cả những
giới điều đạo đức đề ra bởi những đạo sư vĩ đại
của nhân loại là vô ngã, không vị kỷ. Những đạo
sư vĩ đại muốn giảng dạy để hướng dẫn giáo đồ xa
rời những con đường của những hành vi tiêu cực bởi nguyên
nhân của si mê, ám tối và phát sinh trong họ những con đường
của tính tốt, của lòng hào hiệp.
Tất
cả những tôn giáo nhất trí trên sự cần thiết kiểm soát
cái tâm hoang dã, không được luyện tập ẩn chứa vị kỷ
và những cội rể của những phiền muộn, rối rắm, bất
an, và mỗi tôn giáo dạy một con đường hướng đến
một trạng thái tâm linh hòa bình, thuần hóa, đạo đức,
và thông tuệ. Trong nhận thức này chúng tôi tin tưởng
tất cả mọi tôn giáo có một thông điệp cùng bản chất.
Những sự khác nhau của giáo lý có thể bị đổ lỗi đến
sự khác nhau của thời đại và hoàn cảnh như sự ảnh hưởng
của văn hóa; quả vậy, chưa bao giờ ngừng nghĩ sự tranh
luận học thuật khi chúng ta xem xét đến khía cạnh tinh khiết
tâm linh siêu hình của tôn giáo. Tuy vậy, nó sẽ lợi
ích hơn để cố gắng thực hành bổ xung trong cuộc sống
hằng ngày sự chia xẻ những giáo huấn cho lòng hảo tâm,
tính hào hiệp được dạy bởi tất cả những tôn giáo tốt
hơn là để tranh luận về những khác biệt nhỏ nhoi khi tiếp
cận.
Có
nhiều tôn giáo khác nhau để mang đến sự thoải mái và hạnh
phúc cho nhân loại trong nhiều phương pháp như những chửa
trị cho những chứng bệnh khác nhau. Tất cả những tôn
giáo nổ lực phương pháp riêng của nhau để hổ trợ chúng
sinh né tránh khổ đau và gặt hái hạnh phúc. Và, mặc
dù chúng ta có thể tìm những lý do căn bản nào đấy thích
hợp để giải thích những chân lý của tôn giáo, có một
nguyên nhân to lớn hơn nhiều để đoàn kết hòa hiệp, xuất
phát từ trái tim con người. Mỗi tôn giáo hoạt động
trong đường hướng của chính mình để làm giảm bớt khổ
đau của nhân loại và cống hiến đến nền văn minh thế
giới. Sự đổi đạo không phải là phương hướng.
Thí dụ, chúng tôi không nghĩ đến việc biến đổi những
người khác trở thành Phật tử hay chỉ đơn thuần xa hơn
vì lý do Phật giáo. Tốt hơn, chúng tôi cố gắng nghĩ
đến việc làm thế nào như một con người Phật tử có thể
đóng góp đến hạnh phúc của con người.
Trong
khi đề ra những điều tương tự căn bản của những tôn
giáo thế giới, chúng tôi không biện hộ cho một tôn giáo
đặc biệt nào để làm mất uy tín, hay bất lợi đến tất
cả những tôn giáo khác, chúng tôi cũng không tìm kiếm một
tôn giáo thế giới mới. Tất cả những tôn giáo khác
nhau trên thế giới cần làm phong phú cho kinh nghiệm của nhân
loại và văn minh thế giới. Tâm tính loài người chúng
ta, hiện hữu phẩm chất, năng lực và khuynh hướng khác nhau,
cần những tiếp cận khác nhau đến hòa bình và hạnh phúc.
Nó giống như thực phẩm. Những người nào đấy tìm
đến Cơ đốc giáo cảm thấy hấp dẫn hơn, những người
khác thích Phật giáo bởi vì không có đấng tạo hóa trong
nó và mọi thứ tùy thuộc trên những hành động của chính
chúng ta. Chúng ta có thể có những cuộc thảo luận tương
tự cho những tôn giáo khác như thế. Vì vậy, quan điểm
thì rõ ràng, loài người cần tất cả những tôn giáo của
thế giới để thích hợp với những cung cách sống, nhiều
loại nhu cầu tâm linh khác nhau, và thừa kế truyền thống
quốc gia của mỗi cá thể con người.
Từ
viễn tượng này mà chúng tôi hoan nghênh những tác động
hiện hữu đã làm những phần khác nhau của thế giới
cho sự hiểu biết hơn giữa những tôn giáo. Sự cần
thiết cho điều này đặc biệt cấp bách ngay bây giờ.
Nếu tất cả những tôn giáo hành động cải thiện nhân loại
như sự quan tâm chính của họ, rồi thì họ có thể dễ dàng
hoạt động hợp tác với nhau trong sự hoà hiệp cho thanh bình
thế giới. Sự cảm thông liên hệ của những người
khác tín ngưỡng (sự hiểu biết liên tôn) sẽ mang đến sự
đoàn kết hoà hiệp cần thiết cho mọi tôn giáo để hoạt
động hợp tác với nhau. Tuy nhiên, mặc dù qủa thực đây
là một bước quan trọng, chúng ta phải nhớ rằng không có
những giải pháp nhanh chóng hay dễ dàng. Chúng ta không
thể che dấu những khác nhau của giáo điều đã tồn tại
với những tín ngướng khác nhau, chúng ta cũng không hy vọng
thay thế những tôn giáo hiện hữu bằng một tín ngưỡng
toàn cầu mới. Mỗi tôn giáo có những cống hiến
đặc biệt chính nó để hành động, và mỗi tôn giáo trong
phương pháp riêng của minh thích hợp cho từng nhóm người
như họ thông hiểu đời sống. Thế giới cần tất cả
mọi tôn giáo.
Có
hai nhiệm vụ đối mặt với những hành giả tôn giáo, những
người quan tâm đến hoà bình thế giới. Thứ nhất,
chúng ta phải đẩy mạnh sự hiểu biết liên tôn cũng như
tạo nên một không khí có thể hoạt động được của sự
hoà hiệp giữa tất cả các tôn giáo. Điều này có thể
đạt được từng bộ phận bằng sự tôn trọng những tín
ngưỡng của những người khác và bằng sự nhấn mạnh sự
quan tâm chung của chúng ta cho nhân loại tốt đẹp hơn.
Thứ hai, chúng ta phải đem sự đồng tâm nhất trí có thể
thành tựu trên những căn bản giá trị tâm linh điều đã
tác động mỗi trái tim con người và làm tăng hạnh phúc chung
của loài người. Điều này có nghĩa là chúng ta phải
nhấn mạnh mẫu số chung của tất cả mọi tôn giáo - những
ý tưởng nhân đạo. Đây là hai bước sẽ cho phép chúng
ta hành động một cách cá nhân và hợp tác để tạo nên
những điều kiện tâm linh cần thiết cho hoà bình thế giới.
Chúng
ta những hành giả thực tập những tín ngưỡng khác nhau có
thể hợp tác hành động vì hoà bình thế giới khi chúng ta
nhìn những tôn giáo khác nhau như những công cụ căn bản
để phát triển một trái tim tốt, một hảo tâm - yêu thương
và tôn trọng những kẻ khác, một ý thức cộng đồng chân
thành. Điều quan trọng nhất là nhìn vào mục tiêu của
tôn giáo chứ không nhìn vào những diễn giải giáo điều
hay siêu hình, điều có thể dẫn đến duy lý trí (sự quá
nặng về trí óc). Chúng tôi tin tưởng rằng đại đa
số tôn giáo trên thế giới có thể cống hiến cho hoà bình
thế giới và hợp tác với nhau vì lợi ích của con người
nếu chúng ta để qua một bên những khác biệt siêu hình trừu
tượng, điều thực sự là công việc nội bộ, nhiệm
vụ nội tâm của từng tôn giáo.
Bất
chấp những tiến bộ thế gian phi tôn giáo đã mang đến bởi
sự hiện đại hoá toàn cầu đổi mới và bất chấp những
cố gắng có hệ thống của một số bộ phận của thế giới
để phá huỷ những giá trị tinh thần, đại đa số nhân
loại tiếp tục tin tưởng một tôn giáo này hay tôn giáo kia.
Sự bất tử của niềm tin tôn giáo, bằng chứng ngay cả dưới
những hệ thống chính trị không tôn trọng tín ngưỡng hay
phi tôn giáo rõ ràng minh chứng hiệu lực của tôn giáo như
thế. Năng lượng và sức mạnh tâm linh này có thể được
sử dụng có ý nghĩa, và có tầm quan trọng để mang những
điều kiện tâm linh cần thiết cho hoà bình thế giới.
Những lĩnh tụ tôn giáo và những nhà nhân đạo trên toàn
thế giới có một vai trò đặc biệt hành động trong mối
lưu tâm này.
Cho
dù chúng ta sẽ có thể đạt đến hoà bình thế giới hay
không, chúng ta không có lựa chọn nào khác mà phải hành động
tiến tới mục tiêu ấy. Nếu tâm tư chúng ta bị chế
ngự bởi sân hận, giận dữ, chúng ta sẽ đánh mất đi phần
tuyệt hảo thông minh của loài người - tuệ trí, khã năng
quyết định giữa đúng và sai. Sân hận, giận hờn là
một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất của thế giới
ngày nay.
NĂNG
LỰC CÁ NHÂN ĐỂ ĐỊNH HƯỚNG NHỮNG TỔ CHỨC
Sân
hận đóng một vai trò không nhỏ trong những xung đột hiện
tại như ở Trung Đông, Nam Á, Bắc và Nam, v.v... Những xung
đột này khởi lên từ sự thất bại để hiểu biết nhân
tính của người khác. Câu trả lời không phải là sự
phát triển hay dùng những lực lượng quân sự to lớn, mạnh
mẽ hơn, cũng không là sự chạy đua vũ trang. Nó cũng
không là chính trị trong sạch hay kỷ thuật trong sạch.
Một cách căn bản nó là tâm linh, trong ý thức rằng điều
gì đòi hỏi một ý thức hiểu biết trong vấn đề chung của
nhân loại. Thù ghét và chiến đấu không thể đem đến
hạnh phúc cho bất cứ ai, ngay cả những kể chiến thắng
của chiến trường. Bạo lực luôn luôn sản xuất khốn
cùng và vì vậy nó là sự sản xuất tiêu cực một cách căn
bản. Vì vậy, nó là thời gian của những lãnh tụ thế
giới học hỏi vượt thắng những khác biệt về chủng tộc,
văn hoá, và tư tưởng và để lưu tâm những người khác
qua đôi mắt thấy những vấn đề chung của nhân loại.
Vì làm như thế sẽ lợi ích cho những cá nhân, những cộng
đồng, những quốc gia và rộng ra cho toàn thế giới.
...
Chúng
tôi gợi ý rằng những lĩnh tụ thế giới gặp nhau mỗi năm
một lần ở một địa điểm vô cùng xinh đẹp không nhầm
một mục tiêu gì cả, chỉ gặp nhau để hiểu nhau như những
con người. Rồi thì, sau đấy, họ có thể gặp gở và
thảo luận những vấn đề hổ tương toàn cầu.
Chúng tôi chắc chắn rằng nhiều người sẽ chia xẻ ao ước
của chúng tôi rằng những lĩnh tụ của thế giới gặp
gở tại bàn hội nghị trong một không khí tôn trọng lẫn
nhau và hiểu nhau với tình người.
Để
phát triển sự gặp gở cá nhân với cá nhân trên toàn thế
giới, chúng tôi muốn thấy sự cổ vũ lớn hơn của du lịch
quốc tế. Cũng vậy, trong hoàn cảnh rộng lớn, đặc
biệt là những xã hội dân chủ, có thể hành động một
cống hiến to tát cho hoà bình thế giới bằng sự cho phép
những tin tức lớn hơn đến những thứ gợi hứng con người
phản ánh tính chất căn bản hoà hiệp đồng nhất của nhân
loại. Với sự vươn lên của một ít cường quốc lớn
trên vũ đài quốc tế, nhân đạo đóng vai trò trong những
tổ chức quốc tế đang bị phớt lờ và hờ hửng. Chúng
tôi hy vọng rằng điều này sẽ được điều chỉnh và rằng
tất cả những tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên Hiệp
Quốc, sẽ được năng nổ và tác động hơn bảo đảm chắc
chắn lợi ích tối đa cho nhân loại và đẩy mạnh, khuyến
khích , tích cực ủng hộ sự hiểu biết quốc tế. Thực
vậy nó sẽ là thảm kịch nếu một ít cường quốc thành
viên tiếp tục quên đi phần lớn của thế giới giống như
Liên hiệp quốc là cho những cảm hứng một phía của họ.
Liên hiệp quốc phải trở nên phương tiện cho hòa bình thế
giới. Thân thể này, cơ cấu này, hội đồng này của
thế giới phải được tôn trọng bởi tất cả, Liên hiệp
quốc là niềm hy vọng duy nhất cho những quốc gia bị áp
bức, nhược tiểu và vì lý do đấy cho toàn thể hành tinh
chúng ta.
Khi
tất cả những quốc gia mà kinh tế tùy thuộc trên những
quốc gia khác hơn bao giờ hết, sự hiểu biết của nhân loại
phải vượt khỏi những biên giới quốc gia và thích ứng
theo cộng đồng quốc tế rộng lớn. Thực vậy, ngoại
trừ chúng ta có thể tạo nên một không khí hợp tác chân
thành, đạt được không phải bởi đe dọa hay thật sự dùng
đến vũ lực nhưng bằng sự thông cảm chân thành của con
tim hiểu biết, những nan đề của thế giới sẽ chỉ tăng
lên. Nếu những người trong những quốc gia nghèo bị
từ chối hạnh phúc mà họ khao khát và đáng được hưởng,
tự nhiên họ sẽ không hài lòng và quy những vấn đề cho
những nước giàu. Nếu những hình thức xã hội, chính
trị, và kinh tế không ai muốn bị tiếp tục lạm dụng, lừa
gạt, phỉnh phờ không thiện ý với người dân, sự
đạt đến hòa bình thế giới thật đáng ngờ, hay không chắc
chắn. Tuy vậy, nếu chúng ta làm hài lòng mọi người
ở cấp độ con tim với con tim, hòa bình sẽ đến một cách
chắc chắn.
Trong
mỗi quốc gia, cá nhân phải được trao cho quyền được hạnh
phúc, và trong những quốc gia phải quan tâm bình đẳng cho
quyền lợi của ngay cả những quốc gia nhỏ nhất. Chúng
tôi không đang gợi ý rằng hệ thống này tốt hơn hệ thống
kia và tất cả nên được chấp nhận. Trái lại, nhiều
hệ thống chính trị và tư tưởng khác nhau là ước ao khao
khát và phù hợp với những khuynh hướng khác nhau trong cộng
đồng nhân loại. Trạng thái muôn màu muôn vẻ này làm
nổi bật yêu cầu không ngừng của nhân loại cho hạnh phúc.
Vì vậy mỗi cộng đồng nên tự do liên hệ gắn bó với
hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội của chính mình,
trên cơ sở chính của sự tự quyết.
Việc
đạt đến công lý, hòa hiệp, và hòa bình tùy thuộc trên
nhiều nhân tố. Chúng ta nên nghĩ về chúng trong những
quan hệ của lợi ích nhân loại cho tương lai lâu dài hơn
là định kỳ ngắn hạn. Chúng tôi nhận thức được
tầm cở công việc phía trước chúng ta, nhưng chúng tôi không
thấy lựa chọn nào khác hơn những điều mà chúng tôi đã
đề xuất – điều đặt căn bản trên lợi ích chung của
nhân loại chúng ta. Những quốc gia không có lựa chọn
nào khác hơn mà phải quan tâm đến quyền lợi của nhau, không
phải vì sự tin tưởng của họ ở nhân loại mà bởi vì
nó là trong sự hổ tương và lợi ích lâu dài mà tất cả
cùng quan tâm. Một sự đánh giá đúng cho thực tế mới
này được biểu thị bằng sự lớn mạnh của những
tổ chức kinh tế khu vực hay lục địa như Cộng đồng kinh
tế Âu châu, Liên hiệp các quốc gia Đông Nam Á, Tổ chức
tự do mậu dịch Châu Mỹ, v.v...Chúng tôi hy vọng các tổ
chức trao đổi mậu dịch liên quốc gia sẽ được hình thành
nhiều hơn, đặc biệt trong những khu vực nơi kinh tế phát
triển và khu vực nguồn dự trử dường như thiếu thốn thường
xuyên.
Dưới
những điều kiện hiện tại, một cách rạch ròi dứt khoát
có một nhu cầu lớn mạnh cho sự thông cảm của nhân loại
và một ý thức trách nhiệm toàn cầu. Để đạt được
những mục tiêu này, chúng ta phải phát sinh một trái tim tốt
và tử tế, một lòng hảo tâm và ân cần, nếu không có điều
này, chúng ta có thể cũng không đạt được hạnh phúc toàn
cầu hoặc cuối cùng cũng không đạt đến hoà bình thế giới.
Chúng ta không thể tạo dựng hoà bình trên giấy tờ.
Trong khi chủ trương trách nhiệm toàn cẩu và tình huynh đệ
tỉ muội toàn cầu, cơ sở lập luận là bản chất của loài
người được tổ chức hoàn toàn riêng biệt với hình thức
những xã hội của quốc gia. Vì vậy, trong nhận thức
thực tế, chúng tôi cảm thấy những xã hội này phải hành
động như những mãng cấu trúc cho hoà bình thế giới.
Những
cố gắng đã được triển khai trong quá khứ nhầm tạo dựng
những xã hội công bằng và bình đẳng hơn. Những tổ
chức đã được hình thành với những hiến chương cao quí
để tranh đấu những năng lực chống xã hội. Bất hạnh
thay, những ý tưởng như thế đã từng bị lừa bịp bởi
vị kỷ. Hơn bao giờ hết, ngày nay chúng ta chứng
kiến đạo đức và những nguyên tắc cao quý bị che khuất
bởi bóng tối của sự quan tâm vị kỷ, đặc biệt trong không
khí của chính trị. Có một trường phái tư tưởng cảnh
báo chúng ta kiềm chế hoàn toàn với chính trị, như chính
trị là đồng nghĩa với thiếu đạo đức. Chính trị
không đạo đức không giúp cho lợi ích của nhân loại, và
đời sống không đạo đức hạ thấp loài người xuống trình
độ của loài vật. Tuy vậy, chính trị không phải hiển
nhiên nhớp nhúa. Tốt hơn là rằng, những công cụ văn
hóa chính trị của chúng ta đã bóp méo những tư tưởng cao
thượng và những quan niệm cao quý đóng góp cho lợi ích của
nhân loại. Đương nhiên, những người tinh thần biểu
lộ sự quan tâm về những lĩnh tụ tôn giáo lẫn lộn với
chính trị, khi họ e ngại chính trị hắc ám làm ô uế tôn
giáo.
Chúng
tôi tự hỏi một giả định thông thường rằng tôn giáo
và đạo đức không vị trí trong chính trị và rằng nhân
vật tôn giáo nên tự tách rời như những nhà ẩn dật hay
khổ hạnh. Những quan điểm như vậy của tôn giáo là
quá thiên lệch; nó thiếu một viễn tượng thực sự đúng
mực trong mối quan hệ của cá nhân và xã hội và vai trò
của tôn giáo trong đời sống của chúng ta. Đạo đức
như điều cốt yếu quyết định đến một chính trị gia
cũng như đối với một hành giả tôn giáo. Những hậu
quả nguy hại sẽ kéo theo khi những chính trị gia và người
cầm quyền quên những nguyên tắc đạo đức chủ yếu.
Cho dù chúng ta tin tưởng ở Thượng Đế hay nghiệp báo nhân
quả, đạo đức vẫn là nền tảng của mỗi tôn giáo.
Những
phẩm chất của con người như đạo đức, từ bi, lịch sự,
tuệ trí, v.v…đã là những nền tảng cuả tất cả mọi
nền văn minh. Những phẩm chất này phải được phát
triển và duy trì thông qua hệ thống giáo huấn đạo đức
trong một môi trường xã hội thuận lợi vì thế một thế
giới nhân bản hơn có thể vươn lên. Những phẩm chất
đòi hỏi sáng tạo như một thế giới phải được thấm
nhuần ngay từ lúc bắt đầu, từ tuổi thơ. Chúng ta
không thể chờ đợi để thế hệ sau làm sự thay đổi này,
thế hệ hiện tại phải cố gắng làm mới những giá trị
căn bản của loài người. Nếu có bất cứ hy vọng nào,
đấy là trong thế hệ sau, nhưng ngoại trừ chúng ta tiến
hành sự thay đổi lớn lao trên bình diện toàn cầu trong hệ
thống học vấn hiện tại của chúng ta. Chúng ta cần
một cuộc cách mạng trong nguyện ước của chúng ta để thực
hành những giá trị nhân đạo toàn cầu.
Thật
là thiếu sót khi đánh tiếng kêu gọi ngập ngừng sự suy
luận đạo đức; chúng ta phải hành động về việc này.
Khi những chính quyền hiện tại không gánh trên vai trách nhiệm
tôn giáo như thế, những lĩnh tụ nhân đạo và tôn giáo phải
củng cố sự tồn tại những tổ chức công dân, xã hội,
văn hóa, học vấn và tôn giáo, để làm sống lại những
giá trị nhân bản và tâm linh. Bất cứ nơi nào cần
thiết, chúng ta phải tạo thành những tổ chức mới để
đạt được những mục tiêu này. Chỉ có trong những
việc làm như thế có thể chúng ta hy vọng tạo nên một căn
bản vững chắc cho hòa bình thế giới.
Sống
trong xã hội, chúng ta nên chia xẻ những khổ đau của những
đồng bào, công dân, của chúng ta và thực hành từ bi, lòng
khoan dung và sự nhẫn nại không chỉ đối với những người
thân yêu của chúng ta mà cũng đến với kẽ thù của chúng
ta. Đây là sự thể nghiệm sức mạnh đạo đức của
chúng ta. Chúng ta phải làm một cuộc trắc nghiệm bằng
sự thực hành của chính chúng ta, cho điều mà, chúng ta không
thể hy vọng thuyết phục người khác giá trị của tôn giáo
chỉ bằng lời nói. Chúng ta phải sống trên cùng
một trình độ liêm minh và hy sinh cao thượng mà chúng ta đã
đòi hỏi ở kẻ khác. Mục tiêu căn bản của tất cả
mọi tôn giáo là phục vụ cho lợi ích của nhân loại.
Điều này là tại sao nó rất quan trọng rằng tôn giáo luôn
luôn được sử dụng để tác động cho hạnh phúc và hòa
bình của tất cả mọi loài chúng sinh và không chỉ cho những
người thay đổi chính kiến.
Hơn
nữa, trong tôn giáo không có những biên giới quốc gia.
Một tôn giáo có thể và nên được tiếp nhận và thực hành
bởi bất cứ ai tìm thấy lợi ích trong ấy. Nhưng
sự hòa nhập vào một tôn giáo đặc biệt nào đấy không
có nghĩa là sự từ chối một tôn giáo khác hay cộng đồng
của chính ai đấy. Thực tế là, nó thật quan trọng
rằng ai đấy nương tựa một tôn giáo không nên cắt đứt
chính họ ra khỏi cộng đồng của họ; họ nên tiếp tục
sống trong cộng đồng của chính họ và trong sự hòa hiệp
với những thành viên của cộng đồng ấy. Bởi vì bằng
sự thoát ly khỏi cộng đồng của chính mình, chúng ta không
thể làm lợi ích cho những người khác, trong khi mà lợi ích
cho người khác lại thật sự là căn bản hướng vào của
tôn giáo.
Trong
mối lưu tâm này, có hai việc quan trọng để giữ trong tâm:
tự trắc nghiệm và tự sửa sai. Chúng ta nên liên tục
kiểm soát thái độ chúng ta đối với những người khác,
trắc nghiệm tự chính chúng ta một cách cẩn thận, và chúng
ta nên sửa sai chính chúng ta ngay lập tức khi chúng ta tìm
thấy chúng ta trong sự sai sót.
Cuối
cùng, một vài lời về tiến trình vật chất. Chúng tôi
đã từng nghe rất nhiều lời phàn nàn về tiến trình vật
chất với những người phương Tây, và tuy vậy, một cách
nghịch lý, nó là điều rất tự hào của thế giới phương
Tây. Chúng tôi không thấy có gì sai với sự tiến bộ
vật chất tự chính nó, người được cung cấp là luôn luôn
cho trước. Chúng tôi tin tưởng vững chắc rằng để
giải quyết những vấn đề của nhân loại trong tất cả
những tính chất của nó, chúng ta phải kết hợp và hòa điệu
sự phát triển kinh tế với sự lớn mạnh của tâm linh.
Tuy
vậy, chúng ta phải biết những giới hạn của nó. Mặc
dù những kiến thức vật chất,(duy vật, thế tục, trần
gian) trong hình thức của khoa học và kỷ thuật đã cống
hiến lợi ích một cách khổng lồ cho nhân loại, nó không
có thể tạo nên hạnh phúc tận cùng. Thí dụ, những
nơi kỷ thuật phát triển thì có thể tiến bộ hơn những
xứ sở khác, những vẫn còn rất nhiều những khổ đau tinh
thần. Điều này bởi gì kiến thức vật chất thế gian chỉ
có thể cung cấp một loại hạnh phúc tùy thuộc trên những
điều kiện vật lý. Nó không thể cung cấp hạnh phúc,
điều, tuôn trào từ phát triển nội tại độc lập với
những nhân tố ngoại tại.
Để
làm mới những giá trị nhân bản và đạt đến hạnh phúc
tận cùng, chúng ta cần xem di sản chung của nhân loại khắp
các quốc gia trên toàn thế giới. Mong rằng bài luận
văn cung cấp một sự nhắc nhở cấp bách để chúng ta khỏi
quên những giá trị nhân bản, điều đã liên kết tất cả
chúng ta như một gia đình đơn độc trên địa cầu này.
Chúng
tôi đã viết những dòng trên
Để
nói với cảm xúc chung thủy của chúng tôi
Bất
cứ khi nào chúng tôi gặp ngay cả một người ngoại quốc
Chúng
tôi luôn luôn có một cảm giác giống nhau
Chúng
tôi đang gặp một thành viên khác của gia đình nhân loại
Thái
độ này làm sâu thêm
Ảnh
hưởng và tôn trọng của chúng tôi cho tất cả chúng sinh
Cầu
cho nguyện ước tự nhiên này là
Sự
cống hiến nhỏ nhoi của chúng tôi cho hòa bình thế giới
Chúng
tôi cầu nguyện cho tình thân hữu hơn
Ân
cần hơn và hiểu biết hơn
Gia
đình nhân loại trên hành tinh này.
Cho
tất cả những ai không thích khổ đau.
Những
người yêu quý hạnh phúc tận cùng
Đây
là lời khẩn thiết chân thành của chúng tôi!
A
Human Approach to World Peace
http://dalailama.com/page.62.htm
Tuệ
Uyển chuyển ngữ
29-07-2008
A
Human Approach to World Peace
His
Holiness the Dalai Lama
Solving
Human problem through transforming Human attitude
Compassion
as a pillar of world peace
World
religion for world peace
Individual
power to shape Institutes
When
we rise in the morning and listen to the radio or read the newspaper, we
are confronted with the same sad news: violence, crime, wars, and disasters.
I cannot recall a single day without a report of something terrible happening
somewhere. Even in these modern times it is clear that one's precious life
is not safe. No former generation has had to experience so much bad news
as we face today; this constant awareness of fear and tension should make
any sensitive and compassionate person question seriously the progress
of our modern world.
It
is ironic that the more serious problems emanate from the more industrially
advanced societies. Science and technology have worked wonders in many
fields, but the basic human problems remain. There is unprecedented literacy,
yet this universal education does not seem to have fostered goodness, but
only mental restlessness and discontent instead. There is no doubt about
the increase in our material progress and technology, but somehow this
is not sufficient as we have not yet succeeded in bringing about peace
and happiness or in overcoming suffering.
We
can only conclude that there must be something seriously wrong with our
progress and development, and if we do not check it in time there could
be disastrous consequences for the future of humanity. I am not at all
against science and technology - they have contributed immensely to the
overall experience of humankind; to our material comfort and well-being
and to our greater understanding of the world we live in. But if we give
too much emphasis to science and technology we are in danger of losing
touch with those aspects of human knowledge and understanding that aspire
towards honesty and altruism.
Science
and technology, though capable of creating immeasurable material comfort,
cannot replace the age-old spiritual and humanitarian values that have
largely shaped world civilization, in all its national forms, as we know
it today. No one can deny the unprecedented material benefit of science
and technology, but our basic human problems remain; we are still faced
with the same, if not more, suffering, fear, and tension. Thus it is only
logical to try to strike a balance between material developments on the
one hand and the development of spiritual, human values on the other. In
order to bring about this great adjustment, we need to revive our humanitarian
values.
I am
sure that many people share my concern about the present worldwide moral
crisis and will join in my appeal to all humanitarians and religious practitioners
who also share this concern to help make our societies more compassionate,
just, and equitable. I do not speak as a Buddhist or even as a Tibetan.
Nor do I speak as an expert on international politics (though I unavoidably
comment on these matters). Rather, I speak simply as a human being, as
an upholder of the humanitarian values that are the bedrock not only of
Mahayana Buddhism but of all the great world religions. From this perspective
I share with you my personal outlook - that:
- Universal
humanitarianism is essential to solve global problems;
-
Compassion is the pillar of world peace;
-
All world religions are already for world peace in this way, as are all
humanitarians of whatever ideology;
-
Each individual has a universal responsibility to shape institutions to
serve human needs.
Solving
Human Problems through Transforming Human Attitudes
Of
the many problems we face today, some are natural calamities and must be
accepted and faced with equanimity. Others, however, are of our own making,
created by misunderstanding, and can be corrected. One such type arises
from the conflict of ideologies, political or religious, when people fight
each other for petty ends, losing sight of the basic humanity that binds
us all together as a single human family. We must remember that the different
religions, ideologies, and political systems of the world are meant for
human beings to achieve happiness. We must not lose sight of this fundamental
goal and at no time should we place means above ends; the supremacy of
humanity over matter and ideology must always be maintained.
By
far the greatest single danger facing humankind - in fact, all living beings
on our planet - is the threat of nuclear destruction. I need not elaborate
on this danger, but I would like to appeal to all the leaders of the nuclear
powers who literally hold the future of the world in their hands, to the
scientists and technicians who continue to create these awesome weapons
of destruction, and to all the people at large who are in a position to
influence their leaders: I appeal to them to exercise their sanity and
begin to work at dismantling and destroying all nuclear weapons. We know
that in the event of a nuclear war there will be no victors because there
will be no survivors! Is it not frightening just to contemplate such inhuman
and heartless destruction? And, is it not logical that we should remove
the cause for our own destruction when we know the cause and have both
the time and the means to do so? Often we cannot overcome our problems
because we either do not know the cause or, if we understand it, do not
have the means to remove it. This is not the case with the nuclear threat.
Whether
they belong to more evolved species like humans or to simpler ones such
as animals, all beings primarily seek peace, comfort, and security. Life
is as dear to the mute animal as it is to any human being; even the simplest
insect strives for protection from dangers that threaten its life. Just
as each one of us wants to live and does not wish to die, so it is with
all other creatures in the universe, though their power to effect this
is a different matter.
Broadly
speaking there are two types of happiness and suffering, mental and physical,
and of the two, I believe that mental suffering and happiness are the more
acute. Hence, I stress the training of the mind to endure suffering and
attain a more lasting state of happiness. However, I also have a more general
and concrete idea of happiness: a combination of inner peace, economic
development, and, above all, world peace. To achieve such goals I feel
it is necessary to develop a sense of universal responsibility, a deep
concern for all irrespective of creed, colour, sex, or nationality.
The
premise behind this idea of universal responsibility is the simple fact
that, in general terms, all others' desires are the same as mine. Every
being wants happiness and does not want suffering. If we, as intelligent
human beings, do not accept this fact, there will be more and more suffering
on this planet. If we adopt a self-centred approach to life and constantly
try to use others for our own self-interest, we may gain temporary benefits,
but in the long run we will not succeed in achieving even personal happiness,
and world peace will be completely out of the question.
In
their quest for happiness, humans have used different methods, which all
too often have been cruel and repellent. Behaving in ways utterly unbecoming
to their status as humans, they inflict suffering upon fellow humans and
other living beings for their own selfish gains. In the end, such shortsighted
actions bring suffering to oneself as well as to others. To be born a human
being is a rare event in itself, and it is wise to use this opportunity
as effectively and skillfully as possible. We must have the proper perspective
that of the universal life process, so that the happiness or glory of one
person or group is not sought at the expense of others.
All
this calls for a new approach to global problems. The world is becoming
smaller and smaller - and more and more interdependent - as a result of
rapid technological advances and international trade as well as increasing
trans-national relations. We now depend very much on each other. In ancient
times problems were mostly family-size, and they were naturally tackled
at the family level, but the situation has changed. Today we are so interdependent,
so closely interconnected with each other, that without a sense of universal
responsibility, a feeling of universal brotherhood and sisterhood, and
an understanding and belief that we really are part of one big human family,
we cannot hope to overcome the dangers to our very existence - let alone
bring about peace and happiness.
One
nation's problems can no longer be satisfactorily solved by itself alone;
too much depends on the interest, attitude, and cooperation of other nations.
A universal humanitarian approach to world problems seems the only sound
basis for world peace. What does this mean? We begin from the recognition
mentioned previously that all beings cherish happiness and do not want
suffering. It then becomes both morally wrong and pragmatically unwise
to pursue only one's own happiness oblivious to the feelings and aspirations
of all others who surround us as members of the same human family. The
wiser course is to think of others also when pursuing our own happiness.
This will lead to what I call 'wise self-interest', which hopefully will
transform itself into 'compromised self-interest', or better still, 'mutual
interest'.
Although
the increasing interdependence among nations might be expected to generate
more sympathetic cooperation, it is difficult to achieve a spirit of genuine
cooperation as long as people remain indifferent to the feelings and happiness
of others. When people are motivated mostly by greed and jealousy, it is
not possible for them to live in harmony. A spiritual approach may not
solve all the political problems that have been caused by the existing
self-centered approach, but in the long run it will overcome the very basis
of the problems that we face today.
On
the other hand, if humankind continues to approach its problems considering
only temporary expediency, future generations will have to face tremendous
difficulties. The global population is increasing, and our resources are
being rapidly depleted. Look at the trees, for example. No one knows exactly
what adverse effects massive deforestation will have on the climate, the
soil, and global ecology as a whole. We are facing problems because people
are concentrating only on their short-term, selfish interests, not thinking
of the entire human family. They are not thinking of the earth and the
long-term effects on universal life as a whole. If we of the present generation
do not think about these now, future generations may not be able to cope
with them.
Compassion
as the Pillar of World Peace
According
to Buddhist psychology, most of our troubles are due to our passionate
desire for and attachment to things that we misapprehend as enduring entities.
The pursuit of the objects of our desire and attachment involves the use
of aggression and competitiveness as supposedly efficacious instruments.
These mental processes easily translate into actions, breeding belligerence
as an obvious effect. Such processes have been going on in the human mind
since time immemorial, but their execution has become more effective under
modern conditions. What can we do to control and regulate these 'poisons'
- delusion, greed, and aggression? For it is these poisons that are behind
almost every trouble in the world.
As
one brought up in the Mahayana Buddhist tradition, I feel that love and
compassion are the moral fabric of world peace. Let me first define what
I mean by compassion. When you have pity or compassion for a very poor
person, you are showing sympathy because he or she is poor; your compassion
is based on altruistic considerations. On the other hand, love towards
your wife, your husband, your children, or a close friend is usually based
on attachment. When your attachment changes, your kindness also changes;
it may disappear. This is not true love. Real love is not based on attachment,
but on altruism. In this case your compassion will remain as a humane response
to suffering as long as beings continue to suffer.
This
type of compassion is what we must strive to cultivate in ourselves, and
we must develop it from a limited amount to the limitless. Undiscriminating,
spontaneous, and unlimited compassion for all sentient beings is obviously
not the usual love that one has for friends or family, which is alloyed
with ignorance, desire, and attachment. The kind of love we should advocate
is this wider love that you can have even for someone who has done harm
to you: your enemy.
The
rationale for compassion is that every one of us wants to avoid suffering
and gain happiness. This, in turn, is based on the valid feeling of '1',
which determines the universal desire for happiness. Indeed, all beings
are born with similar desires and should have an equal right to fulfill
them. If I compare myself with others, who are countless, I feel that others
are more important because I am just one person whereas others are many.
Further, the Tibetan Buddhist tradition teaches us to view all sentient
beings as our dear mothers and to show our gratitude by loving them all.
For, according to Buddhist theory, we are born and reborn countless numbers
of times, and it is conceivable that each being has been our parent at
one time or another. In this way all beings in the universe share a family
relationship.
Whether
one believes in religion or not, there is no one who does not appreciate
love and compassion. Right from the moment of our birth, we are under the
care and kindness of our parents; later in life, when facing the sufferings
of disease and old age, we are again dependent on the kindness of others.
If at the beginning and end of our lives we depend upon others' kindness,
why then in the middle should we not act kindly towards others?
The
development of a kind heart (a feeling of closeness for all human beings)
does not involve the religiosity we normally associate with conventional
religious practice. It is not only for people who believe in religion,
but is for everyone regardless of race, religion, or political affiliation.
It is for anyone who considers himself or herself, above all, a member
of the human family and who sees things from this larger and longer perspective.
This is a powerful feeling that we should develop and apply; instead, we
often neglect it, particularly in our prime years when we experience a
false sense of security.
When
we take into account a longer perspective, the fact that all wish to gain
happiness and avoid suffering, and keep in mind our relative unimportance
in relation to countless others, we can conclude that it is worthwhile
to share our possessions with others. When you train in this sort of outlook,
a true sense of compassion - a true sense of love and respect for others
- becomes possible. Individual happiness ceases to be a conscious self-seeking
effort; it becomes an automatic and far superior by-product of the whole
process of loving and serving others.
Another
result of spiritual development, most useful in day-to-day life, is that
it gives a calmness and presence of mind. Our lives are in constant flux,
bringing many difficulties. When faced with a calm and clear mind, problems
can be successfully resolved. When, instead, we lose control over our minds
through hatred, selfishness, jealousy, and anger, we lose our sense of
judgement. Our minds are blinded and at those wild moments anything can
happen, including war. Thus, the practice of compassion and wisdom is useful
to all, especially to those responsible for running national affairs, in
whose hands lie the power and opportunity to create the structure of world
peace.
World
Religions for World Peace
The
principles discussed so far are in accordance with the ethical teachings
of all world religions. I maintain that every major religion of the world
- Buddhism, Christianity, Confucianism, Hinduism, Islam, Jainism, Judaism,
Sikhism, Taoism, Zoroastrianism - has similar ideals of love, the same
goal of benefiting humanity through spiritual practice, and the same effect
of making their followers into better human beings. All religions teach
moral precepts for perfecting the functions of mind, body, and speech.
All teach us not to lie or steal or take others' lives, and so on. The
common goal of all moral precepts laid down by the great teachers of humanity
is unselfishness. The great teachers wanted to lead their followers away
from the paths of negative deeds caused by ignorance and to introduce them
to paths of goodness.
All
religions agree upon the necessity to control the undisciplined mind that
harbours selfishness and other roots of trouble, and each teaches a path
leading to a spiritual state that is peaceful, disciplined, ethical, and
wise. It is in this sense that I believe all religions have essentially
the same message. Differences of dogma may be ascribed to differences of
time and circumstance as well as cultural influences; indeed, there is
no end to scholastic argument when we consider the purely metaphysical
side of religion. However, it is much more beneficial to try to implement
in daily life the shared precepts for goodness taught by all religions
rather than to argue about minor differences in approach.
There
are many different religions to bring comfort and happiness to humanity
in much the same way as there are particular treatments for different diseases.
For, all religions endeavour in their own way to help living beings avoid
misery and gain happiness. And, although we can find causes for preferring
certain interpretations of religious truths, there is much greater cause
for unity, stemming from the human heart. Each religion works in its own
way to lessen human suffering and contribute to world civilization. Conversion
is not the point. For instance, I do not think of converting others to
Buddhism or merely furthering the Buddhist cause. Rather, I try to think
of how I as a Buddhist humanitarian can contribute to human happiness.
While
pointing out the fundamental similarities between world religions, I do
not advocate one particular religion at the expense of all others, nor
do I seek a new 'world religion'. All the different religions of the world
are needed to enrich human experience and world civilization. Our human
minds, being of different calibre and disposition, need different approaches
to peace and happiness. It is just like food. Certain people find Christianity
more appealing, others prefer Buddhism because there is no creator in it
and everything depends upon your own actions. We can make similar arguments
for other religions as well. Thus, the point is clear: humanity needs all
the world's religions to suit the ways of life, diverse spiritual needs,
and inherited national traditions of individual human beings.
It
is from this perspective that I welcome efforts being made in various parts
of the world for better understanding among religions. The need for this
is particularly urgent now. If all religions make the betterment of humanity
their main concern, then they can easily work together in harmony for world
peace. Interfaith understanding will bring about the unity necessary for
all religions to work together. However, although this is indeed an important
step, we must remember that there are no quick or easy solutions. We cannot
hide the doctrinal differences that exist among various faiths, nor can
we hope to replace the existing religions by a new universal belief. Each
religion has its own distinctive contributions to make, and each in its
own way is suitable to a particular group of people as they understand
life. The world needs them all.
There
are two primary tasks facing religious practitioners who are concerned
with world peace. First, we must promote better interfaith understanding
so as to create a workable degree of unity among all religions. This may
be achieved in part by respecting each other's beliefs and by emphasizing
our common concern for human well-being. Second, we must bring about a
viable consensus on basic spiritual values that touch every human heart
and enhance general human happiness. This means we must emphasize the common
denominator of all world religions - humanitarian ideals. These two steps
will enable us to act both individually and together to create the necessary
spiritual conditions for world peace.
We
practitioners of different faiths can work together for world peace when
we view different religions as essentially instruments to develop a good
heart - love and respect for others, a true sense of community. The most
important thing is to look at the purpose of religion and not at the details
of theology or metaphysics, which can lead to mere intellectualism. I believe
that all the major religions of the world can contribute to world peace
and work together for the benefit of humanity if we put aside subtle metaphysical
differences, which are really the internal business of each religion.
Despite
the progressive secularization brought about by worldwide modernization
and despite systematic attempts in some parts of the world to destroy spiritual
values, the vast majority of humanity continues to believe in one religion
or another. The undying faith in religion, evident even under irreligious
political systems, clearly demonstrates the potency of religion as such.
This spiritual energy and power can be purposefully used to bring about
the spiritual conditions necessary for world peace. Religious leaders and
humanitarians all over the world have a special role to play in this respect.
Whether
we will be able to achieve world peace or not, we have no choice but to
work towards that goal. If our minds are dominated by anger, we will lose
the best part of human intelligence - wisdom, the ability to decide between
right and wrong. Anger is one of the most serious problems facing the world
today.
Individual
Power to Shape Institution
Anger
plays no small role in current conflicts such as those in the Middle East,
Southeast Asia, the North-South problem, and so forth. These conflicts
arise from a failure to understand one another's humanness. The answer
is not the development and use of greater military force, nor an arms race.
Nor is it purely political or purely technological. Basically it is spiritual,
in the sense that what is required is a sensitive understanding of our
common human situation. Hatred and fighting cannot bring happiness to anyone,
even to the winners of battles. Violence always produces misery and thus
is essentially counter-productive. It is, therefore, time for world leaders
to learn to transcend the differences of race, culture, and ideology and
to regard one another through eyes that see the common human situation.
To do so would benefit individuals, communities, nations, and the world
at large.
The
greater part of present world tension seems to stem from the 'Eastern bloc'
versus 'Western bloc' conflict that has been going on since World War II.
These two blocs tend to describe and view each other in a totally unfavourable
light. This continuing, unreasonable struggle is due to a lack of mutual
affection and respect for each other as fellow human beings. Those of the
Eastern bloc should reduce their hatred towards the Western bloc because
the Western bloc is also made up of human beings - men, women, and children.
Similarly those of the Western bloc should reduce their hatred towards
the Eastern bloc because the Eastern bloc is also human beings. In such
a reduction of mutual hatred, the leaders of both blocs have a powerful
role to play. But first and foremost, leaders must realize their own and
others' humanness. Without this basic realization, very little effective
reduction of organized hatred can be achieved.
If,
for example, the leader of the United States of America and the leader
of the Union of Soviet Socialist Republics suddenly met each other in the
middle of a desolate island, I am sure they would respond to each other
spontaneously as fellow human beings. But a wall of mutual suspicion and
misunderstanding separates them the moment they are identified as the 'President
of the USA' and the 'Secretary-General of the USSR'). More human contact
in the form of informal extended meetings, without any agenda, would improve
their mutual understanding; they would learn to relate to each other as
human beings and could then try to tackle international problems based
on this understanding. No two parties, especially those with a history
of antagonism, can negotiate fruitfully in an atmosphere of mutual suspicion
and hatred.
I suggest
that world leaders meet about once a year in a beautiful place without
any business, just to get to know each other as human beings. Then, later,
they could meet to discuss mutual and global problems. I am sure many others
share my wish that world leaders meet at the conference table in such an
atmosphere of mutual respect and understanding of each other's humanness.
To
improve person-to-person contact in the world at large, I would like to
see greater encouragement of international tourism. Also, mass media, particularly
in democratic societies, can make a considerable contribution to world
peace by giving greater coverage to human interest items that reflect the
ultimate oneness of humanity. With the rise of a few big powers in the
international arena, the humanitarian role of international organizations
is being bypassed and neglected. I hope that this will be corrected and
that all international organizations, especially the United Nations, will
be more active and effective in ensuring maximum benefit to humanity and
promoting international understanding. It will indeed be tragic if the
few powerful members continue to misuse world bodies like the UN for their
one-sided interests. The UN must become the instrument of world peace.
This world body must be respected by all, for the UN is the only source
of hope for small oppressed nations and hence for the planet as a whole.
As
all nations are economically dependent upon one another more than ever
before, human understanding must go beyond national boundaries and embrace
the international community at large. Indeed, unless we can create an atmosphere
of genuine cooperation, gained not by threatened or actual use of force
but by heartfelt understanding, world problems will only increase. If people
in poorer countries are denied the happiness they desire and deserve, they
will naturally be dissatisfied and pose problems for the rich. If unwanted
social, political, and cultural forms continue to be imposed upon unwilling
people, the attainment of world peace is doubtful. However, if we satisfy
people at a heart-to-heart level, peace will surely come.
Within
each nation, the individual ought to be given the right to happiness, and
among nations, there must be equal concern for the welfare of even the
smallest nations. I am not suggesting that one system is better than another
and all should adopt it. On the contrary, a variety of political systems
and ideologies is desirable and accords with the variety of dispositions
within the human community. This variety enhances the ceaseless human quest
for happiness. Thus each community should be free to evolve its own political
and socio-economic system, based on the principle of self-determination.
The
achievement of justice, harmony, and peace depends on many factors. We
should think about them in terms of human benefit in the long run rather
than the short term. I realize the enormity of the task before us, but
I see no other alternative than the one I am proposing - which is based
on our common humanity. Nations have no choice but to be concerned about
the welfare of others, not so much because of their belief in humanity,
but because it is in the mutual and long-term interest of all concerned.
An appreciation of this new reality is indicated by the emergence of regional
or continental economic organizations such as the European Economic Community,
the Association of South East Asian Nations, and so forth. I hope more
such trans-national organizations will be formed, particularly in regions
where economic development and regional stability seem in short supply.
Under
present conditions, there is definitely a growing need for human understanding
and a sense of universal responsibility. In order to achieve such ideas,
we must generate a good and kind heart, for without this, we can achieve
neither universal happiness nor lasting world peace. We cannot create peace
on paper. While advocating universal responsibility and universal brotherhood
and sisterhood, the facts are that humanity is organized in separate entities
in the form of national societies. Thus, in a realistic sense, I feel it
is these societies that must act as the building-blocks for world peace.
Attempts have been made in the past to create societies more just and equal.
Institutions have been established with noble charters to combat anti-social
forces. Unfortunately, such ideas have been cheated by selfishness. More
than ever before, we witness today how ethics and noble principles are
obscured by the shadow of self-interest, particularly in the political
sphere. There is a school of thought that warns us to refrain from politics
altogether, as politics has become synonymous with amorality. Politics
devoid of ethics does not further human welfare, and life without morality
reduces humans to the level of beasts. However, politics is not axiomatically
'dirty'. Rather, the instruments of our political culture have distorted
the high ideals and noble concepts meant to further human welfare. Naturally,
spiritual people express their concern about religious leaders 'messing'
with politics, since they fear the contamination of religion by dirty politics.
I question
the popular assumption that religion and ethics have no place in politics
and that religious persons should seclude themselves as hermits. Such a
view of religion is too one-sided; it lacks a proper perspective on the
individual's relation to society and the role of religion in our lives.
Ethics is as crucial to a politician as it is to a religious practitioner.
Dangerous consequences will follow when politicians and rulers forget moral
principles. Whether we believe in God or karma, ethics is the foundation
of every religion.
Such
human qualities as morality, compassion, decency, wisdom, and so forth
have been the foundations of all civilizations. These qualities must be
cultivated and sustained through systematic moral education in a conducive
social environment so that a more humane world may emerge. The qualities
required to create such a world must be inculcated right from the beginning,
from childhood. We cannot wait for the next generation to make this change;
the present generation must attempt a renewal of basic human values. If
there is any hope, it is in the future generations, but not unless we institute
major change on a worldwide scale in our present educational system. We
need a revolution in our commitment to and practice of universal humanitarian
values.
It
is not enough to make noisy calls to halt moral degeneration; we must do
something about it. Since present-day governments do not shoulder such
'religious' responsibilities, humanitarian and religious leaders must strengthen
the existing civic, social, cultural, educational, and religious organizations
to revive human and spiritual values. Where necessary, we must create new
organizations to achieve these goals. Only in so doing can we hope to create
a more stable basis for world peace.
Living
in society, we should share the sufferings of our fellow citizens and practise
compassion and tolerance not only towards our loved ones but also towards
our enemies. This is the test of our moral strength. We must set an example
by our own practice, for we cannot hope to convince others of the value
of religion by mere words. We must live up to the same high standards of
integrity and sacrifice that we ask of others. The ultimate purpose of
all religions is to serve and benefit humanity. This is why it is so important
that religion always be used to effect the happiness and peace of all beings
and not merely to convert others.
Still,
in religion there are no national boundaries. A religion can and should
be used by any people or person who finds it beneficial. What is important
for each seeker is to choose a religion that is most suitable to himself
or herself. But, the embracing of a particular religion does not mean the
rejection of another religion or one's own community. In fact, it is important
that those who embrace a religion should not cut themselves off from their
own society; they should continue to live within their own community and
in harmony with its members. By escaping from your own community, you cannot
benefit others, whereas benefiting others is actually the basic aim of
religion.
In
this regard there are two things important to keep in mind: self-examination
and self-correction. We should constantly check our attitude toward others,
examining ourselves carefully, and we should correct ourselves immediately
when we find we are in the wrong.
Finally,
a few words about material progress. I have heard a great deal of complaint
against material progress from Westerners, and yet, paradoxically, it has
been the very pride of the Western world. I see nothing wrong with material
progress per se, provided people are always given precedence. It is my
firm belief that in order to solve human problems in all their dimensions,
we must combine and harmonize economic development with spiritual growth.
However,
we must know its limitations. Although materialistic knowledge in the form
of science and technology has contributed enormously to human welfare,
it is not capable of creating lasting happiness. In America, for example,
where technological development is perhaps more advanced than in any other
country, there is still a great deal of mental suffering. This is because
materialistic knowledge can only provide a type of happiness that is dependent
upon physical conditions. It cannot provide happiness that springs from
inner development independent of external factors.
For
renewal of human values and attainment of lasting happiness, we need to
look to the common humanitarian heritage of all nations the world over.
May this essay serve as an urgent reminder lest we forget the human values
that unite us all as a single family on this planet.
I have
written the above lines
To
tell my constant feeling.
Whenever
I meet even a 'foreigner',
I
have always the same feeling:
'I
am meeting another member of the human family.,
This
attitude has deepened
My
affection and respect for all beings.
May
this natural wish be
My
small contribution to world peace.
I
pray for a more friendly,
More
caring, and more understanding
Human
family on this planet.
To
all who dislike suffering,
Who
cherish lasting happiness -
This
is my heartfelt appeal.
|
08-01-2008
12:34:55
|