Tiết
tháng bảy mưa dầm sùi sụt
Toát
hơi may lạnh ngắt sương khô
Não
người thay buổi chiều thu
4 Ngàn
lau khóm bạc lá ngô đồng vàng
Đường
bạch dương bóng chiều man mác
Ngọc
đường lê lác đác mưa sa
Lòng
nào lòng chẳng thiết tha
8 Cõi
dương còn thế nữa là cõi âm
Trong
trường dạ tối tăm trời đất
Xót
khôn thiêng phảng phất u minh
Thương
thay thập loại chúng sinh
12
Phách đơn hồn chiếc lênh đênh quê người
Hương
khói đã không nơi nương tựa
Phận
mồ côi lần lữa đêm đêm
Còn
chi ai khó ai hèn
16
Còn chi mà nói ai hiền ai ngu
Tiết
đầu thu dựng đàn giải thoát
Nước
tịnh bình tưới hạt dương chi
Muôn
nhờ Đức Phật từ bi
20
Giải oan cứu khổ hồn về Tây Phương
Nào
những kẻ tính đường kiêu hãnh
Chí
những chăm cướp gánh non sông
Nói
chi đương thuở thị hùng
24
Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau
Bỗng
phút đâu đá bay ngói lở
Khôn
đem mình làm đứa thất phu
Giàu
sang càng nặng oán thù
28
Máu tươi lai láng xương khô rã rời
Đoàn
vô tự lạc loài nheo nhóc
Quỉ
không đầu van khóc đêm mưa
Đã
hay thành bại là cơ
32
Mà u hồn biết bao giờ cho tan.
Nào
những kẻ màn lan trướng huệ
Những
cậy mình cung quế Hằng Nga
Một
phen thay đổi sơn hà
36
Mảnh thân chiếc lá biết là làm sao
Trên
lầu cao dưới dòng nước chảy
Phận
đã đành trâm gãy bình rơi
Khi
sao đông đúc vui cười
40
Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương
Thảm
thiết nhẽ không hương không khói
Hồn
ngẩn ngơ dòng suối ngàn sim
Thương
thay chân yếu tay mềm
44
Càng năm càng héo, càng đêm càng rầu.
Nào
những kẻ mũ cao áo rộng
Ngòi
bút son thác sống ở tay
Kinh
luân chất một túi đầy
48
Đêm đêm Quản, Cát, ngày ngày Y, Chu
Thịnh
mãn lắm oán thù càng lắm
Trăm
loại ma mồ nấm chung quanh
Nghìn
vàng khôn đổi được mình
52
Lầu ca viện xướng tan tành còn đâu
Kẻ
thân thích vắng sau vắng trước
Biết
lấy ai bát nước nén nhang
Cô
hồn thất thểu dọc ngang
56
Mang oan hồn nhẽ tìm đường hoá sinh
Nào
những kẻ bài binh bố trận
Đem
mình vào cướp ấn nguyên nhung
Gió
mưa sấm sét đùng đùng
60
Dãi thây trăm họ làm công một người
Khi
thất thế cung rơi đạn lạc
Bãi
sa trường thịt nát máu rơi
Bơ
vơ góc biển bên trời
64
Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao
Trời
thăm thẳm mưa gào gió thét
Khí
âm huyền mờ mịt trước sau
Ngàn
cây nội cỏ dàu dàu
68
Nào đâu điếu tế nào đâu chung thường.
Cũng
có kẻ tính đường trí phú
Làm
tội mình nhịn ngủ bớt ăn
Ruột
rà không kẻ chí thân
72
Dẫu làm nên nữa dành phần cho ai
Khi
nằm xuống không người nhắn nhủ
Của
phù vân dù có như không
Sống
thời tiền chảy bạc ròng
76
Thác không đem được một đồng nào đi
Khóc
ma mướn thương gì hàng xóm
Hòm
gỗ da bó đóm đưa đêm
Ngẩn
ngơ nội lộc đồng chiêm
80
Tàn hương giọt nước biết tìm vào đâu
Cũng
có kẻ rắp cầu chữ quý
Dấn
mình vào thành thị lân la
Mấy
thu lìa cửa lìa nhà
84
Văn chương đã chắc đâu mà trí thân
Dọc
hàng quán phải tuần mưa nắng
Vợ
con nào nuôi nấng khem kiêng
Vội
vàng liệm sấp chôn nghiêng
88
Anh em thiên hạ láng giềng người dưng
Bóng
phần tử xa chừng hương khúc
Bãi
tha ma kẻ dọc người ngang
Cô
hồn nhờ gởi tha phương
92
Gió trăng hiu hắt lửa hương lạnh lùng.
Cũng
có kẻ vào sông ra biển
Cánh
buồm mây chạy xé gió Đông
Gặp
cơn giống tố giữa dòng
96
Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê.
Cũng
có kẻ đi về buôn bán
Đòn
gánh tre chỉn rạn hai vai
Gặp
cơn mưa nắng giữa trời
100
Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao.
Cũng
có kẻ mắc vào khoá lính
Bỏ
cửa nhà gồng gánh việc quan
Nước
khe cơm vắt gian nan
104
Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời
Buổi
chiến trận mạng người như rác
Phận
đã đành đạn lạc tên rơi
Lập
loè ngọn lửa ma trơi
108
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.
Cũng
có kẻ lỡ làng một kiếp
Liều
tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa
Ngẩn
ngơ khi trở về già
112
Ai chồng con tá biết là cậy ai
Sống
đã chịu một đời phiền não
Thác
lại nhờ hớp cháo lá đa
Đau
đớn thay phận đàn bà
116
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu.
Cũng
có kẻ nằm cầu gối đất
Rõi
tháng ngày hành khất ngược xuôi
Thương
thay cùng một kiếp người
120
Sống nhờ hàng xứ chết vùi đường quan.
Cũng
có kẻ mắc đoàn tù rạc
Gởi
mình vào chiếu rách một manh
Nắm
xương chôn rấp góc thành
124
Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi.
Kià
những đứa tiểu nhi tấm bé
Lỗi
giờ sinh lìa mẹ lìa cha
Lấy
ai bồng bế xót xa
128
U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.
Kìa
những ai chìm sông lạc suối
Cũng
có người sẩy cội sa cây
Có
người gieo giếng thắt dây
132
Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành
Người
thì mắc sơn tinh thủy quái
Người
thì sa nanh sói ngà voi
Có
người hay đẻ không nuôi
136
Có người sa sẩy có người khốn thương.
Gặp
phải lúc cùng đường lỡ bước
Cầu
Nại hà kẻ trước người sau
Mỗi
người một nghiệp khác nhau
140
Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ
Hoặc
là ẩn ngang bờ dọc bụi
Hoặc
là nương ngọn suối chân mây
Hoặc
là điếm cỏ bóng cây
144
Hoặc là quán trọ cầu này bơ vơ
Hoặc
là nương thần từ Phật tự
Hoặc
là nhờ đầu chợ cuối sông
Hoặc
là trong quãng đồng không
148
Hoặc nơi gò đống hoặc vùng lau tre
Sống
đã chịu mọi bề thãm thiết
Ruột
héo khô dạ rét căm căm
Dãi
dầu trong bấy nhiêu năm
152
Thở than dưới đất ăn nằm trên sương
Nghe
gà gáy tìm đường lánh ẩn
Lặn
mặt trời lẩn thẩn tìm ra
Lôi
thôi bồng trẻ dắt già
156
Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.
Nhờ
phép Phật siêu sinh tịnh độ
Bóng
hào quang cứu khổ độ u
Rắp
hoà tứ hải quần chu
160
Não phiền trút sạch oán thù rửa không
Nhờ
đức Phật thần thông quảng đại
Chuyển
pháp luân tam giới thập phương
Nhởn
nhơ Tiếu Diện Đại Vương
164
Linh kỳ một lá dẫn đường độ sinh
Nhờ
Phật lực oai linh dũng mãnh
Trong
giấc mê khua tỉnh chiêm bao
Mười
loài là những loài nào
168
Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.
Kiếp
phù sinh như bào như ảnh
Có
chữ rằng: Vạn cảnh giai không
Ai
ơi lấy Phật làm lòng
172
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi
Đàn
chẩn tế vâng lời Phật giáo
Của
có chi bát cháo nén nhang
Gọi
là manh áo thoi vàng
176
Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên
Ai
đến đấy dưới trên ngồi lại
Của
làm duyên chớ ngại bao nhiêu
Phép
thiêng biến ít thành nhiều
180
Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sinh
Phật
từ bi hữu tình phổ độ
Chớ
ngại rằng có có không không
Nam
mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng
184
Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài.
Toàn
văn trích từ "Thế Giới Thi Ca Nguyễn Du"
của
Nguyễn Đăng Thục, Nxb Xuân Thu, California,
Hoa
kỳ, 1991.
Tiết
tháng bảy mưa dầm xùi xụt
Lọt
hơi sương lạnh buốt xương khô
Não
người thay bấy chiều thu
Ngàn
lau khảm bạc, giếng ngô rụng vàng
Đường
bạch dương bóng chiều man mác
Ngọn
đường lê lác đác mưa sa
Lòng
nào lòng chẳng thiết tha
Cõi
dương còn thế, nữa là cõi âm
Trong
trường dạ tối tăm trời đất
Xót
khôn thiêng phảng phất u minh
Thương
thay Thập loại chúng sinh
Phách
đơn hồn chiếc lênh đênh quê người
Hương
khói đã không nơi nương tựa
Phận
bồ côi lần lữa đêm đen
Còn
chi ai khá ai hèn
Còn
chi mà nói ai hiền ai ngu
Tiết
đầu thu, dựng đàn giải thoát
Nước
tĩnh bình rưới hắt dương chi
Muôn
nhờ Phật lực từ bi
Giải
oan cứu khổ, hồn về Tây phương
Nào
những kẻ tính đường kiểu hạnh
Chí
những lăm cướp gánh non sông
Nói
chi đang thủa thị hùng
Tưởng
khi thế khuất vận cùng mà đau
Bổng
phút đâu tro bay ngói giỡ
Khôn
đem mình làm kẻ thất phu
Cả
giàu sang, nặng oán thù
Máu
tươi lai láng, xương khô rã rời
Đoàn
vô tự lạc loài nheo nhóc
Quỉ
không đầu van khóc đêm mưa
Đã
hay thành bại là cơ
Mà
u hồn biết bao giờ cho tan
Nào
những kẻ màn lan trướng huệ
Những
cậy mình cung Quế Hằng Nga
Một
phen thay đổi sơn hà
Tấm
thân mảnh lá biết là làm sao
Lên
lầu cao, xuống dòng nước chảy
Phận
đã đành trâm gãy bình rơi
Khi
sao đông đúc vui cười
Mà
khi nhắm mắt không người nhặt xương
Thảm
thiết nhẽ không hương không khói
Hồn
vẩn vơ bãi cói ngàn sim
Thương
thay chân yếu tay mềm
Càng
năm càng héo, càng đêm càng dàu
Nào
những kẻ mão cao áo rộng
Ngòi
bút son thác sống ở tay
Kinh
luân chất một xải đầy
Đã
đêm Quản Cát, lại ngày Y Chu
Thịnh
mãn lắm, oán thù càng lắm
Trăm
loài ma xắm nắm chung quanh
Nghìn
vàng khôn chuộc được mình
Lầu
ca viện xướng tan tành còn đâu
Kẻ
thân thích vắng sau vắng trước
Biết
lấy ai bát nước nén hương
Cô
hồn thất thưởng dọc ngang
Nặng
oan, khôn lẽ tìm đường hóa sinh
Nào
những kẻ bài binh bố trận
Vâng
mệnh sai lĩnh ấn nguyên nhung
Gió
mưa thét rống đùng đùng
Phơi
thây trăm họ làm công một người
Khi
thất thế cung rơi tên lạc
Bãi
sa trường thịt nát máu trôi
Bơ
vơ góc bể chân trời
Bó
thân da ngựa biết vùi vào đâu
Trời
xâm xẩm mưa gào gió thét
Khí
âm ngưng mù mịt trước sau
Năm
năm sương nắng dãi dầu
Còn
đâu tế tự, còn đâu chưng thường
Cũng
có kẻ tính đường trí phú
Làm
tội mình nhịn ngủ bớt ăn
Ruột
rà không kẻ chí thân
Dẫu
làm nên nữa, dành phần cho ai
Khi
nằm xuống không người nhắn nhủ
Của
phù vân dẫu có như không
Tuy
rằng bạc chảy tiền dòng
Khi
đi mang được một đồng nào đi
Khóc
ma mướn thương gì hàng xóm
Hòm
gỗ đa, bó đóm đưa đêm
Thẩn
thơ nội rộc đồng chiêm
Tàn
hương dọt nước biết tìm vào đâu
Cũng
có kẻ muốn cầu chữ quí
Giấn
thân vào thành thị bôn ba
Mấy
thu lìa cửa lìa nhà
Văn
chương đã chắc đâu mà trí thân
Dọc
hàng quán phải tuần mưa nắng
Vợ
con nào nuôi nấng khem kiêng
Vội
vàng liệm sấp chôn nghiêng
Anh
em : thiên hạ, láng giềng : người dưng
Bóng
tang tử xa chừng hương khúc
Bãi
sa ma kẻ dọc người ngang
Cô
hồn nhờ gửi tha hương
Gió
trăng heo hắt, khói sương lạnh lùng
Lại
có kẻ vào sông ra bể
Cánh
bườm dơi chạy xế gió đông
Gập
cơn giông tố giữa dòng
Đem
thân vùi rập vào lòng kình nghê
Lại
có kẻ đi về buôn bán
Đòn
gánh tre chèn dắn hai vai
Gập
cơn mưa gió, khí trời
Hồn
đường sá, biết lạc loài vào đâu
Lại
có kẻ mắc vào ngũ lính
Bỏ
cửa nhà đi gánh việc quan
Nước
bầu cơm ống gian nan
Dãi
dầu muôn dậm, lầm than một đời
Trong
chiến trận xem người như rác
Thân
đã đành đạn lạc tên rơi
Lập
lòe ngọn lửa ma trơi
Tiếng
oan văng vẳng, tối trời càng thương
Lại
có kẻ lỡ làng một tiết
Liều
tuổi xanh bán nguyệt buôn hoa
Ngẩn
ngơ khi trở về già
Ai
chồng con nấy, biết là cậy ai
Sống
đã chịu một đời phiền não
Thác
lại nhờ hớp cháo lá đa
Đau
đớn thay phận đàn bà
Kiếp
sinh ra thế, biết là tại đâu
Lại
có kẻ nằm cầu gối đất
Dõi
những ngày hành khất ngược xuôi
Thương
thay cũng một kiếp người
Sống
nhờ hàng xứ, thác vùi đường quan
Lại
có kẻ mắc oan tù rạc
Gửi
thân vào chiếu lác một manh
Gói
xương chôn rấp góc thành
Kiếp
nào cởi được oan tình ấy đi
Lại
như đứa tiểu nhi tấm bé
Lỗi
giờ sinh, lìa mẹ lìa cha
Lấy
ai bồng bế vào ra
Ư
ư tiếng khóc xót xa nỗi lòng
Cũng
có kẻ đắm sông chìm suối
Cũng
có người sẩy cũi ngã cây
Có
người leo giếng đứt giây
Người
trôi nước lụt, người lây cháy thành
Người
thì mắc sơn tinh thủy quái
Người
thì lâm răng khái ngà voi
Có
người có đẻ không nuôi
Có
người sinh sẩy, mệnh người gian nguy
Mắc
phải lúc đường đi lỡ bước
Cầu
Nại Hà kẻ trước người sau
Một
người một nghiệp khác nhau
Hồn
xiêu phách lạc biết đâu bây giờ
Hoặc
là ẩn dọc bờ dọc bụi
Hoặc
là nương ngọn suối chân mây
Hoặc
là bãi cỏ lùm cây
Hoặc
là cầu nọ quán nầy bơ vơ
Hoặc
là tựa thần từ Phật tự
Hoặc
là quanh đầu chợ cuối sông
Hoặc
là thơ thẩn đồng không
Hoặc
nơi gò đống, hoặc vùng lau tre
Mấy
thu chịu nhiều bề thảm thiết
Dạ
héo khô, gió rét căm căm
Dãi
dầu biết mấy trăm năm
Khóc
than dưới đất, ăn nằm trong sương
Nghe
gà gáy, tìm đường lánh ẩn
Tắt
mặt trời, lẩn thẩn tìm ra
Lôi
thôi ẵm trẻ giắt già
Có
khôn thiêng hỡi, lại mà chứng minh
Nhờ
Phật lực siêu sinh Tịnh độ
Phóng
hào quang cứu khổ độ u
Khắp
trong tứ đại bộ chu
Não
phiền thoát sạch, oán thù rửa xong
Đạo
Vô thượng thần thông quảng đại
Chuyển
pháp luân tam giái thập phương
Nhơn
nhơn Tiêu Diện quỉ vương
Linh
kỳ một lá dẫn đường độ sinh
Nhờ
Phật lực uy linh dũng mãnh
Trong
giấc mê, phút tỉnh chiêm bao
Mười
loài là những loài nào
Gái
trai già trẻ cũng vào nghe kinh
Kiếp
phù sinh như hình bào ảnh
Có
câu rằng : Vạn cảnh giai không
Ai
ai lấy Phật làm lòng
Tự
nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi
Đàn
chẩn tế theo lời Phật giáo
Vật
có gì, lưng cháo nén hương
Gọi
là manh áo thoi vàng
Giúp
cho làm của ăn đàng siêu thiên
Ai
tới đó, dưới trên ngồi lại
Lấy
chút lòng, chớ ngại bao nhiêu
Phép
thiên biến ít ra nhiều
Trên
nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh
Phật
hữu tình từ bi tế độ
Chớ
ngại rằng có có chăng chăng
Nam
Mô Phật, Nam Mô Pháp, Nam Mô Tăng
Nam
Mô nhất thiết siêu thăng thượng đài
Bản
viết theo hiệu đính của giáo sư Hoàng Xuân Hãn:
02-03-2003
12:23:13
VĂN TẾ THẬP
LOẠI CHÚNG SINH CỦA NGUYỄN DU
Nguyễn
Ước
Trong
đời người, Nguyễn Du đã sống bíết bao nhiêu cảnh đổi
thay. Trải qua một cuộc biển dâu, những điều trông thấy
mà đau đớn lòng.
Con
người đi qua quán gió cuộc đời, dù bằng chỉ một đời
hay nhiều kiếp, đều đang trong cuộc hành hương về cội
nguồn mình. Con người quay cuồng giữa cuộc trần gian, với
đam mê, êu thương, hạnh phúc, đau khổ...tích cực hoặc buông
xuôi, đều loay hoay trong vòng định mệnh bủa vây: bậc thánh
trí hoặc kẻ tội đồ, quân tử hay tiểu nhân, người đọc
sách hoặc kẻ thương buôn, khuê phụ hay kỹ nữ... Mỗi người
là một trong ức triệu sinh linh trên sân khấu cõi tạm đang
diễn vở kịch vô thường mà Gandhi gọi là "ảo hoá, ảo
hoá và tột cùng ảo hoá." Người suốt đời chạy theo giấc
mộng lớn, giấc mộng con. Kẻ bị cuộc đời săn đuổi tới
độ không có một ngày đêm yên ổn. Bao nhiêu triều đại
sụp đổ, chí anh hùng mòn mỏi, nhan sắc tàn phai, dinh thự
điêu tàn, cơ nghiệp tan nát... Những cái ta nghĩ là của mình,
mắt trông tay nắm, hoá ra chỉ là hư ảnh, là đồ tạm gởi
của cuộc đời. Những điều ta cho là xa vời, không tưởng,
rốt cuộc là những giá trị đích thực của đời người.
Ba
mươi năm (1772-1802) trong 56 năm tại thế của Nguyễn Du (1765-1820)
là cả một thời đại đảo lộn khốc liệt với những biến
ảo tột cùng, còn cay nghiệt hơn cả giai đoạn lịch sử
chúng ta vừa trải qua (1945-1975).
Ngay
từ những ngày Nguyễn Du còn bé, đã không còn cảnh "bốn
phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng." Loạn Kiêu binh (1772),
sự ngang ngược của cơ bắp cậy thế quyền bính sa đọa,
giữa chốn đế đô văn vật, là dấu chỉ những biến đổi
nghịch thường trong một giai đoạn lịch sử mới. Năm 1774,
quân Trịnh vào Đàng Trong lấy kinh thành Phú Xuân tưởng thu
được giang sơn vào một mối, nào ngờ Tây Sơn đã bắt đầu
dấy binh. Nguyễn Ánh xưng vương ở miền Nam năm 1780, cầu
viện quân Xiêm về để khôi phục cơ đồ thì bị Nguyễn
Huệ đánh tan tành (1785). Qua năm sau, đại quân Bắc Bình Vương
Nguyễn Huệ với danh nghĩa phù Lê kéo ra Đàng Ngoài, vào kinh
đô Thăng Long, dứt họ Trịnh. Nhà Lê có thêm cơ hội trung
hưng nhưng đến năm 1788, vì muốn bảo vệ ngai vàng, đã tạo
cơ hội cho 20 vạn quân Thanh xâm lược. Quang Trung Nguyễn Huệ
lại kéo quân ra Bắc bất thần đánh cho quân Thanh đạp nhau
chạy thây phơi nghẽn nước sông Hồng. Triều đại Tây Sơn
chưa mở đầu được thời oai linh thịnh trị, đã tự làm
mình suy kiệt vì huynh đệ bất ổn. Ai đoán được đại
đế Quang Trung chỉ làm vua có bốn năm ngắn ngủi. Từ năm
1788, Nguyễn Ánh đã chiếm Gia định, và cái chết của Nguyễn
Huệ (1792) là thời cơ cho Nguyễn Ánh đẩy mạnh cuộc trường
chinh để thống nhất đất nước vào năm 1802. Đoạn cuối
của thời phân liệt làm ta nhớ tới câu ca của đôi bạn
ngư tiều trong bài ca mở đầu cuốn Tam Quốc Chí của La Quán
Trung: "thịnh suy thành bại tổng thành không."
Ba
mươi năm với lớp lớp sóng hưng phế rộn ràng. Cũng như
giai đoạn lịch sử khốc liệt mà dân tộc ta vừa trãi qua
và nay đang nhận lãnh đủ thứ hậu quả. Đằng sau những
biến cố chính trị và quân sự là những đổ nát, tan vỡ,
chia ly và thù hận. Người chết dật dờ với đủ thứ oan
khiên mà công chiến trận được tán dương hay lăng mạ tùy
phe phái. Bao lớp lương dân cùng khổ nín lặng ngậm hờn
sống lây lất, chết tức tưởi.
Bản
thân Nguyễn Du cũng bị quay cuồng trong cơn gió bụi ba mươi
name đó. Nhà cửa tan nát. Anh em đối lập nhau. Từ những
đau khổ của chính mình, với cảm quan thi nhân, ông phóng
chiếu vào cuộc đời, nhận ra những khổ đau, ly tán, hận
thù trong lòng người và sinh mệnh dân tộc.
Trong
Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, Nguyễn Du trình bày những nỗi
oan nghiệt bởi dục vọng, vô minh, hoặc oan khiên do ngoại
cảnh trói buộc, khiến con người sống mê lầm, chết u uất.
Chữ Thập Loại được dùng chỉ với tính cách tượng trưng.
Nguyễn Du đề cập đến hơn mười bốn loại chúng sinh: -
(1) anh hùng, lãnh tụ - (2) phụ nữ khuê môn - (3) bậc công
khanh - (4) tướng lãnh - (5) kẻ làm giàu - (6) nho sinh, sĩ tử
- (7) thủy thủ - (8) thương buôn - (9) người mắc khoá lính
- (10) gái giang hồ - (11) kẻ hành khất - (12) tù nhân - (13)
hài nhi yểu tử (14) các vong hồn chết bất đắc kỳ tử...
Văn
Tế Thập Loại Chúng Sinh không hẳn chỉ là một bài văn tế
cầu cho người quá vãng được siêu sinh tịnh độ mà còn
là những lời lẽ Nguyễn Du nói với người sống. Mô tả
một cách thiết tha, cặn kẽ và đầy chia xẻ những mê lầm,
oan khiên, oan nghiệt của người chết trong một bài văn chiêu
hồn cũng là một cách soi chiếu vào những mê lầm, oan khiên,
oan nghiệt đang đè nặng người sống để người sống nhìn
rõ mặt nhau, lắng nghe nhau nói, và cởi bỏ dục vọng, thành
kiến, và cả hận thù, yếu đuối... Từ đó, người sống
tiếp được mạch nối với người chết, tạo được giao
hoà giữa người sống với nhau để cùng nắm tay nhau phục
hồi và nuôi dưỡng dòng sống của con người và dân tộc.
Để
xây dựng, con người cần cảm thông. Để có thái bình, con
người phải sống lương thiện, trọng công chính. Và điều
cốt tủy là: xuyên lịch sử và thời gian, mỗi người là
một cái riêng hội nhập thành cái chung trong giòng vận hành
tiến hoá trên Con Đường Đạo -- vì như Nguyễn Du hằng tin
tưởng "thác là thể phách còn là tinh anh." Con người hợp
nhất với nhau, với thiên nhiên và vũ trụ từ vô thủy tới
vô chung. Mọi sinh linh, gồm cả cỏ cây hoa lá, vừa ươm mầm
hoặc đã tàn lụi, đã qua đi hay còn ở lại, chim trời cá
biển và con người đang nhìn chim ngắm cá, đều là thành-phần-của-nhau,
đều có những nhiệm vụ và ảnh hưởng hổ tương, quần
tụ và thúc đẩy nhau, cùng nhau tiến bước trên con đường
trở về cội nguồn bất diệt.
Với
tinh thần đạo học và trong tình cảnh còn nhiều chia lià,
hận thù và đau khổ trong lòng người và đất nước, giữa
một thế giới chập chờn điên đảo, xin mời bạn đọc
đi vào thiên tuyệt bút Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh.
Toàn
Văn
Tiết
tháng bảy mưa dầm sùi sụt
Toát
hơi may lạnh ngắt sương khô
Não
người thay buổi chiều thu
4 Ngàn
lau khóm bạc lá ngô đồng vàng
Đường
bạch dương bóng chiều man mác
Ngọc
đường lê lác đác mưa sa
Lòng
nào lòng chẳng thiết tha
8 Cõi
dương còn thế nữa là cõi âm
Trong
trường dạ tối tăm trời đất
Xót
khôn thiêng phảng phất u minh
Thương
thay thập loại chúng sinh
12
Phách đơn hồn chiếc lênh đênh quê người
Hương
khói đã không nơi nương tựa
Phận
mồ côi lần lữa đêm đêm
Còn
chi ai khó ai hèn
16
Còn chi mà nói ai hiền ai ngu
Tiết
đầu thu dựng đàn giải thoát
Nước
tịnh bình tưới hạt dương chi
Muôn
nhờ Đức Phật từ bi
20
Giải oan cứu khổ hồn về Tây Phương
Nào
những kẻ tính đường kiêu hãnh
Chí
những chăm cướp gánh non sông
Nói
chi đương thuở thị hùng
24
Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau
Bỗng
phút đâu đá bay ngói lở
Khôn
đem mình làm đứa thất phu
Giàu
sang càng nặng oán thù
28
Máu tươi lai láng xương khô rã rời
Đoàn
vô tự lạc loài nheo nhóc
Quỉ
không đầu van khóc đêm mưa
Đã
hay thành bại là cơ
32
Mà u hồn biết bao giờ cho tan.
Nào
những kẻ màn lan trướng huệ
Những
cậy mình cung quế Hằng Nga
Một
phen thay đổi sơn hà
36
Mảnh thân chiếc lá biết là làm sao
Trên
lầu cao dưới dòng nước chảy
Phận
đã đành trâm gãy bình rơi
Khi
sao đông đúc vui cười
40
Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương
Thảm
thiết nhẽ không hương không khói
Hồn
ngẩn ngơ dòng suối ngàn sim
Thương
thay chân yếu tay mềm
44
Càng năm càng héo, càng đêm càng rầu.
Nào
những kẻ mũ cao áo rộng
Ngòi
bút son thác sống ở tay
Kinh
luân chất một túi đầy
48
Đêm đêm Quản, Cát, ngày ngày Y, Chu
Thịnh
mãn lắm oán thù càng lắm
Trăm
loại ma mồ nấm chung quanh
Nghìn
vàng khôn đổi được mình
52
Lầu ca viện xướng tan tành còn đâu
Kẻ
thân thích vắng sau vắng trước
Biết
lấy ai bát nước nén nhang
Cô
hồn thất thểu dọc ngang
56
Mang oan hồn nhẽ tìm đường hoá sinh
Nào
những kẻ bài binh bố trận
Đem
mình vào cướp ấn nguyên nhung
Gió
mưa sấm sét đùng đùng
60
Dãi thây trăm họ làm công một người
Khi
thất thế cung rơi đạn lạc
Bãi
sa trường thịt nát máu rơi
Bơ
vơ góc biển bên trời
64
Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao
Trời
thăm thẳm mưa gào gió thét
Khí
âm huyền mờ mịt trước sau
Ngàn
cây nội cỏ dàu dàu
68
Nào đâu điếu tế nào đâu chung thường.
Cũng
có kẻ tính đường trí phú
Làm
tội mình nhịn ngủ bớt ăn
Ruột
rà không kẻ chí thân
72
Dẫu làm nên nữa dành phần cho ai
Khi
nằm xuống không người nhắn nhủ
Của
phù vân dù có như không
Sống
thời tiền chảy bạc ròng
76
Thác không đem được một đồng nào đi
Khóc
ma mướn thương gì hàng xóm
Hòm
gỗ da bó đóm đưa đêm
Ngẩn
ngơ nội lộc đồng chiêm
80
Tàn hương giọt nước biết tìm vào đâu
Cũng
có kẻ rắp cầu chữ quý
Dấn
mình vào thành thị lân la
Mấy
thu lìa cửa lìa nhà
84
Văn chương đã chắc đâu mà trí thân
Dọc
hàng quán phải tuần mưa nắng
Vợ
con nào nuôi nấng khem kiêng
Vội
vàng liệm sấp chôn nghiêng
88
Anh em thiên hạ láng giềng người dưng
Bóng
phần tử xa chừng hương khúc
Bãi
tha ma kẻ dọc người ngang
Cô
hồn nhờ gởi tha phương
92
Gió trăng hiu hắt lửa hương lạnh lùng.
Cũng
có kẻ vào sông ra biển
Cánh
buồm mây chạy xé gió Đông
Gặp
cơn giống tố giữa dòng
96
Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê.
Cũng
có kẻ đi về buôn bán
Đòn
gánh tre chỉn rạn hai vai
Gặp
cơn mưa nắng giữa trời
100
Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao.
Cũng
có kẻ mắc vào khoá lính
Bỏ
cửa nhà gồng gánh việc quan
Nước
khe cơm vắt gian nan
104
Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời
Buổi
chiến trận mạng người như rác
Phận
đã đành đạn lạc tên rơi
Lập
loè ngọn lửa ma trơi
108
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.
Cũng
có kẻ lỡ làng một kiếp
Liều
tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa
Ngẩn
ngơ khi trở về già
112
Ai chồng con tá biết là cậy ai
Sống
đã chịu một đời phiền não
Thác
lại nhờ hớp cháo lá đa
Đau
đớn thay phận đàn bà
116
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu.
Cũng
có kẻ nằm cầu gối đất
Rõi
tháng ngày hành khất ngược xuôi
Thương
thay cùng một kiếp người
120
Sống nhờ hàng xứ chết vùi đường quan.
Cũng
có kẻ mắc đoàn tù rạc
Gởi
mình vào chiếu rách một manh
Nắm
xương chôn rấp góc thành
124
Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi.
Kià
những đứa tiểu nhi tấm bé
Lỗi
giờ sinh lìa mẹ lìa cha
Lấy
ai bồng bế xót xa
128
U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.
Kìa
những ai chìm sông lạc suối
Cũng
có người sẩy cội sa cây
Có
người gieo giếng thắt dây
132
Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành
Người
thì mắc sơn tinh thủy quái
Người
thì sa nanh sói ngà voi
Có
người hay đẻ không nuôi
136
Có người sa sẩy có người khốn thương.
Gặp
phải lúc cùng đường lỡ bước
Cầu
Nại hà kẻ trước người sau
Mỗi
người một nghiệp khác nhau
140
Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ
Hoặc
là ẩn ngang bờ dọc bụi
Hoặc
là nương ngọn suối chân mây
Hoặc
là điếm cỏ bóng cây
144
Hoặc là quán trọ cầu này bơ vơ
Hoặc
là nương thần từ Phật tự
Hoặc
là nhờ đầu chợ cuối sông
Hoặc
là trong quãng đồng không
148
Hoặc nơi gò đống hoặc vùng lau tre
Sống
đã chịu mọi bề thãm thiết
Ruột
héo khô dạ rét căm căm
Dãi
dầu trong bấy nhiêu năm
152
Thở than dưới đất ăn nằm trên sương
Nghe
gà gáy tìm đường lánh ẩn
Lặn
mặt trời lẩn thẩn tìm ra
Lôi
thôi bồng trẻ dắt già
156
Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.
Nhờ
phép Phật siêu sinh tịnh độ
Bóng
hào quang cứu khổ độ u
Rắp
hoà tứ hải quần chu
160
Não phiền trút sạch oán thù rửa không
Nhờ
đức Phật thần thông quảng đại
Chuyển
pháp luân tam giới thập phương
Nhởn
nhơ Tiếu Diện Đại Vương
164
Linh kỳ một lá dẫn đường độ sinh
Nhờ
Phật lực oai linh dũng mãnh
Trong
giấc mê khua tỉnh chiêm bao
Mười
loài là những loài nào
168
Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.
Kiếp
phù sinh như bào như ảnh
Có
chữ rằng: Vạn cảnh giai không
Ai
ơi lấy Phật làm lòng
172
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi
Đàn
chẩn tế vâng lời Phật giáo
Của
có chi bát cháo nén nhang
Gọi
là manh áo thoi vàng
176
Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên
Ai
đến đấy dưới trên ngồi lại
Của
làm duyên chớ ngại bao nhiêu
Phép
thiêng biến ít thành nhiều
180
Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sinh
Phật
từ bi hữu tình phổ độ
Chớ
ngại rằng có có không không
Nam
mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng
184
Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài.
Toàn
văn trích từ "Thế Giới Thi Ca Nguyễn Du"
của
Nguyễn Đăng Thục, Nxb Xuân Thu, California,
Hoa
kỳ, 1991.
CHÚ
THÍCH
Quản:
Quản Trọng, tể tướng, giúp Tề Hoàn Công dựng nghiệp bá
thời Xuân Thu.
Cát:
Gia Cát Lượng, thừa tướng của Lưu Bị thời Tam Quốc.
Y:
Y Doãn, danh thần nhà Chu.
Chu:
Chu Công Đán, con Văn Vương, em Võ Vương. Ông là một trung
thần, còn chế ra lễ nhạc và những qui cách về quan hôn
tang tế.
Nại
hà: tên một con sông đầy máu và mùi tanh hôi ở địa phủ.
Theo thuyết nhà Phật, con người sau khi chết hồn vất vưởng
đi qua cầu nại hà. Bờ bên kia có hai lối rẽ: một dành
cho người ác về địa ngục chịu cực hình, một dành cho
người thiện đi đầu thai hoá kiếp.
Tiếu
Diện Đại Vương: tức Địa Tạng Vương Bồ Tát. Tên của
một vị Bồ Tát hiện thân ở giữa khoảng người, trời
và địa ngục để cứu giúp chúng sanh. Thường được người
đời cầu nguyện để mong cho vong linh người chết được
tiêu trừ tội ác gây ra lúc còn sống.
Bào
ảnh: bọt nước và cái bóng. Lấy ý từ kinh Kim Cương: Tất
cả mọi việc trên đời như giấc chiêm bao, như giọt nước,
như cái bóng.
Vạn
Cảnh Giai Không: mọi sự mọi vật trên đời đều là không.
Lấy ý từ kinh Bát Nhã: Sắc tức thị không, Không tức thị
sắc.
Tôn
Giả: Đấng được thế gian tôn kính, có thể hiểu riêng
ở đây là Phật Như Lai, Đức Thế Tôn.
Trở
Về Mục Lục "Nguyễn Du Và Phật Giáo".
