Lời
nhập:
Triển
khai Ý niệm đoàn viên nằm trong đoạn thơ từ câu 2967 đến
câu 3254 trong Truyện Kiều [1] , ngoài ý hướng „đọc lại“
những vần thơ đẹp trong ánh dương quang „ngày xuân con én
đưa thoi“, với nỗi đồng cảm „chữ tâm kia mới bằng
ba chữ tài“ về một mùa xuân nối tiếp mùa đông mà „đoàn
viên“ là ý niệm của sự nối tiếp ấy, bài viết thử
tìm lại ý nghĩa đích thực của đoạn văn này giữa mê hồn
trận những quan điểm khác nhau về nó, cũng như tìm cách
lý giải tư tưởng có tính Phật giáo then chốt của Nguyễn
Du [2] trong „ý niệm đoàn viên“ như là ý niệm nhân quả
toàn vẹn, là cánh cửa mở ra Niết bàn trong hiện tại, qua
đó cho thấy trong thời đại của ông, Nguyễn Du là người
đã thâm hiểu và cảm nhận đạo Phật trầm diệu và uyên
bác đến nỗi triết lý đạo Phật dưới ngòi bút sáng tạo
của ông trở nên dòng tư tưởng Việt Nam tuôn chảy linh hoạt
và sống động mãi đến ngày hôm nay.
1. Bố cục
Truyện Kiều với đoạn đoàn viên
1.1.
Sơ lược khái niệm đoàn viên
„Ðoàn
viên“ hay đoàn tụ của những người con ly tán trong đại
gia đình, tái hợp hai nhân vật chính trong câu chuyện vì hoàn
cảnh éo le phải xa nhau, cuộc trở về của người con lưu
lạc giang hồ, hình ảnh „một nhà sum họp trúc mai“ là
một khái niệm không xa lạ trong văn học cổ điển phương
Đông nói chung và Việt Nam nói riêng. Trên phương diện hình
thức cũng như tư tưởng, khái niệm này đã là một yếu
tố chủ yếu trong việc xây dựng cốt truyện cho một tác
phẩm trên nhiều lãnh vực: thơ văn, tiểu thuyết, truyện
cổ tích, dã sử v.v... Nhị Độ Mai, Lục Vân Tiên, Hoa Tiên,
Tấm Cám, Phạm Công Cúc Hoa, Trạng Cóc và Truyện Kiều có
thể nói là những tác phẩm tiêu biểu.
Khái
niệm „Ðoàn viên“ có thực trong đời hay chỉ trong tiểu
thuyết trở nên một ý niệm lý tưởng gấp đôi về sự
„toàn hảo“ trong tác phẩm: đối với người sáng tác và
đối với độc giả trong tương quan hỗ tương. Ðối với
người sáng tác, „sự trở về trong chung cuộc“ bao hàm
tư tưởng triết lý về cuộc đời „khổ tận - cam lai“,
„sau cơn mưa trời lại sáng“, cần phải được làm tỏ
rõ trong câu chuyện được kể ra. Nó trở nên thủ thuật
„điểm nhãn“ viễn tượng lạc quan của câu chuyện, nó
chuyên chở linh hồn cho toàn câu chuyện. Ðối với người
đọc, „đoàn viên“ là ước mơ trở thành hiện thực của
con người trong giới hạn hiện sinh của nó. Những câu chuyện
„đoàn viên“ có thể làm cho số „độc giả mềm“ muốn
tìm những thí dụ điển hình đem lại ý nghĩa cho cuộc sống,
ý nghĩa lạc quan trong hiện thực bi quan, muốn tìm cái toàn
thể trong phân lìa, một kết cuộc „có hậu“ có tính cách
vượt lên trên mọi giới hạn giam hãm con người trong khát
vọng giải phóng.
Ý
niệm „đoàn viên“ mang nặng nhân sinh quan cũng như thế
giới quan của thời đại trong đó độc giả và tác giả
đang sống.
Truyện
Kiều của Nguyễn Du nằm trong truyền thống sáng tác „có
hậu“ của văn học Việt Nam, mang dấu ấn của những tư
tưởng đương thời cũng như tư duy của tác giả. Nhưng một
trong những điều làm cho Nguyễn Du vượt thời đại trong
tác phẩm của ông – liên hệ đến ý niệm đoàn viên –
là ông không „lặp lại“ hay phản ảnh tư duy đương thời
một cách thụ động, ngược lại những ý niệm tưởng như
đã được mài nhẵn trong văn học lại trở nên những nét
độc sáng bất ngờ dưới ngòi bút sáng tạo và cảm thức
nhạy bén của nhà thơ. Ý niệm „đoàn viên“ đã được
nhà thơ đãi lọc những lá úa của truyền thống tư duy phương
Đông mang nặng ảnh hưởng Nho giáo, để trở thành một „vườn
xuân“ tươi mát, điển hình của tinh thần phương Đông với
đạo tâm hòa bình và hòa hợp.
Tư
tưởng nền tảng trong Truyện Kiều, nhất là lý thuyết Phật
giáo, đã được Nguyễn Du đưa vào tác phẩm một cách thần
tình và linh hoạt đến nỗi người đọc không bao giờ có
cảm tưởng đối diện với một người đang gay go triết
lý. Lý luận triết học đã được thi hóa và tâm cảm hoá
bằng những vần thơ tuyệt hảo đượm vị „đạo trong đời
đời trong đạo“ lưu lại trên đầu lưỡi của người đọc
và âm vang mãi đến đời sau, trở nên „tâm ngữ“ về hiện
sinh của con người. Chính nền tảng này – và cũng là ý
hướng lý giải của bài viết – đã đem lại sắc thái mới
trong tác phẩm của nhà thơ.
Nhưng
cho đến nay, trong lúc văn chương của Truyện Kiều đã được
đánh giá là „áng văn chương kiệt tác“ vượt hẳn cốt
chuyện tầm thường của Thanh Tâm tài nhân [3] qua ngọn bút
tài tình của Nguyễn Du [4] và tư tưởng trong Truyện Kiều
thường được xem là sự dung hợp thành công ba yếu tố Nho
(thuyết tài mệnh tương đố) - Phật (Lý thuyết nhân quả,
nghiệp báo và quan niệm về chữ TÂM) – Lão (tư tưởng huyền
bí) [5] , một số nhà phê bình cho rằng „giá trị tuyệt
đối Truyện Kiều là ở văn chương, ở kỹ thuật miêu tả,
tự sự và diễn đạt tình cảm của tác giả“, còn tư tưởng
triết học tôn giáo „giá trị cũng tầm thường và chứng
minh cũng chưa đúng xác“ [6] , hoặc hơn thế nữa tư tưởng
triết học này có nhiều „hạn chế“ [7] như Nguyễn Khánh
Toàn nhận xét:
Truyện
Kiều là một cuốn tiểu thuyết bằng thơ rất sâu sắc, tinh
vi, với tất cả tình tiết của một pho tiểu thuyết, bố
cục rất chặt chẽ, nhưng vẫn bảo đảm tính thơ tuyệt
diệu… Nói rằng Nguyễn Du là một nhà thơ dân tộc vĩ đại,
Truyện Kiều là một tác phẩm văn nghệ thiên tài, chúng ta
cũng phải thấy những chỗ bị hạn chế, những mâu thuẫn
và bế tắc của Nguyễn Du… Những hạn chế của Nguyễn
Du trước hết là ở tư tưởng định mệnh... [8]
Bên
cạnh việc tìm hiểu „ý niệm đoàn viên“ trong Truyện Kiều,
bài viết đồng thời sẽ kiểm điểm lại „tính dung hợp
tư tưởng“ nói trên và những quan điểm phê phán tư tưởng
của Nguyễn Du từ đó đưa tới hệ luận phản thuyết những
quan điểm đánh giá tiêu cực vừa nêu ra trong chừng mực
khuôn khổ của bài viết cho phép.
Hệ
luận này đi từ giả thuyết, nếu truy nhận giá trị Truyện
Kiều là một kiệt tác độc nhất vô nhị của nền văn học
Việt Nam cho đến ngày hôm nay, thì không thể tách rời văn
chương và tư tưởng Truyện Kiều bằng kết luận có tính
khai trừ, cho rằng tư tưởng ấy tầm thường hay giới hạn.
Giá trị toàn hảo của tác phẩm Nguyễn Du không thể chỉ
nằm trong tính kiệt tác của văn chương, mà còn nằm trong
tư tưởng mà văn chương ấy chuyển tải, và Nguyễn Du đã
không đi vào tâm tư của người Việt, nếu Nguyễn Du chỉ
là người người thợ tuyệt xảo của từ chương và không
có tư tưởng triết lý sâu sắc. [9]
Khảo
sát „ý niệm đoàn viên“ do đấy nằm trong ý hướng, trả
lại cho Nguyễn Du gia tài tư tưởng mà ông đã gửi gắm cho
người đi sau: Gia tài tư tưởng ấy nằm vỏn vẹn trong một
chữ duy nhất: chữ TÂM, trái tim mà nhà thơ đã cảm nghiệm
và muốn trao lại cho đời sau là một trái tim nhìn „vạn
pháp thảy đều là tâm“, linh thiêng hay trần thế chỉ nằm
ở một chữ TÂM „Linh sơn chỉ tại nhữ tâm đầu“.
1.2.
Cấu trúc nội dung
Tuy
chỉ gồm có 287 câu so với toàn thể 3254 câu thơ, nhưng xét
trên phương diện cấu trúc nội dung tư tưởng trường ca
này, „ý niệm đoàn viên“ trong Truyện Kiều trước hết
có thể xem là một phản đề làm nên yếu tố cơ cấu tạo
ra âm điệu, âm giai, cung bậc „mới“ („Tân thanh“) trong
nỗi đau đứt ruột (đoạn trường) của nàng Kiều. Bên cạnh
ngôn ngữ thi ca của thiên tài họ Nguyễn làm nên vẻ đẹp
văn chương vô tiền khoáng hậu của Truyện Kiều, chính ý
niệm này theo cách trình bày và lý giải của Nguyễn Du đã
cho nội dung của câu chuyện một nét tân kỳ, mới mẻ, từ
đó nâng câu chuyện vượt bực trên bình diện tư duy đặc
thù Việt Nam so với trình độ tầm thường trong tác phẩm
của Thanh Tâm tài nhân.
Phản
đề „đoàn viên“ nằm chính trong tương quan với đề án
„cuộc bể dâu“ với „những điều trông thấy mà đau
đớn lòng“ trong giới hạn „trăm năm trong cõi người ta“
và trong hữu hạn „chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau“.
Khởi đầu lấy hai chữ „TÀI - MỆNH“ trong đời người
làm tiền đề dựa vào tư tưởng truyền thống cổ kim, Nguyễn
Du kết thúc câu chuyện cũng với hai chữ „TÀI - MỆNH“
trong thế đối nghịch với tiền đề:
Có
tài mà cậy chi tài
Chữ
tài đi với chữ tai một vần
Ðã
mang lấy nghiệp vào thân
Cũng
đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiện
căn ở tại lòng ta
Chữ
Tâm kia mới bằng ba chữ tài. [10]
Không
chỉ là văn phong „khởi thúc đắc pháp“, lung kết chặt
chẽ như Trần Trọng Kim nhận xét, mà chính vì tư tưởng
chủ đạo của Nguyễn Du „đem TÂM đối lại TÀI và bù đắp
cho TÀI“ đã được dụng tâm ngay từ trong bố cục của
toàn tác phẩm, bởi lẽ chính chữ TÂM là điều kiện có
thể xây dựng „đoàn viên“ trong „đạo làm người“ theo
nhà thơ họ Nguyễn. Dùng chữ „TÂM“ – trong truyền thống
Thiền học Việt nam mà Nguyễn Du đã tẩm đượm, miệt mài
„kinh lòng hằng đọc“ - để „sửa“ chữ TÀI - MỆnh
của Nho giáo– nhà thơ họ Nguyễn đã xây dựng Ðoạn trường
tân thanh bằng một cái nhìn bản thể sâu và rộng, từ đó
thi ca của ông có thể bắt kịp được tấm lòng của mọi
con người.
Nhìn
tổng quan như thế, có thể nói không một chút ngạc nhiên
hay do dự hoặc cường điệu rằng: Với đề án „Nỗi đau
đứt ruột“ của người đàn bà tài sắc song toàn nhưng
lại „tài hoa mệnh bạc“, lại „mang lấy một chữ tình“
và phản đề đoàn viên „hoa tàn mà lại thêm tươi, trăng
tàn mà lại hơn mười rằm xưa“ Nguyễn Du đã sử dụng
cái khung giáo lý Phật giáo „tứ diệu đế“ để thực
hiện bản trường ca Ðoạn trường tân thanh một cách sáng
tạo: nếu câu chuyện 15 năm lưu lạc giang hồ của nàng Kiều
từ khi „bán mình chuộc cha“, „thanh lâu hai lượt thanh
y hai lần“ cho đến khi trầm mình ở sông Tiền Ðường là
một thực chứng thấu đáo của hai diệu đế đầu „khổ
và tập khổ“, thì cuộc đoàn tụ gia đình và tái ngộ người
yêu thuở ban đầu là cơ hội diệt khổ của nàng Kiều, là
cơ hội sự thực hiện giải phóng khổ đau toàn diện nằm
trong hai diệu đế sau „diệt và đạo“ như vế đối hay
vế đóng cho hai vế đầu.
Nguyễn
Du đã không ngờ chưa đầy hai trăm năm sau, có người ở
phương trời Tây cũng nương theo cuộc hành trình giải phóng
khổ nạn của Siddhartha làm nên một tuyệt phẩm trong lịch
sử văn chương Ðức: H. Hesse cũng đã lấy tứ diệu đế
để làm bố cục cho bài thơ xứ Ấn Câu chuyện dòng sông
[11] của ông. Trong chừng mực nhất định, có lẽ hai nhà
thơ đã gặp nhau ở cái nhìn quán triệt về giáo lý đạo
Phật: cặp khái niệm nhị nguyên phải được nhìn trong cái
toàn thể của nó: khổ tận-cam lai, khổ và diệt khổ không
xa rời nhau, điạ ngục trần gian và Niết bàn tại thế trong
cùng một đời người.
Có
thể nói Nguyễn Du đã hiểu tính nhất quán của lý thuyết
Phật giáo ngay chính trong bố cục của Ðoạn trường tân
thanh. So với lối nhìn Phật giáo phiến diện như một triết
lý bi quan yếm thế của thời ông và vẫn còn tồn tại khắc
khoải cho đến ngày nay trong tâm thức của nhiều người,
Nguyễn Du đã có cái nhìn „kiến tính“ tân kỳ của của
cả nền văn học Bát nhã (với Long Thọ) và Thiền học (với
Huệ Năng), thêm vào đó nhuần nhuyễn truyền thống Thiền
vị Việt Nam: Ý niệm đoàn viên được xây dựng sáng tạo
như „đêm qua sân trước một nhành mai“ của thiền sư Mãn
Giác, như một mùa xuân mới bừng nở, được phát hoạ bằng
chữ „Tâm“ con người „Linh sơn chỉ tại nhữ tâm đầu“
(Linh Sơn chỉ ở lòng người thôi): Khái niệm „Tân thanh“
trong Ðoạn trường tân thanh có thể nói là lời phát ngôn
của tâm thức tẩm đượm tinh thần Phật giáo của một Nguyễn
Du đã từng nghìn lần đọc kinh Kim Cương, [12] chợt ngộ
trong khoảnh khắc bất ngờ trước tảng đá phân kinh:
Ngô
văn Thế Tôn tại Linh Sơn
Thuyết
pháp độ nhân như hằng hà sa số
Nhân
liễu thử tâm nhân tự độ
Linh
Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu
Minh
kính diệc phi đài
Bồ
đề bản vô thụ
Ngã
độc Kim cương thiên biến linh
Kỳ
trung áo chỉ đa bất minh
Cập
đáo phân kinh thạch đài hạ
Tái
tri vô tự thị chân kinh“.
(Ta
nghe Linh Sơn đức Phật tổ
Thuyết
pháp độ người như hằng hà sa số
Người
tu được tâm độ ấy rồi
Linh
Sơn chỉ ở lòng người thôi!
Chẳng
có đài gương sáng
Chẳng
có cây Bồ đề
Ta
đọc Kim cương trên nghìn lượt
Lắm
điều sâu kín hiểu không rành
Ðài
đá phân kinh nay được đến
Mới
hay „không chữ ấy phân kinh“) [13]
Giây
phút giác ngộ mà Nguyễn Du bắt gặp cũng là giây phút bừng
nở hạnh từ bi, hàng tâm theo Phật „thuyết pháp độ nhân
như hằng hà sa số“, từ đó phát tâm lân cảm vô hạn với
nỗi đọa đày „đau đớn thay phận đàn bà“ trong thiên
trường ca bất hủ vượt thời gian. Suy nghĩ về chỗ đứng
cơ cấu của ý niệm đoàn viên trong Truyện Kiều, như một
yếu tố nội dung mới của Ðoạn trường tân thanh cho ta liên
tưởng đến đề tài của một cuốn phim mới đây rất nỗi
tiếng của đạo diễn Ðại Hàn liên hệ đến bài kinh Bát
Nhã: Xuân, hạ, thu, đông, xuân… [14] , chính chữ „xuân“
thứ hai nói lên được cách hiểu kinh Bát Nhã của người
đạo diễn. Không phải sự tuần hoàn vô thường của bốn
mùa chấm dứt ở mùa đông là phù hợp với lý thuyết Phật
giáo, ngược lại phải nhìn sự vô thường trong viễn tượng
của một mùa xuân lại về: „đừng nói xuân tàn hoa rụng
mãi“ mới là „chính kiến“ trong tư thế giải thoát, viên
mãn, giác ngộ cuộc hành trình luân hồi, thể nhập vào cuộc
đời với một tâm thức „mai nở“, „vô hữu khủng bố,
thoát ly điên đảo mộng tưởng“. Sáng tạo của nhà thơ
Ðoạn trường tân thanh và của người đạo diễn khởi sự
trong Cái Nhìn (kiến tính) thấu triệt bát nhã: có một mùa
xuân muôn đời trong sự đổi thay vô thường: „Vườn xuân
một cửa, để bia muôn đời“ [15]
Chính
nằm trong truyền thống tư tưởng này, ý niệm đoàn viên
nên được đánh giá khác với những quan điểm phê phán thường
có về đoạn cuối của Truyện Kiều, mà Cao Huy Ðỉnh trong
bài viết của ông „Triết lý Phật giáo trong Truyện Kiều“
mặc dù đã lấy quan điểm phê phán tiêu cực về tinh thần
Phật giáo trong Truyện Kiều và hiểu sai phần nào khái niệm
về „nghiệp“ và „tâm“ trong Phật giáo [16] cũng đã thừa
nhận:
…
nhờ thế mới có cái hậu của Truyện Kiều. Cái hậu ấy
là sự sum họp với những người nàng yêu nhất trên trần
thế, chứ không phải là việc hưởng quả báu tốt ở thiên
đường:
„Còn
nhiều hưởng thụ về sau ,
Duyên
xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào!”
Cái
hậu này chính là lòng mong mỏi của dân lành, đau khổ muốn
được hưởng hạnh phúc cụ thể ngay trên trần thế này.
Thật là sai lầm khi chúng ta theo con mắt „lo gích“ „duy
lý“ của người phương Tây mà chê bai rằng cái hậu ấy
trong tác phẩm cổ điển phương Đông là „công thức“,
là „tuổi ấu trĩ của văn học. [17]
Thảo
luận những quan điểm khác biệt về „cái hậu“ của Truyện
Kiều sẽ được đề cập đến trong phần triển khai ý nghĩa
„đoàn viên“ trong điểm 3.
Ta
hãy thử xét lại:
2. Mười
lăm năm lưu lạc của nàng Kiều
như là thực
chứng của "khổ đế và tập đế"
2.
1. Hành trạng khổ đế: Khởi điểm của nỗi khổ là chia
ly:
Có
thể nói trong lịch sử văn chương mang tính Phật giáo, ngoài
Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn
Gia Thiều v.v…, Nguyễn Du là tác giả diễn đạt tận tình
và tài tình nỗi khổ của con người hiện thân trong nhân
vật Thúy Kiều. Cuộc đời „phong gấm rủ là“ được gia
đình che chở chỉ trong khoảnh khắc vì nạn thằng bán tơ
và quan quyền vô lại hà hiếp dân lành, chỉ biết ăn tiền
hối lộ [18] , vinh thân phì gia, trở nên cuộc chia ly đau đớn
sau khi chọn lựa giữa tình và hiếu nàng tự quyết định
„dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha“, phút chốc „tan
tác như hoa giữa đường“. Hạnh phúc của mối tình đầu
chưa hưởng trọn thì đã bị tan vỡ, chia tay với chàng Kim
rồi xa nhau mãi mãi trên bước đường giang hồ bị bắt buộc
phải „đưa người cửa trước rước người cửa sau“.
Mối sầu chia ly trở nên nỗi đọa đày thân xác và tâm hồn
nàng Kiều trong suốt 15 năm:
Mối
tình đầu vừa hé cánh cửa cho người con gái thấy cõi hạnh
như chốn „động đào“, tràn đầy yêu thương và hi vọng
của miền đất phúc „thiên thai“, với nỗi gắn bó „song
song hai miệng một lời đinh ninh“ trước „vầng trăng vằng
vặc“ tưởng sẽ được trăm năm ghi tạc „chữ đồng đến
xương“, bỗng chốc trở thành „một ngày nặng gánh tương
tư một ngày“ :
Ngại
ngùng một bước một xa,
Một
lời trân trọng châu sa mấy hàng
Buộc
yên quảy gánh vội vàng
Mối
sầu sẻ nửa bước đường chia hai
Buồn
trông phong cảnh quê người
Ðầu
cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa
Não
người cữ gió tuần mưa,
Một
ngày nặng gánh tương tư một ngày...
Nỗi
sầu chia tay người yêu còn nức nở chưa dứt, liền tiếp
ngay sự thảm khốc phải chia tay cha mẹ, rời khỏi tổ ấm
gia đình, bán thân làm vợ lẽ cho một người xa lạ để
cứu cha em khỏi cơn hoạn nạn:
Ðau
lòng kẻ ở người đi
Lệ
rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm…
Xót
con lòng nặng chề chề
Trước
xe ông đã nằn nì thấp cao,
Chút
thân liễu yếu tơ đào
Rớp
nhà đến nỗi dấn vào tôi ngươi
Từ
đây góc bể chân trời
Nắng
mưa thui thủi, quê người một thân...
Bơ
vơ làm cho nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ, nhớ gia đình
ngùn cao hơn núi:
Ðùng
đùng gió giục mây vần,
Một
xe trong cõi hồng trần như bay,
Trông
vời gạt lệ phân tay,
Góc
trời thăm thẳm, đêm ngày đăm đăm…
Dặm
khuya ngất tạnh mù khơi,
Thấy
trăng mà thẹn những lời non sông
Rừng
thu tầng biếc xen hồng,
Nghe
chim như nhắc tấm lòng thần hôn.
2.2.
Giấc mộng đoàn viên trở nên một bản ngã thứ hai của
nàng Kiều
„Tấm
lòng thần hôn“ ấy dần dần kết tinh thành một tâm thức
hoài vọng ngày trở về đoàn tụ với gia đình, với người
tình ban đầu trên bước đường „bèo trôi sóng vỗ“, nơi
nước non lạ lùng và nhất là trong cõi địa ngục ở miền
dương gian, trong đó tha nhân chính là địa ngục ấy: Mã Giám
Sinh nước trước bẻ hoa, Tú Bà bắt ra tiếp khách, tự vẫn
bằng dao không chết, bị Sở Khanh lường gạt, bị Tú Bà
hành hạ phải ra thanh lâu tiếp khách. Nỗi nhớ người thân
trở nên những mộng tưởng ban ngày:
Tưởng
người dưới nguyệt chén đồng
Tin
sương luống những rày trông mai chờ
Chân
trời góc bể bơ vơ,
Tấm
son gột rửa bao giờ cho phai
Xót
người tựa cửa hôm mai
Quạt
nồng ấp lạnh những ai đó giờ.
Trên
bước đường phiêu bạt lênh đênh, đau thương, tưởng nhớ,
xót xa dần dần qui kết thành nỗi nhớ nhà mà Lý Bạch gọi
là „cố viên tình“, mối tình nhớ đường xưa lối cũ
mà kẻ đi xa trong vô thức đã mang lấy trong tim, trong trường
hợp của nàng Kiều nỗi nhớ ấy đậm đặc đến trở thành
ám ảnh:
Nỗi
lòng đòi đoạn xa gần
Chẳng
vò mà rối chẳng dần mà đau
Nhớ
ơn chín chữ cao sâu
Một
ngày một ngả bóng dâu tà tà
Dặm
ngàn nước thẳm non xa
Nghĩ
đâu thân phận con ra thế này…
Nhớ
lời nguyện ước ba sinh
Xa
xôi ai có thấu tình chăng ai
Khi
về hỏi liễu Chương đài...
Những
cơn nhớ ngất lịm người như thế dần dà tạo nên một
thứ áo giáp phòng thủ cho con người đang bị tha nhân độc
ác lường gạt, đang bị hoàn cảnh xã hội cay độc đoạ
đày, một tâm thức hoài vọng khát khao nhớ về kỷ niệm
xưa như một an ủi cho thân phận trong hoàn cảnh đang trải
qua. Giấc hương quan trở nên một hiện tượng thường nhật
ngày đêm, đi ngược với hiện trạng thực tại. Trong tâm
trạng „người buồn cảnh có vui đâu bao giờ“, nàng Kiều
trong mỗi hoàn cảnh bên ngoài đành phải „vui là vui gượng
kẻo mà“, trong lúc bên trong là cả nỗi nhớ „đòi đoạn
vò tơ“ triền miên trong „giấc hương quan“:
Nỗi
lòng đòi đoạn vò tơ
Giấc
hương quan luống lần mơ canh dài.
Giấc
hương quan hay giấc mộng cố hương trở nên một ám ảnh
không nguôi cho nàng Kiều, „song sa vò võ chân trời“, càng
đau khổ càng bị oan nghiệt giữa chợ đời, nàng càng không
thể quên hạnh phúc gia đình thân yêu, hạnh phúc của tình
yêu ban đầu như một vầng trăng bị xẻ làm đôi.
Vầng
trăng bị xẻ làm đôi cũng chính là nhân cách của Kiều bị
xé làm hai mảnh mà Nguyễn Du đã theo dõi suốt cả 15 năm
lênh đênh: tấm thảm kịch đã phân thân nàng Kiều hồn lìa
khỏi xác: một tấm thân đem ra để „trả nợ đời“, như
chính Kiều trong nhiều cảnh huống đã phản tỉnh về chính
thân xác của mình „tấm thân đày đọa vũng lầy“. Tuy
là thân của cha mẹ sinh thành, nhưng con người không tự mình
ấn định sự tại thế trên cõi đời mà Nguyễn Du gọi là
„trời bắt làm người phải thân“, con người không quyết
định sự hiện hữu của mình, tấm thân là dấu hiệu của
„nghiệp nhân“, từ thân nghiệp ấy chính con người lại
là kẻ chịu trách nhiệm về hành trạng của mình. Nhưng đây
cũng là mối thương tâm xé ruột: sau bao lần phản kháng,
cánh hoa yếu đuối „một phen mưa gió tan tành một phen“
đành trả lời mụ Tú Bà:
Nàng
rằng mưa gió dập dìu
Liều
thân, thì cũng phải liều thế thôi.
Ngoài
mặt nói liều nhưng trong lòng „đòi cơn“ đau đớn ê chề.
Tấm thân ấy từ đây không phụ thuộc vào nàng nữa, đã
trở nên vong thân dưới ngòi bút lân cảm của Nguyễn Du.
Trong hơn hai nghìn câu thơ, trong những hoàn cảnh đau thuơng
nhất, vẫn là tấm thân ấy trở nên đối tượng của chính
cái hồn đang giữ một khoảng cách với nó.
Từ:
„thương thay thân phận lạc loài“ rồi „thịt nào chẳng
nát, gan nào chẳng kinh“ cho đến „khi tỉnh rượu lúc tàn
canh, giật mình mình lại thương mình xót xa“… đến nỗi
kinh sợ không tìm thấy chính mình trong thân xác của mình,
mình tự từ chối nhân diện hiện tại của mình:
Mặt
sao dày gió dạn sương
Thân
sao bướm chán, ong chường bấy thân...
Tấm
hồng nhan ấy qua „cái thân liệu những từ nhà liệu đi“,
đã đầu hàng áp lực xã hội con người nên „đành thân
cát dập sóng vùi“, bị đày „vào kiếp phong trần“.
Ðã
cho lấy chữ hồng nhan
Làm
cho, cho hại, cho tàn, cho cân
Ðã
đày vào kiếp phong trần
Sao
cho sỉ nhục một lần mới thôi.
Kiều
không chỉ bị sỉ nhục một lần mà quá nhiều lần, hết
Mã Giám Sinh, Tú Bà, đến Hoạn Thư cùng bọn Ưng Khuyển,
hết Hoạn Thư đến Bạc Bà Bạc Hạnh, rồi đến Hồ Tôn
Hiến ngụy quân tử… Ðã bao lần nàng cố tìm cách thoát
khỏi cảnh tủi nhục đọa đày, cũng bấy nhiêu lần nàng
bị tha nhân vùi dập „chim lồng không thể cất mình bay cao“.
Biết
thân chạy chẳng khỏi trời
Cũng
liều má phấn cho rồi ngày xanh.
Trong
tình trạng nhân diện đào hoa vỡ tung „ngọc nát hoa tan“,
giữa hai lần tuyệt vọng (lần thứ nhất bị Tú Bà bắt
ra tiếp khách) đến độ tìm cách kết liễu tấm thân sắp
và đã bị ô nhục, Nguyễn Du đã cho nhân vật của mình „sống
còn“ trong những giấc mộng hoài hương như nơi trú ẩn cho
tâm hồn. Nỗi nhớ xót xa nhưng cũng là ân sủng trong những
ngày phiêu bạt, đã theo Kiều như bóng với hình, đã gìn
giữ vết son như một nét trung thực của tâm hồn: ngày mới
ra đi là khởi sự của „tấm lòng thần hôn“, lúc bị giam
lỏng tại lầu Ngưng Bích nỗi nhớ là „tấm trăng gần ở
chung“ đưa nàng về với „người duới nguyệt, chén đồng“,
với kỷ niệm ấm cúng cùng với cha mẹ qua ngày nắng ngày
mưa.
Trong
tâm trạng „người buồn cảnh có vui đâu bao giờ“, tâm
thức nàng trong mỗi chặng đời thường vượt lên tấm thân
mang nặng những nỗi bất bằng, mà Nguyễn Du đã dùng hình
ảnh „đám mây“: „hồn quê theo ngọn mây Tần“, „lòng
còn gửi đám mây Hàng“, „bốn phương mây trắng một màu“
như một biểu tượng hình nhi thượng đầy tâm cảm bao trùm
thái độ khước từ hoàn cảnh hiện tại trầm kha tàn phá
nội tâm:
Mặc
người mưa Sở mây Tần
Những
mình nào biết có xuân là gì
Thờ
ơ gió trúc mưa mai,
Ngẩn
ngơ trăm nỗi dùi mài một thân.
Chính
những đám mây quê hương trong mỗi chặng đường đời, ngay
cả khi có đôi chút hạnh phúc với Thúc Sinh hay lúc vinh quang
với Từ Hải, luôn luôn bồng bềnh khát vọng đoàn viên của
một người con gái ăm ắp chữ tình, chữ hiếu, chữ thương,
đã trở nên những động cơ vô thức, mang con người ấy
cố gắng vượt qua những cạm bẫy trong những năm phiêu bạc
giang hồ. Những cố gắng đến từ cảm tính của một người
đàn bà nghiêng về TÌNH hơn là LÝ- đa tình khổ lụy – trong
suốt Truyện Kiều thường bị thất bại càng làm tăng tấm
bi kịch lên đến cao độ. Nhưng ngay cả giây phút tuyệt vọng
nhất về thân phận của mình „thân sao thân đến thế này,
còn ngày nào cũng dư ngày ấy thôi“ đưa đến quyết định
trầm mình tại sông Tiền Ðường, thì khát vọng ấy dù vô
vọng, không những theo thuyết luân hồi là điều kiện tái
sinh, tái hợp quay vòng qua bàn tay cứu độ của Giác Duyên,
mà còn – như Xuân Diệu nhận xét không sai trong trưòng hợp
này – „do sức nội tại, thế nội tại của nhân vật và
sự việc“, khát vọng ấy [19] đã là một yếu tố nội
dung không thể thiếu trong tư tưởng Truyện Kiều.
Có
thể nói khát vọng đoàn viên đã tạo nên một linh hồn thứ
hai của nàng Kiều, đã góp phần vào phẩm chất „thanh cao“
của cá tính nhân vật trong thế tương phản hay „xung đột“
với nửa phần người dày dạn „phong trần“ kia.
Chính
trong tương quan xung đột, mâu thuẫn giữa „bắt phong trần
phải phong trần“ mà đó là thể xác, và „cho thanh cao mới
được phần thanh cao“ mà đó là cái „tâm“, với thi ca
sáng tạo của ông, Nguyễn Du đã làm nhân vật Thúy Kiều
trở nên bất tử trên phương diện nghệ thuật văn chương,
kịch tính, tâm lý nhân vật, và không phải là điểm cuối,
ngay cả trên tư tưởng như là linh khí của lời thơ.
Thái
Kim Lan
Chú
thích:
[1]Nhan
đề của truyện do tác giả đặt là: Ðoạn trường tân thanh.
Sau Phạm Quí Thích (1760 – 1825) khi đem in đổi là: Kim Vân
Kiều tân truyện, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim đổi tên là
Truyện Thúy Kiều, Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu đổi là Vương
Thúy Kiều chú giải tân truyện. Hiện nay tên truyện thường
dùng là Truyện Thúy Kiều. Theo các nhà khảo cứu văn học,
Nguyễn Du đã phóng tác và hình thành bản trường ca này bằng
chữ Nôm sau khi đi sứ Trung Quốc (1813) dưới triều vua Gia
Long, trong lúc giáo sư Hoàng Xuân Hãn còn ngờ vực thời điểm
trước tác Truyện Kiều nói trên( xem Lời nói đầu Lễ Vu
Lan và Văn tế cô hồn, Hoàng Xuân Hãn, bản do tác giả tự
tay đánh máy và chùa Trúc Lâm Paris phóng ảnh 1991).
Bản
tham khảo cho bài viết này: Truyện Thúy Kiều, Bùi Kỷ và
Trần Trọng Kim hiệu khảo, Việt Nam 1999, Truyện Kiều chú
giải của Vân Hạc Văn Hoè, USA 1976, copyright Lê Bá Kông, 1961/70/76.
[2]Nguyễn
Du 1765 (Ất Dậu) – 1820 (Canh Thìn), họ Nguyễn, húy là Du,
tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu là Hồng Sơn
Liệp Hộ, quán tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh
Hà Tĩnh. Con thứ bảy của ông Hoàng Giáp Xuân quận công Nguyễn
Nghiễm, làm thủ tướng Lê triều, và bà trắc thất tên là
Thấn, người huyện Ðông Ngạn, tỉnh Bắc Ninh (theo Bùi Kỷ
và Trần Trọng Kim, Truyện Thúy Kiều, đd, tr. VI, VII).
[3]Về
nguồn gốc Truyện Kiều: theo Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim, Dương
Quảng Hàm và Ðào Duy Anh: BK & TTK viết „Ðoạn tái hợp
này cũng dịch theo trong bộ tiểu thuyết Tàu mà lại là một
đoạn văn kết cấu rất kỳ“, tr. XX.
Theo
DQH và ÐDA: không nên nhầm lẫn về nguyên tác Truyện Kiều
ở Trung Hoa. Kết quả của các tra cứu, các học giả cho thấy:
có hai bản nguyên tác tiếng Tàu liên quan đến Truyện Kiều:
Sự
tích Vương Thúy Kiều của Dư Hoài, hiệu Ðạm Tâm trong tập
sách Ngu Sơ Tam Chí, không có đoạn đoàn viên.
Kim
Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân mà người ta thường
lấy tên nhầm là truyện Thanh Tâm tài nhân, gồm 20 hồi (theo
Ðào Duy Anh), có đoạn đoàn viên.
[4]BK&TTK:
Truyện Thúy Kiều, tr. V: „một kiệt tác làm bằng quốc âm
ta. Người trong nước từ kẻ ngu phu ngu phụ cho chí người
có văn học, ai cũng biết ai cũng đọc, mà ai cũng chịu là
hay“, xem Vân Hạc Văn Hoè, tr. V, đã dẫn.
[5]Nguyên
Ðịnh, „Sự gắn bó giữa Phật giáo và dân tộc, nhìn từ
góc độ văn học“, trang nhà Khuông Việt số 5, tháng 9 /
2002
[6]Vân
Hạc Văn Hòe, đ d, tr. V: „Tác giả hình như muốn mượn Truyện
Kiều để chứng minh và truyền bá một tư tưởng triết học
tôn giáo. Tư tưởng ấy giá trị cũng tầm thường và chứng
minh cũng chưa đúng xác“
[7]Xin
xem „Kỷ niệm 200 năm Nguyễn Du“
[8]đd,
Nguyễn Khánh Toàn, „Nguyễn Du, nhà thơ lớn của dân tộc
Việt Nam“, tr. 46/47
[9]Trong
cùng bài viết, Nguyễn Khánh Toàn nhận định: „Sức hấp
dẫn của Truyện Kiều đối với nhân dân thật là kỳ diệu.
Nói rằng vì văn chương Truyện Kiều hay cũng chưa đủ để
giải thích hiện tượng đó… Lời văn chỉ là lời văn,
có thể rất thanh tao, hào nhoáng, nhưng không thể làm cho đất
bằng nổi sóng, nếu từ trong đáy lòng nghệ sĩ không bốc
lên một nhiệt tình sâu sắc, một ngọn lửa căm thù.“ Đd,
tr. 35
[10]BK&TTK,
tr. XXI
[11]H.
Hesse, Siddhartha, bản dịch của Phùng Khánh và Phùng Thăng:
Câu chuyện dòng sông, An Tiêm xuất bản
[12]Lương
Chiêu Minh Thái Tử phân kinh thạch Ðài (Ðài đá phân kinh
của Thái Tử Chiêu Minh đời Lương), thơ chữ Hán của Nguyễn
Du. (Ngô Linh Ngọc, Mai Quốc Liên dịch, Nguyễn Du Toàn Tập,
I, nhà xb VH, H, 1996, tr. 536 – 540).
[13]Nguyễn
Du, Thơ chữ Hán, đã dẫn.
[14]Cao
Huy Thuần, Hai bài kinh Bát nhã, trang nhà Khuông Việt số 9,
mục lưu trữ, http://khuongviet.com/KVso9/Xuan%20Ha%20Thu%20Dong.htm
[15]Truyện
Kiều, câu 3240, bản BK & TTK
[16]„Chữ
tâm của Nguyễn Du…“ v.v… Như vậy tâm có tính chất tích
cực, thực tiễn, không hoàn toàn giống với tâm gốc Phật
vốn là Không.
[17]Cao
Huy Ðỉnh, „Triết lý đạo Phật trong Truyện Kiều“, tr.
295/6, trong „Kỷ niệm 200 năm Nguyễn Du“.
[18]Nguyễn
Khuyến bình luận: „Có tiền việc ấy mà xong nhỉ, đời
trước làm quan cũng thế ru?“
[19]Xuân
Diệu, „Bản cáo trạng cuối cùng trong Truyện Kiều“, tuyển
tập „Kỷ niệm 200 năm Nguyễn Du“, Nhà xb Khoa học xã hội,
1965.
Ý NIỆM ĐOÀN
VIÊN
TRONG
TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU (Phần
II)
Thái
Kim Lan
2.3.
Thuyết nhân quả
Tư
tưởng chủ đạo trong tác phẩm Truyện Kiều nằm trong lý
thuyết nhân quả của Phật giáo, điều này không còn ngờ,
như Trần Trọng Kim, Ðào Duy Anh, Nguyễn Ðăng Thục và ngay
cả Cao Huy Ðỉnh, Trần Văn Giàu và Hoàng Ngọc Hiến [1] đều
đã nhận định và công nhận dù cách diễn giải đến từ
những quan điểm khác nhau :
Trong
lúc Trần Trọng Kim cho rằng Nguyễn Du đã ứng dụng „lý
thuyết nhân quả phổ thông“ làm tông chỉ cho tư tưởng
trong Truyện Kiều: „Nhân nào quả ấy, hết quả này lại
đeo cái nhân đã gây nên mà có cái quả khác. Nhân tốt thì
quả tốt, nhân xấu thì quả xấu, cứ luân chuyển mãi như
thế trong cõi hồng trần… Theo cái lý thuyết ấy, thì phàm
phúc hay họa là ở tự mình gây ra cho mình. Mình đã có cái
hoàn toàn tự do mà làm việc thiện hay việc ác, thì mình
lại có hoàn toàn trách nhiệm về những việc ấy“. [2]
Trần
Trọng Kim đã nhận định đúng khi cho rằng lý thuyết nhân
quả và nghiệp khác với lý thuyết định mệnh ở điểm
lý thuyết ấy dành cho con người „hoàn toàn tự do. Mình
phải theo cái nghiệp tự mình gây ra cho mình, chứ không phải
là cái nghiệp tự đâu gây ra mà bắt mình phải chịu“ [3]
… „Cái thuyết nhân quả của Phật học là thế. Ðem cái
thuyết ấy mà so với một đời nàng Kiều, thì thấy không
chỗ nào là không đúng…“ [4]
Ngược
lại với TTK, các học giả Trần Văn Giàu, Nguyễn Khánh Toàn,
Cao Huy Ðỉnh, Hoàng Ngọc Hiến đều nhận định „ý thức
hệ“ Nguyễn Du có hạn chế, chính vì Nguyễn Du đã bị ảnh
hưởng của lý thuyết nhân quả, „tài mệnh tương đố“,
„bỉ sắc tư phong“.
Theo
Trần Văn Giàu: „Nguyễn Du từng lúc mang nặng ảnh hưởng
Phật giáo, cũng như ông luôn luôn mang nặng ảnh hưởng Nho
giáo. Hạn chế đó khá nghiêm trọng… triết lý… hình thức,
vướng víu“ [5] .
Theo
Hoàng Ngọc Hiến: „Tư tưởng „nhân quả“ khẳng định
quan hệ nhân quả giữa kiếp này và kiếp trước, kiếp sau.
Nội dung hình tượng Truyện Kiều chỉ nói về kiếp này của
nàng Kiều. Như vậy, quan hệ „nhân quả“ không được bộc
lộ ở ngay nội dung của tác phẩm. Ðó là một quan hệ không
có nội dung… Như vậy trong Truyện Kiều, triết lý Phật
giáo là ngôn ngữ Phật giáo, là những lời giải thích nhưng
không phải phải là ý nghĩa đích thực của nội dung hình
tượng tác phẩm… Triết lý của Nguyễn Du quả là không
tương xứng với tác phẩm thiên tài của Nguyễn Du.“ [6]
Cao
Huy Ðỉnh cho rằng „chất bi quan yếm thế“ của Truyện
Kiều đến từ „cái khối thế giới quan tiêu cực hỗn hợp
ấy của Truyện Kiều“, trong đó „triết lý Phật chiếm
một liều lượng lớn, vì chất bi quan yếm thế của nó dễ
diễn tả nhất những nỗi day dứt siêu hình ở trong tâm trạng
con người, nhất là phụ nữ, nạn nhân cực khổ nhất của
xã hội phong kiến… Ðạo Phật đã bổ sung cho đạo Nho ở
chỗ nó dựa trên luật nhân quả để kết án cá nhân là
tự mình gieo cái mầm khổ cho mình ngay từ kiếp trước nên
tự mình phải chịu lấy quả khổ của kiếp này…“ [7]
.
Chữ
„nghiệp đã được ông hiểu như sau: „Chữ nghiệp mê muội
và an ủi tâm hồn quả đã hấp dẫn được lòng người đang
sợ hãi cái thực tại đầy đau thươngvà đã thổi thêm luồng
gió bi quan vào trong cơn bão táp của thời đại Nguyễn Du
và trong Truyện Kiều.“ [8]
Nếu
đọc kỹ toàn bộ Truyện Kiều và nhất là đoạn cuối, ta
có thể thấy rõ, không phải tư tưởng triết lý Nguyễn Du
bị hạn chế mà chính tư tưởng của những nhà phê bình
Nguyễn Du thật sự bị hạn chế trong những điều kiện mà
có lẽ ngày nay các nhà phê bình đã vượt qua:
Hạn
chế thứ nhất là họ đã hiểu sai quan niệm nhân quả và
khái niệm nghiệp báo. Theo lý thuyết đạo Phật, lý thuyết
nhân quả không chỉ là „kiếp này kiếp trước“ – (ngay
ở đây chính Trần Trọng Kim, mặc dù đã công nhận bản
chất triết lý của Truyện Kiều đến từ đạo Phật, cũng
chỉ dựa vào quan niệm nhân quả phổ thông về kiếp trước
kiếp sau, tuy nhiên ông cũng nhấn mạnh quan niệm về chữ
nghiệp phức tạp hơn nhiều) - lý thuyết nhân quả phải được
hiểu trên nền tảng thể tính học của Phật giáo với ý
niệm „vô thường“ (anicca) hay „thể tính biến đổi, trở
thành“ (Werden, devenir, become) của vạn vật. Trên nền tảng
ấy, tương quan „nhân quả“ xảy ra trong từng sát na một
của hiện tại, của „kiếp này“. Trong đời của nàng Kiều,
nói tổng quát, tương quan nhân quả ấy nằm trong câu „còn
nhiều hưởng thụ về sau“. Chữ „về sau“ như ý niệm
tiếp theo – cái này có đẩy theo cái kia có – trong Truyện
Kiều chỉ cuộc đời hiện tại của Kiều nằm trong tương
quan „trước sau“ trên ba bình diện: - đời trước đời
sau trên bình diện vũ trụ luận, trả nghiệp và chuyển nghiệp
trong hiện tại „Duyên xưa đầy đặn phúc sau dồi dào“
trên bình diện thể tính luận và „xưa nay sầu thảm nay
sao vui vầy“ trên bình diện tâm lý học.
Hạn
chế thứ hai là khái niệm „nghiệp“ đã bị giản lược
vào ý nghĩa thụ động và yếm thế, trong lúc khái niệm này
ngược lại nói lên khả năng tác động của con người trong
liên hệ nhân quả, như Trần Trọng Kim nhận xét, khác với
thuyết định mệnh, chính con người tạo nghiệp, chứ không
phải „tự kết án mình“, cho nên chính con người chịu
trách nhiệm về hành động của mình, đồng thời chính con
người có thể sửa đổi nghiệp và tạo nhân mới cho mình,
con người có tự do trong hành động chứ không bị ràng buộc
bởi định mệnh. Viễn tượng chuyển đổi nghiệp ác sang
nghiệp lành cho thấy thái độ lạc quan và tích cực của
triết lý Phật giáo, mà Nguyễn Du đã thi ca hoá trong trong
đoạn cuối „ý niệm đoàn viên“, trong lúc ở đoạn đầu
ông đã đặt viên đá „cải nghiệp“ qua hành động quyết
định hi sinh vì chữ hiếu „dẽ cho để thiếp bán mình chuộc
cha“ của nàng Kiều. Cho dù với hành động đó cuộc đời
lưu lạc giang hồ của nàng Kiều bắt đầu, nhưng „hiếu
tâm“ của nàng đã trở nên một trong những điều kiện
cho „phúc sau dồi dào“.
Cũng
ngược lại với một số quan điểm nhìn từ góc độ tu chứng
Phật giáo cho rằng trong Truyện Kiều Nguyễn Du đã hiểu sai
đạo Phật, đã để cho nhân vật của mình „vận“ vào
người những oan trái không đâu: thấy mồ Ðạm Tiên đã
than khóc: „Thấy người nằm đó biết sau thế nào“, thấy
Kim Trọng đã vương vấn yêu thương „Người đâu gặp gỡ
làm chi.“, vì đa tình cho nên gây vướng lụy, vướng lụy
gây nên những khúc đoạn trường. Ngược lại với quan điểm
ấy có thể nói rằng Nguyễn Du đã chứng tỏ sự thông triệt
triết lý đạo Phật trong việc sử dụng một cách tài tình
cuộc đời gian truân cùng cực của nàng Kiều như một thí
dụ cụ thể về hiện sinh của đời người và khả thể
giác ngộ của con người.
Lý
thuyết nhân quả và thập nhị nhân duyên theo hệ thống triết
học bát nhã, nhất là của phái Không Luận của ngài Long
Thọ liên hệ với quan điểm đạo đức học cho người cư
sĩ thường tục có thể xem là nền tảng tư duy cơ bản của
Truyện Kiều. Theo phái Không Luận, lý thuyết nhân quả nằm
trên bình diện chân lý tương đối (cái này là điều kiện
của cái kia) trong viễn tượng tuyệt đối của Tính Không
(vô điều kiện). Chính điều kiện tính triệt để của thuyết
nhân quả cho ta liễu ngộ được tính không của các Pháp,
liễu ngộ được triệt để điều kiện tính do đấy là
cánh cửa giải thoát, mở ra viễn tượng Niết bàn, là nền
tảng thể tính (ontologische Grundlage) cho mọi hành động đạo
đức, có nghĩa là tạo nên lý do hiện hữu cho hạnh từ bi
cứu độ chúng sinh, thực hiện giải phóng khỏi bờ mê.
Với
thân phận đọa đày của nàng Kiều, và cùng với nhân vật
của mình Nguyễn Du đã thực chứng trọn vẹn được ý nghĩa
của khổ đế và tập đế trong đạo Phật: chưa bao giờ
điều kiện hiện sinh khách quan (xã hôi) và chủ quan (có tài)
của con người Kiều được mô tả trong tất cả sự sinh
động của thi ca, đến nỗi không những người „trong cuộc“
mà người „ngoài cuộc“ cũng đau đớn lòng và cảm nghiệm
như chính mình cũng ở trong bể trấm luân đan chéo với „chữ
tình“, „khư khư mình buộc lấy mình vào trong“, mà cùng
khóc, cùng cười với „chữ tình“, cùng cảm nghiệm và
cùng thấu hiểu nỗi khổ do nghiệp chướng của „khư khư“,
của chấp nê tạo nên. Ðắm chìm trong thân phận ấy, con
người có thể có hai thái độ, như Kiều đã có: tuyệt vọng
phẫn uất và khao khát được giải thoát, tìm mọi cách để
giải thoát. Chính vì đi đến tận cùng của cái khổ, con
người mới khát khao sự diệt khổ. Diệt khổ có nguyên nhân
đã nằm sẵn trong „chân lý“ đời là bể khổ, chứ không
nằm ở một thế lực nào khác. Trong ý nghĩa ấy, bị đoạ
đày và mong ước giải thoát trên phương diện triết lý và
tu chứng cùng nằm trên một bình diện và cùng trong hiện
tại; đồng thời đạo Phật cũng nhấn mạnh, đời người
trăm năm là mảnh đất tốt nhất để thực hiện giải phóng,
đạt giác ngộ.
Phải
qua cảnh khổ, ý nghĩa tất yếu của giác ngộ mới được
con người thấu triệt trọn vẹn.
Có
thể nói trong đoạn cuối của Truyện Kiều, Nguyễn Du đã
đưa ra một viễn tượng giải phóng rất mới qua ý niệm
đoàn viên, mới hơn tất cả những liễu tri Phật giáo về
giác ngộ trong thời đại của chúng ta hôm nay, những kẻ
đã được Nguyễn Du nhắn gửi sau „ba trăm năm…“.
3. Ý niệm
đoàn viên sau mười lăm năm lưu lạc
3.1.
Chết không phải là giải pháp cuối cùng và „sống còn“
hay „tái sinh“ không phải là tâm thức phong kiến hủ lậu
Trong
khuôn khổ của tương quan nhân quả, đạo Phật không bao giờ
xem „tự tử“ như là phương tiện giải thoát, bởi vì „tự
tử“ là một thái độ tuyệt vọng, chận đứng mọi hi vọng
và hoài bão giải thoát toàn diện trong tự do, bởi lẽ một
cái chết như thế làm cho con người bị ràng buộc vào sinh
tử, có nghĩa là vẫn còn nằm trong chuỗi luân hồi như một
vòng khuyên trong chuỗi nhân quả tương đối mà con người
bị mắc vào. Ước vọng của con người trái lại, và đây
chính là diệu đế thứ ba, là được giải phóng toàn diện
lên trên vòng sinh tử ấy mà chỉ có cuộc sống mới cho con
người cơ hội thực hiện giác ngộ để giải phóng.
Từ
đó ta có thể hiểu tại sao hai lần Nguyễn Du đã không để
cho nhân vật của mình „chết“ như là một sự kết thúc
câu chuyện, hay kết liễu đời mình. Lần thứ nhất, vì còn
„nặng nợ má đào“, phải trả cho hết „duyên xưa“,
cho hết „kiếp liễu bồ“ nên Kiều phải sống. Gọi là
„nợ“, là „duyên“ theo đạo Phật, bởi vì trước hết
sự sống của mỗi người không do chính con người chọn lựa,
hiện sinh con người do đấy đã được được đặt định
bởi một chuỗi duyên nghiệp mà nấc duyên nghiệp cuối cùng
là cha mẹ sinh thành. Nhưng sự sống có ý nghĩa hay không lại
do chính con người quyết định, chính sự quyết định này
là tự do của con người, là đạo đức hay „bước lên đường“
của con người. Bước thứ nhất để cho con người quyết
định tự do của mình lại là một bước „cùng với người“
trong tình nghĩa đối với cha mẹ: chữ hiếu, chứ không phải
„tình riêng“ của mình. Nàng Kiều đã bắt đầu với bước
đi ấy, để „làm người“, nhưng cũng để thấu đáo cùng
tột „điều kiện“ hay „thân phận“ làm nguời trong một
cọng nghiệp hay cọng thể xã hội phức tạp thiện ác lẫn
lộn và ác nhiều hơn thiện, sau khi rời khỏi vòng tay thương
yêu của cha mẹ
Lần
thứ hai Kiều được Giác Duyên cứu sống „nạn xưa trút
sạch làu làu“ và được đoàn tụ „duyên xưa chưa dễ
biết đâu chốn này“. Ðây là điểm mà nhiều nhà phê bình
Truyện Kiều lên tiếng chê trách bố cục Truyện Kiều, họ
cho rằng đáng lẽ Nguyễn Du nên nhân đạo hơn hay nên thoát
khỏi tư tưởng phong kiến luôn luôn chà đạp đàn bà, bằng
cách cho nàng Kiều chết thật trong sông Tiền Ðường hay cho
nàng đi tu trọn kiếp, thay vì để nàng sống một cuộc sống
đọa đày lần thứ hai. Nói như thế họ đã tự phản bác
ngay quan điểm của mình gấp đôi:
Một
đằng họ quan niệm đạo Phật yếm thế bi quan, nhưng chính
họ lại chủ trương một giải pháp bi quan tuyệt đối diễn
tả sự tuyệt vọng, vô vọng của con người trước mọi
nỗi khổ đày đọa con người khi đề nghị nên chấm dứt
câu chuyện ngay ở đoạn nàng Kiều nhảy xuống sông.
Ðàng
khác, chính sự chấp nhận kết liễu cuộc đời của Kiều
là một thái độ tiêu cực trong việc đánh giá thân phận
người phụ nữ, sau một quãng đời bỉ ổi như thế nên
chấm dứt cuộc đời, bởi vì sự „sống còn“ chỉ là
một thứ sỉ nhục Dưới hình thức phê bình thái độ coi
rẻ phụ nữ của thời phong kiến, quan điểm này lại biểu
lộ một thái độ thoái hoá văn hoá trong trào lưu tư tưởng
hiện nay, như một biểu đồng tình với chính đối tượng
phê bình của mình.
Nguyễn
Du đã chọn cho nhân vật của mình giải pháp sống lại trong
sự che chở của nhà chùa, trong mái nhà tôn giáo đương thời.
Chính trong chuỗi đời 15 năm, nơi mà nàng Kiều tìm được
sự nương tựa trong những lúc tuyệt vọng nhất là mái chùa
Quan Âm các, mái chùa Giác Duyên và mái chùa ở sông Tiền
Ðường. Nguyễn Du đã nhìn rõ giá trị của những nơi ở
ẩn này như những „giọt nước cành dương“ cứu sống
con người trên quãng đường cháy khát.
Yếu
tố này cho ta liên tưởng đến câu trả lời của vị sư
già trong cuốn phim Ðại Hàn được giải thưởng phim ảnh
quốc tế Tại sao Ðạt Lai Lạt Ma đi về phương Ðông? [9]
khi nghe lời trách cứ của người đệ tử tại sao ông không
xuống núi cứu thế mà ngồi khư khư giữ ngôi chùa rách nát
trong núi: „Ðể cho những kẻ ngốc tử như nhà ngươi có
dịp trở về đặt những câu hỏi ngốc ngác“. Câu trả
lời này có lẽ nói lên được tầm quan trọng vô hình của
mái chùa mà Nguyễn Du đã nhìn thấy trong thời đại của
ông. Những mái chùa ẩn cư, cũng như Linh Sơn, Yên Tử, hiện
hữu mà không đòi hỏi „một chỗ đứng thế tục“, như
một định chế thoát tục, nhưng chúng nằm trong thế đối
đãi với thế tục như cặp tương quan khổ tận – cam lai,
khổ - diệt khổ, cần phải được hiểu „TRONG TƯƠNG QUAN
VỚI“, nếu hiểu riêng biệt sẽ đi đến những kết luận
phiến diện, xa sự thật.
Trong
ý nghĩa đó Nguyễn Du đã không để Kiều lưu lại trong chùa
trong quãng đời còn lại, cuộc „trở về đoàn tụ“ được
thực hiện ngay trong „lòng đời“ sau những ngày thanh tịnh
„sự đời đã tắt lửa lòng“. Giấc mộng „hương quan,
đoàn viên“ của nàng Kiều biến thành hiện thực trong đoạn
cuối „có hậu“ (Cao Huy Ðỉnh) của Truyện Kiều. Ngược
lại với sự chỉ trích cho rằng đoạn kết „có hậu“
này là một kết thúc „khuôn sáo“ theo nghệ thuật văn chương
cổ điển phương Đông, đọc những vần thơ cuối cùng cho
ta thấy nhà thơ đã biến cuộc tái ngộ này thành đỉnh cao
nghệ thuật thi ca và nhất là tư tưởng đại đồng của
ông.
3.2.
„Ðoàn viên“ đối nghịch (versus) với „về nhà là về
nhà“ của nhà thơ Xuân Diệu
3.
2. 1. Hai quan điểm dị biệt
Như
đã đề cập trong phần trình bày về bố cục Truyện Kiều,
đoạn kết thúc của Truyện Kiều thường bị phê bình nhiều
nhất về phương diện tư tưởng. Quan điểm phê phán thường
cho rằng Nguyễn Du đã cưỡng bách Kiều trở về „trả nợ
đời“ một lần thứ hai, qua đó là một thứ đày đọa
tàn nhẫn thân phận người phụ nữ theo cảm nghĩ phong kiến,
và cuộc trở về này đã làm giảm tính chất nghệ thuật
của tác phẩm thi ca qua sự „gượng gạo“ và „bất ổn,
không tự nhiên“ [10] của cuộc đoàn viên với nhiều tan
vỡ bẽ bàng…
Khác
với những phê phán trên, nhưng cũng khác với quan điểm ủng
hộ đoạn „có hậu“trong Truyện Kiều của Cao Hữu Ðỉnh,
Xuân Diệu cho rằng đoạn kết này là một kết thúc tất
yếu nội tại của câu chuyện cũng như của tư tưởng Nguyễn
Du, nhưng, - đây là điểm nỗi bật trong bài viết của ông
-, với Xuân Diệu, kết thúc tất yếu này lại không giống
với quan điểm của Nguyễn Ðăng Thục (sẽ được đề cập
đến sau), bởi vì nó là „Bản cáo trạng cuối cùng trong
Truyện Kiều“ [11] . Xuân Diệu viết:
Kiều
tưởng rời nơi tu hành về nhà là về nhà [12] , không ngờ
cuộc đời lại đòi hỏi nàng một mức nữa, qua lời Thúy
Vân. Ôi cái con em gái „khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở
nang“ kia, mày phúc hậu lắm, mày đâu có biết ý tứ gì.
Sao em đã khêu cái vết thương tưởng đã lành của chị:
„Dứt
lời nàng vội gạt đi,
„Sự
muôn năm cũ, kể chi bây giờ?
Một
lời tuy có ước xưa,
Xét
mình dãi gió dầm mưa đã nhiều
Nói
càng hổ thẹn trăm chiều,
Thà
cho ngọn nước thủy triều chảy xuôi!“
Nhưng
Thúy Kiều có gạt đi cũng không đưọc nữa, Kim Trọng đã
bắt lấy lời Thúy Vân.“ [13]
Và
sau khi phân tích hết lời lẽ của Kiều trong cuộc đối thoại
với Kim Trọng, Xuân Diệu kết luận:
…Trong
lời nói của Kiều là gì, nếu không phải là bản cáo trạng
xã hội, do chính nạn nhân lập nên?...; lúc tái hợp này rõ
ràng là khi Nguyễn Du uất ức lên cao độ nhất [14] …Trong
dịp kỷ niệm 200 Nguyễn Du, thiên tài văn học của dân tộc,
ta hãy đem bản cáo trạng cuối cùng ở trong Truyện Kiều
ấy mà đổ lên đầu tất cả những xã hội bóc lột áp
bức, và tuyên bố: - chúng ta là kẻ tử thù của những xã
hội ấy. [15]
Xuân
Diệu của 1965, khác với Xuân Diệu Thơ Thơ của thời tiền
chiến, đã đọc Nguyễn Du với cái TÂM chiến đấu thù nghịch
với những xã hội bóc lột áp bức. Có lẽ không những vào
thời điểm 1965 mà bất cứ lúc nào nhà thơ cũng nên chống
những áp bức bất công của xã hội dù dưới hình thức
nào, nhưng đọc đoạn cuối của Truyện Kiều trong tâm thức
như Xuân Diệu đọc có thể nói là chưa hiểu hết tâm hồn
và tư tưởng của Nguyễn Du gửi gắm ở đây.
Nguyễn
Ðăng Thục đã có một cái nhìn khác trong „Tâm lý văn nghệ
Truyện Kiều của Nguyễn Du“. Ngược với Xuân Diệu khi nhà
thơ này „Cám ơn Nguyễn Du biết thương người, biết vì
nể gượng nhẹ cho những trái tim, nên cố đem tài mình tả
tình yêu của hai người ấy... nhưng mỗi lần đọc tới những
lời Kiều nói, ba đợt trong cuộc đoàn viên, chúng ta lại
xót xa tức tối không chịu nổi“ [16] , Nguyễn Ðăng Thục
trong khi phân tích thực trạng tâm lý đa tình đa cảm của
nàng Kiều đã nhận định:
Tâm
hồn Kiều trước kia đang còn vọng động, bắt đầu bước
vào trường đời, còn ngày nay thì bình tĩnh vì đã biết
qua kinh nghiệm bản thân đến chỗ giác ngộ.
„Khúc
đâu đầm ấm dương hòa
Ấy
là Hồ điệp hay la Trang sinh?“ [17]
Giải
thích chữ Tâm của Nguyễn Du, mà Xuân Diệu hầu như không
đề cập đến, Nguyễn Ðăng Thục cho rằng:
Nguyễn
Du ở đây chủ trương giải thoát bằng cái Tâm của nhà Phật
là tình yêu Bi-Trí-Dũng (Prajna-Karma) của Bồ tát Quan Âm, tức
là cái Tâm giác ngộ tổng hợp cả tình lẫn lý… [18]
và
đi đến kết luận:
Nguyễn
Du đã thâm hiểu sức mầu nhiệm của tình yêu vĩnh cữu,
trường sinh bất tử
«Nợ
tình chưa trả cho ai
khối
tình mang xuống tuyền đài chưa tan»
cho
nên đã lấy chữ Tâm giải quyết chữ Tài, coi Tài như hạt
thóc phải hủy thể đi cho bông lúa Tâm Huệ phục sinh nẩy
nở, con người cũ chết đi để con người mới quân bình
xuất hiện không ở đâu xa, ở tại ngay tâm hồn ta vì „Thiện
căn ở tại lòng ta“. „Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài“.
[19]
Rõ
ràng Nguyễn Ðăng Thục đã đọc Nguyễn Du với một „tâm“
thức khác hẳn Xuân Diệu, và nếu so sánh hai quan điểm này,
thì sự cám dỗ „xếp loại“ hai tư duy ấy theo ý thức
hệ „diều hâu hay bồ câu“ rất dễ dàng.
Ta
hãy để cám dỗ đó không nảy sinh, vì nó không nằm trong
ý hướng của bài viết này, mà chỉ đặt câu hỏi „đoàn
viên“ có phải là „về nhà là về nhà“ như Xuân Diệu
tuyên bố.
Ðọc
đoạn cuối Truyện Kiều ta có thể thấy bố cục cũng như
nội dung về „đoàn viên“ thật sự phức tạp hơn cũng
như khác hẳn với suy nghĩ đơn thuần máy móc của Xuân Diệu
„về nhà là về nhà“, chấm hết, không nói lôi thôi.
Ðã
đành là về nhà nhưng làm thế nào để „về nhà“ chỉ
là „về nhà“, sau 15 năm „thanh y hai lượt, thanh lâu hai
lần“? Có xã hội nào từ xưa cho đến ngay cả ngày hôm
nay chấp nhận một cô gái điếm vào trong nhà với mọi niềm
nở? Và cách đối xử ra làm sao với một con người „ong
qua bướm lại đã thừa xấu xa“ như thế sau cuộc mừng
vui đoàn tụ? Vui đoàn tụ có lẽ kéo dài hai ba bữa nhưng
sau đó thực trạng hoàn cảnh phức tạp của từng phần tử
cá nhân đã có những quá khứ khác nhau có thể tạo nên một
cuộc sống chung hòa hợp hay không. Cũng như sau một cuộc
huynh đệ tương tàn, anh em ngồi lại với nhau không dễ dàng
nếu không có „đả thông tư tưởng“, cũng như sau một
cuộc chiến tranh, chiến thắng chưa phải giản đơn là chiến
thắng, chiến thắng thật sự là tái lập hòa bình trên cơ
sở con người, trên cơ sở đạo đức để có thể thực
hiện hòa bình vĩnh cửu. Nói tóm lại cần có một phương
thức cho cuộc trở về thực sự là đoàn viên trong ý nghĩa
hòa hợp.
Nhà
thơ Nguyễn Du đã dành cho ta nhiều kinh ngạc khi đọc lại
đoạn cuối Truyện Kiều, kinh ngạc trước cái tâm bao dung
của ông mà Nguyễn Ðăng Thục gọi là TÂM TỪ-BI. Có thể
nói tóm tắt trong một câu: Nguyễn Du đã dành cho đoạn cuối
này phần lớn nhất trái tim ông, từ đó vượt giới hạn
của một nhà thơ gò bó tư nhân tư kỷ để trở thành nhà
thơ đại đồng mà không bị hư hao về phuơng diện nghệ
thuật, thẩm mỹ thi ca.
3.
2. 2. Chữ Trinh như „thiện căn ở tại lòng ta“
Ðiểm
vượt thứ nhất của ông liên quan đến „chữ tình“ của
nàng Kiều. Chính vì „chữ tình“ ấy mà Nguyễn Du không
để nàng Kiều ở lại chùa đi tu cho hết cuộc đời còn
lại. Chính tâm thức Phật giáo bát nhã của ông trong quan
niệm „Phật hữu tình“ [20] đã ngăn chận mọi liễu tri
có tính giáo điều về quan niệm „La hán không trở lại“
và đón nhận cái nhìn mở rộng về vị Phật hữu tình (Bố
tát) sẵn sàng trở lại thế gian để cùng chia sẻ với thế
gian. Do đó „sống“ là cơ hội thực hiện không chỉ giác
ngộ cho riêng mình (đi tu) mà còn thực hiện hạnh chia sẻ,
hạnh từ bi và bao dung ngay trên thế gian (Bồ tát thõng tay
vào chợ). Có thể nói từ góc độ này Nguyễn Du xây dựng
ý niệm đoàn viên với một chữ „tình“ rất mới so với
quan niệm Nho giáo cũng như tập quán dân gian thời bấy giờ.
Chữ
tình ấy thật sự đã khởi đầu từ khi nàng Kiều lần đầu
tiên gặp Kim Trọng mà „tình trong như đã mặt ngoài còn
e“. Trong chữ „tình“ ấy nhà thơ không thấy biên giới
lễ nghi hay giai cấp trọng nam khinh nữ, cho nên nhà thơ đã
để cho Kiều vừa kín đáo mà đa tình đưa tín hiệu yêu
thương bằng cách bỏ rơi cành kim thoa, vừa táo bạo mà cũng
vì thế rất đáng yêu „xăm xăm băng lối vườn khuya một
mình“ tìm đến người yêu - một hành động đã bị các
nhà phê bình đạo đức đương thời phê phán gắt gao khi
đặt vấn đề đức hạnh của người phụ nữ. Nguyễn Du
đã không ngần ngại vượt tam cương ngũ thường của Nho
giáo, và xa hơn nữa có thể nói nhà thơ đã nhận rõ hơn
ai giá trị thực sự của người phụ nữ, ông đã cho người
phụ nữ ấy tự do TỎ TÌNH, đem hết trái tim yêu thương
bộc bạch với người yêu bằng những câu thơ hay nhất trong
thi ca:
Nàng
rằng khoảng vắng đêm trường,
Vì
hoa nên phải đánh đường tìm hoa
Bây
giờ rõ mặt đôi ta
Biết
đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao.
Không
có hành động nào tự nhiên, đẹp và tha thiết hơn thoát
ra từ tấm lòng chan hòa tình yêu ấy, nó vượt lên trên mọi
đánh giá luân lý hay so đo hơn thiệt về một chữ „TRINH“
khô cằn trong Nho giáo. Mối tình thiết tha ấy đã được
Kim Trọng chia sẻ và gìn giữ trang trọng. Ðoá hoa tình mà
Kiều trao tặng đã tìm được kẻ tri âm, đã là hạt „nhân“,
là viên ngọc được Kim Trọng nâng niu, nhớ mãi, cho nên tương
tư, cho nên hao mòn, cho nên đau đớn, cho nên ngất đi, cho
nên đi tìm, tìm mãi cho đến khi gặp lại mới thôi. Có thể
nói theo tâm cảm nhà thơ, Kim Trọng đã trở nên một người
tình lý tưởng nhờ vào tình yêu đẹp như ngọc của Kiều
hay nói khác hơn chính ngay giờ phút „vì hoa“, vì tình yêu
lên tiếng réo gọi nên Kim Trọng mới hiện hữu như người
tình, mới là „HOA“ của „HOA“ mới là đối tượng của
tình yêu. Kim Trọng là âm vọng của Thúy Kiều trong mắt Nguyễn
Du. Âm vọng ấy trở nên câu trả lời cho 15 năm sau.
Có
gì trong mối tình ấy làm cho Kim Trọng suốt đời không quên,
dù đã không một lần chung chăn chung gối? Có lẽ không chi
khác hơn là trái tim nóng hổi yêu thương của người con gái
trẻ măng, nóng hổi thiết tha hết mức nhưng đoan chính nghiêm
trang cũng tột cùng „thưa rằng đừng lấy làm chơi“ như
một dấu hiệu khao khát tính vĩnh viễn của tình yêu, cho
nên từ khi „đá biết tuổi vàng“ thì suốt 15 năm cuộc
đi tìm người yêu „đáy biển mò kim“ ấy của Kim Trọng
là bởi „vàng đá“ thuở ban đầu, chứ không phải vì „trăng
hoa“ nhất thời sôi nổi.
Có
thể nói, với tâm cảm „đạo về tình“ của ông, về một
chữ „yêu“ trong đó người phụ nữ đóng vai chính quyết
định tình yêu của mình, Nguyễn Du đã vượt xa những thành
kiến của xã hội đương thời về người phụ nữ, đồng
thời thách đố tất cả những trào lưu đương đại về
tình yêu, tình dục, về „tình yêu định mệnh“ (fatalismus),
về „thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt“, „yêu một
lần là xong“, về „giải phóng phụ nữ bằng âm hộ“
v.v và v.v. Yếu tính của „tình đạo“ ấy theo Nguyễn Du
nằm ở chỗ phải nêu lên được và làm tỏ rõ ranh giới
giữa „ái“ và „dâm“, giữa „mắc điều tình ái khỏi
điều tà dâm“, chính ranh giới này người phụ nữ hoàn
toàn có tự do ấn định, và chính nó khẳng định thể tính
(être, Sein) tự do của người đàn bà trong tương quan tình
yêu.
Trong
tình yêu với Kim Trọng, Kiều đã sử dụng tự do ấy tuyệt
đối: nói „dạ“ một cách đam mê cho tình ái và nói „không“
từ chối tình dâm, tiếng „không“ ấy được phát biểu
không phải vì một thế lực định chế nào khác hơn là sự
thành tâm muốn gìn giữ nỗi đam mê ấy được mãi hoài là
đam mê ban đầu. Chữ „không“ ấy là vì tình chứ không
phải vì lý, nó là lý lẽ tồn tại của tình yêu: TRUNG TRINH,
trung thành và duy nhất cho tình yêu đã chọn lựa trong tự
do. Cũng như giữa „hiếu và tình“, sự chọn lựa bên tình
bên hiếu“ xảy ra trong tự do. Nói không với „tình“ mà
chọn „hiếu“, có thể từ chối tình riêng để đáp tình
mẹ cha, chứng tỏ tình yêu của Kiều không dâm, không bị
vẩn đục, cho nên Kim Trọng nói: „như nàng lấy hiếu làm
trinh, bụi nào cho đục được mình ấy vay“.
Nguyễn
Du luận về chữ „TRINH“ có ba bảy đường với một cảm
thức „siêu vượt“ về thực thể của con người „KHÔNG
NGÔI THỨ“ [21] trong quan niệm Thiền học, bóc vỏ hết những
lớp „ba bảy đường“ định kiến, định chế, định mệnh,
vào tận trong ý nghĩa thể tính của tình yêu, để chỉ ca
ngợi, thi hóa chỉ một chữ TRINH như là một trong những điều
kiện hiện hữu của tình yêu, tình người, một chữ TRINH
nằm trong chữ MÊ như là mảnh đất tồn tại của „MÊ TÌNH“,
ÐẮM TÌNH, như nước giếng Trọng Thủy làm sáng viên ngọc
Mỵ Châu.
Cho
nên từ khi câu hỏi ướm tình của Kim Trọng:
Thoa
này bắt được hư không
Biết
đâu hợp phố mà mong châu về?
Viên
ngọc tình ấy, dù năm dù tháng, dù trong 15 năm tưởng đã
chìm đáy bể, vẫn là giấc mơ „châu về hiệp phố“ của
người tình chung:
Dẫu
rằng vật đổi sao dời
Tử
sinh, cũng giữ lấy lời tử sinh
Duyên
kia có phụ chi tình
Mà
toan chia gánh chung tình làm hai.
Cái
nhân duyên „tình“ ấy của đầu câu chuyện là lý do nội
tại của đoạn kết Truyện Kiều.
3.3.
Những nét độc sáng trong đoạn thơ đoàn viên
Có
thể nói, trong đoạn kết này, bằng sức nhạy cảm cùng tột,
tư tưởng của nhà thơ đã bắt kịp được sức sống thi
ca của ông trên 4 bình diện vượt bực: bình diện diện tâm
linh, xã hội, tâm lý và tư tưởng, trong đó cảm thức tâm
linh làm nền tảng cho tư duy của ông.
3.3.1.
Ðoàn viên và chuyển nghiệp
Trước
tiên, trong cuộc đoàn viên này, nhân vật đã từng ước mơ
đoàn viên bỗng sợ „đoàn viên“ hơn ai cả. Ðó là tâm
trạng của nàng Kiều, mừng được đoàn tụ nhưng lại sợ
gặp gỡ. Nàng trở nên thụ động. Thụ động là phải, vì
người gieo nhân, đang nhận quả. Chính Kim Trọng, „tiếng
vọng“ hay người tình và cha mẹ anh em, đầu mối của chữ
hiếu, trở nên chủ động và lên tiếng đón mừng người
tình trở về, người con trở về. Tư thế chủ động thực
hiện đoàn viên về phía những người ở nhà đem lại một
chiều hướng mới cho ý niệm đoàn viên, vượt trên ý nghĩa
nội tại đơn thuần „về nhà là về nhà“, đem túi nải
vào tìm một góc nhà để ngồi.
Chiều
hướng này mang ít nhiều ý nghĩa tôn giáo, thiêng liêng [22]
, như là chân trời mới mở ra cho thấy ý niệm toàn thể
(Ganzheit) làm nền tảng trong chuỗi nhân quả luân hồi: TA
và NGƯỜI trong một nhất thể „bọc chứa“ con người.
Ý niệm nhân quả luân hồi không ngôi thứ, không trước sau
theo nghĩa đường thẳng mà là đường vòng qua câu ca dao „sinh
con rồi lại sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi lại sinh ông“
làm nên một phần nền tảng đạo đức học Phật giáo trong
ý nghĩa tất cả chúng sinh đều là thân thuộc, đều là MỘT
TOÀN THỂ (chúng ta, nous, wir, we) trong đó tôi và anh chị đều
hiện hữu đồng thời và khắp nơi ở trong ngôi nhà thể
tính trở thành (Être dans le Retour, das werdende Sein) , từ đó
phát tâm thiện hảo với mọi chúng sinh. [23]
Thật
là thú vị khi Nguyễn Du diễn tả ý niệm ấy bằng hai chữ
„rộng xem“, nhìn cùng khắp thì thấy có …một nhà: „rộng
xem đủ mặt một nhà“, trong ý nghĩa vừa thực tại (Kiều
nhìn quanh nhìn xa ra hết mọi phiá thì thấy đông đủ bà
con) vừa siêu việt.
Trong
bể chứa „con người“ có cả địa ngục và Niết bàn.
Con người có thể là địa ngục của ta mà cũng có thể cho
cơ hội giúp ta giải thoát. Sau „địa ngục là miền nhân
gian“ nàng Kiều trở về trong vòng tay lớn của gia đình:
Này
chồng này mẹ này cha
Này
là em ruột này là em dâu…
Rộng
xem đủ mặt một nhà:
Xuân
già còn trẻ, huyên già con tươi;
Hai
em phương trưởng hòa hai,
Nọ
chàng Kim đó, là người ngày xưa!
Tưởng
bây giờ là bao giờ,
Rõ
ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao!
Giọt
châu thánh thót quẹn bào
Mầng
mầng, tủi tủi, xiết bao sự tình!
Nỗi
vui mừng thật là lớn lao khi một nguyện cầu được đền
đáp, và cuộc tìm lại được người con „ngộ biến“ 15
năm như một phép nhiệm mầu „châu về hợp phố“:
Rõ
ràng hoa rụng hương bay
Kiếp
sau hoạ thấy, kiếp này hẳn thôi
Minh
dương đôi ngả chắc rồi,
Cõi
trần mà lại thấy người cữu nguyên…
Nỗi
mầng biết lấy chi cân
Lời
tan hợp, chuyện xa gần thiếu đâu?
Hai
em hỏi trước, han sau,
Ðứng
trông chàng cũng đổi sầu làm tươi.
Một
nỗi vui toàn vẹn như thế có một chút kính cẩn thiêng liêng
mà con người trong giới hạn của mình bỗng thấy chạm đến
sức mạnh siêu việt: sức mạnh tái sinh ấy nội tại trong
ta mà cũng ngoài ta trong nghĩa „toàn thể“ hay „đoàn viên“.
Cho nên không quên cám ơn „tâm từ thương chúng sanh“ [24]
:
Quây
nhau lạy trước Phật đài.
Tái
sinh trần tạ lòng người từ bi.
Ai
bảo đây là những vần thơ gượng ép về cuộc đoàn tụ,
kẻ ấy mang tâm trạng của lớp độc giả „bạo dâm“ (sadistisch),
chỉ muốn đọc nhân vật chính bị đày đoạ đến tột cùng,
nhân vật càng bi thảm, càng tuyệt vọng cho đến chết, người
đọc càng được phấn kích tính bạo dâm của mình và cảm
thấy thoả mãn nhu cầu tìm kiếm cái hụt hẫng, cái không
vẹn toàn, cái vụn vặt. Văn học nghệ thuật phương Tây
sau thời „Khát vọng và giông tố“, văn chương hậu tân
tiến với những trào lưu hiện thực, hiện sinh đã cung cấp
đòi hỏi này như một qui luật „phải“ làm („muß“).
Sự nhấn mạnh „bóng tối“ đối chọi với áng sáng mặt
trời, như Nietzsche có lần phát biểu, gây cảm hứng cho nghệ
thuật, bóng tối kích thích trí tưởng tượng cần thiết
cho sáng tạo, cho hoang tưởng. Nietzsche chịu ảnh hưởng của
Phật giáo qua Schopenhauer, nhưng ông đã tuyệt đối hoá ý
niệm tính không đến hư vô chủ nghĩa, đã tạo nên một
mỹ thuật học siêu hình (arte metafisica) dựa trên „amor fati“
(tình yêu định mệnh).
Ngược
lại với tinh thần trên, đoạn „có hậu“ của Truyện Kiều,
như Cao Huy Ðỉnh nhận xét, đã được Nguyễn Du triển khai
thích hợp với cảm nghĩ và tư duy phương Đông về „chung
cuộc“ như là dấu ấn thoát khỏi „bề trầm luân“ của
từng câu chuyện, ngoài đời cũng như trong văn chương, mọi
sự việc đều nên được „vuông tròn“. Cuộc tình phải
là chung tình, chứ không phải định mệnh chia đôi. Cảm nhận
nhạy cảm cũng như sự uyên thâm triết lý đạo Phật của
nhà thơ đã làm cho đoạn kết này không còn là khuôn sáo
rập mẫu mà trở nên một điểm cao tư tưởng văn học Việt
Nam.
Thái
Kim Lan
Chú
thích:
[1]„Kỷ
niệm 200 năm Nguyễn Du (1765 – 1965)“, nhà xb Khoa học xã
hội, 1965.
[2]TTK:
„Nhân quả với nghiệp thành ra như cái nợ mình vay, cứ
vay vay trả trả không hết. Cái nghiệp cũng thế, có cái nghiệp
nặng, có cái nghiệp nhẹ. Mỗi cái nghiệp là cái quả của
kiếp trước và lại làm cái nhân cho kiếp sau, rồi cứ mãi
như thế, trừ khi nào tu được thành Phật, gỡ hết cái nghiệp
chướng, thì cái thần thức mới vào được chỗ tĩnh tịch
thường định“, đd, tr. XXXIV
[3]TTK,
đd, tr. XXXVII
[4]TTK,
Truyện Thúy Kiều, đd, tr. XXXV
[5]Trần
Văn Giàu, „Mấy đặc điểm lớn trong nội dung tư tưởng
các tác phẩm của nhà thơ dân tộc Nguyễn Du“, trong“ Kỷ
niệm 200 năm Nguyễn Du (1765-1965“) đd, tr. 277
[6]Hoàng
Ngọc Hiến, Triết lý Truyện Kiều trong „Kỷ niệm 200 năm
Nguyễn Du (1765-1965)“, tr. 279, 281, 284
[7]đd,
Cao Huy Đỉnh, tr. 291/293
[8]đd,
Cao Huy Đỉnh, tr. 294
[9]Ðề
tài của một công án Thiền nổi tiếng trong Thiền học Trung
Hoa
[10]Xuân
Diệu, „Bản cáo trạng cuối cùng trong Truyện Kiều“ trong
„Kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du“, đd, tr. 204/205
[11]Xuân
Diệu, trong „Kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Du“, đd, tr.
216. „ta hãy đem cái bản cáo trạng cuối cùng ở trong Truyện
Kiều ấy mà đổ lên đầu tất cả những xã hội bóc lột
áp bức, và tuyên bố: - chúng ta là kẻ tử thù của những
xã hội ấy“.
[12]Làm
rõ nét của người viết
[13]Xuân
Diệu, đd, tr. 208/209
[14]Xuân
Diệu, đd, tr. 208/209/210
[15]XD,
đd, tr. 215/216
[16]đd,
tr. 25
[17]Nguyễn
Ðăng Thục, „Tâm lý văn nghệ Truyện Kiều của Nguyễn Du“,
trong „Tuyển tập phê bình Ðoạn trường tân thanh“, Dòng
Việt số 13, 2003, tr. 105
[18]đd,
tr. 107
[19]đd,
tr. 107
[20]Nguyễn
Du, Văn tế thập loại chúng sinh câu 182/83:
„Phật
hữu tình từ bi cứu độ,
Chớ
ngại rằng có có không không“,
bản
Hoàng Xuân Hãn, Paris 1976, tạp chí Văn Học số 2, 1977, chùa
Trúc Lâm, Paris phóng ảnh 1991
[21]Thiền
học
[22]Trong
tư tưởng Thiên chúa giáo cũng có nói về buổi liên hoan mừng
người con trở về nhà là buổi liên hoan trọng thể nhất,
Phúc âm, 15, Saint Luc.
[23]P.
Schmitzleukel, chủ biên, Die Idee der Reinkarnation in Ost und West,
(Ý niệm tái sinh của Ðông vàTây),Diederich,1996, tiểu luận:
Reinkarnation und spiritueller Fortschritt im traditionellen Buddhismus
(tái sinh và thăng tiến tâm linh trong Ðạo Phật truyền thống)
tr. 29/56
[24]Dhammapada,
Kinh Pháp cú, Lời dạy của Ðức Phật.
Ý NIỆM ĐOÀN
VIÊN
TRONG
TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU (Phần
III)
Thái
Kim Lan
3.
3. 2. „Con người trần trụi không ngôi thứ“ [1]
hay
cô gái điếm Thúy Kiều và ông quan Kim Trọng
Mỗi
cuộc trở về của đứa con lạc loài mang một ý nghĩa thiêng
liêng của sự hội nhập vào căn nhà thể tính (Haus des Seins),
cho nên đứa con ấy phải được truy nhận trong nhân cách
cao quí của người trở về [2] . Nguyễn Du đã cảm nhận
ý nghĩa ấy hơn ai hết qua cái nhìn chúng sinh và Phật hữu
tình là một. Tuy nhiên trong xã hội Việt Nam mang nặng những
thành kiến đạo đức hẹp hòi đối với người phụ nữ,
và nhất là với một cô gái điếm như nàng Kiều, vấn đề
không phải đơn giản. Tủi nhục ê chề đến từ hai phía,
và sự chạnh nghĩ niềm riêng có lẽ vẫn khắc khoải cho
từng phần tử trong gia đình, nếu không có một cuộc „gạn
đục khơi trong“ tẩy sạch mọi mặc cảm. Cuộc trở về
có thể là địa ngục lần thứ hai như có nhiều người đã
phê phán.
Nhưng
quả thật không có một ý tưởng nào táo bạo hơn trong thời
của ông đồng thời mang đến nhiều trang trọng cho người
phụ nữ như thế khi Nguyễn Du đưa Kiều trở về trong một
cuộc đối thoại tay ngang với người tình cũ sau buổi tiệc
đoàn viên. Nguyễn Du táo bạo trong trái tim từ bi nhân ái,
và trang trọng cũng từ trái tim ấy đối với người phụ
nữ - nhất là với người phụ nữ đầy thương tích nội
tâm như nàng Kiều.
Ông
đã vượt qua thành kiến của xã hội thời ông nhưng cũng
vượt trên mọi phê phán thiển cận mấy trăm năm sau, khi
dành cho Kiều một chỗ ngồi trang trọng như thế trong cuộc
đối thoại thật sự không còn ngôi thứ giữa cô gái điếm
Thúy Kiều và ông quan Kim Trọng: cuộc đối thoại của „tình
nhân lại gặp tình nhân“.
Ở
đây Nguyễn Du như một nhà tâm lý học phân tích thực hiện
một cuộc trị liệu tâm lý nàng Kiều. Và người trị liệu
có khả năng nhất không ai khác hơn là người tình đã một
phen tri kỷ, đã một phen chia nỗi đam mê, chia chữ trung trinh
với nàng, hay như đã nói ở trên, trong cuộc đoàn viên này
tiếng vọng của tình yêu ấy đáp lễ tri âm: Kim Trọng và
chỉ có Kim Trọng mới chữa lành được căn bệnh của nàng
Kiều.
Sẽ
rất bẽ bàng - chứ không phải như Xuân Diệu ở trên nhận
định „sao mày khơi lại vết thương cũ của chị“ nếu
trong cuộc đoàn viên này những người ở nhà không chủ động
lên tiếng đề nghị „nối lại tình xưa“. Thúy Vân, người
em đã thay Kiều kết duyên với Kim Trọng, đã nói điều ấy
với tất cả chân tình, như một truy nhận chỗ đứng và
vai trò vẫn không thay đổi trong gia đình của người chị
lạc loài. Ở đây ta thấy Nguyễn Du lại chứng tỏ hơn một
lần nữa sự nhạy cảm bao dung trân trọng người phụ nữ,
cũng như sâu sắc về mặt tâm lý và nhất là chú trọng đến
tâm lý người phụ nữ: trong suốt câu chuyện Nguyễn Du chỉ
tả nét đẹp Thúy Vân một lần rồi thôi, nhưng trong đoạn
đoàn viên, ông đã đưa ra nét đẹp trung hậu của người
phụ nữ này ở hai điểm: Thúy Vân nằm mộng thấy Kiều
còn sống kể lại cho mọi người nghe, giấc mộng tái ngộ
mà mọi người trong gia đình mong ước, chứng tỏ nàng đâu
có vô tư mà ngược lại rất ý tứ. Buổi tái ngộ thật
sự, Thúy Vân chứ không phải cha mẹ hay Kim Trọng lên tiếng
yêu cầu chị nối duyên xưa. Ðể cho Thúy Vân phát biểu trước
tiên, rồi đến cha mẹ là những kẻ ngày đêm mong ước gặp
lại đứa con lạc loài, là một sắp xếp không những chí
tình mà còn hợp lý „phải đạo“ chị em, phải đạo vợ
chồng. Nếu để Kim Trọng nói trước, cán cân hòa thuận
trong gia đình trở nên cán cân bạo lực của xã hội trọng
nam khinh nữ.
Nhưng
vai chính của cuộc tái hợp không ai khác hơn là Kiều với
Kim Trọng. Kim Trọng là người lên tiếng sau nhưng là người
bênh vực, là luật sư biện hộ cho Kiều, đã luận về chữ
„trinh“ có ba bảy đường:
Như
nàng lấy hiếu làm trinh,
Bụi
nào cho đục được mình ấy vay.
Lời
biện hộ ấy tuy thiết tha, nhưng sau 15 năm thực tế „bán
trinh“, „mấy hoa cũng khuyết, mấy trăng cũng tàn“ nó có
thể được hiểu như một ngụy biện dùng để thoa dịu,
an ủi, như một lý lẽ „nói vào“ cho bằng được, cho nên
chưa thuyết phục. Trong cuộc đàm thoại chung, Kiều đã lên
tiếng chối từ các đề nghị của mọi người nên tái hôn
lại với Kim Trọng. Rồi vẫn bị nài xin nên miễn cưỡng
nhận lời. Một đối thoại đầy diễn biến tâm lý của
người đi xa trở về, như con chim lạc đạn còn mang nỗi
kinh khủng trong lòng, nên thái độ từ chối là một thái
độ dễ hiểu, và sự kèo nài của người thân cũng dễ hiểu.
Thái độ từ chối ấy thoạt tiên có lẽ được hiểu như
một lời từ chối khách sáo của người trở về, cho nên
người nhà càng nài ép thêm, - hình như càng nài ép vì muốn
biểu lộ hết chân tình của những người thân đối với
kẻ trở về. Vì chân tình quá cho cho nên buộc phải thuận
tình làm lễ hợp hôn. Cuộc đối thoại giữa mọi người
thân với Kiều do đó còn chưa thâm nhập cốt tủy dụng tâm
của Nguyễn Du.
Nguyễn
Du đã rất vi tế khi đặt cuộc đối thoại rốt ráo thân
tình trong khung cảnh „phòng riêng“ của đêm tái hợp Kim
Kiều. Cuộc tái hợp trở nên một cuộc giải bày tâm sự
của nạn nhân 15 năm lưu lạc với người tình đã chứng
tỏ hết lòng thủy chung sau cuộc „đáy bể mò kim“. Suốt
15 năm, tiếng nói của Kiều gồm những tiếng kêu, tiếng
khóc, tiếng van xin, tiếng hằn học, tiếng nguyền rủa, những
„tiếng đoạn trường“ ấy thường không được nghe, thường
bị chà đạp, thường bị cố tình hiểu sai, thường bị
lợi dụng. Ngay cả với Thúc Sinh hay Từ Hải, Kiều đã không
được nghe bằng tất cả tấm lòng yêu thương và trân trọng,
và nhất là không được hiểu thấu tâm can như với Kim Trọng.
Cho
nên đêm động phòng hoa chúc với „duyên bẽ bàng“trong
tâm trạng „bâng khuâng“ „ngậm ngùi“ [3] ngỗn ngang là
đêm trái tim bị tổn thương đến cùng cực của nàng Kiều
được phơi bày trần trụi nhất, một trái tim đã bị người
đời hay xã hội – cũng có thể nói thế với Xuân Diệu,
- dìm xuống vũng lầy, một thân phận đàn bà trong mọi hèn
yếu của người đàn bà bị vùi dập. Tiếng nói của trái
tim bị tổn thương ấy đắng cay, chua chát, nó còn bị giam
hãm trong lý luận phòng thủ của kẻ đã từng bị lừa lọc,
nó còn tính toán thiệt hơn, nó còn giận hờn, nó còn mỉa
mai hằn học, nó tuôn hết những ấm ức như một bệnh nhân
nằm trên ghế trị liệu (Therapie-couch) phơi bày cái ngã bệnh
lý không chút ngại ngần :
Riêng
lòng đã thẹn lắm thay
Cũng
đà mặt dạn mày dày khó coi
Những
như âu yếm vành ngoài
Còn
toan mở mặt với người cho qua
Lại
như những thói người ta
Vớt
hương dưới đất, bẻ hoa cuối mùa
Cũng
nhơ dở nhuốc bày trò
Còn
tình đâu nữa chỉ thù ấy thôi!
Người
yêu ta xấu với người
Yêu
nhau thì lại bằng mười phụ nhau.
Con
người ấy, trước đây đã bảo vệ tới cùng „duyên đằm
thắm“ không muốn nó trở thành „duyên bẽ bàng“, đang
lún sâu trong nỗi hoài nghi tuyệt đối về tình yêu để chỉ
thấy một thứ tình yêu „amor fati“ trong nghĩa giãy chết
bệnh hoạn „yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau“, không
có tình thì chỉ có thù, xấu với người thì người xấu
lại. Tuyệt vọng là phải, sau những lần bị lừa gạt trong
suốt 15 năm như thế, vết thương nội tâm của Kiều vẫn
còn sâu hoắm.
Nhưng
Nguyễn Du không tuyệt vọng về nhân vật của mình, hay đúng
hơn về nhân cách của người phụ nữ mà ông đang đặt ngang
hàng với nam giới – có lẽ còn hơn – vì ông đang để
cho con người ấy „vượt“ qua tất cả những thường tình
của lớp người yếu hèn mà Nietzsche đã gọi là những con
bệnh được xã hội sản xuất dùng để phục vụ cho lớp
người mạnh, lớp người quí tộc sống nhờ những con bệnh
ươn hèn ấy [4] . Ông đã để cho nàng Kiều nói „không“
một lần nữa với người tình duy nhất trong đời:
Chữ
trinh còn một chút này
Chẳng
cầm cho vững lại giày cho tan“.
Chữ
„không“ vọng lên giữa những cơn mê sảng tâm lý lần
này có một dấu nhấn khác, nó không bật lên từ „lý trí“suy
diễn như trong đối thoại trước, như ta lầm tưởng. Lần
này tiếng „không“ thoát ra từ trong tiềm thức của con
người Kiều, từ trong bổn lai „thiện căn“ của người
phụ nữ đối với thân xác của mình, nó đến như một trực
giác về tự tính của người phụ nữ, về cái quyền của
người phụ nữ đối với thân xác của mình. Quyền ấy trong
quá khứ đã bị xã hội đầy cạm bẫy bên ngoài tước đoạt,
đã bị những hạng người gian ác giày xéo, làm cho nàng luôn
luôn ở trong thế bị cưỡng bách, và lắm lúc để trôi xuôi
theo diễn biến sinh lý của thể xác, nương theo lạc thú sinh
lý máy móc:
Bấy
chầy gió táp mưa sa,
Mấy
trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn.
Còn
chi là cái hồng nhan
Đã
xong thân thế, còn toan nỗi nào.
15
năm trời „dập dìu lá gió cành chim“như thế có thể tạo
nên một quán tính cho người phụ nữ, dễ buông xuôi, một
khi „ch