Nguyễn
Du (1765-1820) tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu
Hồng Sơn Liệp Hộ, Nam Hải Điếu Đồ, sinh trưởng trong
gia đình phong kiến quý tộc có nhiều danh vọng, quê gốc
ở làng Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Cha và anh của ông
giữ những chức vụ quan trọng trong phủ chúa Trịnh. Thời
trẻ ông tập ấm một chức quan võ nhỏ của cha nuôi họ
Hà ở Thái Nguyên. Năm 1787, Tây Sơn ra Bắc diệt Trịnh, ông
bắt đầu thời kỳ “Thập tải phong trần” (Mười năm
gió bụi). Sau ông phục vụ nhà Nguyễn, làm đến Hữu Tham
tri Bộ Lễ, từng được cử làm chánh sứ đi sứ Trung Quốc.
Ông
là đại thi hào dân tộc, tác giả kiệt tác Truyện Kiều
và nhiều tác phẩm thấm đẫm tinh thần nhân văn khi đấu
tranh mãnh liệt cho quyền sống, quyền hạnh phúc của con người,
phơi bày nỗi thống khổ của kẻ bị trị, cũng như phơi
bày những sự tàn ác của chế độ phong kiến. Vì những
cống hiến kiệt xuất về mặt văn học, năm 1965, nhân kỷ
niệm 200 năm ngày sinh của ông, ông được UNESCO công nhận
là Danh nhân Văn hoá thế giới đầu tiên của Việt Nam.
Chúng
ta thường biết đến Nguyễn Du với tư cách là một nhà thơ
mang tinh thần nhân đạo chủ nghĩa cao cả, một nhà thơ hiện
thực sâu sắc, một con người của cuộc đời trần thế
gian nan, đã viết nên những tác phẩm bất hủ về quyền
sống của con người bằng một thứ nghệ thuật trác tuyệt.
Tác phẩm của ông bày tỏ nỗi cảm thương sâu sắc đối
với nỗi thống khổ của con người “có con mắt trông thấu
sáu cõi và tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời”, khiến cho các
tác phẩm như “có máu sa ở đầu ngọn bút”.
Nhưng
chúng ta không biết rằng, ông còn là một nhà Thiền học,
một tín đồ Phật giáo từ trong tâm khảm. Tinh thần Thiền
học đã thấm nhuần trong nhãn quan của ông đối với cuộc
đời, cũng như thấm nhuần trong nhiều sáng tác quan trọng
của ông. Nó chính là một động lực để ông sáng tác, một
mục tiêu để ông gửi gắm, và một cứu kính để ông nương
tựa. Nó là một phần quan trọng trong tư tưởng nghệ thuật
của ông.
Người
ta gọi thời đại của Nguyễn Du là thời đại bão táp, thời
đại của những đổi thay. Những cảnh “thay đổi sơn hà”,
những “cuộc bể dâu” diễn ra liên tục. Và con người
quay cuồng trong khổ nạn của mọi đổi thay lịch sử. Bằng
chính cuộc đời “dâu bể” của mình, Nguyễn Du nhận ra
rằng, con người muốn tồn tại thì phải vượt ra ngoài mọi
sự đổi thay, vượt lên trên mọi sự điên đảo, vượt
lên cái hằng biến để thường trụ vào cái vĩnh viễn, cái
bất biến.
Nhưng
vượt lên bằng cách nào? Bằng chính con người đầy những
“tham, sân, si” của mình, hay trông đợi vào một phép màu
của tạo hoá? Tất cả những điều đó, theo ông, đều là
khong thể. Ông cho rằng, con người ta chỉ có thể tồn tại
được, chỉ có thể vượt qua được thực tại khổ đau
bằng một thái độ “vô chấp”, bằng một tinh thần từ
bi hỉ xả được quán chiếu trong hành động và suy nghĩ.
Trong bể khổ trầm luân, con người cố vùng vẫy thoát ra,
nhưng nào thoát được. Bởi người ta không nhận thức được
rằng, tất cả những thứ đó chỉ là thứ “bào ảnh”
làm mê hoặc con người. Ông muốn mọi người phải nhận
thấy rằng, cuộc đời này chỉ là những sát na của ảo
ảnh, để cuối cùng “vạn cảnh giai không”. Trong bài thơ
“Đề động Nhị Thanh”, ông viết:
Mãn
cảnh giai không hà hữu tướng,
Thử
tâm thường định bất ly thiền.
Đại
sư vô ý diệc vô tận,
Phủ
thán thành trung đa biến thiên.
Dịch
nghĩa:
Khắp
cõi đều là không thì làm gì có sắc tướng?
Lòng
này thường yên định, không xa đạo Thiền.
Đức
Phật không có tâm ý mà bao la vô tận,
Ngậm
ngùi nhìn xuống những đổi thay trong thành.
Hệ
luỵ của cuộc đời, những đớn đau của thân kiếp, là
gì nếu như không phải vì con người ta còn cố bám víu lấy
cái “sắc”, cái “hữu”, còn câu chấp vào chuyện có
không.
Nên chăng là hãy trở về, trở về với chính mình, với “bản
lai diện mục” của chính mình. Nhưng ý thức là một chuyện,
thực tế lại là chuyện khác. Cả cuộc đời ông vẫn phải
gắn bó với bao điều khiến cho ông đau khổ, khiến cho ông
phải chứng kiến những xót xa của mọi kiếp người, khiến
cho ông “không có bệnh mà người lúc nào cũng cứ cúi khom”
(vô bệnh cố câu câu). Ông cảm thương những số phận bất
hạnh cũng chính là cảm thương cho thân kiếp của mình, “thương
người mà lại thương mình xót xa”. Ông hổ thẹn vì đã
phản bội chính cái tư tưởng xuất thế mà ông hằng nguyện
ước. Trong bài thơ “Trông, chùa Thiên Thai”, ông viết:
Khả
liên bạch phát cung khu dịch,
Bất
dữ thanh sơn tương thuỷ chung.
Dịch
nghĩa:
Thương
mình đầu bạc còn phải lận đận,
Không
được cùng núi xanh trọn nghĩa thuỷ chung.
Chúng
tôi cho rằng, lời phát biểu sâu sắc nhất về tư tưởng
Thiền học của Nguyễn Du là trong bài thơ “Lương Chiêu Minh
Thái tử phân kinh thạch đài” (Đài đá phân kinh của Thái
tử Chiêu Minh nhà Lương). Trong lần đi sứ Trung Quốc, Nguyễn
Du đã đến dưới đài phân kinh của Thái tử Chiêu Minh, con
của Lương Vũ Đế (502-549), một người rất sùng đạo Phật.
Đài đá đã mòn hết chữ, chỉ còn hai chữ “phân kinh”,
ghi lại câu chuyện vị Thái tử nhà Lương nhìn đời bằng
con mắt “phân biệt”:
Đây
là nơi Thái tử Chiêu Minh đời Lương chia kinh
Đài
đá chỉ còn hai chữ “Phân kinh”.
Dưới
đài đá này, ông giác ngộ ra yếu chỉ của đạo Phật. Ông
nhận thấy cái mờ mịt trong nhận thức và cái vô nghĩa trong
công việc “chia kinh” của vị Thái tử xưa:
Đạo
Phật vốn là không, không nhờ vào vật: Đâu có kinh mà phải
chia?
…
Văn thiêng không ở ngôn ngữ
Kinh
Kim Cương là gì, kinh Pháp Hoa là gì?
Giữa
sắc với không, mờ mịt không hiểu rõ
U
mê mà theo Phật, thì Phật thành ma
Theo
ông, làm sao có thể “chia kinh” được, làm sao có thể dùng
con mắt “phân biệt” để giải minh được Phật lý, mà
phải biết mở con mắt “vô phân biệt” để nhận thức
nó, thì mới có thể tự mình chứng lấy được chân lý.
Bởi vì “Linh Sơn chỉ ở trong lòng người”. Trong bài thơ
của mình, ông đã nhắc lại gần như nguyên văn lời kệ
tiêu biểu cho phép “đốn” nổi tiếng của sư Huệ Năng,
vị tổ sư thứ sáu của Thiền tông Trung Quốc:
Minh
kính diệc phi đài
Bồ
đề bản vô thụ
(Minh
kính cũng không phải là đài
Bồ
đề vốn không phải là cây)
Nguyễn
Du từng trăn trở nhiều về Phật pháp, về Thiền lý, nhưng
như ông nói, chỉ khi đứng dưới đài phân kinh của Thái
tử Chiêu Minh, ông mới giác ngộ được chân lý:
Ta
đọc kinh Kim Cương hàng nghìn lượt
Những
ý nghĩa sâu xa trong đó phần nhiều không rõ ràng
Khi
đến dưới đài Phân kinh này
Mới
biết “kinh không chữ” mới thật là chân kinh
Chỉ
khi chứng qua cảnh huống cụ thể này, ông mới thực sự
giác ngộ được lời dạy của kinh Kim Cương: “ưng vô sở
trụ nhi sinh kỳ tâm” (chớ có trụ vào một cái gì mà sinh
ra tâm mình).
Tác
phẩm trình bày trực tiếp nhất tư tưởng Phật giáo của
Nguyễn Du là bài “Văn tế thập loại chúng sinh”. Đây là
bài văn tế đặc biệt trong kho tàng văn tế của Việt Nam,
nó được Nguyễn Du làm ra để khóc các cô hồn nhân ngày
lễ “xá tội vong nhân” rằm tháng bảy hàng năm. Trong bài
văn này, Nguyễn Du đã thể hiện một sự thương cảm vô
bờ bến đối với nỗi thống khổ của mọi kiếp người
trong cuộc đời. Có thể khi sinh thời, con người ta mỗi người
một cảnh, có số phận, có địa vị khác nhau, có kẻ sang
người hèn, kẻ cao người thấp, có kẻ gây oán chuốc thù,
có người chịu oan khiên, đầy đoạ… từ đứa trẻ “lỗi
giờ sinh lìa mẹ lìa cha” cho đến “những kẻ mũ cao áo
rộng”. Nhưng tất cả đều cùng chịu cái chết oan nghiệt:
Kìa
những kẻ chìm sông lạc suối
Cũng
có người sẩy cối sa chân
Có
người leo giếng đứt dây
Người
trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành
Ngf
thì mắc sơn tinh thuỷ quái
Người
thì sa nanh sói ngà voi
Có
người có đẻ không nuôi
Có
người sa sảy, có người khốn thương…
Họ
đều là những oan hồn vất vưởng:
Mỗi
người một nghiệp khác nhau
Hồn
siêu phách lạc biết đâu bây giờ?
Nên
họ đều cần được yêu thương, cần được thông cảm.
Có
người cho rằng tác phẩm này có tính hạn chế, vì nó đã
thể hiện một thái độ “mơ hồ giai cấp”, một “tình
yêu vô bờ bến”, một tình thương không giới hạn. Điều
đó không đúng. Nguyễn Du không nói tới người sống. Nguyễn
Du chỉ nói tới người đã chết. Và ông chỉ nói tới những
“oan hồn”, cần được “xá tội vong nhân”. Dù khi sinh
thời, người đó như thế nào, nhưng nếu bị chết oan khuất,
thì đều đáng thương, đều được cảm thông. Đây là một
tư tưởng lớn. Tư tưởng nhân văn cao cả đó chỉ có thể
có được trên nền tảng của tư tưởng Phật giáo. Chỉ
có thể là tư tưởng bác ái của nhà Phật mới đủ sức
bao quát và cứu khổ cho mọi loài, không phân biệt giai cấp,
tầng lớp, già trẻ, lớn bé như thế. Tất cả chúng sinh
đều trở nên nhỏ bé và đều cần được cứu giúp như
nhau. Lời thơ của Nguyễn Du cất lên, như mời gọi, như động
viên, như nhắn nhủ mọi kiếp khổ đau:
Nhờ
Đức Phật siêu sinh tịnh độ,
Bóng
hào quang cứu khổ độ u.
Rắp
hoà tứ hải quần chu,
Não
phiền rũ sạch, oán thù rửa không.
…
Nhờ phép Phật oai linh dũng mãnh,
Trong
giấc mê khua tỉnh chiêm bao.
…
Mười loài là những loài nào?
Gái
trai già trẻ đều vào nghe kinh.
Kiếp
phù sinh như hình bào ảnh,
Có
chữ rằng “vạn cảnh giai không”
…
Ai ơi lấy Phật làm lòng,
Tự
nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.
Nhưng
có lẽ tư tưởng Phật giáo của Nguyễn Du được trình bày
một cách đặc sắc nhất là trong tác phẩm bất hủ “Truyện
Kiều”. Tư tưởng Phật giáo được ông trình bày một cách
nghệ thuật qua các hình tượng thơ, qua hành động của các
nhân vật, các tình huống của câu chuyện, các diễn biến
và xung đột của cốt truyện…
Tư
tưởng nghệ thuật căn bản của Nguyễn Du trong tác phẩm
này là đấu tranh cho quyền sống, quyền hạnh phúc của con
người. Ông ca ngợi những con người “tài tình” của mọi
thời đại, và ông cho rằng họ phải có quyền được sống,
được hưởng hạnh phúc. Nhưng giấc mơ hạnh phúc của những
con người tài tình nhanh chóng tan vào mây khói trước thực
tế đổi thay, trước biến động khôn lường của số phận.
Giấc mơ đó tan vỡ như mối tình của đôi trai tài gái sắc
Kim Trọng – Thuý Kiều.
Ông
lên tiếng chống lại bất công và sự chà đạp tàn bạo
của chế độ phong kiến đối với con người. Trong xã hội
khi mà cái xấu, cái ác ngang nhiên hoành hành, thì số phận
con người không lấy gì làm đảm bảo. Vì thế, Nguyễn Du
đã từng mơ những giấc mơ công lý. Ông muốn có một người
anh hùng như Từ Hải “đội trời đạp đất ở đời”
để đạp bằng mọi bất công, để ân oán phân minh, để
con người được báo ân và trả thù, để mong cầu một cuộc
sống an ổn và công bằng. Nhưng giấc mơ ấy vẫn chỉ là
một giấc mơ. Sau bao sảng khoái hào hùng, là một thực tế
ảm đạm. Từ Hải bị giết, và Thuý Kiều lại tiếp tục
cuộc đời nhơ khổ.
Dường
như tất cả mọi con đường đều đã đóng lại trước mắt
nàng Kiều. Dường như nàng khó lòng mà thoát ra khỏi cái
“trường dạ tối tăm trời đất” của chế độ phong kiến.
Cuối cùng thì Thuý Kiều cũng phải gieo mình xuống sông Tiền
Đường để trốn khỏi cuộc đời. Nhưng Nguyễn Du không
đành để cho nàng chết. Trong lúc bi phẫn đến tột độ,
Nguyễn Du đã tìm đến một giải pháp cuối cùng, là để
nàng Kiều nương nhờ nơi cửa Phật. Chỉ có cửa Phật mới
có thể cứu rỗi được con người khỏi đau khổ. Chỉ có
nhà Phật mới có khả năng “thả một bè lau” đưa người
đến Bến Giác, đến với hạnh phúc. Nguyễn Du muốn nhà
Phật cứu giúp nàng, tái sinh cho nàng, để nàng được sống
mà không phải lo luỵ khổ đau. Và thế là, sau 15 năm lưu
lạc, đoạ đầy, nàng Kiều nhận ra rằng, cửa Phật mới
là chốn dung thân của nàng.
Có
lẽ trong lịch sử văn học Việt Nam, không có ai phản ánh
một cách sâu sắc và thuyết phục bằng Nguyễn Du về vai
trò của Phật giáo đối với việc cứu người trong những
hoạn nạn. Có thể Nguyễn Du đến với nhà Phật là do bế
tắc trong hiện thực. Từ “tư tưởng Tài Tình” với thái
độ “thương người tiếc tài”, Nguyễn Du đi đến “tư
tưởng chữ Tâm” nhưng là với thái độ bảo vệ Tài Tình
tuyệt đối. Đây là một chuyển biến tư tưởng hết sức
quan trọng của Nguyễn Du.
Đọc
tác phẩm “Truyện Kiều”, thấy rằng, tư tưởng Phật giáo
không phải một sự lựa chọn có tính tình thế, hay ngẫu
nhiên, hay vì quẫn bách của Nguyễn Du. Triết lý nhân sinh
của nhà Phật đã từng là một sự lựa chọn từ rất sớm
của ông. Bởi từ rất sớm, ông đã nhận thấy sự vô vọng
của việc giải thoát con người khỏi đau khổ trong cuộc
đời hiện thực. Trong quá trình đi tìm chân lý, đi tìm giải
pháp cho câu hỏi tồn tại của con người, ông đã dừng lại
ở Phật giáo. Không phải chỉ đến khi Thuý Kiều hết đường
sống thì ông mới cho nàng đi tu.
Ngay
từ khi bắt tay vào viết “Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã
hình dung thấy cái đích phải đến của nàng là như vậy.
Có thể có người cho rằng đây là một sự khiên cưỡng
của ông, hay là một tấn bi kịch bất đắc dĩ. Nhưng tôi
cho rằng, đây là một sự lựa chọn từ khi Nguyễn Du để
cho nàng Kiều bước chân vào cuộc đời này. Từ cái buổi
chiều xuân định mệnh trong khung cảnh thiên nhiên đẹp tuyệt
vời “Cỏ non xanh rợn chân trời, cành lê trắng điểm một
vài bông hoa” để Kim Kiều gặp gỡ, và nhất là từ cái
đêm “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” đi tìm hạnh
phúc của cô gái 15 tuổi ấy, bàn chân cô bắt đầu bước
trên con đường đời đầy chông gai và bất trắc. Bàn chân
ấy còn phải đi hết chặng đường 15 năm oan khổ mới đến
được cái đích của cuộc đời, là chốn cửa Thiền.
Trong
“Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã thể hiện rõ triết lý Phật
giáo trong việc giải quyết vấn đề số phận con người.
Triết lý Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong việc giải
toả những bế tắc, tuyệt vọng trong tâm trạng nhà thơ khi
dẫn dắt nhân vật đi trong cái xã hội vạn ác ấy. Không
phải ngẫu nhiên mà ở những khúc quanh, đoạn gấp, trong
những biến cố quan trọng nhất của cuộc đời Thuý Kiều,
Phật giáo thường xuất hiện như một lực lượng phù trợ
có hiệu lực, linh nghiệm và huyền bí nhất. Chỉ những khi
Thuý Kiều đau khổ, tuyệt vọng và bất lực nhất, thì lại
được sự an ủi và cứu giúp có hiệu quả nhất của nhà
Phật. Đó chính là lối thoát cho số phận con người chứ
không phải là một triết lý giải thoát cho tư tưởng. Vì
thế, trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du thường dành những
vần thơ đẹp đẽ và tin tưởng nhất cho nhà Phật:
-
Cho hay giọt nước cành dương
Lửa
lòng tưới tắt mọi đường tình duyên
-
Cửa Thiền vào cữ cuối xuân
Bóng
hoa đầy đất vẻ ngân ngang trời.
-
Nạn xưa trút sạch làu làu
Duyên
xưa chưa dễ biết đâu chốn này.
-
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ
Tâm kia mới bằng ba chữ Tài.
-
Có trời mà cũng tại ta,
Tu
là cõi phúc, tình là dây oan.
Đây
là một tác phẩm xuất sắc về đường đi và cái đích mà
con người hữu tình trong “hội đoạn trường” cần phải
đến trong cái xã hội vạn ác. Đúng là Nguyễn Du muốn “thả
một bè lau” để đưa Thuý Kiều vượt qua bể khổ để
đến với bến bờ hạnh phúc.
Có
thể bến bờ hạnh phúc đó chỉ là một giấc mơ. Nhưng “trong
trường dạ tối tăm trời đất” ấy, có được một giấc
mơ đẹp như thế thì thật đáng quý đến nhường nào.
TS
Nguyễn Phạm Hùng
(Tạp
chí Nghiên cứu Phật học)
Người
gửi bài: Tâm Minh Nguyễn Ngọc Giao
Trở
Về Mục Lục "Nguyễn Du Và Phật Giáo".
