Phải
chăng, Đoạn trường tân thanh được viết ra để minh họa
cho “tài mệnh tương đố, tạo vật đố tài” như quan niệm
thông tục dân gian qua một cô Kiều khổ đau, đày đọa; một
vấn đề tầm thường như vậy thì không làm nên được một
cái gì cả.
Đằng
này Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du hẳn phải có một
cái gì đó sâu rộng hơn mới làm nên một kiệt tác để
đời như thế.
Đoạn
trường tân thanh là một kiệt tác, “một khúc nam âm tuyệt
xướng. Lời lẽ xinh xắn mà văn hoa, âm điệu ngân vang mà
tròn trịa. Nói tình thì vẽ được hình trạng, hợp ly, cam
khổ, mà tình không rời cảnh; tả cảnh thì bày hết thú
vị tuyết nguyệt phong hoa, mà cảnh thì tự vướng tình, khiến
người cười, khiến người khóc, khiến người giở đi giở
lại ngàn lần, càng đọc thuộc, lại càng không biết chán”
(Đào Nguyên Phổ), từ hàng vua quan, khoa bảng đến người
dân đều nhiệt liệt ca ngợi.
Cuộc
đời Thúy Kiều đã trải qua hầu hết những khổ đau của
con người trần thế, nên chi ai cũng có thể tìm thấy một
phần đời của mình trong những cảnh ngộ khác nhau của thân
phận Thúy Kiều, khi yêu đương trông ngóng, hy vọng, đợi
chờ, khi hoạn nạn bị chà đạp phũ phàng.
Từ
khi Mộng Liên Đường chủ nhân viết lời tựa Đoạn trường
tân thanh: “Có tài mà không được gặp tài, có tình mà không
hả được tình. Trong một tập thủy chung lấy bốn chữ “Tạo
vật đố tài” tóm cả một đời Thúy Kiều. Vui, buồn, tan
hợp mười mấy năm trời, trong một cuốn văn tả ra như hệt,
không khác gì một bức tranh vậy”. Từ đó bao nhiêu thơ
văn viết về Đoạn trường tân thanh đều dựa dẫm than thở
cho cái tài, cái tình theo thói quen trực giác của những tâm
hồn vốn đa sầu đa cảm đó.
Chúng
ta bị cuốn hút vào từng đoạn văn Kiều. Ta bị thôi miên
mà không thấy được toàn cục Truyện Kiều, không tự hỏi
cụ Nguyễn Du tả một cô Kiều hay như vậy để làm gì? Cũng
như chúng ta, cụ Nguyễn Du cũng tìm được mình trong những
mảnh đời của Kiều, gửi được tâm sự mình vào đó! Nhưng
cụ là tác giả, cụ phải có ý đồ cao xa thiết kế cuốn
truyện của cụ, không chỉ có để gởi gắm tâm sự, bộc
bạch lý do cân đai áo mũ ra phụng sự tân triều của mình.
Các
tác gia Trung Hoa, kể từ khi Thiên Hoa Tàng chủ nhân viết bài
tựa cuốn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, những
tác giả sau này cũng chỉ loanh quanh trong cái tình và cái tài
“cảm vì tình nàng, tạm viết vài hàng, thay lời ngưỡng
mộ. Nếu lấy tình của thế tục nói rằng hành vi nàng là
đê tiện nhơ nhuốc con người, thì tôi đây sẽ vì nàng mà
khóc lóc thảm thiết trong ngàn xưa vậy”. Và cả bài cũng
chỉ thở than riêng cho số phận giai nhân đeo mệnh bạc, hồng
nhan gặp sự không may, chẳng qua là tạo hóa ghét sự hoàn
toàn, hơn điều nọ tất phải kém điều kia.
Các
tác gia Việt Nam cũng theo điệu đó mà than thở cho tài, tình
của thân phận Thúy Kiều, và hầu như Đoạn trường tân
thanh được viết ra là để minh họa cho chủ đề đó. Từ
cụ Phạm Quý Thích cho rằng:
"Đoạn
trường mộng tính căn duyên liễu
Bạc
mệnh cầm chung oán hận trường
Nhất
phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân
thanh đáo để vị thùy thương”.
Trước
đó, Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân cũng đã có ý
ấy: “Xem đến chỗ giấc mộng đoạn trường tỉnh dậy
mà căn nguyên vẫn gỡ chưa rồi, khúc đàn bạc mệnh gảy
xong, mà oán hận vẫn còn chưa hả”.
Cứ
cho các cụ viết đúng như thế, thì các cụ cũng chỉ nhìn
thấy từng mảnh đời Thúy Kiều, xét toàn cục Truyện Kiều
mà viết như vậy là không thỏa đáng. Theo Kim Vân Kiều truyện
của Thanh Tâm Tài Nhân và Đoạn trường tân thanh của Nguyễn
Du, thì từ sau khi trầm mình, đời Thúy Kiều đã khác:
"Túc
khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi, ...
Nhẹ
nhàng nợ trước đền bồi duyên sau...”
Và
tiếng đàn cũng vậy, đã khác xưa:
"Xưa
sao sầu thảm, nay sao vui vầy,
...
Tẻ
vui cũng bởi lòng này
Hay
là khổ tận đến ngày cam lai”.
Như
vậy làm gì có chuyện: "đoạn trường mộng tỉnh, căn nguyên
vẫn gỡ chưa rồi, khúc đàn bạc mệnh gảy xong mà oán hận
vẫn còn chưa hả...”.
Trên
đây là cách nhìn của các nhà Nho vốn quen tư duy trực giác,
chỉ thấy cái trước mắt, không thấy cái chủ ý muốn nhắn
gửi của tác giả đằng sau những từ ngữ hay cái ý ở ngoài
lời của nó.
Ta
thử xét lại Tài và Tình của Thúy Kiều. Tài thì có tài
thơ và tài đàn. Nói về tài thơ của Kiều, theo những bài
đã có chép trong Kim Vân Kiều truyện, chỉ trừ một số rất
ít bài có ý tưởng riêng, còn lại hầu hết là thơ sầu
ai, tài đàn cũng vậy. Nói chung tài của Kiều đều mang trạng
thái tâm hồn sầu thảm, não ruột bi thương. Một cô gái
mới lớn mà đã “Đoạn trường, tạo vật đố tài, Nghìn
thu bạc mệnh một đời tài hoa...”. Bấy nhiêu điều đều
phải được nảy mầm từ những hạt giống gia đình mấy
đời trước truyền lại, như Kiều đã nói:
"Nhớ
từ năm hãy thơ ngây
Có
người tướng sĩ đoán ngay một lời.
Anh
hoa phát tiết ra ngoài,
Nghìn
thu bạc mệnh một đời tài hoa...”
Tài,
sắc như vậy mà thời trước chỉ đến được với một
anh thư sinh Kim Trọng, nên chi thực tế thì tài sắc ấy cũng
chỉ ở mức khiêm tốn.
Quả
thực, Đoạn trường tân thanh được viết ra để minh họa
cho “tài mệnh tương đố, tạo vật đố tài” như quan niệm
thông tục dân gian qua một cô Kiều khổ đau, đày đọa; một
vấn đề tầm thường như vậy thì không làm nên được một
cái gì cả. Đằng này Đoạn trường tân thanh của Nguyễn
Du hẳn phải có một cái gì đó sâu rộng hơn mới làm nên
một kiệt tác để đời như thế.
Trời
xanh, tạo vật đố tài trong Thúy Kiều, thực chất là xã
hội, là những con người bằng da bằng thịt, vì ghen tỵ
mà làm khổ nhau, mà chà đạp Kiều... Nguyễn Du nhiều lần
nói đến ý tưởng:
Phúc
họa đạo trời
Cỗi
nguồn cũng ở lòng người mà ra...
Trong
tất cả các khổ nạn của Kiều đều có phần của con người,
của Kiều tạo ra. Nguyễn Du nhấn mạnh đến ý này nhiều
lần mà trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân không
có. “Ở lòng người mà ra”, Nguyễn Du muốn nói cụ thể
rõ ràng về việc Kiều tự gây ra khổ nạn cho đời mình
trong những lần Kiều nương cửa Phật.
Lần
đầu, Kiều ở Quan Âm các:
...
Phật
tiền thảm lấp sầu vùi
Ngày
pho thủ tự đêm nhồi tâm hương.
Quan
phòng then nhặt lưới mau
Nói
lời trước mặt rơi châu vắng người
Gác
kinh viện sách đôi nơi
Trong
gang tấc lại gấp mười quan san.
Rõ
ràng đau khổ gây ra cho mình từ sau lần đi tu ở Quan Âm các
là do Kiều tu mà chưa thực tâm tu, còn vướng víu quá nặng
nề trần lụy. Thảm sầu phải được tu học để tự chuyển
hóa chứ không phải lấp vùi. Lấp vùi thì thảm sầu vẫn
còn nguyên đó. Nói lời trước mặt khi gặp người khác nhưng
khi một mình đối diện với mình thì lại “rơi châu”,
nghĩa là còn thấy mình bị tủi nhục, vẫn còn mong muốn
gặp người yêu cũ Thúc Sinh. Đau khổ của Kiều sinh ra từ
đó. Giá như Kiều dứt hẳn, cự tuyệt tình yêu đo thì Kiều
vẫn được an toàn, yêu vui ở Quan Âm các.
Lần
thứ hai ở Chiêu Ẩn am: Nếu Kiều ở đây “gởi thân được
chốn am mây” mà không có chuyện phạm giới “chuông vàng,
khánh bạc”, thì làm gì có chuyện bì lừa đảo bởi Bạc
Bà, Bạc Hạnh?
Lần
thứ ba ở bên sông, tu với Giác Duyên, Thúy Kiều thuật lại:
Đã
đem mình bỏ am mây
Tuổi
này gửi với cỏ cây cũng vừa
Mùi
thiền đã bén muối dưa
Màu
thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng
Sự
đời đã tắt lửa lòng
Còn
chen vào chốn bụi hồng làm chi.
...
Trùng
sinh ân nặng bể trời,
Lòng
nào nỡ dứt nghĩa người ra đi.
Lần
này, sau vụ tự trầm ở sông Tiền Đường “nạn xưa trút
sạch lầu lầu”, Kiều thực sự tu học có kết quả, đã
chuyển hóa được nghiệp của đời mình, tạo nên buổi đoàn
viên. Theo Tam Hợp đạo cô, sở dĩ có như vậy là nhờ:
Xét
trong tội nghiệp Thúy Kiều
Mắc
điều tình ái, khỏi điều tà dâm
Lấy
tình thâm trả nghĩa thâm
Bán
mình đã động hiếu tâm đến trời
Hại
một người, cứu muôn người
Biết
đường khinh trọng, biết lời phải chăng
Thửa
công đức ấy ai bằng
Túc
khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi...
Sau
lần tu này, trong cuộc Kim – Kiều tái hợp, Nguyễn Du nhấn
mạnh làm nổi rõ sự tu học có kết quả thực sự của Kiều:
1-
Đêm “động phòng dìu dặt chén mồi”, Kiều cự tuyệt
việc mây mưa mà Kim Trọng phải “một lời quyết hẳn muôn
phần kính thêm”. Trong nguyên truyện, Kiều nói quyết liệt
hơn:
“Song
riêng chuyện mây mưa non Vu đỉnh Giáp thì thân này đã như
vật tàn tạ, nếu còn coi như đóa hải đường mơn mởn để
ướm thử thì ấy là đã làm thẹn thiếp, làm nhục thiếp.
Thiếp quyết không sao tuân mệnh được”.
“Vả,
cái trinh của thiếp sau khi chịu nhục, chỉ còn lại một
chút xíu này, nếu chàng cứ cố tình làm ô nhục nốt chỗ
chút xíu ấy thì thiếp đành phải tan xương nát thịt, chứ
không còn dám dự vào việc nâng khăn sửa túi nữa”.
Như
vậy, Kiều không còn phải tu giữ giới nữa mà giới vẫn
được giữ nghiêm nhờ kết quả tu học, một lòng theo Phật.
2.
Trong buổi “thong dong lại hỏi ngón đàn ngày xưa”, tiếng
đàn cô Kiều bây giờ khác hẳn, vì cái tâm đã được giác
ngộ:
Chàng
rằng: "Phổ ấy tay nào?
Xưa
sao sầu thảm, nay sao vui vầy!”
Tẻ
vui bởi tại lòng này,
Hay
là khổ tận đến ngày cam lai?
3.
Nguyễn Du nhấn mạnh ý không có trong nguyên truyện:
Nặng
vì chút nghĩa bấy lâu,
Trên
am cứ giữ hương dầu hôm mai.
Nguyễn
Du muốn nói trong suốt phần đời còn lại, Kiều vẫn một
lòng tu Phật.
4.
Sau khi đàn lần cuối cho Kim Trọng nghe, Kim Trọng còn thòm
thèm không quên được nghệ thuật cao siêu của Kiều, Kiều
bèn nói:
“Chàng
không quên thiếp thì thiếp xin trình bày nghệ thuật khác
để đổi vị cho chàng. Bèn đề 10 bài thơ tặng Kim Trọng:
“Đây là tình của thiếp, xin chuyển mối tình của chàng
cho sát với tình của thiếp”.
Bài
thứ 1:
Nhớ
xưa gặp quân tử
Không
biết là có sống
Mới
biết nhi nữ tính
Tức
là nhi nữ tình.
Và
bài thứ 10 (bài cuối):
Ngày
nay gặp lại chàng
Không
biết là có chết
Xin
chàng sớm định tình
Trước
sau cho giống hệt.
Từ
bài 2 đến bài 9 trình bày lý do, thanh minh cho cách hành xử
của mình trong từng cảnh ngộ một.
Có
thể nói đây là lời Kiều trình bày quá trình đau khổ từng
trải của đời mình mà bài đầu nói sự thật là sống theo
dòng đời với những “hồng nhan bạc mệnh”, “tài mệnh
tương đố” nghĩa là sống ngụp lặn theo thói tục mà không
biết tự do, hạnh phúc, không biết có sống. Và bài cuối
là nói cuộc sống sau khi tu học có kết quả, đã vượt qua
khỏi sự sống chết, nghĩa là sống tự do, tự mình làm chủ
cuộc đời của mình bằng cách tạo ra những thiện nghiệp,
năng lực chuyển hóa mọi cái thành cái tốt.
Ta
quen nhìn từng quãng đời Kiều nên chỉ thấy cuộc đời
và triết lý Kiều có nhiều mâu thuẫn. Trong đoạn kết, Nguyễn
Du viết:
Ngẫm
hay muôn sự tại trời
Trời
kia đã bắt làm người có thân
Bắt
phong trần phải phong trần
Cho
thanh cao mới được phần thanh cao.
Đó
là thuyết định mệnh. Con người hoàn toàn là thứ đồ chơi
trong tay tạo hóa, cho sao được vậy. Nhưng lại có cả nghiệp:
Đã
mang lấy nghiệp vào thân
Cũng
đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiện
căn ở tại lòng ta
Chữ
tâm kia mới bằng ba chữ tài.
Trong
một đoạn kết mà mâu thuẫn đến kỳ lạ của hai khái niệm
triết lý: định mệnh của nhà Nho và nghiệp của nhà Phật.
Đoạn
kết Đoạn trường tân thanh cho chúng ta hiểu rằng: “Thế
mới biết, người đời thường cho rằng: “muôn sự tại
trời...” là không đúng. Do chỉ thấy những trường
hợp cá biệt biểu hiện ra bên ngoài. Con người tự
tạo ra nghiệp, chứ không ai khác, nghĩa là chính mình là tác
giả của đời mình, tự tâm ta cả. Thiện căn ở tại lòng
ta, phúc họa đạo trời, cội nguồn cũng ở lòng người mà
ra cả. Đó là lời dạy của Phật: Mỗi chúng ta là một vị
Phật sắp thành. Phải trở về với chính ta, không cầu một
cái gì ngoài ta.
Như
vậy, khi viết Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Du muốn trao
gửi cho hậu thế sự tu học tâm đắc của mình: “Tu
là cõi phúc, tình là dây oan”. Thực tâm theo Phật,
bản thân ta được bảo vệ an toàn trong mọi hoàn cảnh.
Văn
Kiều quá hay và cuốn hút nên chúng ta chỉ thấy văn chương
mà quên tìm hiểu những điều mà Nguyễn Du gửi gắm trong
đó. Văn nghệ phương Đông vốn gợi ý, chứ không khúc chiết.
Đọc văn phải lĩnh hội cái ý... được gửi gắm của tác
giả ở đằng sau những từ ngữ mỹ miều đó. Cái ý quán
xuyến mà Nguyễn Du muốn trao gửi cho chúng ta là: Muốn có
tự do và hạnh phúc thực sự, chỉ có một con đường duy
nhất là tu Phật, vì chỉ có đạo Phật mới dạy ta chuyển
hóa những cái không tốt thành những cái tốt, tự ta làm
chủ cuộc đời của ta, không một thế lực bên ngoài nào
khác làm thay ta điều ấy.
Lấy
một đời Kiều ra mà xét thì một phần đời trước, Kiều
chỉ sống theo thói tục, ngụp lặn trong vòng tài mệnh tương
đố, hồng nhan bạc mệnh, bị những thế lực xã hội đày
đọa. Phần đời sau là phần đời đã tu học có kết quả,
thành tâm đi theo Phật mà được sống tự do, hạnh phúc,
làm chủ lấy cuộc đời của mình.
Đoạn
trường là nói nỗi đau khổ do cả hai nguyên nhân (xã hội,
tu mà không thực tâm tu) làm đày đọa Kiều; còn Tân thanh
là tiếng mới, là lời giải thích mới, là sự quán chiếu
về cái nguyên nhân chứ không phải Trời mệnh như dân gian
thông tục. Cả hai nguyên nhân, Thanh Tâm Tài Nhân và Nguyễn
Du đều có, song trong thi phẩm của Tố Như, cả hai nguyên
nhân ấy đều được khắc họa sắc nét, đậm đà hơn, và
với Nguyễn Du, ý đồ sáng tác Đoạn trường tân thanh là
để nói đến Tâm và Tu, sâu sắc như điều tâm đắc mà
cả đời tu học của Nguyễn Du đã thấu hiểu.
Qua
Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Du thì thầm chân lý sống
đó với chúng ta, Nguyễn Du thì thầm để chúng ta thêm thấm
thía lời dạy mà chính cụ đã thể hội sâu sắc qua cuộc
đời phong trần của cụ trong hoàn cảnh đất nước cần
nhà Nho xây dựng, kiến thiết, trong một môi trường xem Phật
gia thoát ly cuộc đời, trốn tránh trách nhiệm xã hội mà
lánh vào cửa Thiền, không biết rằng Phật gia vì đời mà
nhập thế.
Lý
tưởng thẩm mỹ Phật giáo đóng vai trò chủ đạo trong khi
Nguyễn Du diễn tác Đoạn trường tân thanh. Và, như vậy chính
Nguyễn Du đã tu học đời mình theo Nho, theo Đạo, theo Thiền,
tổng hợp trong cái gọi là Đạo học (neoconfucianisme), nguồn
cảm hứng cho sáng tạo nghệ thuật của những nghệ sĩ lớn
phương Đông.
Tôi
tin bấy nhiêu điều mầu nhiệm như khi trầm ngâm lĩnh hội
cái đẹp trí tuệ của câu thơ Kiều:
"Trời
còn để có hôm nay...".
Nguyễn
Thạch Giang
Trở
Về Mục Lục "Nguyễn Du Và Phật Giáo".
