Truyện
Kiều là tên gọi phổ biến của tác phẩm Đoạn Trường
Tân Thanh (chữ Hán: 斷腸新聲) của đại thi hào Nguyễn Du.
Tác phẩm này đã đưa Nguyễn Du lên hàng danh nhân văn hoá
thế giới. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, truyện được
viết ra sau khi ông đi sứ nhà Thanh về và theo lời truyền
thì Phạm Quý Thích đã cho khắc in vào khoảng từ năm 1820
đến năm 1825. Bản khắc in đó nay không còn nữa. Tác phẩm
này được viết bằng chữ Nôm, gồm 3.254 câu thơ theo thể
lục bát. Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều
truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc. Hiện nay, ở Việt
Nam lưu truyền một số dị bản của tác phẩm này. Bản nôm
cổ nhất còn lưu giữ là bản "Liễu Văn Đường" khắc in
năm Tự Đức thứ 19 (1866), mới phát hiện ở tỉnh Nghệ
An [1].
Truyện
Kiều là tiểu thuyết viết bằng thơ lục bát. Truyện phản
ánh xã hội đương thời thông qua cuộc đời của nhân vật
chính Vương Thuý Kiều. Xuyên suốt tác phẩm là chữ "tâm"
theo như Nguyễn Du đã tâm niệm "Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm
đầu" (nghĩa là "Linh Sơn chỉ ở lòng người thôi"). Ngày
nay, Truyện Kiều của Nguyễn Du là một trong những tác phẩm
văn học Việt Nam được giới thiệu rộng rãi nhất đến
với các du khách cũng như các nhà nghiên cứu nước ngoài.
Truyện
Kiều đã từng được in ngược bởi Nhà xuất bản Thanh Niên
để có thể đọc mạch truyện ngược chiều thời gian từ
"tái hồi Kim Trọng" trở về đoạn mở đầu truyện lúc hai
người còn chưa biết nhau.
Truyện
Kiều cũng là tác phẩm được viết và đóng thành quyển
sách nặng nhất ở Việt Nam do nhà thư pháp Nguyệt Đình thực
hiện. Truyện nặng 50 kg, làm trên trên khổ giấy 1 m × 1,6
m và hiện được trưng bày tại Khu di tích Nguyễn Du huyện
Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Hoàn cảnh
ra đời
Theo
Giáo sư Nguyễn Lộc ("Từ điển Văn học" tập II - Nhà xuất
bản Khoa học Xã hội, 1984) trang 455 viết: "Đoạn trường
tân thanh là một truyện thơ Nôm viết bằng thể lục bát,
dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân,
Trung Quốc. Có thuyết nói Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau
khi đi sứ Trung Quốc (1814-1820). Có thuyết nói Nguyễn Du viết
trước khi đi sứ, có thể vào thời gian làm Cai bạ ở Quảng
Bình (1804-1809). Thuyết sau này được nhiều người chấp nhận"[2].
Nội dung
chính
Nội
dung chính của truyện xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi
bán mình chuộc cha của Thuý Kiều, nhân vật chính trong truyện,
một cô gái "sắc nước hương trời" và có tài "cầm kỳ
thi họa".
Theo
kịch tính của tác phẩm, có thể chia truyện thành 13 phần
nhỏ như sau:
Mở
bài
Nguyễn
Du đem thuyết "tài mệnh tương đố" (tài và mệnh ghét nhau)
làm luận đề cuốn truyện. Sau đó tác giả nói về gia thế
và tả tài sắc hai chị em Vân - Kiều.
Trăm
năm trong cõi người ta,
Chữ
tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải
qua một cuộc bể dâu,
Những
điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Lạ
gì bỉ sắc tư phong
Trời
xanh quen thói má hồng đánh ghen.
Kiều
thăm mộ Đạm Tiên
Vào
khoảng thời vua Minh Thánh Tông (1522-1566), trong một gia đình
viên ngoại họ Vương có 3 người con, con cả là Vương Thuý
Kiều, sau là Thuý Vân và Vương Quan là cậu út. Hai chị em
Thúy Kiều và Thuý Vân thì "mỗi người một vẻ, mười phân
vẹn mười", nhưng "so bề tài, sắc" thì Thuý Kiều lại hơn
hẳn cô em. Trong một lần đi tảo mộ vào tiết Thanh minh,
khi đi qua mộ Đạm Tiên, một "nấm đất bên đàng", Kiều
đã khóc thương và không khỏi cảm thấy ái ngại cho một
"kiếp hồng nhan" "nổi danh tài sắc một thì" mà giờ đây
"hương khói vắng tanh". Vốn là một con người giàu tình cảm
và tinh tế nên Kiều cũng đã liên cảm tới thân phận của
mình và của những người phụ nữ nói chung:
Đau
đớn thay phận đàn bà
Lời
rằng bạc mệnh cũng là lời chung
Kiều
gặp Kim Trọng
Cũng
trong ngày hôm đó, Kiều đã gặp Kim Trọng, là một người
"vốn nhà trâm anh", "đồng thân" với Vương Quan, từ lâu đã
"trộm nhớ thầm yêu" nàng. Bên cạnh đó thì Kim Trọng cũng
là người "vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa". Tuy chưa kịp
nói với nhau một lời nhưng sau cuộc gặp gỡ này thì hai
người "tình trong như đã, mặt ngoài còn e". Tiếp sau lần
gặp gỡ ấy là mối tương tư:
Người
đâu gặp gỡ làm chi
Trăm
năm biết có duyên gì hay không
Kim
Trọng vì tương tư Kiều nên đã quên hết cả thú vui hàng
ngày, tìm cách chuyển đến ở gần nhà Kiều. Sau đó mấy
tuần trăng thì Kim Kiều đã gặp nhau, Kiều đã nhận lời
Kim Trọng và họ đã trao đổi kỷ vật cho nhau. Nhiều lần
Kim Trọng cũng muốn "vượt rào" nhưng Thuý Kiều là một người
sắc sảo, cô đã thuyết phục được Kim Trọng:
Vội
chi liễu ép hoa nài,
Còn
thân ắt lại đền bồi có khi!
Thấy
lời đoan chính dễ nghe,
Chàng
càng thêm nể thêm vì mười phân
Kiều
bán mình chuộc cha
Tai
họa đã đột ngột ập đến Vương gia trong lúc người thiếu
nữ còn đang thổn thức với mối tình đầu. Bọn sai nha đầu
trâu, mặt ngựa đã đánh đập cha và em nàng một cách tàn
nhẫn trong nỗi oan kêu trời không thấu. Trong hoàn cảnh bi
đát như vậy, Kiều đành phải đi đến quyết định bán
mình để chuộc cha, nhưng nàng không quên lời hẹn ước "trăm
năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai" với Kim Trọng trước khi
chàng về Liêu Dương để thọ tang chú. Thuý Kiều đã nhờ
cậy Thuý Vân thay mình trả lời hẹn ước với Kim Trọng:
Cậy
em, em có chịu lời
Ngồi
lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Trao
duyên cho em xong, nàng cảm thấy xót thương cho thân phận của
chính mình:
Phận
sao phận bạc như vôi
Đã
đành nước chảy hoa trôi lỡ làng
Ôi
Kim Lang! Hỡi Kim Lang!'
Thôi
thôi thiếp đã phụ chàng từ đây
Do
đau thương quá nên Thuý Kiều đã ngất đi trên tay người
thân.
Kiều
rơi vào tay Mã Giám Sinh và Tú bà
Mã
Giám Sinh vốn là "một đứa phong tình đã quen" cùng với Tú
bà mở hàng "buôn phấn bán hương", chuyên đi mua gái ở các
chốn về "lầu xanh". Thấy Thuý Kiều như là một món hàng
ngon, nhất quyết mua về, lấy tiếng là làm vợ nhưng sau khi
"con ong đã tỏ đường đi lối về", Thuý Kiều đã bị Tú
bà bắt phải tiếp khách. Nàng nhất quyết không chịu, tự
vẫn bằng dao nhưng không chết. Tú bà đành nhượng bộ cho
nàng ra ở lầu Ngưng Bích. Ở nơi này, nỗi nhớ người thân
luôn luôn ấp ủ trong lòng:
Xót
người tựa cửa hôm mai
Quạt
nồng ấp lạnh những ai đó giờ.
Và
nỗi buồn của người thiếu nữ được thể hiện qua những
câu thơ chất chứa đầy cảm xúc:
Buồn
trông cửa bể chiều hôm
Thuyền
ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn
trông ngọn nước mới sa
Hoa
trôi man mác biết là về đâu
Kiều
mắc lừa Sở Khanh
Sống
một mình giữa không gian mênh mông xa vắng đó nên khi gặp
Sở Khanh, một gã có "hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng"
và cũng khá "văn vẻ", cô như người đang sắp chết đuối
vớ được phao mà không còn bình tĩnh nhận ra lời lường
gạt sáo rỗng của Sở Khanh.
Than
ôi! sắc nước hương trời,
Tiếc
cho đâu bỗng lạc loài đến đây?
Kiều
vội vàng trao thân cho Sở Khanh và cùng Sở Khanh trốn thoát
khỏi lầu Ngưng Bích. Cô nào ngờ mình đã rơi vào lưới
do Tú bà giăng sẵn để giữ cô lại vĩnh viễn ở lầu xanh.
Chưa kịp cao chạy xa bay thì Tú bà đến và lúc này nàng mới
rõ bản chất con người Sở Khanh:
Bạc
tình, nổi tiếng lầu xanh,
Một
tay chôn biết mấy cành phù dung!
Đến
lúc này, nàng đành phải chịu quy phục, mặc cho thể xác
"đến phong trần, cũng phong trần như ai" và cảm thấy xót
xa cho chính bản thân mình:
Khi
tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật
mình, mình lại thương mình xót xa
Kiều
gặp Thúc Sinh
Thúc
Sinh tuy đã có vợ là Hoạn Thư nhưng cũng là người "mộ
tiếng Kiều nhi" từ lâu. Thúc Sinh trong tác phẩm này có lẽ
là có diễn biến tình cảm, tâm tư mang tính của con người
trong "đời thường" nhất, chứ không cách điệu nhiều như
những nhân vật khác trong tác phẩm. Thế giới của Thúc Sinh
là thế giới của đam mê và là sứ giả phong lưu của tình
dục. Chưa có một "đấng nam nhi" nào trong truyện Kiều có
cách nhìn nâng tấm thân đầy nhục dục của Kiều lên tầm
thẩm mỹ như Thúc Sinh
Rõ
màu trong ngọc trắng ngà!
Dày
dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên.
Do
vậy Kiều đã ham sống và tự tin hơn về tương lai số phận
của mình. Hai người vui vẻ bên nhau "ý hợp tâm đầu".
Khi
hương sớm khi trà trưa,
Bàn
vây điểm nước đường tơ họa đàn.
Thúc
Sinh đã chuộc Thuý Kiều ra khỏi lầu xanh, chàng yêu Thuý
Kiều bằng một tình yêu chân thực và trân trọng cô, điều
này thể hiện tính nhân văn của truyện Kiều.
Tuy
nhiên, vì là gái lầu xanh Kiều đã không được Thúc Ông
(bố của Thúc Sinh) thừa nhận. Thúc Ông đã đưa Kiều lên
quan xét xử:
Phong
lôi nổi trận bời bời,
Nặng
lòng e ấp tính bài phân chia.
Quyết
ngay biện bạch một bề,
Dạy
cho má phấn lại về lầu xanh!
Kiều
quyết tâm dan díu với Thúc Sinh không chịu quay về lầu xanh
nên lại thêm một lần khốn khổ:
Dạy
rằng: Cứ phép gia hình!
Ba
cây chập lại một cành mẫu đơn.
Phận
đành chi dám kêu oan,
Đào
hoen quẹn má liễu tan tác mày.
Một
sân lầm cát đã đầy,
Gương
lờ nước thủy mai gầy vóc sương.
May
thay vị quan đó tuy tỏ ra nghiêm khắc nhưng cũng có tình người.
Thấy Thúc Sinh đau khổ khi thấy Kiều vì mình mà gặp nạn,
ông đã cho Kiều làm một bài thơ bày tỏ nỗi niềm. Đọc
thơ của Kiều, vị quan khen ngợi rồi khuyên Thúc Ông nên
rộng lượng chấp nhận Kiều lại cho đồ sính lễ cưới
xin. Nhờ thế Kiều thoát kiếp thanh lâu nhưng chưa được
bao lâu thì nàng lại mắc vạ với Hoạn Thư, vợ chính của
Thúc Sinh.
Kiều
và Hoạn Thư
Khi
biết chuyện, cha mẹ Thúc Sinh nổi giận đòi trả Kiều trở
về chốn cũ, nhưng khi biết Thuý Kiều tài sắc vẹn toàn,
có tài làm thơ, bố của Thúc Sinh đã phải thốt lên:
Thương
vì hạnh trọng vì tài
Thúc
ông thôi cũng dẹp lời phong ba
Kiều
đã ở cùng Thúc Sinh suốt 1 năm ròng và vẫn luôn khuyên Thúc
Sinh về thăm vợ cả Hoạn Thư, họ vẫn chưa có con chung sau
nhiều năm sống cùng nhau. Sau chuyến đi thăm và quay trở lại
gặp Kiều, Thúc Sinh không ngờ rằng Hoạn Thư đã sai gia nhân
đi tắt đường biển để bắt Thuý Kiều về tra hỏi. Thuý
Kiều bị tưới thuốc mê bắt mang đi, còn mọi người trong
nhà lúc đó cứ ngỡ cô bị chết cháy sau trận hỏa hoạn.
Kiều trở thành thị tì nhà Hoạn Thư với cái tên là Hoa
Nô. Lúc Thúc Sinh về nhà, nhìn thấy Thuý Kiều bị bắt ra
chào mình, "phách lạc hồn xiêu", chàng nhận ra rằng mình
mắc lừa của vợ cả. Hoạn Thư đã bắt Kiều phải hầu
hạ, đánh đàn cho bữa tiệc của hai vợ chồng. Đánh đàn
mà tâm trạng của Kiều đau đớn:
Bốn
giây như khóc như than
Khiến
người trong tiệc cũng tan nát lòng
Cũng
trong một tiếng tơ đồng
Người
ngoài cười nụ, người trong khóc thầm
Thế
rồi, do thấy Kiều khóc nhiều, Hoạn Thư bảo Thúc Sinh tra
khảo vì lý do gì. Thuý Kiều viết tờ khai nói rằng vì cha
bị oan khiên, phải bán mình và bị lừa vào lầu xanh, sau
đó có người chuộc ra làm vợ, rồi chồng đi vắng, nàng
bị bắt đưa vào cửa nhà quan... rất tủi nhục, bây giờ
chỉ mong được vào chùa tu cho thoát nợ trần. Đọc tờ khai
xong, Hoạn Thư đồng ý cho Hoa Nô vào Quan Âm các sau vườn
để chép kinh.
Thực
ra, Hoạn Thư đánh kiều rất nhiều, Nguyễn Du miêu tả về
"đòn ghen" của Hoạn Thư là "nhẹ như bấc, nặng như chì".
Hoạn Thư là một người đàn bà rất cao tay, không thủ tiêu,
hay rạch mặt hay tàn phá cơ thể Kiều mà làm cho Kiều mang
mặc cảm về địa vị, về "chữ trinh", về thân phận mình.
Hoạn Thư đã ứng xử theo thường tình hiện hữu của dân
gian, là "chút dạ đàn bà, ghen tưông thì cũng người ta thường
tình!", "Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai". Hoạn Thư khéo
léo phá vỡ dây tơ giữa Kiều và Thúc Sinh, làm Kiều ra đi
một cách tự nguyện.
Kiều
trốn khỏi Quan Âm các và đã gặp Sư trưởng Giác Duyên (duyên
giác ngộ?). Bà đã cho Kiều sang ở tạm nhà Bạc Bà, một
Phật tử thường hay lui tới chùa. "Ai ngờ Bạc Bà cùng với
Tú Bà đồng môn", Bạc Bà đã khuyên kiều lấy cháu mình
là Bạc Hạnh. Qua tay Bạc Hạnh, một lần nữa Kiều lại
bị bán vào lầu xanh.
Kiều
gặp Từ Hải
Ở
lầu xanh, Kiều "ngậm đắng nuốt cay" sóng cuộc sống ô nhục.
Một ngày đẹp trời, có mọt người khách ghé qua chơi, đó
là Từ Hải, một hải tặc lừng danh thời đó: "Râu hùm hàm
én mày ngài, vai năm tấc rộng, thân mười tấc cao", tài năng
phi thường "đường đường một đấng anh hào, côn quyền
hơn sức lược thao gồm tài". Hai bên đã phải lòng nhau và
Từ Hải chuộc Kiều về chốn lầu riêng. Sống với nhau được
nửa năm, Từ Hải lại "động lòng bốn phương", muốn ra
nơi biên thuỳ chinh chiến. Thuý Kiều muốn xin đi cùng nhưng
Từ Hải không cho đi:
Nàng
rằng phận gái chữ tòng
Chàng
đi thiếp cũng một lòng xin đi
Từ
rằng tâm phúc tương tri
Sao
chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình
Trong
lúc Từ Hải đi chinh chiến, nàng ở nhà nhớ tới bố mẹ
chắc đã "da mồi tóc sương", còn em Thuý Vân chắc đang "tay
bồng tay mang" vui duyên với Kim Trọng.
Từ
Hải sau đó đã chiến thắng trở về, mang binh tướng tới
đón Kiều làm lễ vu quy.
Kiều
báo thù
Lúc
vui mừng cũng là lúc Thuý Kiều nghĩ đến những ngày "hàn
vi", nàng kể hết mọi chuyện cho Từ Hải và muốn có sự
"ân đền oán trả". Những Bạc Bà, Bạc Hạnh, Sở Khanh,...
đều bị chịu gia hình, còn những vị sư đã giúp đỡ Kiều
trong cơn hoạn nạn đều được thưởng. Riêng Hoạn Thư nhờ
khéo nói "Rằng tôi chút phận đàn bà. Ghen tuông thì cũng
người ta thường tình" nên được tha. Sau đó Kiều có gặp
sư Giác Duyên, được bà báo rằng 5 năm nữa hai người sẽ
gặp nhau vì Kiều còn phải trải qua nhiều lận đận nữa.
Kiều
tự vẫn
Hồ
Tôn Hiến bấy giờ là một quan tổng đốc của triều đình,
mang nhiệm vụ đến khuyên giải Từ Hải đầu hàng và quy
phục triều đình. Hồ Tôn Hiến đã bày mưu mua chuộc Thuý
Kiều, đánh vào ham muốn có một cuộc sống "an bình" của
phụ nữ, nàng đã thật dạ tin người và xiêu lòng nghe theo
lời Hồ Tôn Hiến về thuyết phục Từ Hải ra hàng:
Trên
vì nước dưới vì nhà,
Một
là đắc hiếu hai là đắc trung.
Sau
đó, Hồ Tôn Hiến đã thừa cơ bao vây, nhìn thấy Từ Hải,
Thuý Kiều định lao tới để tự vẫn nhưng chàng bị mắc
mưu và đã "chết đứng giữa đàng". Thuý Kiều cảm thấy
hối tiếc và dằn vặt bản thân:
Mặt
nào trông thấy nhau đây?
Thà
liều sống thác một ngày với nhau!
Hồ
Tôn Hiến đang đà thắng đã ép Kiều phải "thị yến dưới
màn", Thuý Kiều đã khóc thương và xin được mang Từ Hải
đi chôn cất. Hồ Tôn Hiến đã chấp nhận cho "cảo táng di
hình bên sông". Biết nàng giỏi đàn, Hồ Tôn Hiến bắt nàng
phải chơi, Kiều đã thể hiện nỗi lòng mình qua tiếng đàn:
Một
cung gió thảm mưa sầu,
Bốn
dây nhỏ máu năm đầu ngón tay!
Ve
ngâm vượn hót nào tày,
Lọt
tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu.
Sáng
hôm sau, để tránh lời đàm tiếu về mình, Hồ Tôn Hiến
đã gán ngay Kiều cho người Thổ quan. Trên con thuyền, Kiều
nhớ tới lời của Đạm Tiên xưa đã nói với mình trong mộng
"Sông Tiền đường sẽ hẹn hò về sau", nàng đã quyết định
nhảy xuống sông tự vẫn.
Kim
Trọng đi tìm Kiều
Về
phần Kim Trọng, sau khi hộ tang chú xong, quay trở lại thì
biết tin gia đình Kiều gặp nạn, Kiều đã bán mình chuộc
cha. Kim Trọng đau xót:
Vật
mình, vẫy gió, tuôn mưa
Dầm
dề giọt ngọc, thẫn thờ hồn mai
Đau
đòi đoạn, ngất đòi thôi
Tỉnh
ra lại khóc, khóc rồi lại mê
Mọi
người trong nhà khuyên can hết lẽ, chàng nghe theo lời dặt
của Kiều và đón cha mẹ Kiều cùng Thuý Vân sang nhà chăm
lo phụng dưỡng, đồng thời vẫn đưa tin tìm kiếm nàng khắp
nơi. Tuy "sâu duyên mới" nhưng chàng lại "càng dào tình xưa".
Vương Quan và Kim Trọng sau đó đều đỗ đạt và làm quan.
Sau nhiều ngày tháng tìm kiếm thì hai người mới dò la được
thông tin của Thuý Kiều là đã trầm mình dưới sông Tiền
Đường. Ra đến sông, mọi người gặp sư Giác Duyên ở đó,
được biết là Thuý Kiều đã được bà cứu mang về cưu
mang. Sau đó, mọi người được dẫn về gặp lại nàng Kiều,
"mừng mừng tủi tủi".
Tái
hồi Kim Trọng
Sau
15 năm lưu lạc, Thuý Kiều đã trở về đoàn viên với gia
đình. Nhưng nàng chính là người sợ việc đoàn viên hơn
ai cả. Trong việc tái ngộ này, Thuý Vân chính là người đầu
tiên đã lên tiếng vun vào cho chị. Nhưng trong đêm gặp lại
ấy, Thuý Kiều đã tâm sự với Kim Trọng:
Thân
tàn gạn đục khơi trong
Là
nhờ quân tử khác lòng người ta
Nàng
ghi nhận tấm lòng của Kim Trọng nhưng tự thấy mình không
còn xứng đáng với chàng nữa. Hai người trở thành bạn
"chẳng trong chăn gối, cũng ngoài cầm thơ".
Nguyễn
Du đã gửi gắm toàn bộ thế giới quan của mình về xã hội
phong kiến lúc đó qua các câu thơ nhận xét về cuộc đời
lưu lạc của Thuý Kiều:
Ngẫm
hay muôn sự tại trời
Trời
kia đã bắt làm người có thân.
Bắt
phong trần phải phong trần
Cho
thanh cao mới được phần thanh cao
Nhận xét
về Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều
Tiên
Phong Mộng Liên Đường Chủ Nhân: "... Xem chỗ giấc mộng
đoạn trường tỉnh dậy mà căn duyên vẫn gỡ chưa rồi;
khúc đàn bạc mệnh gảy xong mà oán hận vẫn còn chưa hả,
thì dẫu đời xa người khuất, không được mục kích tận
nơi, nhưng lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn
bút, nước mắt thắm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến
cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột.
Thế thì gọi tên là Đoạn Trường Tân Thanh cũng phải.
"Ta
nhân lúc đọc hết cả một lượt, mới lấy làm lạ rằng:
Tố Như sử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh
đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt
trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời,
thì tài nào có cái bút lực ấy..."
Phong
Tuyết chủ nhân: "Đem bút mực tả lên trên tờ giấy nào
những câu vừa lâm ly, vừa ủy mị, vừa đốn tỏa, vừa
giải thư, vẽ hệt ra người tài mệnh trong mười mấy năm
trời, cũng là vì cái cảnh lịch duyệt của người ấy có
lâm ly, ủy mị, đốn tỏa, giải thư, mới có cái văn tả
hệt ra như vậy..."
Phạm
Quỳnh: "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; Tiếng ta còn, nước
ta còn..."
Dương
Quảng Hàm: "trên từ các bậc văn nhân thi sĩ, dưới đến
các kẻ thường dân phụ nhụ, ai cũng thích đọc, thích ngâm
và thuộc được ít nhiều..."
Ca
dao:
Đàn
ông chớ kể Phan Trần
Đàn
bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều
Làm
trai biết đánh tổ tôm
Uống
chè Mạn Hảo, xem Nôm Thúy Kiều
Huỳnh
Thúc Kháng: "(Truyện Kiều) về mặt mỹ thuật rõ là cực
tốt, mà ở trong đựng những vật có chất độc..."
Georges
Boudarel: "Ít nhà thơ trên thế giới có khả năng đạt
được tiếng vang sâu đậm trong dân chúng của mình như Nguyễn
Du ở Việt Nam. Truyện Kiều của ông là cuốn sách kinh điển
của văn chương Việt Nam nhưng là một thứ kinh điển mọi
người đều biết, không có ai là ngoại lệ."
Một số
dị bản của truyện
Tiếng
Việt
Bản
chữ Nôm
Kim
Vân Kiều tân truyện: Kim Ngọc lâu tàng bản, Tự Đức thứ
25 (1872).
Kim
Vân Kiều tân truyện: Thịnh Mỹ đường tàng bản, Tự Đức
thứ 32 (1879).
Kim
Vân Kiều tân truyện: Quan Văn đường tàng bản, Tự Đức
thứ 32 (1879).
Kim
Vân Kiều tân truyện: Văn Nguyên đường tàng bản, Tự Đức
thứ 32 (1879).
Kim
Vân Kiều tân truyện: Bảo Hoa các tàng bản, Tự Đức thứ
32 (1879)...
Bản
chữ quốc ngữ cũ
Poème
Kim Vân Kiều truyện: do Trương Vĩnh Ký phiên âm, in ở Sài
Gòn năm 1875.
Kim
Vân Kiều tân chuyện: do Abel des Michels phiên âm, chú thích
và dịch sang tiếng Pháp có kèm theo bản nôm gồm 3 tập in
ở Paris, 1884 - 1885.
Kim
Vân Kiều tân truyện: do Edmond Nordemann phiên âm, in ở Hà Nội
năm 1897.
Đoạn
trường tân thanh: của Kiều Oánh Mậu chú thích, khắc in ở
Hà Nội năm 1902.
Kim
Vân Kiều tân tập: do nhóm Thời hiền thi tự khắc in năm
1906.
Kim
Vân Kiều quảng tập truyện: Liễu Văn đường tàng bản,
(1914).
Kim
Vân Kiều tân truyện: Phúc Văn đường tàng bản, (1918).
Kim
Vân Kiều tân tập: Thời hiền thi tự, Quảng Thịnh đường
tàng bản, (1922).
Kim
Vân Kiều: Quan Văn đường tàng bản, (1923)...
Ngoại
ngữ
Das
Mädchen Kiêu, bản tiếng Đức, in năm 1964.
Kim
Vân Kiều, bản tiếng Pháp, Xuân Việt, Xuân Phúc, Paris, 1961.
Kiều,
bản tiếng Pháp, Nguyễn Khắc Viện, Hà Nội, 1965.
Histoire
de Kieu, bản tiếng Pháp, Lê Cao Phan, Hà Nội, 1994.
Kim
och Kieu, bản tiếng Thuỵ Điển, Magnus Hedlund, Claes Hylinger,
Lars Lindvall, Stockholm, 1969.
Kim
Vân Kiều, bản tiếng Anh, Lê Xuân Thuỷ, Sài Gòn, 1963.
The
tale of Kieu, bản tiếng Anh, Huỳnh Sanh Thông, New York, 1973.
Kiều,
bản tiếng Anh, Michael Councell, Luân Đôn
Kiều,
bản tiếng Tiệp Khắc, Gustav Franck, Praha, 1957
Kim
Wen Kieov, bản tiếng Ba Lan, Vacsava, (?).
Kim
Vân Kiều, bản tiếng Trung Quốc, Hoàng Dật Cầu, Bắc Kinh,
1959.
Kim
Vân Kiều, bản tiếng Nhật, Aoi Komatsu, Tokyo, 1949.
Kim
Vân Kiều tân truyện, bản tiếng Nhật, Takeuchi Yonosuke, Tokyo,
1985...
Ảnh hưởng
Hàng
trăm năm qua, Truyện Kiều vẫn luôn tồn tại trong đời sống
của dân tộc Việt. Đây là một trong số ít các tác phẩm
lớn được nhiều người dân đủ mọi tầng lớp học thuộc
lòng. Đối đáp bằng những ngôn từ, lời lẽ trong truyện
Kiều cũng đã trở thành một hình thức sinh hoạt văn hoá
của một số cộng đồng người Việt như lẩy Kiều, trò
Kiều, vịnh Kiều, tranh Kiều, bói Kiều... Ngày nay, tên một
số nhân vật và địa danh trong Truyện Kiều được sử dụng
trong đời sống với nghĩa tương tự:
Sở
Khanh: chỉ những người đàn ông phụ tình.
Tú
Bà: chỉ những người phụ nữ môi giới, bảo kê cho gái
mại dâm.
Hoạn
Thư: chỉ những người phụ nữ có máu ghen thái quá.
Lầu
xanh: nơi chứa gái mại dâm.
Bói
Kiều
Bói
Kiều là tập tục xem bói bằng Truyện Kiều. Với mỗi trang
truyện Kiều dược giở ra thì tương ứng với nội dung của
trang mà người xem bói sẽ đoán vận mệnh. Xem Bói Kiều.
Đọc
thêm:
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh, Thả một bè lau - Truyện Kiều dưới
cái nhìn thiền quán
Truyện
Kiều bản online, có giải nghĩa
Đào
Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1974
Phan
Ngọc, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều, 1985
Đào
Thái Tôn, Văn bản Truyện Kiều - Nghiên cứu và thảo luận,
Nxb Hội nhà văn, 2001;
Nhiều
tác giả, Truyện Kiều - Tác phẩm và dư luận, Nxb Văn học,
2002;
Nguyễn
Quảng Tuân, Chữ nghĩa Truyện Kiều, Nxb Văn học, 2004;
Điển
tích trong truyện Kiều, Nhà xuất bản Đồng Tháp
Đọc
nguyên bộ Truyện Kiều theo kiễu thơ văn
09-30-2007
11:23:45
Trở
Về Mục Lục "Nguyễn Du Và Phật Giáo".
