.
NGUỒN MẠCH TÂM LINH
Thích Nữ
Trí Hải
Nhà Xuất
Bản Tôn Giáo Hà Nội 2003
KÊU
DÀI MỘT TIẾNG LẠNH HƯ KHÔNG
Một
thiền sinh khi cảm hứng đã làm một bài thơ trong đó có
câu: “Sau lưng, trước mặt, hư không một trời”. Nghe thật
lạc loài, buồn bã. Ngược lại, thiền sư Không Lộ cũng
có câu thơ:
“Hữu
thời, trực thướng cô phong lãnh
Trường
khiếu nhất thanh hàn thái hư”.
(Có
lúc lên đỉnh núi cao vút,
kêu
dài một tiếng lạnh cả hư không).
Nghe
thực trầm hùng, siêu thoát. Cũng đều ám chỉ khoảng không
bát ngát, mà sao câu thơ của thiền sinh âm hưởng nỗi cô
đơn vời vợi của một tâm hồn hụt hẫng, còn câu thơ của
thiền sư lại toát ra vẻ hiên ngang của Người đã chinh phục
được tự tâm, và do vậy chinh phục cả vũ trụ? Vì một
bên còn thấy “cái tôi” ở trung tâm bầu thái hư, từ trung
tâm đó có ra sau trước hai bên, trên dưới, rồi hốt hoảng
thấy mình choáng ngợp giữa hư không. Một bên đhòa tan cái
“tôi” cùng vũ trụ nên không còn cảm thấy cô đơn ngược
lại, thấy mỗi hơi thở của mình đều tác động vào vũ
trụ, đến nỗi khi cao hứng (chứ không phải buồn!) mà hét
lên một tiếng chơi, thì cả bầu thái hư trên đỉnh nín
cũng lạnh theo hơi thở mình.
Đạo
Phật thường được gọi là “Cửa Không”, rồi thiền sư
lại còn làm cho ta rối mù thêm nữa với một khái mệm “Cửa
Không cửa” (Vô môn quan– la Porte sans entrée hay l'Entrée
sans porte – doorless entry) nghĩa là cái cửa không có lối vào.
Không có lối vào thì tại sao lại có tên gọi là “cửa”?
Vì rằng muốn vào thì phải hiểu nghĩa “Không”. Nếu không
hiểu nghĩa Không, sẽ bị hư vô nuốt chửng như thiền sinh
nọ trong một giai đoạn của đời tu. Thực ra không ai tu hành
mà không trải qua giai đoạn ấy, gọi là giai đoạn “chấp
không”.
Sắc,
Không trong Bát nhã là hai khái niệm mà người đời và triết
học Tây phương đều cho là hai cực đoan tiêu diệt lẫn nhau,
như vật chất và tinh thần, có và không vân vân. Nhưng với
cái thấy của Phật thì sắc và không “duyên sinh” lẫn
nhau, làm điều kiện cho nhau, nên không phải là hai chuyện
khác nhau, do vậy bài Tâm kinh có câu: “Sắc bất dị không,
không bất dị sắc”, (vật chất chẳng khác chân không, chân
không chẳng khác vật chất). Để nhấn mạnh thêm sự “không
khác”, câu sau còn nói: “sắc tức thị không, không tức
thị sắc” (Vật chất chính là chân không, chân không chính
là vật chất). Có người đưa ra thuyết lượng tử của vật
lý hiện đại để chứng minh lời Phật, trích dẫn nhà vật
lý David Bohm nói vật chất khi phân tích tới cùng thì thành
một cái vừa động vừa tĩnh, chợt biến chợt hiện, khi
thì như ánh sáng, khi thì như năng lượng, và cho rằng khám
phá này rất gần với thuyết sắc không của nhà Phật. Nhưng
ta không cần đợi khám phá khoa học mới thấy “Sắc, không”
vốn đi liền nhau không rời.
Thực
tế ta không bao giờ nói “không” về một cái chưa từng
có, ví dụ ta chỉ nói “hôm nay trời không mây” chứ không
nói “đất không mây”, vì mây chỉ có ở trên trời. Như
vậy, có ở đâu thì không ở đấy. Một người ham sách thì
than phiền “lâu nay tôi không có sách đọc”, người ham
tiền sẽ nói “lâu nay tôi không làm ra tiền”. Bởi thế,
mỗi cái không nói lên một cái có khác nhau.
Không
mà Phật dạy trong Bát nhã được gọi là Chân không vì nó
không tất cả những cái có theo tiêu chuẩn phàm phu chúng
ta đã nói trên, nhưng từ Chân không đó mà có tất cả mọi
sự từ vật chất đến tinh thần. Chân không ấy có những
đặc tính là: trước hết, nó luôn luôn đi liền, tàng ẩn
trong mọi sự vật. Đặc tính thứ hai là nó không biến
đổi, sinh diệt như sự vật. Đặc tính thứ ba và cuối cùng,
là nó vượt ngoài mọi khái niệm mô tả của chúng ta như
sạch dơ, to nhỏ, nhiều ít, v.v..
Một
vật được nhận biết trước hết nhờ khoảng không mà nó
chiếm chỗ. Hãy tưởng tượng một cái chum và một cái hủ.
Ta nói chum to, hủ nhỏ, bởi vì chum chiếm một không gian lớn
hơn hủ, và nhờ vậy chum chứa được nhiều vật chất hơn
hủ. Nhưng ta không thể nói hư không trong chum lớn hơn hư
không trong hủ, vì ta chỉ thấy cái thành vây quanh chum để
thành chum, vây quanh hủ để thành hủ, chứ hư không trong
chum với hư không trong hủ, hay hư không bên ngoài cả chum
lẫn hủ, vẫn là một thứ hư không đó mà thôi, vượt ngoài
khái mệm lớn nhỏ. Vậy là vì có vật chất (sắc) – cái
làm nên tên chum, tên hủ – mà có ra những khái niệm lớn
nhỏ, sạch dơ, v.v.. còn hư không thì không có những khái
niệm đối lập ấy. Lại nữa, cái chum, cái hủ thì bị hủy
hoại theo thời gian, nhưng hư không trong đó thì không hề
đổi khác, dù chum có bị vỡ ta cũng không thấy hư không
tan vỡ, mà dù trong chum có chứa gạo hay chứa nước thì cũng
chính nhờ cái không của chum mới có thể chứa đựng.
Một
bình chứa sữa được gọi là bình sữa, chứa nước gọi
là bình nước, cắm hoa thì gọi là bình hoa, nhưng khi không
có gì trong đó cả đáng lẽ ta phải gọi là bình chứa hư
không mới phải, tại sao danh từ đó nghe buồn cười, thừa
thãi? Là vì nếu chứa hư không thì cũng như không chứa gì,
vì hư không
trong
bình và ngoài bình nào có khác gì nhau. Thế nhưng cái bình
hữu dụng chỉ nhờ khoảng không của nó để chứa đựng,
dù nó làm bằng pha lê cẩm thạch hay làm bằng đất nung.
Tâm
mỗi người cũng như hư không trong mỗi bình chứa, thành trì
làm nên bình chứa to nhỏ, xấu đẹp chính là bức thành ngã
chấp, là cái “tôi”. Ta gọi một người “lành” khi ba
nghiệp thân miệng ý nơi họ tốt lành, không hại ai, và “dữ”
là do ba nghiệp nơi họ hung ác. Nhưng ba nghiệp có thể chuyển
được, và đó là mục đích của việc tu hành: sửa đổi
thói quen xấu thành thói quen tốt; như cái bình xưa nay chứa
nước mắm, nay đổ hết nước mắm ra, súc thật sạch, ngâm
rửa lâu ngày sẽ hết mùi thối, có thể chứa nước hoa và
được gọi là bình nước hoa. Bình nước hoa hay bình nước
mắm chỉ khác nhau ở cái tên gọi và cách dùng, chứ phần
cốt cán là khoảng không để chứa đựng vốn không khác
nhau. Nên Bát nhã dạy, Chân Không không có sạch dơ, thêm bớt,
sinh diệt...
Một
bình chứa nước mắm quá lâu, khi đổ ra mà đựng nước
hoa vào liền thì nước hoa ấy sẽ không thơm mùi nước hoa
mà ta chỉ ngửi thấy toàn mùi nước mắm, không thể sử
dụng vào việc gì được: xịt vào áo thì thối cả áo, mà
cũng không thể dùng để nêm thức ăn như nước mắm. Người
hành đạo còn tâm thế gian cũng vậy, như một cái bình chưa
được súc rửa sạch sẽ, vẫn còn toát ra mùi nước mắm
bám vào trong bình đã quá lâu.
Khi
ngồi thiền, là ta trở về với cái nền tảng Chân Không
từ đó phát xuất tất cả ý nghĩ thiện ác thánh phàm, Phật
và chúng sinh... mà Phật gọi là Chân tâm, Như lai tạng, Bản
lai diện mục hay Chân như v.v.., có rất nhiều tên gọi. Nghĩa
là ta lưu ý đến cái bình (container) thay vì những vật chứa
trong bình (contained). Có khi ta cảm thấy tâm tĩnh lặng, thư
thái, tưởng như ý nghĩ hay VỌNG TƯỞNG lặng mất, hơi thở
cũng như chấm dứt theo với tư tưởng, và có người đâm
hoảng sợ.
Nhưng
giây phút đó dù kéo dài bao lâu cũng có lúc chấm dứt, và
thói quen tư tưởng lại nổi lên trở lại như cũ; ví như
từ cái thành bình, lại toát ra mùi thối của nước mắm,
hoặc mùi thơln của nước hoa tùy theo lâu nay bình chứa chất
gì trội nhất, mà Duy thức học gọi là những hạt giống
nghiệp. Như vậy sự tĩnh lặng mà ta lầm tường là Chân
không đó không phải là chân không thứ thiệt, mà chỉ là
một giai đoạn nghỉ mệt của cái tâm thức đã quen bon chen
từ vô lượng kiếp, nay nhờ thực tập, nó tạm lắng yên
xuống đáy sâu, thời gian vắng lặng an tịnh này kéo dài
lâu mau do thực tập quen hay chưa quen. Cái “thấy thanh tịnh
này”, một cái thấy do duyên sinh, nhờ thực tập, nhờ ngồi
lâu mà thấy, thì không phải cái ta cần đạt, vì nó rất
nguy hiểm. Phật gọi nó là một ma chướng cho giải thoát,
vì ta sẽ cho mình có thần thông và bám vào những sở đắc
do thần thông mang lại, như tài sản danh vọng. Biết bao người
tu phải đọa vì chứng đạo nửa vời như thế. Bởi thế
Phật dạy cần phải tu chỉ quán song hành, hay “định tuệ
song tu” chứ không nên chấp nhặt vào việc ngồi mà cũng
không được bỏ qua việc ngồi. Làm sao kéo dài thời thiền
định trong suốt cả ngày hoạt động của ta, nghĩa là “vào
trong thanh sắc không bị thanh sắc lừa dối”, luôn luôn thấy
được vô thường, vô ngã, chân không, dù có chạm xúc bất
cứ kinh nghiệm gì trong cuộc sống, vì chân không có mặt
khắp mọi sự trong ta và ngoài ta, không đợi ngồi thiền
mới thấy. Ngồi thiền là để thấy cho rõ hơn mà thôi.
Hạt
giống nghiệp phát xuất từ nền tảng ngã chấp, ví như mùi
thơm hay thối toát ra từ cái thành của bình chứa nước hoa
hay nước mắm. Nên nghiệp lành nhiều thì sinh cõi trời, hưởng
phước dài lâu và gặp hoàn cảnh sung sướng, giống như một
cái bình chứa nước hoa đương nhiên được ở chỗ cao, được
nâng niu vì đựng đồ quý; còn một hủ phân thì để ở
chỗ thấp xấu, lăn lóc trong những chỗ tồi tàn... Nhưng
tất cả hai thứ đồ đựng ấy đều phải bị hủy diệt
bởi thời gian, và bình nước hoa dễ có ngày bị sử dụng
bậy mà thành đồ phế thải. Những việc lành còn chấp ngã
cũng rơi vào nguy cơ là hưởng phước hữu lậu, nghĩa là
có quả báo hạnh phúc, nhưng chính hạnh phúc đó lại trở
thành nguồn gốc đau khổ cho người được hưởng nó: như
người trúng số độc đắc đi lãnh tiền về lại bị giết
vì túi tiền mình mang. Vì lẽ đó, người tu hành cần có
chính kiến để thấy mọi quả báo khổ vui không thực, để
đừng chấp quả báo mới mong giải thoát Cái tôi vốn không
thực, nhưng do vì từ vô lượng kiếp ta dã lầm thấy là
thực, và do thấy lầm, nên đã tạo vô số ác nghiệp và
ân oán giang hồ.
Bây
giờ giải tán cái tập đoàn ấy không phải đơn giản, cũng
như không thể súc sạch bình nước mắm trong sớm chiều.
Khi tu tập một thời gian lâu dài, tránh tất cả ác làm tất
cả lành, trong tinh thần vô ngã không cầu quả báo, thì cũng
như súc cái bình thực sạch không còn một mùi nào nữa dù
nước mắm hay nước hoa (vì người tu đại thừa khi hành
thiện không thấy có ta, người, ví như không để nước hoa
dính vào mình, không tô bồi cho cái thành trì bản ngã). Khi
ấy cái bình (tâm) luôn luôn trống rỗng, và khoảng chân không
bên trong không khác gì khoảng không bao la bên ngoài, thành
trì bản ngã – tức cái thành vây quanh một không gian nhỏ
hẹp làm nên cái “tôi” dần mỏng đi và biến mất, hòa
thành nhất thể với thái hư to rộng, ấy là niết bàn giải
thoát ngay trên đời này, không đợi chết rồi mớt đạt
được. Nhưng theo pháp thiền Dzogchen của mật tông, thì giây
phút chết đối với một người như vậy (luôn luôn tuệ
quán về Chân Không) là cao điểm của giác ngộ, vì chỉ khi
ấy ánh sáng căn bản, tức điểm linh quang hay tinh chất của
ngũ uẩn đã được chuyển hóa, mới hiển hiện nguyên vẹn,
rực rỡ, vì không còn bị che lấp bởi thân xác và sự chấp
thủ thân xác. Người tu tịnh độ thì thấy ánh sáng ấy
như là hào quang của Phật A Di Đà, nhưng mật tông thì thấy
đó là ngũ uẩn đang tan vào thể chất uyên nguyên của nó,
nghĩa là tràn khắp vũ trụ và trở thành tia vũ trụ.
WP:
Mỹ Hồ
