.
NGUỒN MẠCH TÂM LINH
Thích Nữ
Trí Hải
Nhà Xuất
Bản Tôn Giáo Hà Nội 2003
BA
THỜl CHUYỂN PHÁP
Kính
lễ Thích ca mâu ni Thế tôn
Nay
con đem tâm phàm phu suy diễn thánh pháp
Là
nhờ những bậc tiền bối đã khai triển Pháp này
Xin
Ngài gia bị cho tâm phàm chuyển thành thánh trí
Buổi
nóì chuyện hôm nay sẽ xoay quanh ba điểm trụ chốt là Dục
thoát trí, Bồ đề tâm và Chánh kiến, tương đương trọng
tâm của ba thời Phật chuyển Pháp luân Tứ đế. Thông thường,
ta nói tứ đế là pháp tu Thanh văn, 12 nhân duyên là pháp tu
của Duyên giác, và lục độ vạn hạnh là pháp tu của Bồ
tát. Nhưng xét lại, thì 12 nhân duyên thuận quán là Khổ và
Tập đế, nhân quả trong vòng lưu chuyển: nghịch quán là
Diệt đế và Đạo đế nhân quả xuất thế gian, 12 nhân duyên
như vậy chỉ là diễn rộng lý tứ đế, còn lục độ vạn
hạnh chính là Đạo đế trong tứ đế. Tứ diệu đế do đó
là giáo lý bao trùm tất cả pháp thế gian và xuất thế gian.
Muốn thoát ly những khổ vặt vãnh trong đời sống thường
ngày, muốn sống một đời thoải mái an lạc, muốn hưởng
hạnh phúc dài lâu trong các cõi trời cõi người, muốn đạt
giải thoát như những bậc thánh thanh văn Duyên giác, hay muốn
đạt giác ngộ Vô thượng Bồ đề như Phật, đều không
thể ra ngoài tứ diệu đế.
Đức
Phật đã giảng Tứ diệu đế ba lần, gọi là tam chuyển
Pháp luân, mỗi lần độ một hạng người khác nhau từ cạn
đến sâu. Trọng tâm của lần chuyển Pháp đầu tiên là chỉ
rõ đâu là Khổ thật sự, gọi là Thị chuyển. Có biết đúng
về khổ mới mong diệt khổ bằng cách diệt cái nhân thực
sự của khổ để được an lạc lâu dài. Cũng như trong việc
trị bệnh, cần định rõ căn bệnh (khổ) để tìm nguyên
nhân thật của nó (tập). Có biết đúng nguyên nhân gây bệnh
mới mong chữa khỏi bệnh (diệt) bằng phương pháp trị liệu
đúng cách (đạo) để diệt tận gốc mầm bệnh. Nếu chẩn
bệnh không đúng (không thấy đâu là Khổ thật sự) rồi
chỉ cho những liều thuốc để dứt triệu chứng như gặp
nhức đầu cho ngay thuốc giảm đau, sốt cao cho uống thuốc
hạ nhiệt, thì chẳng những không chữa được bệnh mà còn
khỏa lấp những dấu hiệu báo nguy cần thiết của cơ thể,
và làm cho bệnh thêm trầm trọng.
Ngược
lại, nếu biết đúng bệnh, tìm ra nguyên nhân bệnh, thì có
thể chữa bệnh dễ dàng bằng cách diệt trừ tận gốc những
nguyên nhân gây bệnh. (Cái kiểu trị bệnh bằng cách dứt
trừ triệu chứng là cách làm thông thường của chúng ta từ
thân bệnh đến tâm bệnh. Thân bệnh có các loại thuốc giảm
đau an thần. Tâm bệnh thì giảm đau bằng đủ loại giải
trí từ hạ liệt tới thanh cao, bằng cách sưu tập thêm tài
sản, kiến thức... để tô bồi bản ngã, rốt cục khổ càng
trầm trọng khó gỡ, vì triệu chứng đã bị khuất lấp.
Ví dụ, người ta muốn làm ngơ, khuất lấp những triệu chứng
già chết bằng cách đi đến các mỹ viện sửa lại bộ mặt,
nhuộm tóc, nhổ răng, lột da, xẻ cằm, chống mũi... nhưng
rốt cuộc già vẫn già, bệnh vẫn bệnh, chết vẫn chết).
Đức
Bổn sư chúng ta, lúc còn là thái tử sống trong lầu son gác
tía, đã thấy đâu là cái khổ chân thực, căn để của con
người: đó là già, bệnh và chết, mà không ai tránh thoát
từ bậc vua chúa cho đến kẻ cùng đinh. Vì cảm thụ một
cách sâu xa nỗi khổ sinh tử của mình, của những người
thân và của tất cả chúng sinh, Ngài đã từ bỏ cung điện
ra đi tìm phương thoát khổ: đó là Dục thoát trí.
Thông
thường, con người chỉ mong mỏi thoát ly khi gặp cảnh khổ
thực sự như cha mẹ chết (thân suy) làm ăn thua lỗ (tài suy),
sức khỏe yếu kém, nhiều bệnh, không thể sống ở đời
(bệnh suy). Hoặc sau một thời gian hưởng thủ cuộc sống
vật chất đã chán chê, đến tuổi già mới cảm thấy cô
độc khốn khổ cần một nơi nương náu (lão suy). Ngược
lại, thái tử đã ra đi trong lúc tuổi còn thanh xuân tóc đen
nhánh, sức sống rạt rào, giai đoạn tươi đẹp nhất của
một đời người, chính vì ngài đã thấy rõ cái khổ căn
để già, bệnh và chết đang chực sẵn bên cạnh mọi đời
sống, mọi lứa tuổi. Nhờ thấy rõ như thế, Ngài đã từ
bỏ ba kiêu mạn ngăn cản sự tu tập là kiêu mạn về tuổi
trẻ (tưởng mình trẻ mãi), kiêu mạn về sức khỏe (tường
mình không bao giờ bệnh), và kiêu mạn về sự sống (tưởng
mình sống lâu). Chính ba kiêu mạn ấy đã khiến người
ta đắm say cuộc đời và không chán hưởng thụ các dục
lạc. Thái tử trái lại, đã lợi dụng chính tuổi trẻ, sức
khỏe và sự sống của mình để lập chí nguyện vĩ đại,
vào rừng tu tập đủ mọi thứ khổ hạnh trong sáu năm ròng.
Thời gian ấy là thời gian ngài đi tìm nguyên nhân của khổ
để diệt trừ nguyên nhân ấy. Lúc đầu Ngài theo học các
nhà
khổ hạnh ngoại đạo. Đối với họ, cần phải hành thân
hoại thể càng nhiều càng tốt, vì thân xác này chính là
nguồn gốc mọi tội lỗi đau khổ đến với con người. Thái
tử đã theo lối thực hành của họ,và còn vượt xa hơn họ
về khả năng chịu đựng của thân xác. Nhưng đến khi thấy
rõ khổ hạnh chỉ làm mỏi mòn thân xác mà không đem lại
trí tuệ, không nhờ đấy mà thấy được nguyên nhân Khổ,
thì Ngài đã can đảm từ bỏ khổ hạnh. Đối với Ngài,
khổ hạnh chỉ là phương tiện để đạt đến trí tuệ.
Khi thấy phương tiện ấy không đúng và không cần thiết,
thì Ngài không ngần ngại vứt bỏ để tìm phương tiện khác.
Trong khi tu tập, không thiếu gì những nhà khổ hạnh xem khổ
hạnh tự nó đã là cứu cánh, họ biến năng lực chịu đựng
của mình thành một sở đắc để khoa trương, để thu thập
tín đồ. Khổ hạnh của họ khi ấy trở thành một chướng
ngại cho giải thoát mà Phật gọi là giới cấm thủ: ôm giữ
những khổ hạnh không cần thiết, không đưa đến đâu.
Khi
thân xác đã kiệt sức mà Ngài vẫn không tìm thấy đâu là
chân lý thoát khổ, thái tử mới vỡ lẽ rằng thân không
phải là nguồn tội, không phải là chánh phạm gây ra tội
lỗi nhiễm ô, mà chỉ là tòng phạm, hay đúng hơn, chỉ là
dụng cụ dùng để gây nên tội lỗi đưa đến sinh tử luân
hồi. Chẳng những thân xác không phải là chánh phạm, mà
nó còn là một cỗ xe tốt để đưa ta đến an lạc giải
thoát nếu biết sử dụng đúng. Bởi thế, không có lý gì
để phá vỡ dụng cụ ấy. Thái tử bèn ăn uống trở lại
để phục hồi sức khỏe và sau 49 ngày nhập định, thiền
quán, ngài đã tìm ra móc xích 12 nhân duyên gây nên sự lưu
chuyển của chúng sinh trong vòng sinh tử luân hồi. Sau này,
khi thuyết pháp, ngài thường dạy các đệ tử rằng thân
vốn không tội hoàn cảnh bên ngoài cũng vô can, nhưng khi tâm
đam mê chấp thủ có mặt thì thân và cảnh ngoài như bị
cột chung lại với nhau không thể rời. Ví như một cái
ách buộc hai con bò đen trắng lại với nhau, bò đen không
phải là cái trói buộc bò trắng, bò trắng cũng không phải
là cái trói buộc bò đen, nhưng cả hai đều bị ràng chung
bởi cái ách. Thân như con bò trắng, cảnh như con bò đen,
hai thứ vốn không can dự nhau, nhưng khi tâm tham ái có mặt,
thì tâm này trở thành cái ách khổ trói buộc thân vào với
cảnh. Người vô tâm với sắc đẹp tiếng hay thì dù có thấy
sắc nghe tiếng cũng không sao. Như vậy, tội là do tâm, không
phải do thân. “Khi bò không chịu kéo xe thì nên đánh cái
xe hay đánh con bò?” Phật đã hỏi một đệ tử để chỉ
cho thấy chính cái tâm tham ái chấp thủ mới là nguyên nhân,
nguồn gốc của đau khổ. Đây gọi là Tập đế.
Khi
thiền định dưới cội bồ đề, thái tử đã quán sát như
sau: Thật sự thân này bị cái khổ già chết đang nung nấu.
Do đâu có già chết? Chính vì thân này có sinh ra. Do đâu mà
có thân này sinh ra: Chính do cái khuynh hướng muốn có mặt
trên đời, muốn hiện hữu (hữu). Do đâu có khuynh hướng
ấy? Do sự bám víu (thủ) và ái luyến bản ngã (ái). Trong
Đạo đức kinh, Lão tử cũng nói: “Ta có tai nạn lớn, do
có ra thân xác này. Nếu không có thân, thì đâu có tai họa.
Nhưng muốn không thân, thì cần phải vô tâm”. Như thế,
Lão tử cũng công nhận tâm là nguồn gốc mọi tai họa của
thân. Và vì thân không phải là nguyên nhân chính yếu gây
tai họa, cho nên trừng phạt thân xác hay diệt nó đi bằng
cách tự sát chẳng hạn, chưa phải là cách giải quyết ổn
thỏa, khi tâm (ái và thủ) chưa diệt.
Làm
thế nào để diệt ái và thủ? Phải nhìn kỹ lại để thấy
rõ những đối tượng làm cho ta ái thủ, và chính cái ta chủ
tể sự ái thủ, đều vô thường, duyên sinh, và do vô thường,
duyên sinh nên không thực chất, trống rỗng như bọt nước,
như tiếng vang, như vật mượn, như ảo tượng nắng quáng
đèn lòa. Thấy được thực chất trống rỗng của mọi sự
thì hết chấp thủ, tức là giải thoát. Lấy ví dụ một
người đang si mê một người khác. Trong khi si mê, người
ấy chỉ thấy toàn nét đẹp và sự dễ mến nơi người kia,
mà không thấy những vẻ xấu và lỗi lầm của họ. Người
ấy đau khổ tưởng chừng có thể chết được nếu không
được sống chung với kẻ ấy. Nhưng khi tâm si mê ấy thay
đổi, và đối tượng si mê cũng đổi thay, thì người kia
mới thấy rõ những tật xấu, những nét khó ưa nơi người
nọ và thoát khỏi sự bám víu. Lòng ái luyến đối với tự
ngã của mình cũng thế, hoàn toàn vô căn cứ, vì tự ngã
luôn luôn thay đổi, từ thân đến tâm. Thân như cái phòng
trọ, tâm như người khách ở trọ, không có gì trường cửu.
Thấy được như thế sẽ lìa được lòng cố chấp ái luyến
đối với tự ngã.
Như
thế cái khổ sinh tử có thể giải quyết tận gốc bằng
cách giải quyết cái tâm thám ái, và sở dĩ có tham ái là
do lối nhìn sai lạc xem mọi sự là thực có, bản ngã là
thực có. Lối nhìn sai lạc đó gọi là vô minh.
Lần
chuyển Pháp Tứ đế đầu tiên do vậy, đặt trọng tâm ở
Khổ đế và Tập đế. Nói về Khổ, cũng có mức độ cạn
sâu. Mới đầu ta tưởng như già, bệnh, chết là khổ, vì
Phật đã do thấy già bệnh chết mà tìm cách thoát ly tìm
phương cứu khổ. Nhưng sau sáu năm khổ hạnh. Ngài đã tìm
ra cái khổ vô hình vô tướng nhưng sâu sắc hơn nhiều, đó
là vô minh, cái vô minh làm cho ta bám víu, ái luyến thân xác,
muốn có mặt mãi mãi trên đời, muốn sống hoài không chết,
trẻ mãi không già. Thật vậy, vì có vô minh, mới có sầu
bi khổ ưu não trước cảnh già chết, mất mát người thân,
gặp gỡ kẻ thù. Nếu không có vô minh, thì sanh già bệnh
chết chỉ như bốn mùa luân chuyển trong thiên nhiên, vô thường
là sự thường. Không có sự phân biệt của vô minh, thì thân
thù bình đẳng, thấy mọi cảnh thuận nghịch đều có mặt
trái của nó, như vậy còn đâu là đau khổ? (Ví dụ, biết
tu thì gặp danh lợi vẫn tự tri, tiết dục nên không xảy
ra tai họa, gặp nghịch cảnh thì sử dụng nó để rèn luyện
thân tâm. Không biết tu, thì nghịch cảnh làm cho ta khốn đốn,
mà thuận cảnh lại càng hiểm nguy hơn).
Trọng
tâm của Tập đế do vậy là vô minh căn bản đưa đến ái
và thủ, từ ái thủ tạo đủ thứ nghiệp hữu lậu nuôi
dưỡng vô minh cho thêm béo mập ngày càng khó thoát, gọi là
nhuận sanh vô minh. Nguyên nhân của khổ hóa ra nằm ngay trong
tâm, không phải ở ngoài. Khi khám phá ra điều này, Phật
đã hoan hỉ thốt lên, “ta đã tìm ra kẻ làm nhà, từ nay
nó không còn làm nhà được nữa”, ám chỉ chính cái tâm
tạo ra thân xác, vậy muốn chấm dứt sinh tử luân hồi, thì
phải nhắm ngay tâm mà hạ thủ. Như thế là Ngài đã tìm
ra một lối thoát Khổ, vì đã tìm ra nguyên nhân của khổ,
và tuyên bố rằng khổ ấy có thể chấm dứt bằng cách chấm
dứt cái nhân gây khổ ở ngay trong ta, chứ không do một tác
nhân nào bên ngoài như thần linh hay thượng đế, cũng không
phải do hên xui may rủi như câu trong truyện Kiều:
“Bắt
phong trần, phải phong trần,
Cho
thanh cao mới được phần thanh cao”.
Sự
quan trọng của khám phá này là nó đánh tan quan niệm sai lầm
cho rằng đạo Phật bi quan yếm thế vì nói đời là khổ,
và khổ là do cái nghiệp nó bắt phải ghiền thứ nọ thứ
kia cho tới chết, không dứt ra được dù biết có hại. Nhưng
do đâu mà có nghiệp, nếu không phải do tâm? Một đứa trẻ
sơ sinh không thể nghiện rượu ngay, ghiền thuốc ghiền trà
ngay, có khuynh hướng trộm cắp ngay, mà do tâm yếu đuối,
thiếu giáo dục tốt, khi gặp hoàn cảnh, những thói xấu
ấy mới phát sinh và tăng trưởng. Tu là chuyển những thói
quen xấu thường gọi là “cái nghiệp” ấy chứ không phải
khuất thân theo nó. (Thực ra, nghiệp là chỉ chung cho tất
cả hành động có ý thức lúc đầu, và dần dần trở thành
thói quen máy móc. Như vậy nghiệp có thể lành hay dữ, và
có thể thay đổi nhờ ý chí muốn chuyển nghiệp nơi ta).
Nếu thói quen đã ăn quá sâu gốc rễ, thì cần thời gian
dài lâu để gột tẩy do vậy mà có danh từ a tăng kỳ kiếp.
Khi một bác sĩ bảo con bệnh rằng, “bệnh anh chắc chắn
chết, vì khoa học chưa tìm ra con vi trùng gây bệnh” thì
quả là ác độc, chẳng thà đừng nói, cứ để cho con bệnh
sống trong hy vọng còn hơn. Nhưng Đức Phật thì không thế.
Ngài đã tìm ra nguyên nhân khổ, và tuyên bố có thể diệt
nguyên nhân ấy, vì nó tùy thuộc nơi chính ta. Do lời tuyên
bố này, ta có thể nói đạo Phật là đạo dành lại cho con
người toàn quyền tự do tự chủ, và khi đã tự do tự chủ,
thì ta phải can đảm nhận lấy trách nhiệm về cuộc tử
sinh của mình, chứ không được đổ thừa cho bất cứ một
ai, kể cả cái nghiệp, giống như kiểu các bợm nhậu thường
nói: Tại rượu nó làm say tôi, chứ tôi đâu có muốn rượu!
Khi
Thái tử tìm đến ngọn ngành của vô minh, ngài đã đạt
Niết bàn ngay tại chỗ, giác ngộ, thành Phật. Với lòng đại
bi thúc đẩy, Ngài tìm cách giúp đỡ chúng sinh đang bị ngụp
lặn trong biển trầm luân do ái thủ gây nên. Với Phật nhãn,
Ngài lấy làm lạ lùng khi thấy tất cả chúng sinh đều đầy
đủ Phật tính, nghĩa là khả năng giác ngộ như Ngài,
song lại cam chịu khổ đau một cách oan uổng chỉ vì cái
thấy điên đảo: vô thường thấy thường, khổ thấy vui,
vô ngã thấy có ngã, bất tịnh thấy tịnh. Chính lòng thương
rộng lớn đã thúc đẩy Ngài từ bỏ sự an lạc của Niết
bàn để ra đi lang thang hành đạo, giáo hóa mọi người suốt
49 năm, chỉ cho chúng sinh thấy đâu là nguồn gốc khổ chân
thực, đâu là con đường đúng phải theo để giải thoát
thực sự.
Bồ
đề tâm do vậy là trọng tâm của sự thuyết pháp tứ đế
lần thứ hai. Thật vậy, thấy khổ, thấy nguyên nhân khổ
để diệt khổ bằng cách trừ nhân, thế là giải thoát, đạt
niết bàn, giải quyết xong việc sinh tử của riêng mình. Nhưng
như vậy, hành giả chỉ mới đạt một thứ niết bàn còn
hạn hẹp vì còn có biên giới ngăn cách với sinh tử. Cần
phải đi xa hơn để thấy rằng sinh tử và niết bàn vốn
không hai, chúng sinh vốn là Phật, phiền não vốn là bồ đề.
Nhờ thấy như vậy, Phật đã không từ bỏ chúng sinh sau khi
đạt giác ngộ, mà sẵn sàng ra giáo hóa khi nghe Phạm thiên
cầu thỉnh:
“Hỡi
đấng Biến nhãn không sầu muộn,
hỡi
bậc anh hùng, hãy đứng lên!
Hỡi
bậc chiến thắng chiến trường,
vị
trưởng đoàn lữ khách,
đấng
thoát ly nợ nần!
Xin
Ngài hãy du hành khắp thế gian,
mở
cửa niết bàn bất tử
cho
chúng sinh được nghe Pháp
mà
Ngài, Bậc thánh vô uế,
đã
chân chánh giác ngộ.
Chúng
sinh nhờ nghe Pháp của Ngài
sẽ
được thâm hiểu diệu nghĩa.”
Sự
cầu thỉnh của Phạm thiên chỉ là một duyên cớ để cho
Phật
thực hiện bồ đề tâm sẵn có, chứ không phải là nguyên
nhân chính khiến ngài ra thuyết pháp độ sanh. Nếu không phát
Bồ đề tâm ra giáo hóa, thì dù Phạm thiên cầu thỉnh, Ngài
cũng cứ nhập niết bàn cho khỏe, như các bậc La hán thường
nhập diệt bảy ngày sau khi chứng đạo và thốt lời tuyên
bố: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc làm đã xong,
saụ đời này không còn đời nào nữa”. Bồ đề tâm như
vậy là đại trí cọng với đại bi, là tâm tự giác thánh
trí và phát đại nguyện giáo hóa kẻ khác cho đạt giác ngộ
như mình.
Trọng
tâm lần thuyết tứ đế sau rốt là chánh kiến: thấy đúng.
Thấy đúng có nghĩa là thấy rõ mọi sự, từ pháp phàm như
năm uẩn sáu căn cho chí pháp thánh như niết bàn giải thoát,
đều không thực chất, đều là giả danh, tạm gọi. Tất
cả đều “phi”: phi sắc phi không, phi hữu phi vô. Nhờ thấy
tuổi trẻ, vinh hoa phú quý không thực, thái tử mới từ bỏ
được những thứ ấy vào lúc thanh xuân. Nhờ thấy khổ hạnh
không thực, vô ích, ngài đã từ bỏ khổ hạnh. Nhờ thấy
niết bàn không thực, ngài đã từ bỏ niết bàn để đạt
đến niết bàn tuyệt đối không còn biên giới ngăn cách
với sinh tử như niết bàn thanh văn duyên giác. Niết bàn của
Phật được gọi là niết bàn vô trụ xứ: ở ngay trong dòng
sinh diệt mà Ngài vẫn luôn luôn tịch diệt niết bàn, vì
Ngài đã đạt đến chỗ Trung đạo thấy chúng sinh và Phật
không hai. Lìa chúng sinh thì cũng không có Phật. Không có học
trò, thì danh từ ông thầy cũng không có. Không có phiền não,
lấy đâu để chứng bồ đề. Bởi thế, tu hành không phải
là dẹp chúng sinh để tìm ông Phật, dẹp bóng tối để tìm
ánh sáng, mà chính là chuyển mê thành ngộ, chuyển phiền
não thành bồ đề, chuyển chúng sinh thành Phật, bằng cách
thắp lên ánh sáng trí tuệ hay chánh kiến. Như khi đưa ngọn
đèn vào nhà tối thì bóng tối tức khắc chuyển thành ánh
sáng. Tổ Huệ Năng nói: “Nhà phiền não tối tăm, thường
nên sanh tuệ nhật”. (Trong cái nhà đầy phiền não tối tăm
này, tức là thân tâm chúng ta, hãy thường phát sinh mặt trời
trí tuệ).
Tóm
lại, tu theo giáo lý tứ đế, ta có ba kết quả tùy mức độ
cạn sâu: ít nhất cũng sống được một đời an lạc hạnh
phúc ngay trong hiện tại, tu cao hơn chứng từ quả Dự lưu
trở lên thì khỏi sa đọa vào ba đường ác địa ngục ngạ
quỷ súc sinh, và cao hơn nữa thì thoát ly sinh tử luân hồi,
thành bậc A la hán lậu tận. Nếu phát bồ đề tâm thì còn
thành Bồ tát, Phật. Nhưng tất cả các tầng bực tu hành
ấy đều cần chánh kiến, nghĩa là thấy rõ thực chất của
mọi sự từ phàm đến thánh đều là giả danh, vô tự tính.
Và chánh kiến chính là mối đầu của con đường tám chánh
thuộc Đạo đế trong tứ diệu đế vậy.
WP:
Mỹ Hồ
