.
NGUỒN MẠCH TÂM LINH
Thích Nữ
Trí Hải
Nhà Xuất
Bản Tôn Giáo Hà Nội 2003
CÁC
ĐỀ MỤC NGUYÊN THỦY
Trong
40 đề mục nguyên thủy, là mười biến xứ (kasinas), mười
giai đoạn tử thi, mười tùy niệm, bốn vô lượng, bốn vô
sắc, một tưởng và một phân tích, thì xét về cách tu tập,
có thứ cần được nhìn bằng mắt và cần khai triển rộng
lớn dần, như đối với các biến xứ (kasinas); có thứ không
cần khai triển mà chỉ quán bằng mắt và bằng tâm, như đối
với mười giai đoạn thây chết; có thứ cần vận dụng xúc
giác lúc đầu, như trong pháp quán hơi thở. Đấy là những
đề mục có tướng bên ngoài. Những cái còn lại không có
tướng bên ngoài, nhưng là những “tự tính pháp”, có thể
tư duy sâu xa về nó, có thể đào sâu ý nghĩa.
Xét
về kết quả, thì có thứ đề mục chỉ đưa đến định
cận hành, có thứ đưa đến định an chỉ; lại có những
đề mục chỉ đắc sơ thiền đến tam thiền là tối đa (như
ba đề mục đầu trong bốn vô lượng tâm), có đề mục có
thể đạt tứ thiền (như đề mục “Xả” trong bốn vô
lượng).
Lấy
ví dụ về một đề mục thuộc “tự tính” như đề mục
niệm Phật trong mười tùy niệm. Trong khi tu tập hành giả
tưởng niệm đến vô số đức của đấng Giác ngộ, là trí
đức, đoạn đức, ân đức của Ngài, đến mười hiệu với
ý nghĩa sâu xa theo nguyên ngữ Pàli như Arahant với các nghĩa
“xa xôi” với nhiễm ô, “căm xe” của bánh xe sinh tử
đã phá hủy, “kẻ thù” phiền não đã diệt, “xứng đáng”
với sự cúng dường tối thượng của chư thiên và nhân loại;
và là người không có những ác hành bí mật (rahu) như các
bậc thầy ngoại đạo trong bẩn ngoài sạch, vân vân. Hoặc,
về danh hiệu “Sugata”(Thiện thệ) của Phật, có những
ý nghĩa như: Ngài đã đi một cách tốt đẹp, một đi không
trở lui về con đường ô nhiễm, Ngài đã đi đến nơi tốt
đẹp là Niết Bàn, và Ngài công bố Pháp tốt đẹp đưa những
ai thực hành đúng đi đến giải thoát đau khổ. Niệm Pháp,
niệm Tăng và các “tùy niệm” khác cũng vậy.
Vì
tính chất sâu xa có thể phân tích, tư duy rộng rãi về chúng,
mà tâm hành giả trở nên chuyên chú vào các thiện pháp, trừ
được các ý xấu, nỗ lực làm điều lành. Đến gần một
người như vậy ta có cảm tưởng như đứng trước một điện
thờ Phật được trang hoàng đẹp đẽ, ta có cảm giác an
lạc như tới chùa. Người chuyên tu các pháp tưởng niệm
này thì trừ được năm triền cái (tham, sân, hôn trầm, trạo
cử và nghi), tâm được định tĩnh trong định “cận hành”
(upacàra), và khi chết sẽ hướng đến những cảnh giới tốt
đẹp.
Với
những đề mục thuộc loại “phi tự tính” như các kasinas,
thì hành giả chỉ có mỗi một việc là khai triển cái tướng
“đất”, vân vân (tùy đối tượng quán) chứ không thể
tư duy gì về nó, nên tâm có thể tập trung cao độ, đạt
đến tính “thắp sáng” đối tượng. Khi ấy tướng đất
hiện ra khắp nơi nào tâm hành giả chạm tới: ấy là “tợ
tướng” hay quang tướng xuất hiện, và hành giả đắc định
an chỉ sơ thiền với năm thiền chi tầm, tứ, hỉ, lạc, nhất
tâm. “An chỉ”, là định thực thụ, sâu xa hơn “cận hành”
một bực. Muốn đắc định an chỉ thì nên quán những đối
tượng thuộc loại phi tự tính pháp; do vì không thể tư duy
sâu xa gì về nó, tâm dễ đi đến tập trung. Khi quán những
đề mục này, hành giả như đối diện với một vách tường,
cái tâm cứ lăng xăng suy tưởng bỗng khựng lại, dội ngược
lại chính nó. Như con chim của các thương thuyền ngày xưa
được thả ra để tìm bờ, nếu bay đi mà không gặp bờ
sẽ trở lại đậu trên cột buồm: Tâm hành giả cũng vậy,
khi không tư duy được gì về đối tượng, sẽ phản quang
lại chính nó; khi ấy chủ thể là cái tâm năng quán và đối
tượng bị quán (ví dụ hơi thở, trong pháp mệm hơi thở)
nhập làm một, nhờ đó hành giả đạt được sự “nhất
tâm”(unification of mind). Cái tâm chuyên nhất trong đó không
có hai thứ chủ thể đối tượng, thánh phàm thiện ác, Phật
và chúng sinh... thì mới thực sự là an chỉ. Trong tâm thực
sự thanh tịnh, thì chẳng những không có chúng sinh, mà Phật
cũng không có.
Chúng
ta thường nghe câu ca dao: “Mười phần chết bảy còn ba,
chết hai còn một mới ra thái bình”. Đứng về phương diện
tu tập, có thể mượn nó để giải thích an chỉ là thế
nào. Cái tâm đa đoan thế sự của chúng ta thường nhật là
một bãi chiến trường với đủ thứ tạp niệm. Bây giờ
thiền định là chết bớt đi những ý tưởng lăng xăng ấy,
từ mười niệm chết bớt bảy mệm, từ ba niệm chết bớt
hai niệm, cho đến lúc chỉ còn một niệm thì tâm mới tạm
an ổn thái bình. Nghĩa là đi từ đa tâm (mười phần) đến
thiểu tâm (chết bảy còn ba: “ba” đây là tầm, tứ xung
quanh đối tượng quán), từ thiểu tâm đến nhất tâm (chết
hai còn một: đây là khi chỉ còn lại nhất tâm, tầm tứ
cũng tiêu luôn). Nhưng từ nhất tâm cho đến giải thoát thực
sự cũng còn lâu: đối với nhiều mới nói một, hết nhiều
thì một cũng không còn: “Vạn sự quy nhất, nhất quy hà
xứ?” (Muôn việc trở về một, vậy thì một trở về đâu?)
Cho nên phải tiến đến vô tâm là giai đoạn kế. Vô cũng
còn đối đãi với hữu, vậy từ vô tâm còn tiến thêm chặng
nữa là liễu tâm mới là cái tâm giác ngộ không còn thấy
có hữu vô và các pháp đối đãi năng, sở (chủ thể, đối
tượng) và đối nghịch (thánh, phàm v.v.). Các đề mục thuộc
loại “phi tự tính pháp” như vậy không những có thể dẹp
trừ năm triền cái, đắc định cận hành (như kết quả tối
đa của các đề mục niệm Phật), mà còn đạt đến định
an chỉ trang bị với năm thiền chi.
Thuộc
loại phi tự tính pháp này là những công án trong lối tham
tổ sư thiền về sau. Công án có thể xem như một đề mục
không có đối tượng dù thuộc ngoại sắc như kasinas hay nội
sắc như hơi thở, cũng không là một khái niệm có thể tư
duy như từ bi hỷ xả, v.v.. Đó là những câu hỏi mà vị
thầy đưa ra cho đệ tử tham cứu, như:
“Mặt
mũi anh trước khi cha mẹ sinh ra sao?”
“Con
chó có Phật tính không?”,
“Chết
rồi đi đâu” v.v.
Tham
công án không phải là tìm cách trả lời câu hỏi ấy, vì
không thể trả lời được. Hành giả phải nghiền ngẫm công
án như gặm phải một khối sắt cho đến kỳ gãy hết cả
răng thì hoát nhiên đại ngộ; tâm vì không có gì để bám
víu nên hồi quang phản chiếu lại tự tính của tâm. Đó
cũng là lý do có khi Phật trả lời một câu hỏi bằng cách
im lặng, để cho người tự hồi quang phản chiếu. Một du
sĩ ngoại đạo tên Malunkya một hôm đến hỏi Phật về linh
hồn. “Có linh hồn không ?” Phật im lặng. Lần thứ hai,
du sĩ trở lại, đặt câu hỏi cách khác: “Không có linh hồn
à?” Ngài cũng im lặng. Khi du sĩ ra về, tôn giả A Nan hỏi
Phật tại sao Ngài giữ im lặng cả hai lần như thế. Phật
dạy, nếu lần đầu ta nói có thì trái chân lý, lần hai ta
nói không thì kẻ kia thêm hoang mang, nghĩ, “lâu nay mình có
linh hồn, bây giờ mất rồi chăng?” Thái độ im lặng đầy
từ bi của Ngài quả nhiên đã có một hiệu quả tốt lành,
vì sau đó du sĩ trở lại không thắc mắc gì nữa, mà xin
quy y theo Phật, và trở thành một thánh đệ tử.
Một
lối giảng dạy có tính cách thông minh “khai phóng” là chỉ
đặt câu hỏi chứ không trả lời. Đó là lối dạy của
các bậc thầy ngày xưa, như Socrate, Khổng tử, và nhất là
Nagarjuna (Long thụ). Trả lời câu hỏi thì chỉ là một lối
giảng dạy có tính cách thông tin (“informer” tiếng Pháp)
truyền đạt kiến thức; đặt câu hỏi cho người tham cứu
mới là giáo hoá (“former” tiếng Pháp ) giúp họ trưởng
thành về tâm thức. Chân lý thực sự không thể giảng dạy,
mà mỗi người phải chứng nghiệm bằng bản thân, bằng nỗ
lực và thất bại của chính mình qua nhiều thử thách cam
go. Người đã giác ngộ chỉ có thể kể lại đoạn đường
gian khổ đã đi qua, nhưng không thể diễn đạt về cái cứu
cánh hạnh phúc họ đã đạt đến. Cũng như một người đã
đứng trên đỉnh núi cao chót vót chỉ có thể mô tả con
đường, ngõ ngách leo núi, nhưng không thể nào mô tả được
cảm giác khi họ đang đứng ở độ cao kia, cùng với những
quang cảnh trên đỉnh núi. Muốn biết tường tận như họ,
chúng ta chỉ có việc nỗ lực leo núi như họ đã làm, không
có cách nào khác. Không thể nghe người ta mô tả cảm giác
khi uống nước mà mình đỡ khát đi được.
Có
bốn loại câu hỏi:
- Loại
một là những câu có thể đáp ngay không do dự, không cần
suy nghĩ, vì câu trả lời đã hiển nhiên, có thể kiểm chứng,
như: “Hôm nay thứ mấy? Trời đang nắng hay mưa?” v.v..
- Loại
hai là những câu hỏi cần moi óc suy nghĩ một lát, như: “Tết
năm ngoái anh ở đâu?” hoặc những câu hỏi thuộc kiến
thức phổ thông.
- Loại
ba là câu hỏi thuộc loại kiến thức chuyên môn như thiên
văn, địa lý, toán học, điện tử thì cần thời gian học
hỏi, nhưng cuối cùng cũng giải được.
- Còn
loại câu hỏi cuối cùng là những câu hỏi không có giải
đáp trong sách vở hay kiến thức, và cũng không thể kiểm
chứng, như hỏi: “Mặt mũi anh khi chưa sinh thì thế nào?”
Đó là những công án tổ sư thiền, thuộc loại “phi tự
tính pháp”.
Những
vấn đề thuộc kiến thức phổ thông, khoa học kỹ thuật,
thuộc tầm hiểu của tai nghe mắt thấy và trí suy luận, là
những vấn đề tạo nên khoảng cách giữa người biết nhiều
kẻ biết ít, người trí kẻ ngu, người khôn kẻ dại trong
thế gian, đồng thời làm nên những nấc thang giá trị trên
đời: càng biết nhiều càng có triển vọng thăng quan tiến
chức, được thêm tài sản vật chất, được kính trọng;
biết ít thì bị khi dễ, khó kiếm tiền, dễ chết đói. Do
vậy mà người ta ở đời cứ phải tranh đua tiến bộ về
mặt kỹ thuật và kiến thức chuyên môn để khỏi bị đào
thải trong guồng máy xã hội càng ngày càng phức tạp tinh
vi. Máy móc càng ngày càng cải tiến đáng lẽ giúp ta có nhiều
thì giờ tu hơn, thế nhưng ngược lại, con người càng ngày
càng bận rộn theo với đà tiến khoa học kỹ thuật và càng
ít có lúc trở về “hồi quang phản chiếu” để tự đặt
câu hỏi căn để: “TA LÀ AI?” “SINH TỪ ĐÂU ĐẾN, CHẾT
ĐI VỀ ĐÂU?” Càng biết nhiều các kiến thức thuộc “thiết
bị ngoại vi” để có tiền, có danh vọng, ta càng biết ít
về chính mình, và càng trở nên kiêu căng xem tất cả thứ
ấy là “ta” và “của ta”. Kiến thức khoa học kỹ thuật
tự nó không có gì sai quấy, ngược lại nó là một ơn ích
giúp đời sống con người thêm thoải mái tiện nghi. Nhưng
khi nó biến thành thước đo nhân phẩm, thì sự sa đọa tâm
hồn bắt đầu. Bởi thế, thỉnh thoảng ta cũng cần nêu lên
câu hỏi: “SINH TỪ ĐÂU ĐẾN, CHẾT ĐI VỀ ĐÂU” để nhớ
cái “không biết”, cái ngu dốt căn để. Như vậy, con người
sẽ khiêm cung và giản dị hơn. Hỏi mà không tìm cách trả
lời vì thực sự không thể trả lời, cho nên cứ hỏi mãi.
Điều quan trọng là hỏi chứ không phải trả lời.
Tôi
hỏi mãi nhưng biết lời đáp lại,
Chẳng
bao giờ thỏa đáng giữa đời câm
Tôi
ngó mãi những chiều về trở lại,
Mang
những gì về trong cõi trăm năm?
(BG)
Thi
sĩ Chế Lan Viên cũng tự hỏi những câu ngớ ngẩn như vậy:
Sao
ở đâu mọc lên trong đáy giếng?
Lạnh
như hồn u tối vạn yêu ma?
Hồn
của ai trú ẩn ở đầu ta?
Ý
của ai tràn lên trong khối óc?
Để
bay đi theo tiếng cười điệu khóc?
Và
hỏi rằng: TA CÓ CÓ TA KHôNG?
Đối
diện với cái ngu dốt căn để ấy nơi mình, cái trống rỗng
của chính mình, ta thường cảm thấy khó chịu, sợ hãi, như
người ca kỹ trong thơ Xuân Diệu:
Em
sợ lắm, giá băng tràn mọi nẻo
Trời
đầy trăng lạnh lẽo buốt xương da...
Chớ
để riêng em gặp phải hồn em!
Hoặc
ta cảm thấy bơ vơ lạc lõng không có chỗ nào bám víu, như
“Gà con mất mẹ chạy bâng quơ” (BG) hay như con lạc đà
giữa sa mạc:
Miền
cát lạnh chân lạc đà bé bỏng
Bóng
hình ai tơi tả dưới trăng rằm
(Mưa nguồn)
Những
thứ kiến thức thủ đắc về sau, do xã hội đem lại, đã
dần dần thay thế cái bản ngã thực thụ, đến nỗi nếu
tước hết tài sản, địa vị, kiến thức kèm theo, thì “cái
tôi” dường như không là gì cả. Đã quen với tính sở hữu,
thủ đắc, theo lối cân đong đo đếm, ta luôn luôn phải biết
thật nhiều, học nhiều thứ, làm được nhiều việc, tạo
được nhiều phước...
Thiền
định là đối mặt với chính mình, và càng ngắm kỹ càng
thấy không có cái gì thật là mình, tất cả đều là những
thứ vay mướn của cha mẹ của xã hội và của giống nòi
di truyền từ nhiều kiếp, về tâm thức cũng như thể xác,
mà Phật gọi là Danh (tâm) và Sắc (vật) hay Không và Sắc
trong Bát Nhã. Tuy hai mà không phải hai, vì thiếu cái này thì
cái kia bất thành. Hai thứ danh và sắc làm câu sinh duyên cho
nhau, như anh mù cõng anh què. Một mình Danh không đi được
vì không có chân, một mình Sắc không đi được vì không
có mắt. Nhưng khi cả hai phối hợp thì có thể đi khắp các
nẻo luân hồi trong ba cõi.
Thiền
định sở dĩ khó khăn là vì nó quá đơn giản nghèo nàn đạm
bạc cô liêu. Ta ưa sở hữu, nhưng ta đụng phải cái vô sở
hữu. Ta ưa biết mà đụng nhằm cái không biết. Ta ưa thủ
đắc nhưng phải chạm mặt cái vô sở đắc. Ta ưa thấy tướng
mà chạm phải cái vô tướng. Ta quen sống trong đối đãi
thì đụng phải cái bất nhị không có chủ thể đối tượng,
một hay khác... vì trong thiền định, cốt yếu là không còn
thấy có cái “tôi là con người thiền định”. Trong thiền
định, tâm năng quán và cảnh sở quán chỉ là một. Khi thấy
cái sự lẩm cẩm “đem tâm tìm tâm” chẳng khác gì cỡi
trâu tìm trâu, hay trên đầu gắn thêm đầu, thì cái tâm đa
đoan tự nhiên phản tỉnh. Nhìn lại thì tất cả không gì
không phải là tâm: thiện ác thánh phàm thế gian hay xuất
thế, có lý vô lý... đều do tâm bày đặt. Tâm vừa là diễn
viên vừa là khán giả. “Khi tượng gỗ đánh đàn, thạch
nữ bắt đầu ca múa”... Tâm đem lại sự sinh động cho cả
gỗ đá, cho tứ đại, không phải ngã, không phải một con
người, lại càng không có ông nọ bà kia. Đạt đến cái
thấy thường trực như vậy thì “không có đời này, đời
sau, đời chặng giữa, và như vậy là ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU”
(Lời Phật dạy trong Trung Bộ kinh).
Đấy
là tác dụng của những đề mục thiền thuộc loại “phi
tự tính pháp”, những công án nghịch lý, những câu hỏi
không thể trả lời.
WP:
Mỹ Hồ
