.
NGUỒN MẠCH TÂM LINH
Thích Nữ
Trí Hải
Nhà Xuất
Bản Tôn Giáo Hà Nội 2003
LUẬN
VÃNG SINH
I.
MỤC ĐÍCH LUẬN VÃNG SINH
Bardo
Thodol là cuốn sách của người Tây Tạng đọc bên tử sàng
để hướng dẫn thần thức người sắp chết. Nhưng không
nên hiểu nó chỉ dành cho người chết mà thôi. Quả thế,
khi ta hiểu quá trình chết đang diễn ra liên tục trong đời
sống, thì Bardo Thodol đích thực là một hướng dẫn về cách
sống; vì biết sống cũng có nghĩa là biết chết. Chúng ta
chỉ thực sự sống trọn vẹn, khi ta không bị ám bởi những
bóng ma của quá khứ, của những ngày hôm qua; chính những
bóng ma dĩ vãng đã làm cho đời sống hiện tại trở thành
u ám.
II.
Ý NGHĨA DANH TỪ BARDO
Là
trạng thái trung gian giữa ngủ và thức, mê và ngộ, sống
và chết. Rất cần hiểu rõ khoảng trống này, khe hở này,
vì sự hiểu rõ nó sẽ đem lại giải thoát. Sự mờ mịt
về nó là nguồn gốc của đủ loại ảo tưởng tạo ra sáu
nẻo luân hồi. Vĩnh gia Huyền Giác đại sư dạy:
“Trong
mộng rõ ràng bày sáu nẻo,
Tỉnh
ra lồng lộng cõi không thiên”.
(Mộng
lý minh minh hữu lục thú,
Giác
hậu không không vô đại thiên).
Trong
mộng ta thấy đủ thứ, nhưng khi tỉnh thì chẳng có gì ngoài
bầu trời xanh bát ngát. Sự chìm đắm trong luân hồi sinh
tử không chỉ diễn ra sau khi chết mà ngay lúc đang sống.
Đó là những trạng thái tâm hồn mất định hướng, hụt
hẫng không biết phải làm gì. Đó là những lúc ta cảm thấy
bồn chồn bất an, bị tham sân chi phối... Bardo Thodol là sách
nói về sự chết nhưng cũng có thể là sách nói về khoảng
trống nội tâm ấy.
1.
Người sắp chết thường có cảm giác mình từ giã một thế
giới “thực” để đi vào một thế giới mờ mịt bất
định (bardo). Thế giới “thực” có đặc điểm là những
phân biệt giữa thánh phàm, thiện ác, vinh nhục, được thua,
sướng khổ, v.v.. rất rõ ràng phân minh; đấy là thế giới
của nhị nguyên đối đãi. Nhưng nếu ta thấy được rằng,
trong thiện có ác, trong vinh có nhục, trong sống có chết và
ngược lại thì thế là ta đang tiếp cận với sự thật,
với chân lý bất nhị, “nhất chân pháp giới”; khi ấy
không còn mâu thuẫn nhị nguyên, hay đúng ra, thấy được
thực chất của nhị nguyên ấy là hư ảo thì sống trong bất
nhị. Người nào sống trong chân lý ấy thì không rơi vào
trạng thái mờ mịt bardo khi chết, vì có chính kiến. Thấy
được bất nhị cũng như là thấy được mặt mũi chúa Xuân,
hay thấy bản lai diện mục của mình, và không còn nao núng
trước cảnh xuân tàn hoa rụng (hay chết chóc): “Thiền tọa
an nhiên ngắm rụng hồng” như Điều ngự Giác hoàng Trần
Nhân Tông, sơ tổ thiền phái Trúc Lâm.
Khoảng
“Không” mà thần thức thấy được khi rũ bỏ thân xác
sẽ không làm cho bậc giác ngộ sợ hãi tránh né vì đã thể
nghiệm được “không chẳng khác sắc” nói trong Bát
nhã tâm kinh. Khi đã thường xuyên thấy được mọi được
thua, còn mất, vinh nhục ở đời đều không thực, thì cũng
dễ đón nhận Chân-không vào lúc chết, với tâm trạng vô
úy và thế là đạt đến Pháp thân thường trú.
2.
Các giai đoạn của sự chết là: đầu tiên cảm giác nặng
nề của địa đại thắng lướt; kế đến là sự tuần hoàn
ngưng, máu huyết hết lưu thông, thủy đại ngưng hoạt động;
rồi đến hỏa đại cũng chấm dứt khi tất cả hơi nóng
đều thoát ra, thân thể lạnh toát; hỏa đại cuối cùng tan
vào phong đại.
Tâm
thức cũng trải qua những giai đoạn tương ứng. Người chết
rơi vào một tâm trạng hoang mang cùng cực, như một người
tu hành đi đến giai đoạn không rõ mình sắp đạt giác ngộ
hay là sắp điên; cảm thấy hụt hẫng, mất đất đứng,
vì thấy mọi sự dường như đảo ngược. Đó là trạng thái
lúc địa đại phân tán. Tâm thức chỉ còn biết bám vào
thủy đại để tự xác nhận sự hiện hữu của mình, thủy
đại đây về mặt tâm lý là dòng Thức đang tuôn chảy. Nhưng
dòng này cũng kiệt quệ, người sắp chết không còn suy nghĩ
một ý tưởng nào được nữa, mất khả năng suy luận, và
giai đoạn này tương đương với sự tuần hoàn máu chấm
dứt: thủy đại tiêu tan. Người chết khi ấy cố bám víu
vào sự sống, cố tìm cách xác quyết sự hiện hữu mình
qua cảm xúc mạnh, như thương hoặc ghét một người nào đó:
đấy là tự nhận diện qua hỏa đại trong thân xác hay qua
cảm xúc trong tâm hồn. Nhưng rồi hỏa đại cũng biến mất
vào phong đại hay không đại, lửa tan theo gió. Cảm xúc phai
dần cường độ để đi vào hư không, giai doạn cuối cùng
này tương đương với thể xác lạnh toát, thần thức chỉ
còn là một điểm nóng cuối cùng đang lịm tắt. Đấy là
tử tâm khởi lên để diệt và biến thành dòng kiết sinh
đi tìm một đời sống mới mà thông thường gọi là đi đầu
thai. Kỳ thực thần thức này cũng như một dòng nước luôn
luôn mới mẻ nên thực sự nói đầu thai cũng không đúng,
vì nó ám chỉ có một thực thể không thay đổi đang di chuyển
từ đời này đến đời sau. Còn nói “dòng tâm thức” thì
ta phải hiểu nó cũng như dòng nước chảy qua làng mạc, ruộng
đồng cho đến khi ra biển không phải là một dòng duy nhất
ấy, mà nó luôn luôn đổi khác, có cho và có nhận luôn luôn
trên đường tuôn chảy để cuối cùng thể nhập vào đại
dương bát ngát. Bởi vậy, một tâm thức bình thường sân
si ác độc có thể do nghe những lời khai thị của vị thầy
trong lúc hấp hối mà trở thành hiền thiện, ăn năn sám hối
và nhờ vậy có được một cái chết thanh thản và đi vào
một tái sinh tốt đẹp. Đời sống của thần thức đó trong
thân xác mới không thể nói là một hay là khác với con người
tiền kiếp của y; cũng như một con người lúc sơ sinh so với
lúc về già sắp chết, hoàn toàn khác nhau, chỉ vì vô minh
mà ta bảo cả hai chỉ là một. Khi người chết bám vào
cảm xúc thương ghét như một nỗ lực cuối cùng dể tự
tìm lại bản thân, nghĩa là khi hỏa đại gom lại một lần
cuối thành một chỗ ấm trên cơ thể, và cuối cùng nó cũng
thoát ra, thì người chết rơi vào một khoảng trống kinh khủng:
lửa biến mất trong Không. Ở giai đoạn này có hai khả năng:
với người suốt đời chuyên tu tập, quen độc cư thiền
định, thì đấy là cơ hội ngàn năm một thuở để thể
nhập Pháp thân, đạt giải thoát. Còn với người không tu
tập hoặc chưa tu tập đúng mức, thì khoảng Không này biến
hóa đủ cách tùy theo nghiệp lực mỗi người, nghĩa là tùy
thói quen nói, làm, nghĩ, của đương sự. Nó sẽ mang hình
thức của một trong sáu cảnh chính như sau, gọi là sáu nẻo
luân hồi hay lục đạo, nhưng trong mỗi cõi cũng có muôn ngàn
cấp bực vì nghiệp lực không ai giống ai.
III.
SÁU NẺO LUÂN HỒI
1.
Địa
ngục:
Đấy
là cảnh giới có hình thức chấp ngã nhiều nhất, nơi có
nhiều thù hận, căm ghét, trả đũa. Thức căm thù muốn làm
hại một người nào đó, nhưng rốt cuộc hóa ra là làm hại
chính mình. Lòng giận dữ muốn hủy hoại một cái gì cho
hả tức, nhưng cuối cùng trở thành tự hủy. Như mẩu chuyện
vì thiền sinh bị ám bởi hình ảnh một con nhện khổng lồ
mỗi khi tọa thiền. Quá căm tức, ông ta trình lên vị thầy,
từ nay lúc tọa thiền con sẽ thủ một con dao phay để giết
con nhện khi nó xuất hiện. Vị thầy bảo, ông hãy làm dấu
bằng phấn trắng chỗ nào ông định thọc con dao, rồi thời
tọa thiền kế tiếp hãy ra tay. Thiền sinh vâng lời. Đến
thời tọa thiền kế tiếp, vị thầy bảo ông hãy vén bụng
ra xem. Trên bụng ông, rõ ràng một dấu chữ thập bằng phấn
trắng do chính ông đã vạch. Thiền sinh lúc ấy tỉnh ngộ.
Hóa ra con nhện chỉ do tâm ông biến hóa mà thôi.
Kinh
điển thường mô tả hai dạng địa ngục: cực nóng, trong
đó tội nhân ăn huờn sắt nóng, uống nước đồng sôi, nằm
trên giường sắt nung đỏ, bị áo sắt nóng quấn thân...
và một dạng địa ngục cực lạnh, toàn là băng giá, trong
đó tội nhân quá rét lạnh run lên cầm cập không thốt được
lời nào ngoài mấy tiếng A ba ba, a tra tra, a la la. Hai dạng
địa ngục đó xảy ra hàng ngày trong tâm thức người đang
sống. Địa ngục nóng là tâm sân giận cực độ đưa đến
chém giết và tự hủy hoại bằng dao búa, độc dược, lửa
đốt. Địa ngục cực lạnh hay địa ngục hàn băng là cái
tâm thù hằn ngấm ngầm, tâm ganh tị, tâm kiêu căng ngã mạn
tự cho mình cao vượt, không thể hòa đồng với một ai. Người
sống tâm trạng ấy thì hoàn toàn vắng bóng yêu thương lân
mẫn với đồng loại, tâm hồn như một hoang đảo băng giá.
2.
Quỉ
đói:
Đấy
là cảnh giới của sự thèm khát những gì ở ngoài tầm tay,
hoặc của sự quá thừa thãi không còn chỗ để chứa thêm
được nữa, trong khi đó lòng vẫn mong muốn có thêm. Trong
đời sống thường ngày, đấy là trạng thái một con người
bụng đã quá no mà miệng vẫn còn thèm, con người thèm khát
được cảm thấy đói, được ăn một cách ngon miệng như
người khác, trong khi mình có đầy đủ mọi thứ, muốn ăn
mà không tài nào nuốt nổi. Tâm trạng của những người
mà đồ ăn khi đưa đến miệng thì biến mất không ăn được,
hoặc khi nuốt xuống liền hóa thành lừa đốt cháy ruột
gan. Kinh điển mô tả dạng quỉ đói này bằng hình ảnh một
con quỷ bụng thật lớn như cái trống nhưng cổ họng lại
nhỏ chỉ bằng cây kim, để nói lên lòng tham không đáy khiến
người ta không thưởng thức được vị ngọt của cuộc đời
(cổ quá nhỏ không nuốt được) vốn nằm trong sự san sẻ
hạnh phúc chứ không phải trong sự giữ chặt cho mình. Càng
giữ chặt càng dễ mất.
3.
Súc
sinh:
Cảnh
giới súc sinh (cảnh giới của ngu si) có đặc điểm nổi
bật là vắng bóng niềm hỉ lạc, năng khiếu hài hước. Loài
vật cũng biết cảm thụ hạnh phúc và đau khổ, nhưng không
hề biết cười. Năng khiếu hài hước là một đặc tính
chỉ riêng có nơi loài người, do vậy, biết cười quả là
dấu hiệu của trí tuệ.
Đặc
tính thứ hai là, loài vật có thói nhắm mắt đi theo một
đường lối khuôn khổ nhất định, và rất sợ thay đổi,
rất sợ những yếu tố bất ngờ. Một con người kém phát
triển về trí tuệ cũng thế, thường có tâm lý an phận trong
những đường mòn lối cũ, sợ phiêu lưu thí nghiệm, như
một nông phu chỉ quen với cuốc cày và những kỹ thuật canh
tác cổ điển. Trong thế giới loài vật, một sự lạ, một
điều bất ngờ đối với chúng là một tai họa. (Thú vật
ở trong một chuồng mà mau chết là do thường bị cảm giác
bất an với tình trạng thỉnh thoảng lại bị dời chỗ).
Tính này cũng có nơi con người ở một mức độ nào đó,
ấy là thói “cầu an”. Bởi thế, quả thực nên “cầu
siêư” hơn cầu an, vì khi tâm siêu được giải thoát được
tham lam cố chấp, thì tự nhiên được an lạc dù ở hoàn
cảnh nào bất cứ. Còn nếu không giải thoát tham lam cố chấp
thì dù đang ở trong những chốn thong dong, tâm vẫn đầy những
bất an lo sự, như cụ Nguyễn Du nói trong truyện Kiều:
“Vậy
nên những chốn thong dong,
Ở
không yên ổn, ngồi không vững vàng”.
4.
Cõi
người:
Khác
với súc sinh, con người có óc khám phá tìm tòi, ưa mới lạ,
nên dễ tiến hóa bằng cách làm giàu có thêm tri thức và
kinh nghiệm. Cõi người vừa có dấu vết của quỷ đói do
bởi lòng ham muốn “có thêm” này, vừa có dấu vết của
súc sinh do bởi ý hướng cầu an, muốn ổn đính. Nhưng còn
có một yếu tố thứ ba mà hai cõi kia không có, đó là sự
tự thức tự tri. Yếu tố này làm cho hạnh phúc và đau khổ
nơi cõi người trở thành nồng nàn mãnh liệt hơn ở ba cõi
dưới. Nó vừa là một ơn ích mà cũng vừa là một tai họa.
Chính yếu tố này làm nên nghiệp lành dữ khác nhau. Trong
khi ở cõi địa ngục quỷ đói súc sinh, chúng sinh chỉ thọ
báo, thì ở cõi người, chúng sinh vừa thọ báo cũ vừa gây
thêm nghiệp mới hoặc lành hoặc dữ. Bởi vậy cõi người
là cơ hội duy nhất để giải thoát sinh tử luân hồi, và
được sinh làm người là một cơ may hiếm có không nên để
lỡ. Trong kinh thường dạy, “một phen mất thân người, muôn
kiếp khó được lại”.
5.
A
tu la:
Cao
hơn cõi người, đấy là cảnh giới những tâm hồn thông
minh chính trực ưa thưởng thiện phạt ác, nhiều nóng giận
thuộc loại “nghĩa khí chi nộ” giữa đường dễ thấy
bất bằng mà tha.
6.
Cõi
trời:
Sau
khi tiếp cận luồng ánh sáng của Pháp giới chân thật, thần
thức hiền thiện cảm thấy hỉ lạc muốn an trú trong đó.
Nhưng đồng thời một cảm giác Vô ngã bao la, choáng ngợp
đến rợn người vồ chụp lấy thần thức. Do còn ngã chấp,
thần thức muốn tìm trú ẩn trong một bản ngã, và cảm thấy
ánh sáng dịu của cõi trời dễ chịu hơn, thế là có sự
tái sinh làm loài chư thiên.
Sáu
nẻo luân hồi trên đây cũng là sáu cửa ngõ để trở về
Chân tâm bất hoại.
IV.
NGŨ TRÍ NHƯ LAI
Một
đàn tràng mật tông hay mandala đơn giản nhất gồm năm vị
Phật ở bốn phương đông tây nam bắc và trung ương. Như
Lai là đấng đã thể nhập bản chất “chân như” của vạn
pháp cho nên không còn đến đi sinh diệt. Kim cương kinh nói,
“Như lai giả, vô sở tùng lai diệc vô sở khứ, cố danh
Như lai”: Như lai có nghĩa là không từ đâu mà đến (sinh)
và cũng không đi về đâu cả (diệt). Là đấng chiến thắng,
bậc giác ngộ, tỉnh thức. Năm vị Phật như vậy chính là
năm hình thái năng lượng của Phật tính, nghĩa là của tâm
thức đã giác ngộ. Những tính chất bao hàm trong năm đức
Phật này là trí tuệ, nhưng đứng về mặt sinh tử (mê),
hay về mặt tâm lý thông thường, thì năm đức tính này lại
xuất hiện dưới hình thức năm độc tố tác hại, năm cảm
xúc mê muội. Mọi sự vật trên thế gian, sinh vật, cây cối,
biến cố... đều có một đặc tính nổi bật liên hệ đến
một trong năm độc tố này; do thế, nó còn có tên là ngũ
bộ Như lai hay năm “gia đình” (kula) theo Phạn ngữ. Năm
Phật là năm uẩn được chuyển hóa, hay THỨC CHUYỂN THỂ
TÁNH TRÍ: Sắc uẩn thành Pháp giới thể tính trí, Thọ uẩn
thành Bình đẳng tính trí, Tưởng uẩn thành Diệu quan sát
trí, Hành uẩn thành Thành sở tác trí và Thức uẩn thành
Đại viên cảnh trí.
Đức
Phật đầu tiên có vị trí ở trung ương, gọi là Đại Nhật
(Tỳ lô giá na), ở khía cạnh sinh tử đấy là độc tố si
mê, vô minh căn bản từ đó xuất phát mọi độc tố khác.
Nhưng Ngài cũng là trí tuệ thấy bao quát pháp giới gọi là
PHÁP GIỚI THỂ TÁNH TRÍ, nhìn rõ mọi sự vật đúng như thực
chất của nó. Đấy là điều ngược lại với vô minh si ám.
Bộ tộc hay gia đình vị Phật này gọi là Như Lai bộ (Tathàgatakula),
biểu trưng cái ngược lại với ngu si.
Vị
Phật thứ hai là Bất Động (A Súc), ở phương Đông của
đồ hình, làm chủ Kim cương bộ. Độc tố là sân hận, thù
ghét ở phương diện sinh tử và khi được chuyển hóa, trở
thành ĐẠI VIÊN CẢNH TRÍ, tấm gương sáng tròn đầy phản
chiếu mọi hiện tượng một cách bình thản.
Ở
phương Nam của đồ hình, là đức Phật Bảo Sinh, làm chủ
Bảo bộ, tượng trưng bằng viên bảo châu Như ý. Độc tố
ở đây là kiêu mạn ở trong sinh tử do sở hữu được mọi
thứ xinh đẹp giàu sang, và ở bình diện giác ngộ nó được
chuyển hóa thành BÌNH ĐẲNG TÁNH TRÍ, thương tất cả mọi
loài như nhau không phân biệt.
Phương
Tây là Phật A Di Đà, thuộc Liên hoa bộ. Ngài biểu trưng
cho độc tố tham dục, chấp thủ ở khía cạnh sinh tử đã
được chuyển hóa thành DIỆU QUÁN SÁT TRÍ, để chuyển lòng
ác nhiễm thành đức từ bi.
Phương
Bắc ngự trị Phật Thành Tựu hay Bất Không Thành Tựu Như
lai, thuộc Nghiệp bộ. Nghiệp ở đây là hành động, độc
tố của nó là tham vọng không biết chán đã thúc đẩy con
người làm lụng không biết mệt mỏi trong đường sinh tử,
tạo các nghiệp sinh tử. Ở khía cạnh giác ngộ, đấy là
THÀNH SỞ TÁC TRÍ, trí tuệ đưa đến sự thành tựu mọi
việc ích.
Năm
vị Phật biểu trưng cho năm đức tính siêu việt ở ngoài
dòng sinh tử, bởi thế, đấy là khía cạnh TRÍ để soi sáng
hành động mà biểu trưng là hai Bồ tát ở hai bên mỗi vị,
kể như những hóa thân để cứu độ mọi loài. Hình thức
nữ tính tiêu biểu năng lực thương yêu, nuôi nấng của những
bậc mẹ hiền. Đấy là hình thức linh hoạt của năm trí
đã nói.
Mỗi
phương Phật trong đồ hình mandala mật tông còn được biểu
trưng bằng một màu sắc, chẳng hạn trung ương sắc xanh,
đông phương trắng (hai màu này thay đổi nhau tùy trường
phái mật tông; chẳng hạn Trung hoa ảnh hưởng Dịch lý nên
cho đông phương thuộc hành mộc sắc xanh), nam phương vàng,
tây phương đỏ, bắc phương đen hay lục.
Theo
cuốn Luận Vãng sinh Tây Tạng (Bardo Thodol), ba ngày rưỡi sau
khi chết, thần thức người chết có một thoáng minh mẫn
trở lại như vừa trải qua một cơn ngất lịm, và ý thức
được rằng mình đã chết. Khi ấy vào ngày đầu tiên, yếu
tố Hư Không xuất hiện, thần thức chạm mặt với ánh sáng
chói chan từ cõi Phật Đại Nhật chiếu đến, Phật có một
cái đầu với bốn mặt xoay ra bốn phương hướng, biểu trưng
lý Vô ngã, không còn một trung tâm chấp thủ. Ngài tượng
trưng cho Không gian và Thời gian, tay cầm bánh xe có tám căm.
Biểu tượng của vị Phật này là tính chất mênh mông linh
hoạt của Thức uẩn khi đã chuyển hóa. Cõi này đồng thời
cũng chứa đựng những yếu tố của thiên giới: trong màu
xanh thẳm bao la còn có một luồng ánh sáng trắng dịu. Thần
thức người chết còn chấp ngã, và nếu có đời sống hiền
thiện, sẽ cảm thấy ưa mến ánh sáng trắng này và muốn
tránh né màu xanh mênh mông của pháp giới; thế là tái sinh
vào cõi này. Cõi phật Đại nhật là do Thức uẩn biến ra.
Vào
ngày thứ hai, yếu tố Nước xuất hiện, hào quang màu trắng
của cõi Phật Bất Động chiếu đến, đức Phật ngồi trên
voi trắng, tay cầm chày Kim cương biểu trưng cho sự bất hoại.
Cõi này do Sắc uẩn biến ra. Đồng thời lại có ánh sáng
xám đục từ cõi địa ngục chiếu đến, mà do nghiệp lực,
thần thức sẽ thấy gần gũi với nó hơn là với ánh sáng
chói chan cõi Phật A Súc. Nếu tâm hiền thiện, giữ vững
chính kiến thì có thể lưu trú trong cõi Phật này.
Ngày
thứ ba, yếu tố Đất xuất hiện, đó là hào quang sắc vàng
biểu trưng địa đại trong thể tính chân như, với Phật
Bảo Sinh tay cầm ngọc báu. Cõi này do Thọ uẩn biến ra. Yếu
tố sinh tử ở đây là cõi người, với ánh sáng xanh nhạt
xuất hiện đồng lúc với hào quang của Phật. Do nghiệp lực,
thần thức sẽ tránh né hào quang Phật và ưa thích ánh sáng
cõi người, do vậy tái sinh vào đấy.
Ngày
thứ tư yếu tố Lửa xuất hiện ở phương tây dưới dạng
thuần tịnh là Phật A Di Đà tay cầm hoa sen. Cõi này do Tưởng
uẩn biến ra. Ánh sáng lục đạo tương đương với cõi này
là ánh sáng vàng nhạt của loài quỷ đói chiếu đến đồng
thời với hào quang của Phật.
Ngày
thứ năm, yếu tố Gió xuất hiện, với Phật Thành Tựu ở
phương Bắc ngự trên lưng thần điểu Garuda bay đến, tay
cầm chày Kim cương. Thế giới này tràn ngập màu xanh lục
bao la. Đồng thời lại có ánh sáng cõi a tu la màu đỏ nhạt
chiếu đến.
Từ
ngày thứ sáu một loạt 42 thiện thần, bốn thiên tướng,
năm vị Phật và tất cả lục đạo đồng thời xuất hiện
như một mẻ lưới cuối cùng để cứu vớt thần thức trong
trạng thái mờ mịt trung ấm. Tất cả những hình ảnh kể
từ ngày đầu cho đến ngày thứ sáu đều xuất phát từ
trái tim của thần thức. Từ ngày thứ bảy trở đi, những
biến hiện bắt đầu hỗn loạn không rõ nét, biểu hiện
sự vô minh. Và kế đến, nếu thần thức không đi theo ánh
sáng cứu vớt của các thiện thần mà tiếp tục lảng vảng
trong cõi trung gian, thì từ đấy trở đi chỉ còn những ác
quỷ hung thần xuất hiện do nghiệp ác hóa hiện, hoặc do
lương tâm cắn rứt chiếu ra.
V.
KẾT LUẬN
Luận
Vãng sinh cốt nhắc nhở người sắp chết biết rõ những
hình ảnh xuất hiện trước mắt họ đều duy tâm biến hiện,
không đáng sợ hãi, không nên bám víu. Câu nói đầy ý nghĩa
là “Ngươi nên nhớ ngươi đã chết rồi, ngươi không thể
chết một lần thứ hai nữa, bởi vậy bất cứ gì xuất hiện
trước ngươi, ngươi hãy bình tĩnh đừng hoảng sợ, vì đó
chỉ là những hình ảnh từ chính tâm ngươi chiếu ra”. Trong
đời sống thường ngày, ta cũng cần tập chết đi luôn luôn,
chết đi với những ngày hôm qua, để luôn luôn “sống lại”
một cách mới mẻ. Và cũng cần tập sống với ý thức lìa
phân biệt đối đãi, thấy cái Nhất thể trong mọi sự, thấy
mọi mâu thuẫn trên đời như sang hèn, khổ vui, thiện ác,
vinh nhục... đều giả tạm, không thực chất, để an trú
trong thế giới nhất như (nhất chân pháp giới) ngay lúc còn
đang thở. Đó chính là Như lai thanh tịnh thiền.
WP:
Mỹ Hồ
