07
MÌNH
LÀ CÁI GÌ?
Giảng
tại Thiền viện Trúc Lâm - 1997.
Hôm
nay, đạo tràng Thái Tuệ về Thiền viện Trúc Lâm cúng dường
mùa an cư, quí thầy có ít lời nhắc nhở cho đạo tràng để
quí vị tinh tấn tu hành.
Là người
Phật tử, quí vị vừa lo sinh sống cho gia đình, vừa lo tu
hành, đồng thời giúp đỡ huynh đệ chung quanh cùng biết
tu, đó là duyên tốt. Vì vậy tôi sẽ nhắc nhở thêm cho quí
Phật tử những điểm trọng yếu trong Phật pháp.
Ðức Phật
Thích Ca khi sinh ra đời, một tay chỉ trời một tay chỉ đất,
nói câu: "Trên trời, dưới trời, chỉ có ta là hơn hết."
Câu này quý thầy đã giảng rộng rồi, nhưng ở đây tôi
nhấn mạnh lại trọng tâm. Người ta cứ nghĩ Phật nói thế
là bản ngã hơn hết, nhưng sự thật không phải vậy. Với
thâm ý của đạo Phật thì trên trời dưới trời chỉ có
ta, tức con người là hơn hết.
Tại sao vậy?
Vì trong vũ trụ, trời che đất chở nhưng trời đất vô tri,
chỉ con người là có tri giác. Ðất chở đất nuôi chúng
ta, nhưng đất có biết làm gì đâu, chỉ là hình tướng che
chở giúp cho mình có sự sống. Còn trời là mây, mưa, mặt
trời, mặt trăng, giúp cho ta đủ điều kiện sống trên thế
gian này. Nên nói trời đất vô tri, chỉ có con người tri
giác, như vậy tri giác là trên tất cả. Vì thế con người
là trọng tâm của trời đất, chớ không phải thường.
Lâu nay chúng
ta ai cũng như ai, hầu hết đều coi thường mình, chỉ kính
trời trọng đất. Ðó là lỗi lầm rất to. Sợ trời phạt,
mong trời thương, cầu thổ địa ủng hộ cho nhiều...
tất cả những việc đó chỉ là phần phụ bên ngoài không
đáng kể. Chính yếu là con người. Con người rất quan trọng
đối với đạo Phật, nên đức Phật Thích Ca ra đời đã
tuyên bố mục tiêu trọng yếu đó. Ngài ra đời là vì đề
cao giá trị của con người. Ðó là trọng tâm, khác với các
nhà khoa học hay triết học, luôn nghiên cứu tìm tòi bên ngoài,
chinh phục vũ trụ mà quên xoay lại con người, chinh phục
chính bản thân mình.
Quí Phật
tử kiểm nghiệm lại trong đời sống của mình, xét xem chúng
ta nhớ mình nhiều hay nhớ bên ngoài nhiều. Sáng thức dậy
thì sao? Sửa soạn đi chợ hoặc đi làm công tác, luôn luôn
nhớ những việc bên ngoài, chớ không nhớ mình. Lo điều
này điều kia, mua sắm đủ thứ. Ngoài chợ có những món
hàng mới lạ, nếu trong túi có tiền liền đi mua sắm. Chúng
ta ưa thích những gì mới lạ bên ngoài, ít khi nghĩ đến
con người mình. Quí vị có khi nào nghĩ mình là cái gì không?
Chắc không! Cứ hài lòng với con người như vầy, sự sống
như vầy là đủ rồi. Thêm nữa là sự ăn mặc, nhà cửa,
xe cộ, lo bấy nhiêu đó mà quên nghĩ mình là cái gì.
Mình là gì
không biết mà cái gì cũng lo cho mình. Sắm máy thu thanh, hỏi
sắm cho ai, sắm cho mình. Mua chiếc nệm để làm gì? Ðể
cho mình nằm. Cái gì cũng mình hết. Nhưng thử hỏi mình là
gì thì không biết! Ðó là điểm chính yếu mà tất cả chúng
ta quên, chúng ta lơ là.
Ðạo Phật
không cho phép người Phật tử như vậy mà chúng ta phải biết
mình cho rành rẽ, tường tận. Vật bên ngoài chỉ phụ thuộc,
nghĩa là biết được bao nhiêu hay bấy nhiêu, trọng yếu là
phải biết mình, vì con người là trọng tâm của vũ trụ.
Biết tất cả mà không biết mình thì cái biết đó chưa thật
biết. Tất cả tài sản mình được mà hỏi mình là cái gì
cũng không biết. Như vậy, tất cả cái được đó đều không
giải quyết tận cội gốc của con người. Sống mà không
biết mình là gì thì cuộc sống hết sức rỗng, vô giá trị.
Nếu chúng ta chỉ lo ăn mặc cho sung sướng, nhà lầu xe hơi,
tức là chỉ lo thụ hưởng sung túc, mà mình là gì không biết
thì ai hưởng thụ đây?
Ðó là vấn
đề mà đức Phật hay người tu hy sinh cả cuộc đời, phăng
tìm cho ra manh mối để giải quyết về thân phận con người.
Ngày nay chúng ta tu theo đạo Phật cần phải hiểu vấn đề
đó, không thể xem thường. Cứ lo ăn lo mặc, lo sống để
chờ tới ngày chết, cuối cùng là tan rã. Ví như chúng ta
cất cái nhà thật đẹp nhưng biết mai mốt nó sẽ tan nát
thì còn quí nó không? Cái không bền, không lâu dài, chúng
ta đâu có quí. Vậy thì thân này không lâu dài, tại sao mình
lại quí, đó là mê hay giác? Ðó là mê.
Vì vậy đạo
Phật dạy chúng ta phải giác, chớ không cho mê. Người mê
thì không sáng suốt, không có trí tuệ. Mà không sáng suốt,
không trí tuệ thì sống như chết, không có giá trị gì hết!
Ý nghĩa quan trọng là phải biết được mình thì cuộc sống
mới có giá trị. Dù sống nghèo hay sống thiếu thốn vẫn
có ý nghĩa như thường. Còn không biết mình là gì thì cuộc
sống hoàn toàn vô nghĩa.
Nhưng muốn
biết mình là gì phải làm sao? Chính điểm này tôi muốn hướng
dẫn cho quí Phật tử ứng dụng tu tập để tìm lại xem mình
là cái gì? Bao nhiêu người dù trí thức hay bình dân đều
nghĩ mình luôn luôn hiện tiền, nhưng hỏi mình là gì thì
không trả lời được. Như vậy, cái hiện tiền đó cũng
chỉ là ảo tưởng thôi. Chúng ta phải tìm ra lẽ thật mình
là gì chớ không thể tưởng tượng được. Chúng ta tu không
phải tìm cái gì xa xôi ở bên ngoài mà phải xoay lại soi
sáng chính mình để tìm xem mình là gì? Cái gì là thật mình?
Nếu tìm ra được cái thật mình là ngộ đạo. Ðừng tưởng
ngộ đạo là chạy lên non, lên núi, lên mây, lên trời, mà
ngộ đạo là tìm ra được cái thật mình. Tìm được cái
thật mình rồi thì ngang đó giải quyết xong dòng sinh tử.
Không tìm ra được cái thật mình thì luôn luôn sống trong
dao động, biến chuyển. Mà dao động biến chuyển là tướng
sinh diệt vô thường. Nếu chấp giữ tất cả hình tướng
tâm niệm vô thường là mình thì mình là một dòng biến chuyển.
Chuyển biến nơi này tới nơi kia không dừng, Phật gọi đó
là luân hồi. Ðã luân hồi thì chỉ có giải thoát luân hồi
mới là vui.
Tôi thường
nói thân này không phải thiệt mình. Nhưng ai cũng bám vào
nó, cũng nghĩ nó là mình. Nếu thân này thật mình thì nó
nguyên vẹn, nhưng nếu ở trong da thịt chúng ta chỗ nào bị
ung nhọt thì có mủ hôi hám. Mủ hôi hám đó là mình chăng?
Ðã từ da thịt mình loại ra thì nó đâu phải mình. Nếu
là mình thì chúng ta phải mến nó chứ, ngược lại mình rất
gớm nó. Như nước bọt ở trong miệng có phải là mình không?
Nếu là mình thì khi nhổ ra rồi, mình lấy lại được; nhưng
chúng ta có làm như vậy không? Kể cả máu huyết là thiết
yếu của sự sống, nhưng chúng ta chích ra chừng một chung
máu, rồi bảo uống lại có dám uống không? Nếu thật mình
thì đâu nỡ bỏ; đằng này buông ra rồi, chúng ta gớm nó
thì làm sao nói mình được. Nếu thân này là mình thì khi
thiếu máu, mua máu của người khác đem vô, máu người khác
thì đâu phải của mình, nhưng khi đem vô rồi lại nói máu
mình. Lạ chưa! Từ bản thân mình loại ra thì chúng ta gớm,
còn của người khác đem vào thì nhận là mình. Thật vô lý!
Cho nên từ đó mới thấy rõ ràng thân này không thật là
mình.
Trong kinh,
đức Phật kể lại: Có một người đi sang làng khác, giữa
đường gặp sa mạc. Trời tối, ông thấy cái chòi cũ không
có người ở, nên vào nghỉ tạm qua đêm. Ðang nằm, có tiếng
động bên ngoài, ông trỗi dậy nghe ngóng. Bỗng cánh cửa
bị xô vô, thì ra một con quỷ to tướng đang vác cái thây
người chết liệng xuống đất. Ông hoảng sợ quá đứng
nép sau vách. Bỗng có con quỷ thứ hai chạy vào, dành ăn với
con quỷ thứ nhất. Ðứa này nói cái thây của tao, đứa kia
nói cái thây của tao, hai đứa giành nhau rồi cãi lộn.
Lúc đó chúng
chợt thấy ông đứng bên vách. Con quỷ thứ nhất nói từ
đầu tới cuối có ông này làm chứng, nếu ông nói của đứa
nào thì đứa đó ăn. Nghe vậy ông run quá, nếu nói của thằng
này thì thằng kia bẻ cổ mình, nhưng thôi kệ thà chết chớ
không nói dối. Nên ông bảo: "Khi nãy tôi thấy rõ ràng anh
A đem cái thây vô quăng ở đây." Thằng kia tức giận quá
liền giựt ông một cánh tay. Con quỷ thứ nhất thấy vậy
thương, bèn xé cánh tay của thây chết ráp vào cho ông. Vừa
ráp xong thì con quỷ thứ hai giựt cánh tay còn lại quăng ra.
Con quỷ đầu xé cánh tay thứ hai của thây chết gắn vào.
Rồi tới chân phải, chân trái. Hễ con quỷ này xé quăng ra
thì con kia lấy chân của thây chết gắn vào. Cuối cùng mệt
quá hai con quỷ ngưng cãi, chúng chia hai chân, hai tay của ông
bị vứt ra và ăn.
Ông ta hoảng
hốt tự hỏi mình là cái gì? Rõ ràng tay chân hiện giờ là
của thây chết. Ông mới đi tìm gặp những vị sáng suốt
để hỏi xem ông bây giờ là gì. Gặp được một vị A La
Hán, đảnh lễ xong, ông thưa:
- Bạch Ngài,
con bị hai con quỷ đem tay chân của thây chết ráp vào cho
con, bây giờ cái gì là con?
Vị A La Hán
nói:
- Tốt lắm!
Như vậy là ông sắp ngộ đạo.
Câu chuyện
tới đó hết. Quí vị thấy nếu vật tạm bợ hư giả mà
chúng ta biết thắc mắc, tìm tòi, không tin nó thật, thì đó
là sáng suốt, thấy được lẽ thật. Cuộc đời này có ai
thấy được lẽ thật không, có ai thắc mắc mình là gì không?
Hay cứ hài lòng. Ðã hài lòng rồi thì tìm mọi thứ cho nó
thụ hưởng, chờ đến ngày bại hoại. Ðó là nỗi đau đớn
của con người trong kiếp mê lầm. Chúng ta phải ý thức mình
là gì, tìm cho ra cái mình đó chính là gốc của sự tu. Người
biết quay lại tìm mình là người sắp thấy đạo.
Vì vậy tôi
hướng dẫn Tăng Ni ở các Thiền viện cũng như Phật tử
trong các đạo tràng khi tụng kinh thì đặt nặng kinh Bát Nhã.
Trong kinh Bát Nhã câu đầu: "Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm
Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không,
độ nhất thiết khổ ách." Chỉ cần soi lại thân năm uẩn
này không thật thì tất cả khổ nạn qua hết. Quí vị có
soi lại không? Nhiều khi đọc thì đọc mà không chịu soi
lại. Cần phải soi lại thân năm uẩn này xem nó có thật
hay không. Nếu thấy rõ ràng nó không thật thì tất cả khổ
ách đều qua. Ðiều này hết sức cụ thể.
Thường chúng
ta thấy thân này, vọng tưởng này là ta, nên những gì cung
cấp cho thân này được khỏe, được sung túc mà người khác
đoạt đi thì ta tức giận lên. Ta nghĩ việc gì đúng mà ai
nói khác thì nổi giận. Như vậy khổ là do chấp thân, chấp
tâm mà ra. Nếu biết thân này không thật, ý nghĩ không thật
thì đâu còn chấp, đâu còn giận ai, nhờ thế mọi khổ ách
đều qua hết. Người ta chửi, mình cười chơi thôi. Có gì
thật mà phải khổ, phải giận, dành hơn, dành thua. Anh không
thật, tôi không thật, cái chửi cũng không thật luôn nên
chỉ cười vui thôi.
Ngược lại,
nếu thấy thật thì động tới xác thịt liền đau tức, động
tới ý kiến trái mình liền sân giận. Rõ ràng do chấp thân,
chấp tâm mà mình khổ. Vì vậy kinh Bát Nhã nhắc cho chúng
ta soi thấy năm uẩn là không thì qua hết thảy khổ nạn.
Việc tu hết sức giản đơn, không phải cầu Phật hay cầu
ai làm cho mình hết khổ, chỉ cần thấy rõ năm uẩn không
thật là hết khổ.
Năm uẩn
có sắc, thuộc về vật chất; thọ, tưởng, hành, thức thuộc
về tâm; cả hai đều không thật. Biết rõ như vậy thì khổ
nạn nào cũng qua hết, chớ không phải Phật hay Bồ-tát, thần
thánh nào cho mình hết khổ nạn. Hết khổ nạn là do trí
tuệ của chúng ta soi thấy thân năm uẩn không thật. Kinh dạy
một câu thôi chúng ta tu cả đời. Tu là phải soi lại chớ
không phải phóng ra. Nhưng hiện nay đa số người tu cầu xin
nhiều hơn soi lại.
Xét hai phần
vật chất và tinh thần: Sắc là sắc chất tức thể xác không
thật. Thọ, tưởng, hành, thức tức tinh thần cũng không thật.
Thấy rõ như vậy là giác? Mê giác cách nhau chẳng bao xa. Thấy
thân thật, cái suy gẫm thật là mê. Thấy thân không thật,
cái suy gẫm không thật là giác.
Trong kinh
Viên Giác có vị Bồ-tát thưa hỏi Phật:
- Bạch Thế
Tôn, thế nào là vô minh?
Phật đáp:
- Chấp thân
tứ đại duyên hợp là thật của mình, chấp tâm suy nghĩ
lăng xăng là tâm thật của mình là vô minh.
Hết vô minh
là giác. Như vậy mê giác như trở bàn tay thôi, gần một
bên mà mình tu hoài không được, tại sao? Tại vì mê chấp
thấm sâu lâu đời quá rồi. Ngày nay đọc kinh Phật, nghe
quý thầy giảng chỉ mới lóe lên chút thôi, chưa hẳn là
thấy nó không thật. Chỉ khi nào ngồi lại thấy thân không
thật, tâm không thật, tất cả đều do duyên hợp tạm bợ,
thấy rõ như vậy thì mọi khổ nạn qua hết.
Ðược vậy
sống ở đây cũng giống như Cực Lạc, có gì buồn, có gì
khổ. Chúng ta cũng ăn, cũng uống như mọi người, nhưng
không chê khen buồn giận, không mê lầm chấp thân tâm là
được. Muốn thế thì phải soi lại mình, không thể phóng
ra ngoài nữa. Quí Phật tử cứ phóng ra, không biết quay lại,
nên đi chùa hai chục năm vẫn không hết phiền não.
Bây giờ
trở lại vấn đề tu tập, chúng ta ngồi thiền để làm gì?
Ðể nhìn lại mình. Bởi vì chúng ta hướng ra thì mắt thấy
sắc, tai nghe âm thanh, mũi ngửi mùi hương, lưỡi nếm vị,
gió thổi xúc chạm... tiếp xúc các trần. Lúc đó dù chúng
ta có tu vẫn bị ảnh hưởng bên ngoài nhiều. Chỉ khi ngồi
yên, mắt nhìn xuống, gác hết năm trần bên ngoài, không cho
nó lôi cuốn nữa. Nên giờ ngồi thiền là giờ ngồi để
soi lại. Soi thế nào?
Phương tiện
ban đầu, chúng ta dùng hơi thở hít vô thở ra đếm một,
hít vô thở ra đếm hai, ... như chơi vậy. Nhưng nhờ nhớ
hơi thở ra hơi thở vô, hơi thở thì ở trong nên chúng ta
mới phản quan. Thấy hơi thở vô, hơi thở ra đều đặn như
vậy, nếu thở ra mà không hít vô thì chết. Rõ ràng thân
tạm bợ phải không? Vừa khởi nghĩ việc gì liền buông,
mình tự nhắc vọng tưởng hư dối không thật. Thân này do
tứ đại hợp thành. Hơi thở là gốc, thở ra không hít vào
là chết nên sự sống rất mỏng manh. Ðã mỏng manh lại cộng
thêm cái tâm chợt có, chợt không là vọng tưởng hư dối.
Tập soi sáng lại mình như vậy, gọi là tỉnh giác.
Ngài Ðạo
Nguyên ở Nhật Bản nói: "Một giờ ngồi thiền là một giờ
làm Phật." Tại sao? Giờ ngồi thiền là giờ giác, còn giờ
ở ngoài là giờ mê. Trong một ngày, quí Phật tử có đủ
thứ chuyện. Thấy chuyện này, nghe chuyện kia toàn là phóng
ra ngoài, chớ không quay lại. Còn giờ ngồi thiền là giờ
quay lại mình. Theo hơi thở, thấy vọng tưởng, buông; đó
là nhìn lại mình, tỉnh giác rõ ràng, không bị mê lầm. Lúc
tỉnh giác đó không phải là Phật là gì? Phật là giác. Chúng
ta đang giác nên chúng ta là Phật.
Sở dĩ ngồi
thiền ngủ gục bị đánh là sao? Bởi vì trọng tâm là phải
giác. Chúng ta ngồi ngủ mê nên đánh cho tỉnh, không để
mê nữa. Hiểu vậy mới biết tại sao nhà thiền khắt khe.
Vì sợ mình mê theo cảnh, hoặc si mê không biết gì nên phải
làm cho mình tỉnh, tỉnh đó là giác. Ðược vậy một giờ
ngồi thiền là một giờ làm Phật, chớ ngồi ngủ khò khò
thì làm Phật sao được.
Chúng ta phải
hiểu rõ ý nghĩa quán hơi thở. Nhiều khi chúng ta thực tập
mà không hiểu nên nắm không vững, tu như vậy sẽ không đi
tới đâu. Hơi thở vô ra xem như chuyện tầm thường, nhưng
nhờ nhớ hơi thở mà chúng ta quay lại. Nếu không nhớ hơi
thở thì tâm mình chạy rong. Tu là phải quay lại soi sáng chính
mình. Nhờ theo dõi hơi thở vô ra, lúc thở khì mà không hít
lại là chết. Chỉ có mấy giây đồng hồ thôi, mới biết
như vậy sự sống không bền, không thật. Bao nhiêu đó đủ
để chúng ta chứng nghiệm được cuộc sống này.
Ðến vọng
tưởng, niệm này nhảy ra niệm kia nhảy vô, chúng ta buông,
nó mất; để thấy tâm này cũng không thật. Thấy thân không
thật, thấy tâm cũng không thật, không phải tỉnh giác là
gì? Nên giờ ngồi thiền là giờ tỉnh giác, giờ ngồi thiền
là giờ tối quan trọng, chứ không phải tầm thường. Khi
tỉnh giác được rồi, chúng ta mới thấy rõ được mình.
Thấy thân này không thật, tâm này không thật thì mọi cố
chấp theo đó rã tan. Chấp đã không còn thì khổ đau theo
đó hết. Ðây mới chỉ là chặng số một thôi.
Tôi xin hỏi
những vị tu hơi lâu một chút, khi ngồi thiền chừng năm
ba phút, trong tâm không nghĩ nhớ gì hết, lúc đó chúng ta
có biết không? Dạ có biết. Như vậy, có mình hay không có
mình? Có mình.
Nếu cái
nghĩ là mình thì khi không nghĩ là không có mình. Không nghĩ
mà có mình thì cái nghĩ không phải là mình rồi. Bấy nhiêu
đó đủ chứng minh cái suy nghĩ không phải là mình, vì nó
chợt có chợt không. Những thứ lăng xăng lặng hết thì tri
giác hằng hữu. Ðó là mình rồi, thực tế đâu có xa. Như
vậy, cái mình chân thật đó không phải là cái suy nghĩ. Nghĩ
suy là sinh diệt tạm bợ, không phải chân thật. Còn không
nghĩ mà hằng biết, có tiếng động liền nghe, hình ảnh đến
liền thấy, gió chạm thì mát v.v... yên tĩnh sáng suốt không
nghĩ ngợi gì hết, đó chính thật là mình.
Thường những
gì động là vô thường sinh diệt. Thân động cho nên thân
vô thường sanh diệt, tâm động nên tâm vô thường sinh diệt.
Chấp thân vô thường sinh diệt là thân mình, chấp tâm vô
thường sinh diệt là tâm mình, đó là sai lầm. Nếu buông
hai thứ chấp đó, chỉ nhận cái không động, không sinh diệt,
không có tướng trạng vô thường, hằng yên tĩnh sáng suốt
đó, thì làm gì bị dẫn đi trong luân hồi.
Có tu rồi,
chúng ta sẽ thấy nó rõ ràng, không còn nghi ngờ gì hết.
Sống được với những phút giây chân thật, ta mới thấy
khi suy nghĩ dứt bặt thì chân thật hiện tiền, chớ không
phải không có. Chúng ta không nhận ra nó là vì mình cứ suy
nghĩ hoài, hết chuyện này tới chuyện kia, mãi chạy theo những
suy nghĩ thì làm sao biết rằng khi không suy nghĩ, lại có cái
chân thật. Vì vậy nói thiền dễ định. Ðịnh là dừng hết
những suy nghĩ. Dừng hết suy nghĩ thì cái chân thật hiện
tiền. Nhận ra cái đó thì tỉnh thì giác, gọi là giác ngộ.
Tức thấy được lẽ thật của thân tâm, giả biết giả,
thật biết thật. Ðó là kiến tánh, là thấy đạo. Ðơn giản
vậy thôi.
Trong nhà
Phật dạy thân, miệng, ý tạo tác các nghiệp, mà chủ yếu
là ý. Ý nghĩ tốt, miệng nói tốt, thân làm tốt. Ý nghĩ
xấu, miệng nói xấu, thân làm xấu. Ý là chủ tạo nghiệp.
Ý nghĩ này lặng đi thì còn cái gì tạo nghiệp. Nghiệp là
gốc dẫn chúng ta đi trong luân hồi sinh tử. Nếu hết nghiệp
thì cái gì dẫn chúng ta nữa, như vậy không giải thoát là
gì?
Cho nên giác
ngộ được thân vô thường, tâm sinh diệt, thì cái chân thật
hiện tiền không sinh, không diệt. Sống được với cái chân
thật này thì không còn tạo nghiệp đi trong luân hồi sanh
tử nữa. Như vậy rõ ràng tu là để giải thoát sanh tử.
Mục đích
của chúng ta tu không gì khác hơn trọng tâm của đức Phật
dạy "xoay lại con người". Vì con người là tối thượng.
Dù có bay được trên hư không (bây giờ chúng ta đi máy bay
phản lực), hay cất nhà lầu chín chục tầng v.v... đều là
vô thường, nay còn mai mất. Chỉ có trở lại tâm chân thật
không hình không tướng của mình, là không vô thường; hằng
giác không động nên không sinh diệt. Ðó mới là chân thật.
Ðược vậy chúng ta sẽ tin lời Phật dạy không hư dối.
Hôm nay tôi
nhắc tất cả quí Phật tử hiểu được căn bản của việc
tu hành. Vậy từ đây về sau huynh đệ hòa hợp với nhau,
với tư cách cư sĩ vừa lo đời, vừa lo đạo. Lo đó chính
là lo cho mình. Ðể ngày mai quí vị có nhắm mắt, dù chưa
hết niệm sinh diệt thì cũng sinh diệt trong cảnh tốt. Bằng
như được hết sinh diệt thì thảnh thơi tự tại, còn gì
quí hơn!
Mong quí Phật
tử nỗ lực tinh tấn tu hành.