NGƯỜI
PHỤ NỮ TRONG VĂN HỌC PHẬT GIÁO
Tác
giả: Piyadassi Mahathera
Dịch
giả: Phạm Kim Khánh
Lời
Mở Đầu
Vị
Trí Của Hàng Phụ Nữ Trong Phật Giáo
Khi
Đức Phật Siddhattha Gotarna (Sĩ Đạt Ta Cồ Đàm) thị hiện
ở Ấn Độ cách nay hơn 2,500 năm về trước, người phụ
nữ có một địa vị rất thấp kém và đê hèn trong
xã hội Ấn Độ. Vào thời bấy giờ, trong phần còn
lại của thế giới văn minh, trải dài từ Trung Hoa đến Hy
Lạp, vị trí của người phụ nữ vẫn khiêm nhường và hạ
cấp. Ngày nay, cùng khắp nơi ai ai cũng nhìn nhận rằng
Đức Phật là người đã sáng lập một tôn giáo được truyền
bá sâu rộng trên thế gian, phổ cập đến những hang cùng
hóc hẻm của quả địa cầu, đã ban truyền một triết lý
huy hoàng và vĩ đại nhất trong lịch sử tư tưởng loài người.
Nhưng
vai trò phục hưng xã hội và cách mạng văn hóa của Đức
Phật, rất kỳ diệu và phi thường, đôi khi bị các sử gia
Phật Giáo lãng quên.
Quan
trọng nhất trong các đổi mới mà Ngài đem lại cho cơ cấu
xã hội loài người vào thời bấy giờ là sự phá tan hệ
thống giai cấp rất tai hại và giải phóng phụ nữ.
Với lòng quả cảm hiếm có đáng được lưu ý Ngài chỉ
vạch tánh cách vô lý và điên rồ của những ràng buộc nghiêm
khắc trong sự phân chia giai cấp và tình trạng nô lệ của
người phụ nữ. Ngài phục hưng hai vấn đề tối
trọng yếu ấy trong tập tục và tư tưởng con người mà
vào thời bấy giờ đã thấm nhuần tận xương tủy người
Ấn. Ngài biến chuyển một xã hội đã lún sâu trong
thành kiến mù quáng và lòng mê tín ẩn tàng trở thành lành
mạnh, dũng cảm và có nền đạo đức trong sạch.
Từ
xa xưa trước thời Đức Phật, giai cấp bà la môn (brahmin)
vẫn giữ toàn thể dân Ấn trong bàn tay sắt của họ, dìm
thấp người phụ nữ xuống hàng tôi đòi hay nô lệ.
Người đàn bà không có quyền gì của mình, không tự do ăn
nói, mà phải tự giam hảm trong bốn bức tường của nhà
mình và được xem là không xứng đáng được hưởng bất
luận gì cao hơn là hàng tôi tớ của chồng, của cha hay của
anh. Nữ giới không bao giờ được sắp ngang hàng với
nam giới trong xã hội.
Theo
sách Manusmrti, The Laws of Manu, một quy luật để hướng đạo
số phận của cuộc sống trong xã hội Ấn Độ thời xưa
mà nhà luật nổi tiếng Manu đã ban hành, hôn nhân là tăng
cường những ràng buộc cột trói người đàn bà trong vòng
nô lệ, siết chặt trọn cuộc đời vào người đàn ông -
là một phần của chồng, là người làm công, người giúp
việc để phục vụ chồng.
Vâng
dạ phục tùng chồng, thi hành những gì chồng sai bảo, luôn
luôn làm theo ý muốn của chồng, chỉ bấy nhiêu đó cũng
có đủ tư cách cho người vợ vượt qua cánh cổng của cảnh
trời. Không như người nam, người nữ khong cần
phải tế lễ hay thực hành những nghi thức lễ bái hoặc
cúng kiếng nào, cũng không cần đọc tụng kinh và dâng cúng
thần linh để dọn đường lên cảnh trời. Một lòng
trung thành với chồng và lúc nào cũng tuân hành lời sai khiến
của chồng là cái chìa khóa mở cổng vào hạnh phúc thiên
đàng(1). Theo quy luật Manu hàng phụ nữ không được
quyền học kinh Vedas (Phệ Đà). Đó là lý do tại sao
trong nghi thức lễ bái dành cho người nữ không có phần đọc
chú Veda. Quan kiến về nữ giới như vậy là một sĩ
nhục cho người phụ nữ Ấn Độ.
Lòng
trung thành của người vợ không phải chỉ được bày tỏ
trongkhi chồng còn sống mà còn tiếp tục cho đến khi hỏa
táng ông chồng. Một người vợ Ấn Độ được trông
đợi phải theo chồng sang thế giới bên kia bằng cách tự
quyên sinh, nhảy vào ngọn lửa bừng cháy của giàn hỏa đang
thiêu chồng. Mặc dầu các tập tục man rợ ấy
đã được hoàn toàn bãi bỏ, chấm dứt và không còn được
duy trì để bôi xấu gương mặt tươi đẹp của nền văn
hóa Ấn Độ, tuy nhiên thói quen ấy đã được lan rộng trong
xã hội Ấn Độ cổ xưa, và ngày nay thỉnh thoảng vẫn còn
sống dậy trong xứ Ấn Độ tân tiến, cho thấy rõ vị trí
thấp hèn của người phụ nữ trong xã hội Ấn vào những
ngày xa xưa và có thể còn được ứng dụng đến một mức
độ nào. Xã hội thời bấy giờ tin rằng sinh con
gái là một điều bất hạnh - còn hơn vậy nữa - là một
đại họa. Không phải chỉ người dân thường mà chí
đến hàng vua chúa cũng không tránh khỏi bị quan kiến hẹp
hòi và lầm lạc ấy gây nhiễm độc. Chuyện thuật
rằng một ngày nọ Vua xứ Kosala (Câu Tất La) đến hầu Phật
như thông thường vua vẫn đến và đàm đạo với Ngài.
Vào lúc ấy có tin báo là Hoàng Hậu Mallika hạ sanh con gái.
Nghe tin này vua ngẩn ngơ khó chịu, sắc mặt trở nên ủ dột
âu lo và phiền muộn. Nhìn thấy vậy đấng Toàn Giác
mở lời khuyên:
‘Không
nên băn khoăn, tâu Đại Vương,
Một
bé gái có thể,
Còn
tốt hơn con trai,
Vì
lớn lên em có thể thông minh và đức hạnh,
Là
một người vợ hiền, mẹ chồng em sẽ yêu quý.
Rồi
đứa con trai mà em sẽ sanh ra
Có
thể làm nên đại sự
Trị
vì một lãnh thổ rộng lớn, đúng vậy, con trai
Của
bà vợ cao quý trở thành người lãnh đạo quốc gia’ (2).
Trong
Phật Giáo, sự khác biệt giữa nam và nữ không phải là một
trở ngại để thành tựu mức độ toàn hảo cao thượng nhất.
Đề cập đến Bát Chánh Đạo mà Ngài ví như một cổ xe,
Đức Phật dạy:
‘Dầu
là người nữ, dầu là người nam
Cổ
xe cũng vẫn chờ đợi, cùng một chiếc xe ấy
Sẽ
đưa vào tận Niết Bàn’ (3)
Thấu
hiểu lòng thù nghịch hiểm độc và thái độ ác cảm đối
với hàng phụ nữ trong các hệ thống tôn giáo và xã hội
của thời Ngài, Đức Phật phát huy một cuộc cách mạng trong
tư tưởng và trong lối cảm xúc của đại chúng bằng cách
công khai và can đảm tuyên bố rằng người nữ không có gì
là thấp kém hơn người nam, và trên con đường đức hạnh
toàn hảo và trí tuệ thâm sâu dẫn đến Niết Bàn, vừa khó
khăn vừa khổ nhọc, nam và nữ vẫn ngang nhau. Bên trong
mổi người nữ, cũng như bên trong mỗi người nam, đều có
tiềm ẩn khả năng để trở thành A La Hán, tiềm lực để
trở nên bậc thánh nhân.
Tuyên
ngôn này của Đức Phật, cũng như sự phủ nhận hệ thống
giai cấp của Ngài, đã gây nên một biến động lớn lao trong
giới tôn giáo thời bấy giờ vì đó là trực tiếp đương
đầu với niềm tin đã ăn sâu vững chắc trong dân gian.
Tuy nhiên, những thành trì chánh thống ấy sớm sụp đổ trước
giáo lý vẻ vang của Đức Phật.
Đức
Phật chỉ rằng người đàn bà là mẹ của đàn ông.
Không ai xứng đáng cho ta kỉnh mộ tôn sùng bằng mẹ của
mình, và phận làm con không thể trả hết món nợ của mẹ
mà mình phải mang trong lòng. Như thế Ngài nâng cao vị
trí của hàng phụ nữ.
Trong
kinh sách Phật Giáo, đôi khi vì lòng sùng kính và tôn trọng,
hàng phụ nữ được nhắc đến danh nghĩa là xã hội các
bà mẹ (matugama). Về sau, người hiểu biết ở Ấn nghe
theo lời khuyên dạy của Đức Phật về giá trị của bà
mẹ, tuyên ngôn rằng: ‘Bà mẹ và lãnh vực của mẹ phải
được tôn trọng hơn là cảnh trời’ (4). Đức Phật
cũng ghi sâu vào tâm não của dân chúng thời bấy giờ nhu
cầu phải kính nể và tôn trọng phái nữ. Ngài dạy
người nam nên xem người nữ như chị, như em gái và hết
lòng bảo vệ họ, nên đối xử hiền hòa, dịu dàng với
vợ, xem vợ là ngang hàng với mình, và cho con gái những cơ
hội thăng tiến giống như con trai. Hơn nữa, trong kinh
Sigalovada Sutta, toát yếu đạo lý cho người cư sĩ. Đức
Phật ban hành đường lối chỉ đạo về bổn phận người
làm chồng nên: lễ độ, luôn luôn nhã nhặn thanh tao với
vợ; không tỏ ý khinh thường; trung thành với vợ, trao quyền
hành trong nhà, và mua sắm nữ trang cho vợ.
Cũng
trong bài kinh ấy Đức Phật khuyên dạy bổn phận người
làm vợ nên đối xử với chồng thế nào. Phải bày
tỏ lòng thương kính chồng bằng năm cách: làm tròn phận
sự của mình: ân cần đón tiếp thân bằng quyến thuộc bên
chồng; trung thành với chồng; cẩn thận giữ gìn tiền bạc
của cải mà chồng đem về; luôn luôn siêng năng, không bao
giờ tháo trúc công việc.
Vài
người chỉ trích vội vã đi đến kết luận rằng Đức Phật
không biết và không quan tâm thích nghi đến bổn phận và
lý tưởng của hàng phụ nữ cư sĩ. Những vị ấy chỉ
cần đọc những bài giảng của Đức Phật, nhất là những
bài trong bộ Anguttara Nikaya (Tăng Nhứt A Hàm) (5) và Samyutta
Nikaya (Tạp A Hàm) (6) để nhận định đến mức nào đấng
Toàn Giác đã chú trọng đến tình trạng an lành của ‘xã
hội các bà mẹ’. Theo Đức Phật, tất cả mọi tiến
bộ và mọi thành tựu, tại thế cũng như siêu thế, đều
nằm trong tầm khả năng của người phụ nữ cư sĩ sống
với nếp sống trong gia đình và theo những khuynh hướng đạo
đức của người tại gia, miễn là người ấy thực hành
theo lời dạy của Đức Phật.
Những
phẩm hạnh đem lại tình trạng an lành cho người phụ nữ
trong cả hai, thế gian này và cảnh giới về sau, đã được
Đức Phật ban hành như sau:
1.
Tâm đạo nhiệt thành
2.
Biết hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi
3.
Không dể duôi, buông xuôi theo chiều hướng độc hiểm, thù
oán và sân hận
4.
Không ganh tỵ
5.
Không keo kiết bỏn xẻn mà quảng đại rộng rãi
6.
Đức hạnh trong sạch
7.
Sóng cuộc đời đạo đức và thích hợp với thuần phong
mỹ tục
8.
Trau giồi học vấn và kiến thức thâm sâu
9.
Hăng say và nhiệt thành
10.
Cảnh giác và lanh trí
11.
Sáng suốt và khôn ngoan (7)
Một
thiếu nữ mà có những phẩm hạnh như trên đã vững chắc
tiến bước trên con đường an lành và hạnh phúc.
Như
nhà viết kịch vĩ đại người Hy Lạp, Euripides, đã lưu ý:
‘Không có gì tệ hại hơn là một người đàn bà xấu và
không có gì cao cả hơn một người đàn bà tốt.’ Cũng
vì Đức Phật tin chắc vào khả năng của người phụ nữ
để tiến đạt đến mức tiến bộ tuyệt đỉnh mà con ngườì
có thể thành đạt nên Ngài chấp nhận thỉnh nguyện khẩn
cấp của bà di mẫu Pajapati Gotami và thành lập Giáo Hội Tỳ
Khưu Ni. Làm điều này Đức Phật là người đầu tiên
trong lịch sử tôn giáo nhân loại đã nâng cao vị trí của
hàng phụ nữ đến mức quan trọng nhất. Đây là
việc làm duy nhất và chưa từng thấy trong rất nhiều hệ
thống tôn giáo và trường phái tư tưởng được biết, trước
và trong thời Đức Phật. Đây là một sự canh tân bất
ngờ đã làm cho những nhà lãnh đạo xã hội và tôn giáo
thời bấy giờ hoàn toàn kinh ngạc. Đây là một canh
tân mới lạ phi thường vì nó chấp nhận cho hàng phụ nữ
đặc quyền tiếp thụ một bản chất cao quý, một sức mạnh
kiên cố vững chắc trong nền đạo lý, một khả năng thấm
nhuần trí tuệ thâm sâu ngang hàng với nam giới.
Cũng
nên ghi nhận thêm rằng Đức Phật cho phép thành lập Giáo
Hội chư Tỳ Khưu Ni vào thời điểm và địa điểm mà người
phụ nữ được xếp vào hạng rất thấp kém, khiêm tốn và
có một địa vị nhục nhã trong xã hội. Và ta cũng có
thể nói thêm rằng, mặc dầu 2,500 năm đã trôi qua từ thời
Đức Phật và mặc dầu nhiều hệ thống tôn giáo khác đã
phát triển dồi dào thịnh vượng tại Ấn Độ, chí đến
ngày nay không có tôn giáo nào thành lập một giáo hội cho
hàng nữ tu sĩ. Không thể còn nhiều nghi ngờ nữa, rằng
hàng phụ nữ trên thế giới vẫn chịu một món nợ trường
cửu đối với Đức Phật vì ngài đã nâng cao họ lên hàng
danh dự này.
Sau
khi Giáo Hội Tỳ Khưu Ni được thành lập, một số đông
phụ nữ từ mọi từng lớp của đời sống gia nhập vào
Giáo Hội và những hành động của các bà đã tô điểm vẻ
vang những trang văn học Phật Giáo. Đời sống của một
số khá đông những vị tỳ khưu ni thành thiện ấy, công
trình kiên trì nỗ lực của các bà để thành đạt mục tiêu
giải thoát và những ca khúc khải hoàn sau khi thành tựu mục
tiêu, đã được mô tả một cách sống động trong Therigatha
(psalms of the Sisters, những thánh thi của chư tỳ khưu ni).
Trong
tích truyện chuyện bà Pajapati Gotami, được đề cập đến
trong kinh sách, có tường trình việc thành lập Giáo Hội Tỳ
Khưu Ni với đầy đủ chi tiết. Văn học Phật Giáo chứa
đựng dồi dào những gương lành của người phụ nữ đã
viên mãn nhiều thành tựu khác thường.
Bộ
Anguttara Nikaya, Tăng Nhứt A Hàm, kể lại rất tận tường
tiểu sử các bà Phật tử, tỳ khưu ni và cư sĩ tín nữ,
không những đã thực hành tốt đẹp Giáo Pháp mà còn là
giảng sư dạy Giáo Lý. Vị Tỳ Khưu Ni Khunđalakesa (8)
là một trong các bà. Tích chuyện Tỳ Khưu Ni Soma đã
nói lên bằng những danh từ không thể lầm lẫn rằng nữ
tính không phải là trở ngại cho tiến bộ.
Tin
tưởng lầm lạc thông thường ở Ấn Độ là cho rằng về
phương diện tinh thần và đạo đức người phụ nữ thấp
kém hơn người nam, được Tỳ Khưu Ni Soma (9) bác bỏ và giải
rõ như sau: ‘Làm thế nào bản chất của người đàn bà
được xem là thấp kép khi mà, với tâm an trụ, với tri kiến
sáng tỏ và thanh tịnh đầy trí tuệ sâu sắc, người phụ
nữ có thể vén lên bức màn vô minh đang bao trùm mình, thông
suốt Giáo Pháp và nhận thấy đời sống đúng theo mực tướng
của nó?’
Sự
kiện Đức Phật thông hiểu tiềm năng sâu ẩn và khả năng
hoàn mãn những thành tựu vĩ đại và cao thâm của hàng phụ
nữ không làm cho Ngài mù quáng không thấy những khuyết điểm
và yếu mềm cố hữu trong tâm tánh người nữ, và đó là
điểm đặc thù của phái này. Ngài có thể khuyên cáo
cả hai, người nam và người nữ, nên cảnh giác lưu tâm đến
các thiếu sót và suy kém ấy.
Đề
cập đến phái nữ, Đức Phật nói: ‘Khuynh hướng không
cương nghị và bẩm tánh kém đạo đức là tai hại lớn lao
của giới nữ’ (10), nhưng điều này không có nghĩa là bắt
buộc họ phải chịu số phận như vậy. Điều này chỉ
có nghĩa là người nữ cần phải hết sức thận trọng và
tận lực gia công chiến đấu để vượt đến mức độ cao
trổi hơn trong đời sống.
Dầu
sao, Đức Phật vạch rõ những yếu kém và khuyết điểm của
hàng phụ nữ, không phải để chế nhạo và chê cười là
thua sút, mà Ngài nhắm đến mục tiêu cao quý là giúp họ
nhận định những khó khăn gây trở ngại cho những nỗ lực
thành tựu mục tiêu của mình và khuyến khích họ thận trọng
canh phòng các cuộc tấn công của những khát vọng và các
cuộc đột kích của những cám dỗ.
Có
lời dạy rằng những thích thú của năm giác quan - sắc, thinh,
hương, vị, xúc vốn làm say mê và cám dỗ người nam - đều
tập trung và kết tinh trong hình dáng người đàn bà (11).
Với năng lực làm say đắm mê hồn ấy người đàn bà có
thể nô lệ hoá và đặt người đàn ông dưới quyền thống
trị của mình.
Người
ta thường nói rằng người phụ nữ cám dổ và lôi cuốn
con người dể duôi buông lung bằng những cái liếc mắc, những
nụ cười duyên, những dáng điệu yêu đương, bằng cách
thân mến chăm nom chải chuốt (duni-vatthena) và bằng những
lời quyến rũ dịu dàng dễ mến (12).
Bộ
kinh Angutara Nikaya, Tăng Nhứt A Hàm, mở đầu như sau: ‘Này
chư tỳ khưu, Như Lai không biết một hình thể nào khác chiếm
đoạt quả tim người đàn ông như bóng dáng của người đàn
bà. Này chư tỳ khưu, hình dáng của người phụ nữ
làm cho tâm trí người nam đắm đuối say mê’.
‘Như
Lai không biết một âm thanh...
Như
Lai không biết một hương thơm...
Như
Lai không biết một mùi vị...
Như
Lai không biết một sự đụng chạm nào...
mà
có thể làm đắm đuối say mê và giam cầm quả tim người
nam như âm thanh, hương thơm, mùi vị và sự đụng chạm của
một người đàn bà. Tiếng nói, hương thơm, mùi vị
và sự đụng chạm với người phụ nữ chiếm đầy tâm trí
người nam.
‘Này
chư tỳ khưu, Như Lai không biết sắc, thinh, hương, vị, xúc
nào khác mà làm cho quả tim người đàn ông hoàn toàn đắm
đuối say mê trước những quyến rũ và cảm xúc ấy’.
Nơi
đây có một thời nói Pháp về sự thân cận nam nữ và năng
lực không thể cưỡng của nó được diễn đạt trong một
ngôn ngữ giản dị và không thể nhầm lẫn, chân lý mà không
người biết lẽ phải nào có thể dám phủ nhận. Sự
gần gũi giữa nam và nữ được Đức Phật xem là dục vọng
hùng mạnh nhất, là bản năng có sức mạnh hùng hậu nhất
của con người. Nếu ta để cho tình dục lôi cuốn,
trở thành người bị trói buộc, người nô lệ của những
dục vọng, người hoàn toàn tự hảm mình trong cạm bẩy,
tự hiến mình vào nanh vuốt của mê hoặc - thì con người
dũng mãnh nhất cũng trở thành như loài sâu bọ thế cô; một
người thánh thiện sáng suốt cũng hành động như điên cuồng
khờ dại, chí đến một hành giả đã thành đạt những từng
thiền cao cũng có thể rơi xuống thâm sâu trong những khổ
cảnh trần gian.
‘Không
có lửa nào như tham ái,
Khát
vọng không tàn lụi, nó bừng cháy’ (13).
Đó
là lời của Đức Phật về những cảm xúc của tình dục.
Nhưng ta phải nhớ rằng Đức Phật không khinh rẻ, không có
ý làm tổn hại danh dự, suy giảm giá trị của nữ giới.
Ngài chỉ nêu lên tâm tánh yếu mềm và tình trạng mỏng manh
của người nữ và muốn họ cảnh giác đề phòng. Đàng
khác Ngài thấm nhuần và in sâu vào lòng họ bài học tự
mình uốn nắn tâm tánh và sửa đổi tác phong để thành một
nguồn an ủi và sức mạnh của nhân loại.
Nói
về người phụ nữ Đức Phật vắn tắt phê bình: ‘Tác
phong dể duôi hay kém đạo đức là ô nhiễm của người phụ
nữ’ (14). Nhưng một lần nữa Đức Thế Tôn khẳng
định rõ ràng ‘Người tốt nhất trong những bà vợ hiền
là người làm vui lòng chồng’ (15), và ở một nơi khác Ngài
ghi nhận ‘Vợ là bạn hiền tốt nhất’ (16). Goldsmith
chỉ vang âm những lời của Đức Phật khi ông viết:
‘Một
bà vợ toàn hảo giúp đỡ trong đời sống còn nhiều hơn
người luôn luôn khoác chiếc áo triết gia, vỗ ngực tự xưng
anh hùng, hay những công nương gắt gỏng. Người làm
cho chồng con hạnh phúc là một nhân vật vĩ đại hơn các
thiếu nữ trong những câu chuyện tiểu thuyết mà trọn đời
chỉ giết chóc nhân loại bằng những làn tên được phóng
ra từ những ống tên khóe mắt’.
Một
cách vắn tắt, đó là vị trí của nữ giới trong Phật Giáo.
Người phụ nữ xứng đáng có một chỗ đứng danh dự ngang
hàng với nam giới, về phương diện khả năng và thành đạt
mục tiêu Niết Bàn, và trên nấc thang thành tựu của nhân
loại, có khả năng đạt đến mức tột đỉnh mà người
nam có thể đến.
Trong
mọi lãnh vực nỗ lực của nhân loại, người nam không có
gì hơn người nữ, nhưng cùng lúc Đức Phật nhìn nhận khuyết
điểm dính liền theo nữ tính, khuynh hướng nhẹ dạ và thiên
tánh yếu mềm của người phụ nữ dễ dàng rơi vào đường
tội lỗi, dễ bĩ khuyến dụ đi trên con đường kém đạo
đức, và vốn là một vị thầy luân lý vĩ đại - là vị
thầy vĩ đại nhất trong lịch sử loài người - Ngài gióng
lên hồi chuông cảnh tỉnh, chỉ vạch những dấu hiệu hiểm
nguy trên con đường tiến bộ của các bà.
Mối
lo âu chánh của Đức Phật là phục hưng tinh thần đạo đức
và luân lý cho tất cả mọi người, nam và nữ; là giải thoát
họ ra khỏi những trói buộc vô cùng tận của vòng luân hồi
và đưa họ đến hạnh phúc trường cửu của Niết Bàn.
Đã như vậy, Ngài không mấy bận tâm đến những vấn đề
của thế gian như cải cách xã hội và tiến bộ chánh trị.
Ngài để những công việc ấy lại cho những ai có thẩm quyền
- những nhà cai trị dân, vua chúa, người có quyền thế, những
người có nhiệm vụ gánh vác công chuyện quốc gia. Suốt
đời Ngài không bao giờ xen vào những tổ chức của chánh
quyền; Ngài không bao giờ nhúng tay vào những vấn đề
chánh trị nhưng dầu sao, không thể phủ nhận và luận bàn,
rằng trong khi tuyên ngôn bức thông điệp vĩnh cửu về sự
giải thoát nhân loại, cùng lúc ấy, vì lý do cao cả của
giáo huấn tuyệt luân, Ngài đã đem lại tiến bộ xã hội
đáng ghi nhớ và sự giác ngộ chánh trị cho toàn thể nhân
loại, duy nhất trong lịch sử thế giới. Những chuyện
tích thuật lại dưới đây cho thấy rằng giáo huấn tuyệt
vời của Đức Phật đã có một ảnh hưởng thấm nhuần
sâu xa vào đời sống của hàng phụ nữ trong thời Ngài (17).
Hầu
hết tất cả những tích chuyện này đều được phiên dịch
từ kinh điển và các Bản Chú Giải Pali. Những câu kệ
được viết lại theo văn xuôi để có thể rất trung thực,
dễ thực hiện và dễ đọc.
Xin
xem tiếp những chuyện tích thuật của các Tỳ Khưu Ni vào
thời Đức Phật, qua các bài sau đây cũng trong trang phụ nữ:
1.
Người Phụ Nữ Vĩ Đại Nhất, Maha Pajapati Gotami,
2.
Người Con Gái Chăn Đà La
3.
Mắt Người Trinh Nữ
4.
Kisagotami, Bà Mẹ Khổ Đau
5.
Người Con Gái Thợ Dệt
6.
Upagupta và Cô Gái Nhảy
7.
Kundala Kesa (Cô Gái Tóc Quăn)
8.
Một Trường Hợp Thay Hình Đổi Dạng
9.
Dhammadinna, Vị Pháp Sư và
10.
Visakha, Vị Đại Thí Chủ của Đức Phật.
Chú
thích:
(1).
Nasti strinam prthagyajno
Na
vratam napyuposatham
Patim
susrusate yena
Tana
svarge mahiyate (Manu, câu 153).
(2).
Kindred Sayings, I, trang iii.
(3).
Kindred Sayings, I, trang 45.
(4).
Janani janma bhumis ca svargadapi gariyasi.
(5).
Anguttara Nikaya, 4: 265 và những trang tiếp.
(6).
Anguttara Nikaya, Tăng Nhứt A Hàm. 4: 238 và những trang tiếp.
(7).
i. saddho, ii. hirima ottapi, iii. akkodhano anupanahi, iv. anissuki, v.
amacchri, vi. anaticari, vii. silava, viii. bahussuto, ix. araddhaviriyo,
x. upatthita sati, xi. pannava (Samyutta Nikaya, Tạp A Hàm, 4: 143).
(8).
Xem phần sau, trang 530.
(9).
Psalms of the Sisters.
(10).
Xem Dhammapada, kinh Pháp Cú, câu 242.
(11).
Pancakamaguna ete itthirupasmim dissare - rupa saddha rasa gandha photthabba
ca manorama (Anguttara Nikaya, Tăng Nhứt A Hàm, 3: 69).
(12).
Gradual Sayings, iii, trang 57.
(13).
Xem Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 251.
(14).
Xem Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 242.
(15).
Samyutta Nikaya, Tạp A Hàm, I: 7.
(16).
Samyutta Nikaya, Tạp A Hàm, I: 37.
(17).
Quý vị quan tâm đến vấn đề ‘Người Phụ Nữ Trong Phật
Giáo; có thể đọc Women Under Primitive Buddhism của tác giả
I.B. Horner; Women in Buddhist Literature của tác giả B.C. Law; và
bài viết có nhiều tài liệu ‘Women and the Religious Order of
the Buddha’ của Jotiya Dhirasekera; hiện nay là Đại Đức Dhammavuhari
(The Maha Bodhi, May-June 1967, Calcutta).
Trích
theo quyển ‘Phật Giáo, Nhìn Toàn Diện’, do Phạm Kim Khánh
dịch, Sài Gòn, Việt Nam, 1996. (Nguyên tác: ‘The Spectrum of
Buddhism’ của tác giả Piyadassi Mahathera).
Nguồn:
http://www.quangduc.com
xk